Xã hội học giáo dục nghiên cứu hệ thống giáo dục như là một chỉnh thể xã hội toàn vẹn bao gồm hai khía cạnh: Nghiên cứu hệ thống giáo dục với tư cách là một thiết chế xã hội; nghiên cứu
Trang 1MỤC LỤC
Câu 1: Em hiểu thế nào là xã hội học giáo dục? Hãy cho ví dụ và phân tích ví dụ minh họa để làm rõ đối tượng nghiên cứu của xã hội học giáo
dục 2
1.1 Em hiểu thế nào là xã hội học giáo dục 2
1.2 Phân tích ví dụ để làm rõ đối tượng nghiên cứu của xã hội học giáo dục 2
Câu 2 Hãy phân tích bình luận một vấn đề, sự kiện, hoạt động giáo dục để thấy rõ mối quan hệ qua lại giữa giáo dục và xã hội 3
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1 Tính cấp thiết của vấn đề 3
2. Mục tiêu và Nhiệm vụ nghiên cứu 5
Chương II: Thực trạng và những thuận lợi và khó khăn trong quá trình học trực tuyến của học sinh Hà Nội trong bối cảnh đại dịch COVID – 19 từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục 10
1 Thực trạng học tập trực tuyến của học sinh Hà Nội trong bối cảnh Covid – 19 10
2 Những thuận lợi và khó khăn của học sinh đối với việc học trực tuyến 11
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 17
Trang 2Câu 1: Em hiểu thế nào là xã hội học giáo dục? Hãy cho ví dụ và phân tích ví
dụ minh họa để làm rõ đối tượng nghiên cứu của xã hội học giáo dục.
Xã hội học giáo dục là một phân ngành của Xã hội học – một khoa học nghiên cứu về những hiện tượng xã hội cảu giáo dục và tính quy luật của chúng, đồng thời có tính độc lập tương đối và liên quan với nhiều môn học khác, như Triết học, Giáo dục học , Tâm lí học… Môn Xã hội học giáo dục là cơ sở thiết yếu của lý luận và thực tiễn quản lí giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng Đây cũng là phân ngành khoa học mới còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam
Nhiều vấn đề gay cấn, bức xúc của giáo dục – đào tọa trong những năm gần đây ở tầm vĩ mô cũng như vĩ mô đều liên quan đến những vấn đề “xã hội học giáo dục” tức là lĩnh vực Xã hội học cần nghiên cứu Trong thực tế Xã Hội Học Giáo Dục có thể được coi như là một bác sĩ chuyên khoa Có thể khám bệnh và phát hiện các vấn đề của hệ thống giáo dục hay các vấn đề xã hội liên quan đến giáo dục Vì vậy, Xã hội học giáo dục là một trong những cơ sở khoa học ngày càng trở nên thiết yếu đối với các nhà quản lí giáo dục cũng như các nhà giáo và những ai quan tâm đến giáo dục
Xã hội học giáo dục nghiên cứu hệ thống giáo dục như là một chỉnh thể xã hội toàn vẹn bao gồm hai khía cạnh: Nghiên cứu hệ thống giáo dục với tư cách là một thiết chế xã hội; nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa hệ thống giáo dục và các phân hệ của nó với xã hội
Xã hội học giáo dục nghiên cứu hệ thống giáo dục với tư cách như là một thiết chế xã hội, tức là xem xét hệ thống giáo dục như là một chính thể thống nhất trong mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố của nó thông qua việc thực hiện những chức năng xã hội nhất định Thiết chế giáo dục ra đời, tồn tại và phát triển nhằm thực hiện chức năng xã hội của nó là truyền đạt những hệ thống tri thức, kinh nghiệm, những hệ thống giá trị đã được tích lũy trong quá trình phát triển của lịch
Trang 3sử xã hội loài người Mỗi thế hệ, mỗi thời đại lại tiếp tục phát triển, mở rộng các hệ thống giá trị ấy góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội
VD:
Đòi hỏi xã hội cần đào tạo ra người có năng lực làm việc, qua giáo dục nhà nước kiểm soát xã hội, như người lao động không có trình độ sẽ xã hội không , xã hội không được kiểm soát thì ảnh hưởng đến mọi mặt mọi lĩnh vực trên cuộc sống, như về xã hội không kiểm soát được kinh tế thì nền kinh tế sẽ lũng loạn thị trường bởi nhiều thế lực khác nhau cả trong và ngoài nước Như vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học giáo dục ở đây là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa thiết chế giáo dục có đáp ứng được các chức năng xã hội mong muốn hay không Như trong nền giáo dục thuộc địa nửa phong kiến cần tạo ra một mẫu con người có tri thức và trung thành để phục vụ cho nó, còn xã hội chúng ta hiện nay thì thông qua giáo dục thì cũng muốn tạo kha khuôn mẫu con người mà xã hội , Đảng, nhà nước, nhân dân mong muốn Cho nên giáo dục góp phần duy trì trật tự xã hội vì thông qua giáo dục
đã tạo ra khuôn mẫu mà phù hợp với nhu cầu xã hội mong muốn, cho giai cấp thống trị mong muốn
Xã hội học giáo dục nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục với con người
Có nhiều môn khoa học đã nghiên cứu ví dụ như môn “giáo dục học” đã đi sâu tìm hiểu về mối quan hệ giữa giáo dục với con người nghiên cứu về nhà trường , nghiên cứu về chủ thể trong nhà trường: ví dụ như nghiên cứu về người thầy như thế nào tức thầy cô như thế nào, người học tức học sinh như thế nào Đối tượng của nó chủ yếu tập chung vào lĩnh vực đó Tức là nghiên cứu giữa giáo dục với con người trong mối quan hệ hẹp cụ thể là nhà trường với người học
Ví Dụ: giáo dục giúp cho thế hệ trẻ chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để bước vào xã hội , giáo dục thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội, giáo dục đóng góp quyết định vào đào tạo nguồn nhân lực ( kiến thức, kỹ năng, phẩm chất…) ta biết rằng nguồn nhân lực ngày nay rất quan trọng vì một quốc gia muốn phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay thì phải nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao con người phải thông qua đào tạo, phải thông qua giáo dục dể hình thành những kiến thức những phẩm chất của con người thì con người đó mới tham gia
Trang 4được vào nguồn nhân lực chất lượng cao Vì thế một quốc gia muốn phát triển bền vững trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện nay thì không thể nhờ vào nguồn tài nguyên chất khoáng sản mà là nguồn nhân lực chất lượng cao vì tài nếu quốc gia mà dựa vào tài nguyên khoáng sản thì tài nguyên khoáng sản sẽ cạn kiệt nhanh và nếu quản lý không tốt thì có thể khai thác dẫn tới hủy hoại môi trường Nhưng mà nguồn lực con người thì rất nhiều thậm trí có thể nói là vô tận, vô càng đa dạng, khai thác được nguồn lực con người đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao thì sẽ
có vai trò đóng góp rất lớn vào sự phát triển xã hội, một quốc gia muốn phát triển bền vững thì nhất định phải có yếu tố đó Không đâu xã như ở ngay Đông Nam Á là Singapo phần nào đó đã làm được điểu đó cho nên giáo dục của Singapo rất phát triển và từ sự phát triển đó dẫn đến các yếu tố nhu cầu khác của xã hội cũng rất cao Hay như Nhật Bản là nước đã rất thành công khi đã đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, do đó là đất nước nghèo tài nguyên khoáng sản nhưng họ là quốc gia phát triển hàng đầu thế giới
Câu 2 Hãy phân tích bình luận một vấn đề, sự kiện, hoạt động giáo dục để thấy rõ mối quan hệ qua lại giữa giáo dục và xã hội
(Thực trạng Thuận lợi và khó khăn trong quá trình học trực tuyến học sinh, Thành Phố Hà Nội trong bối cảnh đại dịch COVID – 19 từ đó đưa ra giải pháp)
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của vấn đề
Kể từ khi COVID-19 bùng phát vào cuối tháng 12 năm 2019 đến nay, dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (nCoV) (gọi tắt là Đại dịch COVID-19)đã tạo ra một bước ngoặt và sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế-xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong đó, giáo dục được xem là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất Theo tổ chức UNESCO, kể từ khi đại dịch bùng phát đến ngày 8/4/2020, trên thế giới có gần 1,6
tỉ học sinh và sinh viên bị ảnh hưởng; 188 quốc gia buộc phải đóng cửa các trường học trên toàn quốc, gây tác động đến 91.3% tổng số học sinh, sinh viên trên toàn thế giới.(Dương Kim Anh, 2020)
Trang 5Theo thống kê của Bộ GDĐT, tính đến tối 19.9, cả nước có 25 địa phương hiện đang tổ chức dạy học trực tiếp cho 100% học sinh gồm: Bắc Giang, Bắc Kạn, Bình Định, Cao Bằng, Điện Biên, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Kon Tum, Lai Châu, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái Đây là các địa phương ít ảnh hưởng của dịch COVID-19 hoặc đã khống chế được dịch bệnh 14 địa phương kết hợp dạy học trực tiếp, trực tuyến và qua truyền hình và 24 tỉnh thành còn lại tổ chức dạy học trực tuyến và qua truyền hình Thành 4 phố Hà Nội nằm trong số 24 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học trực tuyến và qua truyền hình Việc tổ chức dạy học trực tuyến được bắt đầu từ ngày 6.9.2021, áp dụng cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 và học viên các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên Thành phố Hà Nội không dạy học trực tuyến với trẻ mầm non
Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch bệnh COVID-19 ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước Giống như các quốc gia khác, đại dịch COVID-19 không chỉ tác động mạnh mẽ đến các hoạt động kinh tế-xã hội, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục ở Việt Nam Cụ thể, vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 khi đợt dịch đầu tiên bùng phát trong nước, tất cả các trường học buộc phải đóng của và toàn bộ học sinh, sinh viên phải nghỉ học để phòng dịch theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Chính phủ Theo thống kê đến tháng 4/2020, tất cả 63 tỉnh, thành đã cho học sinh, sinh viên nghỉ ở nhà.(Dương Kim Anh, 2020) Đến nay,do diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần thực hiện các đợt giãn cách xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố hoặc thậm chí trên quy mô toàn quốc Trong bối cảnh đó, nhằm phòng ngừa sự lây lan của dịch bệnh COVID-19; vừa duy trì chất lượng dạy học và hoàn thành chương trình đúng tiến độ, đảm bảo việc học tập của học sinh, sinh viên; nhiều trường học
đã áp dụng việc dạy học bằng hình thức trực tuyến (online) đối với hầu hết các cấp học
Học trực tuyến là một trong những mô hình học tập tiên tiến và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên những khó khăn và rào cản của hình thức này vẫn còn rất hiện hữu Chính vì điều này, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực
Trang 6hiện để xác định các yếu tố bất lợi nhằm khắc phục những rào cản, hướng tới việc cải thiện chất lượng học tập đối với hình thức đào tạo này Theo Mungania, rào cản học trực tuyến là những trở ngại gặp phải trong quá trình học online (khi bắt đầu, trong quá trình và khi đã hoàn thành khóa đào tạo) có thể tác động tiêu cực đến trải nghiệm học tập của người học (Mungania, 2004) Như vậy, việc xác định những khó khăn và rào cản của sinh viên trong quá trình học trực tuyến là vô cùng cần thiết Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc học trực tuyến của người học Việc thiếu thông tin, kỹ năng giao tiếp và công nghệ có thể là rào cản đối với chương trình học online vì người học có thể cảm thấy thất vọng từ môi trường học tập độc đáo này” Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về những khó khăn và rào cản của việc học trực tuyến khá phổ biến, nhưng đặt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 thì vẫn chưa có nhiều đề tài được triển khai thực hiện Trong khi đó, dịch bệnh COVID-19 đang ở giai đoạn bùng phát mạnh mẽ và có thể khó kết thúc trong tương lai Việc học trực tuyến có thể sẽ phải tiếp tục duy trì nhằm đảm bảo phòng chống dịch và duy trì việc dạy học,
do vậy cần thiết phải có thêm các nghiên cứu liên quan tới việc học dạy học trực tuyến nhằm làm rõ bức tranh những thuận lợi và khó khăn của việc học trực tuyến
và đề xuất các giải pháp để đảm bảo hiệu quả của việc dạy học trực tuyến tại các trường học Trên cơ sở đó, bài viết này mong muốn đưa ra được những thực trạng
và góp phần làm rõ những khó khăn mà học sinh, tại Thành Phố Hà Nội gặp phải khi học trực tuyến
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này của tôi nhằm mô ta nên bức tranh thực trạng thuận lợi và khó khăn của quá trình học tập trực tuyến của học sinh , trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay Từ đó có thể tìm ra những thuận lợi và khó khăn và đưa ra một số giải pháp là nguồn thông tin cho các ban ngành liên quan trong việc chỉ đạo và thực thi, bên cạnh đó em cũng đưa ra những đề xuất nhằm giúp vấn đề này được đi theo hướng tốt hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trang 7- Xác đinh cơ sở lí luận để đưa ra những lí do của thuận lợi và khó khăn của học sinh trong việc học trực tuyến Thành Phố Hà Nội trong bối cảnh dịch COVD – 19
- Đánh giá được thực trạng quá trình học tuyến của học học sinh trên địa bàn Thành Phố Hà Nội trong bối cảnh COVID – 19
- Chuẩn bị những nguồn lực cần thiết để thu thập thông tin, số liệu đã có sẵn
- Phân tích được những nguồn tài liệu và thông tin thực tế liên quan để có cái nhìn toàn diện khách quan về vấn đề
- Đưa ra một số giải pháp khắc phục những hạn chế khó khăn trong vấn đề học tập của học sinh
2.3 Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học: đề tài nghiên cứu “Thực trạng Thuận lợi và khó khăn
trong quá trình học tập trực tuyến của học sinhThành Phố Hà Nội trong bối cảnh dịch COVID - 19” bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý thuyết cho xã hội học giáo dục nói riêng và các ngành khoa học khác nói chung
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài ta đã đưa ra được những thực trạng cũng như thuận lợi và khó khăn trong quá trình học tập của học sinh trên địa bàn Hà Nội trong bối cảnh COVID – 19 từ đó có thêm nguồn tài liệu như cơ sở nhận định cho các nhà quản lý giáo dục tham khảo để đưa ra những hình thức học tập trực tuyến phù hợp, khắc phục những khó khăn của học sinh trong việc học trực truyến
2.4 Đối tượng, khách thể, phạm vi.
tuyến của học sinhThành Phố Hà Nội hiện nay
Trang 82.5 Thao tác hóa khái niệm
- Học trực tuyến: Học trực tuyến hay còn gọi là E – learning ( electronic
learning) là một khía niệm mới được mọi người chú ý hiện nay Có khá nhiều định nghĩa về E – learning Theo PGS.TS Lê Huy Hoàng : “ E – learning là một loại hình đào tạo chính quy hay không chính quy hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qau công nghệ thông tin và truyền thống.” Hay theo quan điểm hiện đại học trực tuyến là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet… trong đó nội dung có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, thoogn qua một máy tính hay TV , người dạy và người học có thê giao tiếp với nhau qua mạng dưới hình thức như : mail, thảo luận trực tuyến, diễn đàn… Như vậy “học trực tuyến” nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý
sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center) Nói chung E-Learning dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông: công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật
mô phỏng, công nghệ tính toán
- Đại dịch covid – 19 : Theo WHO – tổ chức y tế thế giới: Dịch Covid-19
viết tắt của cụm từ “Coronavirrus disease 2019”, là dịch bệnh do virus corona gây
ra và xuất hiện lần đầu năm 2019 Dịch bệnh này xuất hiện đầu tiên ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, trong đó nhiều người cùng bị viêm đường hô hấp cấp Tác nhân gây bệnh sau đó được xác định là một chủng mới của virus Corona Chủng virus mới này được tìm ra năm 2019 nên được ký hiệu là 2019-nCoV (viết tắt của cụm từ “2019 Novel Coronavirus”) Vì thế ban đầu dịch bệnh này có tên là
“Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona 2019-nCoV” đại dịch COVID-19 đã đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết mọi mặt của đời sống xã hội Cho đến nay, khi tình hình dịch bệnh ở Việt Nam có xu hướng được kiểm soát, thế nhưng suy thoái kinh tế dẫn đến mất việc làm và giảm thu nhập trở thành vấn đề đáng lo ngại nhất và còn kéo dài Theo số liệu của Bộ LĐTBXH,
số lao động đang làm việc quý I/2020 giảm hơn 680 nghìn so với quý 4/2019 Tỷ lệ thất nghiệp không tăng cao nhưng tỷ lệ thiếu việc làm đã tăng từ gần 590 ngàn (1,22%) lên hơn 970 ngàn (2,03%) Đó chưa kể sự suy giảm về tổng số giờ làm việc
Trang 9cũng như năng suất lao động do đại dịch COVID-19 Bên cạnh đó đối với đại dịch cũng đã tác động vô cùng to lớn đến nền giáo dục, và mang đến vô cùng nhiều hệ lụy như chất lượng học tập của học sinh không được đảm bảo, nhiều giáo viên dơi vào cảnh thất nghiệp…
Ngày 11 tháng 03 năm 2020, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra công bố
Covid-19 là đại dịch toàn cầu và đòi hỏi các nước cần có những biện pháp phòng chống dịch quyết liệt Theo thông tin của Bộ Y tế Việt Nam, trên thế giới đã có gần 2 triệu
ca nhiễm (tính đến cuối tháng 3 năm 2020), điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của Covid-19 Nhằm thực hiện phòng chống đại dịch, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg với các biện pháp thực hiện cách ly toàn xã hội, hạn chế di chuyển, tạm dừng tổ chức các hoạt động tụ tập đông người trong đó có hoạt động đào tạo tập trung tại các cơ sở giáo dục Nhằm đảm bảo kế hoạch đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường triển khai mô hình đào tạo trực tuyến đến học sinh sinh viên toàn quốc
2.6 Lý thuyết áp dụng
- Lý thuyết nhu cầu: Abraham Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo
vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển, đó
là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội (tình yêu thương), nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện
- Lý thuyết cơ cấu chức năng: Lý thuyết chức năng cấu trúc là một lý thuyết xã
hội ban đầu nhằm cố gắng giải thích các thiết chế xã hội như là các phương tiện chọn lọc (collective means) để đáp ứng các nhu cầu sinh học của các cá nhân (ban đầu là thuyết chức năng- functionalism) Sau đó nó tập trung vào những cách thức thiết chế xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội của con người
2 7 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hiện tại đại dịch đã và đang tiếp tục ảnh hưởng to lớn đến xã hội nói chung
và giáo dục nói chung do đó đã có rất nhiều tác giả đã lấy chủ đề này nghiên cứu như:
Luận văn thạc sĩ Công nghệ thông tin “Xây dựng hệ thống E - learning hỗ trợ học sinh học tập tại Trường Trung học phổ thông Buôn Đôn” (Trần Vinh Trung,
Trang 102017), bài viết này đã nói lên được những khó khan trong việc xây dựng và vận hành hệ thống đối với người học và giáo viện của trường THPT Buôn đôn nhưng chỉ đề cập đến nhóm đối tượng đó là học sinh trung học phổ thông mà chưa đề cập đến nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh hơn bởi công ngệ đó là học sinh tiểu học
và trung học cơ sở
Bài viết “ Hiểu về năng lực số của học sinh Việt Nam “ (Nguyễn Thanh Nhàn, 2021)Bài viết này đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về năng lưc số của học sinh việt nam , đã cho thấy những điểm mạnh điểm yếu,tỷ lệ người nhưng lại chỉ tập trung ào nhóm học sinh Trung học Phổ Thông
Phạm xuân Thanh,Ngô Anh Tuấn,Đoàn Thị Hảo,( 2019), “phát triển công nghệ giáo dục theo định hướng hệ sinh thái giáo dục “ nghiên cứu này đã mô tả thực trạng vấn đề công nghệ trong giáo dục hiện nay vẫn chưa được quan tâm , nhất là trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 đang định hình hệ sinh thái giáo dục trong tương lai Bài viết này phân tích xu thế , bối cảnh và hiện trạng giáo dục nước ta nói chung theo góc nhìn công nghệ giáo dục để đề xuất giải pháp để phát triển công nghệ giáo dục , nhưng vẫn chưa quan tâm đến vấn đề công nghệ giáo dục ảnh hưởng thế nào đến hệ thống giáo dục trong đại dịch hiện nay
Đây là một trong nguồn tài liệu vô cùng quý báu và bám sát vào đề tài tôi đang triển khai, từ đó giúp đề tài tôi có cái nhìn từ nhiều khía cạnh và sâu sắc hơn nữa trong vấn đề : “ Thực trạng và những khó khăn của học sinh trong quá trình học trực tuyến tại bối cảnh đại dịch COVID – 19.”
2.8 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
2.8.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Thực trạng vấn đề học tập trực tuyến của học sinh Hà Nội đang gặp
phải những khó khăn gì?
- Câu hỏi 2: Thực trạng vấn đề học tập trực tuyến của học sinh Hà Nội đang có
những thuận lợi gì?
2.8.2 Gỉa thuyết nghiên cứu