Khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò Holstein Friesian nuôi tại Lâm Đồng Growth and reproductive performances of purebred Holstein Friesian dairy cattle raised in Lam Dong province
Trang 1Khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò Holstein Friesian nuôi tại Lâm Đồng Growth and reproductive performances of purebred Holstein Friesian dairy
cattle raised in Lam Dong province
Phạm Ngọc Thiệp và Nguyễn Xuân Trạch
Summary
A survey was carried out to examine the growth and reproductive performances of purebred Holstein Friesian (HF) cattle raised in Lam Dong Province Results showed that
HF cattle performed normal growth rates and patterns HF heifers were first bred at an early age (16.84 months) and thus the age at first calving was relatively low (27.87 months) The average calving interval was short (376.4 days) owing to short open days (88.3 days) The conception rate from first artificial insemination was relatively high, although there was some variation among farm types It was therefore concluded that purebred HF cattle can grow and reproduce well in Lam Dong province
Keywords: Holstein Friesian, dairy cattle, growth rate, reproduction
1 Đặt vấn đề
Lâm Đồng là một tỉnh Tây Nguyên có
khí hậu tương đối mát mẻ quanh năm, nên
được coi là nơi có thể nuôi bò sữa Holstein
Fiesian (HF) thuần chủng Thực tế ngành
chăn nuôi bò sữa đã được hình thành và
phát triển ở đây qua nhiều thập niên với
nhiều thăng trầm Trước xu thế đẩy mạnh
chăn nuôi bò sữa của cả nước hiện nay, việc
đánh giá lại khả năng thích nghi của bò HF
trên miền đất này sẽ có một ý nghĩa thực
tiễn quan trọng cho công tác định hướng
công tác giống bò sữa Đánh giá khả năng
cho sữa cũng như đánh giá khả năng sinh
trưởng và sinh sản có vai trò quan trọng
trong việc đánh giá khả năng thích nghi của
bò HF với những điều kiện thời tiết khí hậu
và kinh tế - kỹ thuật cụ thể
2 Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành trên đàn
bò Holstein Friesian (HF) thuần nuôi tại:
• Công ty giống bò sữa Lâm Đồng
• Công ty liên doanh Thanh Sơn (Hà
Lan-Việt Nam)
• Các hộ nông dân nuôi bò sữa thuộc huyện Đơn Dương và thành phố Đà Lạt
2.2 Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn sau:
- Sổ ghi chép theo dõi bò của các doanh nghiệp, các hộ chăn nuôi bò sữa, cán bộ kỹ thuật và dẫn tinh viên cơ sở
- Số liệu bình tuyển bò sữa trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2002 trên cơ sở lập phiếu theo dõi cho từng cá thể bò sữa để ghi chép số liệu cân bò, số liệu theo dõi phối giống và sinh sản
Số liệu được phân tích thống kê mô tả bằng chương trình Minitab 11.0 (1996)
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Khối lượng và tăng trọng
Khối lượng và tăng trọng của bê HF nuôi ở Công ty Thanh Sơn qua các giai đoạn sinh trưởng được thể hiện trong bảng 1 Kết quả thu được cho thấy trong khi khối lượng tuyệt đối tăng dần thì tốc độ tăng trọng giảm dần qua các giai đoạn sinh trưởng về sau theo như quy luật phổ biến Tăng trọng bình quân cao nhất có được trong giai đoạn
bê bú sữa (4 tháng tuổi đầu)
44
Trang 2Bảng 1 Khối lượng và tăng trọng của bò HF nuôi tại Công ty Thanh Sơn
Tuổi Số
con
Khối lượng (kg/con)
Cv (%)
Tăng trọng (g/con/ngày)
Bảng 2 Khối lượng bò cái sinh sản HF qua các lứa đẻ
46
Bảng 3: Tuổi bò HF lúc phối giống và đẻ lần đầu
Theo dõi khối lượng đàn bò sinh sản
gồm 287 con từ đẻ lứa 1 đến lứa 9 (bảng 2)
cho thấy: đàn bò HF có tầm vóc to với khối
lượng tăng dần qua các lứa đẻ đầu cho đến
lứa đẻ thứ 5, ổn định cho đến lứa 7 và sau đó
giảm xuống Diễn biến về thể trọng và tăng
trọng của đàn bò HF ở đây là hoàn toàn bình
thường và nằm trong giới hạn của giống bò
sữa này Tầm vóc của đàn bò tương đối đồng
đều (Cv thấp) Như vậy, có thể nói rằng
trong điều kiện của Lâm Đồng bò sữa HF có
thể sinh trưởng và phát triển tốt
3.2 Tuổi phối giống và đẻ lần đầu
Kết quả nghiên cứu về tuổi phối giống
và tuổi đẻ lần đầu của bò HF nuôi ở Công ty Thanh Sơn được thể hiện ở bảng 3 Nhìn chung bò HF ở đây có tuổi phối giống và đẻ lần đầu khá sớm Phân tích chi tiết cho thấy giữa tuổi và khối lượng phối giống có mối liên quan chặt chẽ, có 6,1% số con được phối lần đầu ở tuổi dưới 15 tháng với khối lượng dưới 300 kg/con, 85,5% bò phối ở tuổi từ 15-19 tháng với khối lượng từ
320-360 kg, còn 8,5% bò chậm động dục nên
45
Trang 3phối lần đầu trên 20 tháng tuổi lúc thể trọng
đã đạt trên 360kg/con
So với tiêu chuẩn khối lượng đưa vào
phối giống lần đầu do Bộ NN&PTNT
(2002) quy định cho giống bò HF (340-390
kg) thì khối lượng bò ở đây (328,11 kg) đưa
vào phối giống là thấp hơn Nếu so với khối
lượng bò trưởng thành (567,17 kg sau đẻ lứa
5) thì khối lượng bình quân lúc đưa vào phối
lần đầu mới chỉ đạt 57,9% Điều này có thể
ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng, sinh sản
và tiết sữa của bò về sau Thông thường
ngườì ta phối giống lần đầu cho bò khi nó đã
đạt được 2/3 khối lượng lúc trưởng thành Vì
thế, chỉ nên phối giống cho những con đã đạt
khối lượng từ 340kg và 15 tháng tuổi trở lên,
không nên cho phối quá sớm
3.3 Khoảng cách lứa đẻ và thời gian
chửa lại sau khi đẻ
Kết quả phân tích số liệu về khoảng cách
lứa đẻ và thời gian bò có chửa lại sau khi đẻ
(bảng 4) cho thấy bò HF thuần nuôi ở Lâm
Đồng có khả năng sinh sản rất tốt Khoảng
cách lứa đẻ của bò HF ở đây ngắn hơn nhiều
so với đàn bò HF và bò lai hướng sữa nuôi ở
các nơi khác (Nguyễn Xuân Trạch và Lê
Văn Ban, 1994; Nguyễn Quốc Đạt, 1999)
Khoảng cách lứa đẻ chủ yếu do thời gian có chửa lại sau đẻ quyết định Thời gian có chửa lại sau đẻ của bò sinh sản phụ thuộc vào quá trình hồi phục buồng trứng
và tử cung sau đẻ, đồng thời phụ thuộc vào khả năng phát hiện động dục và kỹ thuật phối giống Trong số bò theo dõi có 30%
có chửa lại sau khi đẻ dưới 63 ngày, 45,7%
bò có chửa lại sau đẻ 64-129 ngày, trung bình là 88,3 ngày Đây là thời gian hợp lý, phù hợp với đặc điểm sinh lý sinh sản và tiết sữa ở bò sữa
3.4 Tỷ lệ phối giống thụ thai
Kết quả theo dõi phối giống và khám thai bò ở các cơ sở chăn nuôi bò sữa HF ở Lâm Đồng được trình bày trong bảng 5 Tỷ
lệ phối giống lần đầu thụ thai bình quân chung ở Lâm Đồng là 59%, cao hơn so với quy định tạm thời của Bộ NN&PTNT (2002) áp dụng cho dẫn tinh cọng rạ (55%)
Tuy nhiên, có sự khác nhau khá lớn về chỉ tiêu này giữa các cơ sở chăn nuôi khác nhau Điều này có thể phản ánh rằng tỷ lệ phối giống thụ thai ở bò phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng bò cái, chất lượng tinh, trình độ kỹ thuật phối giống, báo gọi và xác định thời điểm phối giống
Bảng 4 Khoảng cách lứa đẻ và thời gian có chửa lại sau đẻ của bò HF nuôi ở Lâm Đồng
n 70 70
SE 6,9 4,8
SD 58,1 39,8
Bảng 5: Tỷ lệ phối giống lần đầu thụ thai ở bò HF tại Lâm Đồng (năm 2002)
giống
Phối giống lần
đầu thụ thai
Tỷ lệ phối giống lần
đầu thụ thai (%)
46
Trang 44 Kết luận
Từ nghiên cứu này có thể rút ra một số kết
luận về khả năng sinh trưởng và sinh sản của
bò HF thuần nuôi tại Lâm Đồng như sau:
+ Bò sinh trưởng và phát triển bình
thường
+ Đàn bò được đưa vào phối giống và khai
thác sớm
+ Bò sinh sản tốt với khoảng cách lứa đẻ
ngắn nhờ phối giống chửa lại sớm sau khi đẻ
Tài liệu tham khảo
Bộ NN&PTNT, (2002) Quy định tạm thời các
chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đối với giống vật
nuôi, Quyết định số 67/2002/QĐ-BNN
Nguyễn Xuân Trạch và Lê Văn Ban, (1994)
"Thực trạng sinh sản của đàn bò sữa
Holstein thuần nuôi tại Mộc Châu",
Thông tin khoa học kỹ thuật nông nghiệp,
Trường ĐHNNI - Hà Nội, Số 1/1994, Trang 3-4
Nguyễn Quốc Đạt, (1999) "Một số đặc điểm
về giống của đàn bò cái lai (Holstein Friesian x Lai Sindhi) hướng sữa nuôi tại
Thành Phố Hồ Chí Minh", Luận án tiến
sĩ KHNN, Viện Khoa học kỹ thuật nông
nghiệp Việt Nam
Minitab Release 11, (1996) MINITAB User’s
Guide USA.
47