1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp

96 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Kế toán quản trị
Trường học Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 878,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kế toán quản trị trang bị những kiến thức nhằm giúp học viên phân biệt những khái niệm và lĩnh vực giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính; phân loại được các loại chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp; giúp học viên xác định, lựa chọn được các phương án kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp trong sự biến động của thị trường. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 giáo trình.

Trang 1

CHƯƠNG 4

DỰ TOÁN SẢN XUẤT KINH DOANH

Mã chương 4: CKT407-04 Giới thiệu: Nhận thức được tầm quan trọng của việc lập dự toán ngân sách, sắp

xếp trình tự các bước công việc chuẩn bị cho việc lập dự toán ngân sách tại doanh nghiệp

Mục tiêu:

- Kiến thức:

+ Trình bày khái niệm, ý nghĩa và phân loại dự toán, vai trò của công việc lập dự

toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Mô tả được các loại định mức chi phí, phương pháp xây dựng định mức chi phí, các định mức chi phí trong doanh nghiệp

+ Giải thích được trách nhiệm và trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh

+ Trình bày được dự toán sản xuất kinh doanh

- K năng:

+ Tính toán và lập dự toán tiêu thụ sản phẩm, dự toán sản xuất, dự toán chi phí, dự toán thu chi tiền mặt…

1 Tổng quan về dự toán

1.1 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại dự toán

1.1.1 Khái niệm về dự toán

Dự toán là sự ước tính về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, chỉ rõ những công việc cần thực hiện, có tính đến sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan

- Những nhân tố chủ quan là những nhân tố phát sinh bên ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu sự tác động của các nhân tố này mà không điều chinh được như: quy luật cung cầu, sự biến động giá cà thị trường cúa các yếu tố đầu vào, các chính sách phát triển kinh tế cùa Nhà nước từ trung ương đến địa phương

- Những nhân tố khách quan là những nhân tố phát sinh trong nội tại doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể chủ động, kiểm soát những nhân tố này như: quy trình sản xuất, máy móc thiết bị, tay nghề bậc thợ của công nhân, trình độ quản lý, kỳ năng sử dụng lao động

Trang 2

Dự toán phải là sự phối hợp chi tiết hoạt động của các bộ phận để hình thành nên

kế hoạch chung toàn doanh nghiệp Mặt khác, nó đảm bào hoạt động của các bộ phận phải hài hòa trong hoạt động chung cùa toàn doanh nghiệp

Thông qua dự toán sản xuất kinh doanh các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ thấy trước được nguồn lực cần sử dụng cho kỳ tới, cách thức huy động và sừ dụng các nguồn lực đó (nguồn nhân lực, vật lực, điều kiện môi trường) sao cho đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp

Dự toán sản xuất kinh doanh phải được gắn liền với điều kiện về thời gian cụ thể trong tương lai, nếu không dự toán sẽ mất ý nghĩa áp dụng vào thực tế Vì trong mỗi thời kỳ khác nhau sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động lên doanh nghiệp là khác nhau, nguồn lực sử dụng trong doanh nghiệp cũng thay đồi Do đó, bản dự toán phải mang tính

thời điểm xác định

Dự toán sản xuất kinh doanh cụ thể hóa hoạt động của doanh nghiệp thành

hệ thống chỉ tiêu dưới dạng số lượng và giá trị Nếu chỉ theo dõi các chỉ tiêu về mặt lượng như: lượng thời gian lao động cần cho sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ,

số lượng sản phẩm sản xuất sẽ không giúp các nhà quản trị thấy được toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp một cách tổng thể Do đó, dự toán đã cụ thể hóa các chỉ tiêu dưới dạng số lượng thành chỉ tiêu về giá trị

Xây dựng dự toán là một công việc quan trọng trong việc lập kế hoạch đối với t ất cả các hoạt động kinh tế Điều này thật cần thiết cho doanh nghiệp đến cơ quan nhà nước, và ngay cả với các cá nhân Chúng ta phải lập kế hoạch về ngân sách cho việc chi tiêu hàng ngày và đặc biệt là cho việc mua sắm các tài sản có giá trị lớn Tất cả các doanh nghiệp phải lập kế hoạch tài chính để thực thi các hoạt động hàng ngày, cũng như các hoạt động trong tương lai dài hạn

Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị

Dự toán ngân sách là những dự kiến được tính toán một cách toàn diện và

có sự phối hợp, chỉ rõ cách thức huy động các nguồn lực cho các hoạt động KD của

Trang 3

Các doanh nghiệp dù hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì việc lập dự toán sản xuất kinh doanh vẫn là công việc quan trọng hàng đầu Dự toán giúp các nhà quản trị có được nhiều thời gian đê hoạch định chiến lược kinh doanh trước khi hoạt động của doanh nghiệp bất đầu Khi các mục tiêu đã được xác lập các nhà quản trị sẽ đánh giá được kết quả thực hiện với kế hoạch đưa ra và kiểm soát được sự phát sinh nguồn lực trong doanh nghiệp Do đó, dự toán có ý nghĩa quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, được thể hiện qua những điểm sau:

- Xác định mục tiêu phát triển của doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá việc thực hiện kế hoạch sau này Bản dự toán đã cụ thể hóa kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các con số cụ thể Việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch

đã đề ra, nhà quản trị dễ dàng thấy được bộ phận nào trong doanh nghiệp không hoàn thành chỉ tiêu đề ra, từ đó tìm hiêu nguyên nhân vì sao hoạt động của bộ phận không hiệu quả và có biện pháp hữu hiệu để khắc phục

- Kết hợp hoạt động của toàn doanh nghiệp bàn các kế hoạch hoạt động của các bộ phận phối hợp nhịp nhàng đạt mục tiêu chung cùa toàn doanh nghiệp Các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp thường có những quyền hạn, năng lực riêng khác nhau Quá trình lập dự toán đã tăng cường sự hợp tác, tham gia, trao đổi công việc giữa các thành viên trong doanh nghiệp Nhờ đó dự toán đảm bảo hoạt động của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp

- Dự toán giúp các nhà quản trị phát hiện những điểm mạnh điểm yếu, từ đó

sẽ có những cơ sở phân tích, lường trước được những khó khăn trước khi chúng xảy ra để có nhữrtg biện pháp đúng đắn khắc phục kịp thời

- Dự toán là cơ sở xây dựng và đánh giá trách nhiệm quản lý của các cấp quản trị doanh nghiệp Qua kết quả thực hiện so với dự toán sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận cũng như nhà quản lý bộ phận Từ đó, sẽ có mức thưởng, phạt quy định dựa trên kết quả thực hiện dự toán của các bộ phận Dự toán

là bức tranh tổng thể về hoạt động kinh tế, tài chính cùa doanh nghiệp, thông qua

dự toán các nhà quản trị sẽ có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý của mình

1.1.3 Phân loại dự toán

Tùy theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũna như mục đích phát triên của doanh nghiệp trong tương lai, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị

có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau Có nhiều tiêu thức để phân loại dự toán, căn cứ vào mục đích cung cấp thông tin mà lựa chọn tiêu thức phân loại thích hợp

Nếu căn cứ vào thời hạn áp dụng dự toán được chia thành:

Trang 4

+ Dự toán ngắn hạn: là dự toán chủ đạo được lập cho kỳ kế hoạch (một năm tài chính) và được chia thành từng quý hoặc từng tháng, tuần Dự toán ngắn hạn là

dự toán nguồn tài chính hoạt động hàng năm liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: tiêu thụ, sản xuất, mua hàng, thu, chi Dự toán ngắn hạn là cơ sở đưa ra các quyết định tác nghiệp

+ Dự toán dài hạn: là những dự toán liên quan đến nguồn tài chính cho việc mua sắm tài sản cố định, đất đai, nhà xưởng, tài sản dài hạn gắn với hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm Dự toán dài hạn đảm bảo khi thời hạn dự toán kết thúc doanh nghiệp sẽ có đủ nguồn vốn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản dài hạn mới Dự toán dài hạn chính là những kế hoạch dài hạn thể hiện các mục tiêu chiến lược, phát triển của doanh nghiệp

- Nếu căn cứ vào nội dung kinh tế dự toán được chia thành:

• Dự toán tiêu thụ

• Dự toán sản xuất

• Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

• Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

• Dự toán chi phí sản xuất chung

• Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

• Dự toán hàng tồn kho

• Dự toán giá vốn hàng bán

• Dự toán tiền

• Dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

• Dự toán bảng cân đối kế toán

- Nếu căn cứ vào mối quan hệ với mức độ hoạt động dự toán được chia thành:

+ Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định Nhưng trong thực tế sự biên động của các yếu tổ chù quan và khách quan thường xuyên như: sự lên xuống của giá cả thị trường, sản lượng tiêu thụ biến động, thay đổi của các chính sách kinh tế Do đó dự toán tĩnh thường phù hợp với những doanh nghiệp sàn xuất sàn phẩm theo đơn đặt hàng, tình hình sản xuất kinh doanh

ổn định

Trang 5

+ Dự toán linh hoạt: là những dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong cùng một phạm vi hoạt động Dự toán linh hoạt giúp các nhà quản trị thấy trước được sự biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Dự toán linh hoạt có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiềm soát chi phí thực tế của doanh nghiệp và phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất sản phấm theo nhu cầu thị trường

Hệ thống dự toán trong doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng Do đó, tùy thuộc vào mục đích cung cấp thông tin mà nhà quản trị sẽ vận dụng phù hợp

1.2 Cơ sở khoa học xây dựng dự toán

Dự toán giúp các nhà quản trị thấy trước được sự biến độno tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục nhữna tồn đọng hoặc tận dụng, khai thác những mặt mạnh của doanh nghiệp Do đó dự toán có vai trò quan trọna trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để đảm bảo dự toán có tính khả thi cao khi xây dựng dự toán cần dựa vào những cơ sở khoa học sau:

- Căn cứ xây dựng dự toán dựa vào kết quả hoạt động của kỳ trước Đây là

cơ sở quan trọng giúp các nhà quản trị thấy được giới hạn hiện nay của doanh nghiệp

- Dựa trên những điều kiện thực tế của doanh nghiệp như: quy mô hoạt động, nguồn lực lao động, chất lượng lao động

- Các điều kiện dự kiến trong tương lai như: xu hướng biến động giá cả trên thị trường, các chính sách kinh tế sắp ban hành, kế hoạch phát triển kinh tế vùng và địa phương, kế hoạch phát triên dài hạn của doanh nghiệp

- Căn cứ vào hệ thống định mức chi phí tiêu chuẩn Đây là cơ sơ quan trọng nhất khi xây dựng dự toán Định mức chi phí phải được xây dựna một cách khoa học phù họp với thực tế Khi xây dựng định mức chi phí phài tính đến những biến động của thị trườna như: giá cả, lạm phát, tình hình lao động cua doanh nghiệp, máy móc thiết bị

- Căn cứ vào trình độ chuyên môn của các chuyên gia xây dựng dự toán Các ngành nghề khác nhau đòi hỏi các chuyên gia xây dựng dự toán phải có trình độ am hiểu về kinh tế, kỹ thuật, những nhân tố tác động riêng

1.3 Mục đích của dự toán ngân sách

Mục đích của dự toán ngân sách là hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh Thông qua hai chức năng này để đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận đã đề ra

Trang 6

1.3.1 Hoạch định

Dự toán ngân sách sẽ dự tính những gì sẽ xảy ra trong tương lai và tính toán thành các chỉ tiêu cụ thể Thông qua các chỉ tiêu kinh tế phản ánh được tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, điều chỉnh các mặt hoạt động không tốt, giải quyết vấn đề trước khi chúng bế tắc Quá trình dự toán ngân sách cũng liên kết tất

cả các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra Ví dụ như, lập dự toán ngân sách cho doanh nghiệp sản xuất, các phòng cung tiêu, phòng

kỹ thuật, phòng tài chính phải làm việc với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và đạt được mục tiêu lợi nhuận đã đề ra

1.3.2 Phân bổ nguồn lực

Nguồn lực của doanh nghiệp là có giới hạn, dự toán ngân sách sẽ thực hiện phân bổ nguồn lực một cách tốt nhất cho các đối tượng sử dụng Ưu tiên các các đối tượng sử dụng nguồn lực mang lại hiệu quả kinh tế cao Tất nhiên, sẽ có sự cạnh tranh giữa các bộ phận trong việc sử dụng các nguồn lực Việc phân bổ nguồn lực cũng phải nằm trong chiến lược phát triển của toàn doanh nghiệp Ví dụ như, nhà quản lý bộ phận marketing sẽ cạnh tranh nguồn lực với nhà quản lý kho Tuy nhiên, do chiến lược phát triển sản phẩm mới đòi hỏi việc phân bổ nguồn lực lớn hơn cho bộ phận marketing Quá trình dự toán ngân sách sẽ thực hiện phân bổ nguồn lực có giới hạn này và đánh giá việc thay đổi đối với việc phân bổ các nguồn lực đó

1.3.3 Kiểm soát lợi nhuận và hoạt động kinh doanh

Dự toán ngân sách là căn cứ để kiểm soát tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp Kiểm soát là quá trình so sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu dự toán và đánh giá việc thực hiện đó Không có các chỉ tiêu dự toán thì không có cở sở để so sánh và đánh giá kết quả thực hiện Ví dụ như, doanh thu thực hiện so sánh với doanh thu dự toán hàng tuần để giúp nhà quản lý bộ phận bán hàng kiểm soát tổng doanh thu Dự toán chi phí sẽ được so sánh với chi phí thực tế hàng tháng để chỉ ra khu vực cần có sự kiểm soát chi phí nhiều hơn

So sánh kết quả thực hiện với dự toán giúp cho nhà quản lý đánh giá tình hình thực hiện của các bộ phận và toàn công ty Khi dự toán được sử dụng để đánh giá việc thực hiện sẽ động viên mọi người thực hiện tốt hơn Để đánh giá việc thực hiện, người ta lập báo cáo thực hiện, trình bày số liệu dự toán và kết quả thực hiện, cho phép so sánh để thấy được sự thay đổi giữa thực hiện so với dự toán Nếu sự thay đổi lớn, vượt quá mức cho phép, nhà quản lý sẽ điều tra nguyên nhân của sự

Trang 7

thay đổi để có biện pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

“Báo cáo thực hiện” sẽ thông tin cho nhà quản lý thấy được những mặt hoạt động không xảy ra theo kế hoạch Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thực hiện không đúng kế hoạch là do dự toán không sát với thực tế Trong trường hợp này, người ta sẽ điều chỉnh để lập kế hoạch kỳ sau tốt hơn

Tóm lại, đánh giá kết quả thực hiện so với dự toán ngân sách được xem là kỹ thuật kiểm soát trong quản lý Nhà quản lý phải biết dự toán những gì phải làm, mà còn phải biết đã hoàn thành các dự toán như thế nào Nếu kết quả xảy ra không theo dự toán, nhà quản lý phải có biện pháp điều chỉnh để hoạt động ngày càng tốt hơn

2 Trách nhiệm và trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh

2.1 Trách nhiệm lập dự toán ngân sách

Mỗi cấp quản lý đều có trách nhiệm với những hoạt động thuộc phạm vi kiểm soát của mình Nhà quản lý các cấp phải nắm được toàn bộ hoạt động của mình từ khi lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết cho chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo tốt hơn

Do đó, trách nhiệm lập dự toán ngân sách ở cấp nào do quản lý cấp đó thực hiện

Trình tự lập dự toán ngân sách thực hiện từ cấp có trách nhiệm thấp nhất đến cấp có trách nhiệm cao nhất Dự toán ở cấp nào do chính người quản lý ở cấp đó thực hiện rồi trình ban quản lý cấp trên và phải được sự chấp thuận của cấp trên Thực hiện theo trình tự từ dưới lên có những mặt thuận lợi như sau:

- Những người trực tiếp liên quan đến hoạt động nào thì lập dự toán cho hoạt động đó Những nhà quản lý trực tiếp, hơn ai hết họ hiểu rõ hoạt động của mình Các quan điểm và ý kiến của họ thường chính xác, đáng tin cậy hơn và có giá trị đối với ban quản lý cấp cao

Trang 8

- Người ta thường có khả năng hoàn thành một bảng dự toán do chính họ lập

ra hơn là một bảng dự toán áp đặt từ trên xuống Nếu không hoàn thành dự toán do mình lập ra, họ chỉ trách chính mình không hoàn thành nhiệm vụ Ngược lại, một

dự toán áp đặt từ trên xuống, họ đổ lỗi cho dự toán không thực tế, không hợp lý hoặc không thể đáp ứng được

- Tuy nhiên, để tránh sự chủ quan tùy tiện, các dự toán từ bên dưới phải được cấp quản lý cao hơn xem xét nghiên cứu trước khi chấp thuận

Như vậy, tất cả các cấp đều cùng làm việc để lập dự toán ngân sách thống nhất cho toàn công ty Ban quản lý cấp cao dựa vào các thông tin chi tiết từ bên dưới và dựa trên cái nhìn tổng thể toàn công ty để quyết định các chính sách lớn trong quá trình lập dự toán

2.2 Dự toán ngân sách hàng năm

Dự toán hàng năm là hệ thống dự toán bao gồm tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp Dự toán hàng năm bao gồm nhiều dự toán bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau được mô tả trong minh họa Hệ thống dự toán ngân sách bao gồm

dự toán hoạt động và dự toán tài chính

Dự toán doanh thu và các dự toán chi phí thường được gọi là dự toán hoạt động Dự toán tài chính bao gồm dự toán kết quả kinh doanh, dự toán tiền, bảng cân đối kế toán dự toán và dự toán vốn đầu tư

Dự toán ngân sách được xây dựng cho một thời kỳ nhất định, thường là một năm Dự toán ngân sách có thể được chuẩn bị cho từng quí, từng tháng Ngoài ra, người ta còn lập dự toán liên tục, khi kết thúc một tháng hoặc quí, người ta cập nhập tháng, quí kế tiếp vào dự toán và xóa tháng hoặc quí đã hoàn thành Ví dụ như, doanh nghiệp lập dự toán năm có chia ra 12 tháng, khi kết thúc tháng 1 doanh nghiệp sẽ tiếp tục cập nhập dự toán tháng 1 năm sau vào dự toán năm, sao cho dự toán năm luôn thể hiện 12 tháng sắp tới

Mức độ chi tiết trong việc lập dự toán hàng năm sẽ khác nhau giữa các doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp lớn, xây dựng dự toán hàng năm rất chi tiết và chia

ra thành từng quý, từng tháng Trong các doanh nghiệp nhỏ, quá trình dự toán thường ít hình thức và chi tiết hơn

2.3 Mối quan hệ giữa các dự toán bộ phận

Dự toán ngân sách của một công ty thường bao gồm các dự toán sau:

• Dự toán tiêu thụ sản phẩm

• Dự toán sản xuất

Trang 9

• Bảng cân đối kế toán dự toán

a Dự toán hoạt động: bao gồm dự toán doanh thu và các dự toán chi phí

+ Dự toán doanh thu:

Dự toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là quan trọng nhất, là điểm bắt đầu của quá trình lập dự toán ngân sách, nó chi phối toàn bộ các dự toán khác

Để lập dự toán doanh thu, Người ta phải dự báo số lượng sản phẩm bán ra Nhiều yếu tố chính phải được xem xét khi dự báo số lượng sản phẩm tiêu thụ gồm các yếu

tố bên trong như: khối lượng sản phẩm tiêu thụ của kỳ trước và xu hướng phát triển của công ty, các đơn đặt hàng chưa thực hiện, kế hoạch sản xuất sản phẩm mới, định hướng chính sách giá cả của doanh nghiệp, kế hoạch và quảng cáo, khuyến mãi Ngoài ra, số lượng sản phẩm bán ra của doanh nghiệp còn chịu tác động bởi các yếu tố kinh tế xã hội bên ngoài doanh nghiệp như: xu hướng chung của nền kinh tế (sự tăng trưởng nền kinh tế, lạm phát hoặc sự suy thoái của nền kinh tế), thu thập bình quân đầu người, công ăn việc làm, hoặc những thay đổi về pháp lý và chính trị (chính sách thuế đánh vào sản phẩm của doanh nghiệp, chính sách xuất

Trang 10

nhập khẩu của nhà nước, ảnh hưởng chính trị đến các đối tác nước ngoài) và những hoạt động tương lai của các đối thủ cạnh tranh và khách hàng…

- Người lập dự toán sẽ dự báo số lượng sản phẩm tiêu thụ trong mối liên hệ của tất cả các nhân tố trên Đánh giá đúng đắn các nhân tố làm cho dự toán vừa mang tính tiên tiến vừa mang tính hiện thực, phù hợp với khả năng thực hiện của mình Sau khi dự báo số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ tính toán toàn bộ ra giá trị bằng cách nhân với đơn giá sản phẩm

- Dự toán chi phí:

Tiếp theo dự toán doanh thu, doanh nghiệp sẽ phát triển hàng loạt dự toán chi phí Dự toán chi tiết các chi phí cần thiết để phục vụ cho việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng Tùy theo tính chất của doanh nghiệp, sản xuất, thương mại hay dịch vụ, dự toán các chi phí sẽ khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp sản xuất: Căn cứ vào nhu cầu tiêu thụ, doanh nghiệp sản

xuất sẽ xác định số lượng sản phẩm sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và có tính toán cân đối với hàng tồn kho Trên cơ sở dự toán sản xuất, dự toán chi phí sản xuất

sẽ được lập bao gồm: dự toán chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung Căn cứ vào doanh thu bán hàng, doanh nghiệp sẽ xây dựng dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Các chi phí này phát sinh ngoài quá trình sản xuất nên được phân loại thành chi phí ngoài sản xuất, bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, chi phí trong quá trình quản lý và các chi phí có tính chất chung trong toàn doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp thương mại: Tương tự như doanh nghiệp sản xuất thay

vì lập dự toán sản xuất, doanh nghiệp thương mại lập dự toán mua hàng để xác định số lượng hàng hóa cần mua phục vụ cho bán ra Doanh nghiệp thương mại không có sản xuất nên không lập dự toán chi phí sản xuất Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng được lập tương tự như doanh nghiệp sản xuất

Đối với doanh nghiệp dịch vụ: Doanh nghiệp dịch vụ phát triển các dự toán chi

phí tương tự như doanh nghiệp sản xuất

b Dự toán tài chính:

Sau khi các dự toán hoạt động được lập, dự toán tài chính sẽ được chuẩn bị bao gồm: dự toán tiền, dự toán kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán dự toán

Dự toán tiền: tất cả các doanh nghiệp đều phải chuẩn bị dự toán tiền, chi tiết

các khoản thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp Các khoản thu bằng tiền chủ yếu

Trang 11

thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản chi bằng tiền sẽ liên quan đến các khoản mua nguyên liệu vật liệu, chi trả lương và các khoản chi khác cho quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Dự toán chi còn bao gồm cả chi mua tài sản như nhà xưởng, thiết bị

Bằng việc xem xét thời điểm thu vào và chi ra, dự toán tiền sẽ cho thấy khi nào doanh nghiệp thiếu tiền trong năm và cần nguồn tài trợ, khi nào doanh nghiệp thừa tiền để sẵn sàng cho việc đầu tư hoặc trả nợ

Để xác định thời điểm thừa tiền, dự toán tiền có thể được chi tiết hàng tháng, hàng tuần Nếu không xác định đúng thời điểm thiếu tiền để kịp thời tìm nguồn tài trợ, có thể sẽ làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh: Dự toán này trình bày doanh thu và chi phí

của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng cân đối kế toán dự toán: Dự toán này trình bày tổng quát tình hình tài

chính của doanh nghiệp sau thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định Đó

là, tình hình tài sản và nguồn vốn vào cuối kỳ dự toán, qua đó giúp chúng ta thấy được khái quát tình hình sử dụng tài sản, tình hình huy động các nguồn vốn như thế nào Bảng cân đối kế toán dự toán cùng với dự toán kết quả hoạt động kinh doanh

và dự toán tiền trình bày kết quả tài chính các hoạt động tương lai của thời kỳ dự toán nên được gọi là dự toán tài chính

3 Định mức chi phí

3.1 Khái niệm

Định mức chi phí là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa liên quan đến việc sản xuất và kinh doanh một đơn vị sản phẩm, dịch vụ ở điều kiện nhất định Định mức chi phí được hiểu là chi phí đơn vị ước tính được sử dụng làm tiêu chuẩn cho việc thực hiện của các yếu tố chi phí

Ví dụ: Định mức chi phí nhân công trực tiếp là 30.000đ nghĩa là chi phí nhân công trực tiếp để sản xuất một sản phẩm là 30.000đ Định mức chi phí là căn cứ để xây dựng dự toán sản xuất kinh doanh

Định mức chi phí và dự toán cùng giống nhau là ước tính hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Nếu định mức chi phí được xây dựna đê xác định chi phí tiêu hao cho sản xuất một sản phẩm, thì dự toán được xây dựng trên tổng sản lượng sản phẩm của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp Do đó, định mức và dự toán có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, định mức chi phílà cơ sở để xây dựng dự toán Nếu định mức chi phí không được xây dựng chính xác thì dự toán của doanh

Trang 12

nghiệp cũng không có tính khả thi Dự toán là cơ sở để đánh giá, kiểm tra và xem xét định mức đã được xây dựng họp lý hay chưa, từ đó có những biện pháp hoàn thiện định mức trong tương lai

Định mức chi phí có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, giúp các nhà quản trị ước tính trước sự biến động chi phí trong tương lai, chủ động trong việc định hướng phát triển, sử dụng điều kiện sản xuất một cách tối ưu Căn cứ vào định mức chi phí các bộ phận thực hiện tốt được việc kiểm soát và tiết kiệm chi phí

Thông qua việc xây dựng hệ thống định mức chi phí giúp cho công tác kế toán chi phí được thuận lợi Việc đánh giá chi phí thực tế phát sinh có cơ sở khoa học chắc chắn

Khi áp dụng định mức chi phí lý tưởng vào thực tế sẽ thúc đẩy bộ phận cơ sở thực hiện cố gắng hoạt động có hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Nhưng cũng có một nhược điểm lớn, tâm lý người thực hiện không được ổn định do phải đảm bảo chi phí thấp nhất nên họ sẵn sàng bỏ qua chất lượng nguyên vật liệu, tay nghề công nhân tỷ lệ sản phẩm hỏng sẽ cao hơn Do đó, định mức chi phí lý tưởng không có khả năng áp dụng vào thực tế, nhưng được xây dựng làm căn cứ xây dựng định mức chi phí thực tế

- Định mức chi phí thực tế: là định mức được xây dựng dựa trên điều kiện thực tế của doanh nghiệp, có tính đến những gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: điều kiện làm việc, chất lượng vật tư, lao động

Định mức chi phí thực tế cho phép người lao động với tay nghề cùng với ý thức trách nhiệm, nỗ lực bản thân có thể thực hiện được Khi áp dụng định mức chi phí thực tế vào doanh nghiệp sẽ khuyến khích nhân vièn có thái độ lao động tích cực, năng suất lao động cao hơn so với định mức chi phí lý tưởng

Định mức chi phí thực tế là cơ sở để xây dựng dự toán sàn xuất kinh doanh,

là căn cứ để đánh giá tình hình thực tế phát sinh chi phí

Trang 13

3.3 Phương pháp xây dựng định mức chi phí

Để xây dựng định mức chi phí một cách khoa học và có khả năng áp dụng vào thực tế đòi hỏi người xây dựng định mức phải có kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm thực tể Khi xây dựng có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích kinh tế - kỹ thuật: Định mức chi phí được xây dựng dựa trên hoạt động thực tế của doanh nghiệp: về nguồn lực lao động, quy trình công nghệ sản xuất, trình độ quản lý, giá cả thị trường của các yếu tố đầu vào, đầu

ra Các chuyên gia xây dựng định mức sẽ phân tích thiết kế kỹ thuật của sản phẩm, kết hợp với nguồn lực của doanh nghiệp để xây dựng định mức chi phí Sau

đó, sẽ áp dụng thử nghiệm tại doanh nghiệp một thời gian để phân tích, đánh giá và điều chỉnh định mức chi phí cho chính xác

- Phương pháp thống kê kinh nghiệm: Định mức chi phí được xây dựng dựa trên số liệu thống kê về tình hình sản xuất kinh doanh nhiều kỳ của doanh nghiệp Căn cứ vào sự hao phí các yếu tố đầu vào như: lượng nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm, lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất một sản phẩm cũng như sự biến động giá cả thị trường trong một số chu kỳ sản xuất kinh doanh để xây dựng định mức chi phí cho doanh nghiệp

Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể áp dụng đồng thời cà hai phương pháp trên để xây dựng định mức chi phí Nhưng dù theo phương pháp nào các chuyên gia xây dựng định mức cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

+ Căn cứ vào thực tế tiêu hao chi phí của kỳ trước Phải tiến hành phân tích các nhân tố chủ quan và khách quan tác động đến thực tế tiêu hao chi phí

+ Căn cứ vào điều kiện hiện tại như đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, bậc thợ, tay nghề của công nhân Kết họp với những điều kiện dự kiến cho tương lai để xây dựng định mức chi phí thích hợp có khả năng áp dụng vào môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

3.4 Các định mức chi phí trong doanh nghiệp

3.4.1 Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là sự tiêu hao của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất một sản phẩm, được xây dựng thông qua định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp và định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp

- Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh lượng nguyên vật liệu trực tiếp tiêu hao để sản xuất một sản phẩm Để xây dựng định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp cần nắm vững yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm Số lượng nguyên vật

Trang 14

liệu chính, vật liệu phụ cho nhu cầu sản xuất cơ bản lượng nguyên vật liệu hao hụt trong quá trình sản xuất cho phép, lượng nguyên vật liệu dành cho sản phẩm hỏng cho phép , kết hợp với trình độ tay nghề của công nhân

Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp thường được xây dựng với từng loại sản phẩm riêng biệt

Ví dụ: Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất sản phẩm Y của công ty Cát Tường được xây dựng như sau:

Lượng nguyên vật liệu X cơ bản để sản xuất một sản phẩm: 2,3kg

Lượng nguyên vật liệu hao hụt trong sản xuất cho phép: 0,1 kg

Lượng nguyên vật liệu dành cho sản phẩm hỏng cho phép: 0,1 kg

=> Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp = 2,3 + 0,1 +0,1 = 2,5kg

- Định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp: là giá nhập kho tính trên một đơn vị nguyên vật liệu trực tiếp Được xây dựng căn cứ vào giá mua trên hóa đơn, chi phí thu mua, hao hụt trong quá trình thu mua cho phép, các khoản chiết khấu

Định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp do bộ phận thu mua xây dựng thường dựa trên các hợp đồng thu mua đã ký kết hợp với chất lượng nguyên vật liệu, các khoản chi phí phát sinh liên quan, tình hình biến động giá và quá trình thương lượng giá với nhà cung cấp Trong trường họp cung một loại vật liệu được thu mua

từ nhiều nhà cung cấp với các mức giá khác nhau thì phải xác định giá giá bình quân

Ví dụ: Định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp của công ty Cát Tường được xây dựng như sau:

Giá mua một kg nguyên vật liệu X: 5.000đ

Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, nhập kho: 800đ

Hao hụt trong thu mua 600đ

Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua: 400đ

=> Định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp = 5.000 + 800 + 600 - 400= 6.000đ Sau khi xác định được định mức lượng và định mức giá nguyên vật liệu trực tiếp ta xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thông qua công thức sau:

Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp = Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp x Đinh mức giá nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 15

Ví dụ: Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công ty Cát Tường sẽ là: Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp = 2,5kg X 6.000đ = 15.000đ

3.4.2 Định mức chi phi nhân công trực tiếp

Định mức chi phí nhân công trực tiếp là chi phí nhân công trực tiếp để sản xuất một sản phẩm Cũng giống như định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, định mức chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng căn cứ vào định mức lượng thời gian lao động và định mức giá thời gian lao động

- Định mức lượng thời gian lao động là lượng thời gian cần thiết để tiến hành sản xuất một sản phẩm Để xác định lượng thời gian sản xuất một sản phẩm thường dựa vào một trong hai phương pháp sau:

• Đem chia sản phẩm hoặc công việc thành những thao tác kỹ thuật riêng Căn

cứ vào bảng thời gian lao động để xác định thời gian với từng thao tác, rồi tổng hợp lại để ra thời gian hoàn chỉnh cần thiết để sản xuất một sản phẩm (công việc)

• Xác định thời gian sản xuất một sản phẩm bằng cách bấm giờ Một công nhân với tay nghề, bậc thợ trung bình tiến hành sản xuất một sản phẩm dưới sự theo dõi của giám sát Người thực hiện hoạt động giám sát sẽ bấm giờ đồng hồ từ khi bắt đầu sản xuất sản phẩm đến khi kết thúc sản phẩm Nhưng dù theo phương pháp nào thì khi xây dựng định mức lượng thời gian lao động cũng phải tính đến thời gian nghỉ ngơi họp lý của người lao động, thời gian máy nghỉ, lau chùi máy

Ví dụ: Định mức lượng thời gian lao động để sản xuất sàn phẩm Y của Công ty Cát Tường được xây dựng như sau:

Lượng thời gian cơ bản để sản xuất một sản phẩm Y là: 2,6 h

Thời gian máy nghỉ: 0,1 h

Thời gian nghi ăn ca, nghỉ giữa giờ: 0,2h

Thời gian dành cho sản phẩm hòng cho phép: 0,1 h

=> Định mức lượng thời gian lao động = 2,8 + 0,1 + 0,2 + 0,1 = 3,0 h

- Định mức giá thời gian lao động: là chi phí nhân công trực tiếp cho một đơn

vị thời gian của doanh nghiệp (giờ, ngày)

Khi xây dựng định mức giá thời gian lao động phải căn cứ vào bảng lương, các hợp đồng lao động đã ký, trình độ tay nghề, bậc thợ của công nhân Định mức giá thời gian lao động ngoài lương cơ bàn còn phải tính các khoản phụ cấp lương, các khoản trích theo lương theo tỷ lệ quy định

Trang 16

Ví dụ: Định mức giá cho một giờ lao động của Công ty Cát Tường được xây dựng như sau:

Lương cơ bản cho 1 h: 10.000 đ

Các khoản trích theo lương (22%) 2.200 đ

Phụ cấp lương được hưởng (28% lương cơ bản) 2.800 đ

=> Định mức giá thời gian lao động = 10.000 + 2.200 + 2.800 = 15.000 đ Sau khi xây dựng xong định mức lượng thời gian lao động và định mức giá thời gian lao động, ta tiến hành xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp qua công thức sau:

Định mức chi phí nhân công trực tiếp = Định mức lượng thời gian lao động x Đinh mức giá thời gian lao động

Ví dụ: Định mức chi phí nhân công trực tiếp của Công ty Cát Tường được xác định như sau:

Định mức chi phí nhân công trực tiếp = 3 h X 15.000 đ = 45.000 đ

3.4.3 Định mức chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là chi phí hổn hợp bao gồm nhiều yếu tố mang tính chất biến đổi và cố định Khi xây dựng chi phí sản xuất chung theo mức độ hoạt động thường chia thành định mức biến phí sản xuất chung và định mức định phí sản xuất chung

- Định mức biến phí sản xuất chung là biến phí sản xuất chung để sản xuất một sản phẩm

• Nếu biến phí sản xuất chung liên quan trực tiếp đến từng loại sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công gián tiếp ) thì xây dựng định mức biến phí sản xuất chung tương tự như định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và định mức chi phí nhân công trực tiếp

• Nếu biến phí sản xuất chung liên quan đến nhiều loại sản phẩm thì khi xây dựng phải căn cứ trên định mức chi phí trực tiếp và tỷ lệ biến phí sản xuất chung so với chi phí trực tiếp

Định mức biến phí sản xuất chung = Định mức chi phí trực tiếp x Tỷ lệ biến

phí sản xuât chung so với chi phí trực tiếp

• Nếu doanh nghiệp xác định được tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung một cách chính xác, khi xây dựng định mức biến phí sản xuất chung phải xác định đơn giá biến phí sản xuất chung phân bổ

Trang 17

Hệ số phân bổ biến phí sản xuất chung = Tông biến phí sản xuất chung ước tính/ Tổng tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung

Ví dụ: Phần biến phí trong đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ của công ty Cát Tường là 3.000đ Chi phí sán xuất chung cua công ty được phân bổ theo số giờ làm việc của lao động trực tiếp

Định mức biến phí sản xuất chung = 3h X 3.000 đ = 9.000 đ

- Định mức định phí sản xuất chung: là định phí sản xuất chung để sản xuất một sản phẩm Định mức định phí sản xuất chung thường không thay đổi trong phạm vi phù hợp của quy mô hoạt động như: lương quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định phân xưởng, chi phí thuê nhà xưởng Do đó, phải xác định giới hạn hoạt động của doanh nghiệp (tồng mức độ hoạt động, tổng tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung) và đơn giá định phí sán xuất chung phân bổ

Hệ số phân bổ định phí sản xuất chung = Tổng định phí sản xuất chung ước tính/ Tổng tiêu thức phân bố chi phí sản xuất chung

Đinh mức định phí sản xuất chung = Mức độ hoạt động bình quân 1 sản phẩm / Hệ số phân bổ định phí sản xuất chung

Ví dụ: vẫn công ty Cát Tường với phần định phí trong đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ là 7.000đ, sẽ xác định định mức định phí sản xuất chung như sau: Định mức định phí sản xuất chung = 3h X 7.000đ = 21,000đ

Ví dụ: Định mức chi phí sản xuất chung của Công ty Cát Tường được xây dựng như sau:

Định mức chi phí sản xuất chung = 9.000 đ + 21.000 đ = 30.000 đ

Sau khi xây dựng xong định mức chi phí cho từng yếu tố sản xuất các nhà quản trị sẽ tiến hành tổng họp để ra định mức chi phí sản xuất

3.4.4 Định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều khoản chi mang tính chất biến đổi và cố định Nên khi xây dựng dự toán cũng được xây dựng tương tự như chi phí sản xuất chung Xây dựng dự toán biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, định mức định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Cuối cùng tổng hợp lại để có được định mức chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Với những doanh nghiệp lớn sẽ xây dựng định mức chi phí bán hàng riêng và chi phí quản lý doanh nghiệp riêng cũng tương tự như dự toán chi phí sản xuất chung

Trang 18

Tuy nhiên mức độ hoạt động lựa chọn làm căn cứ phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thường liên quan đến hoạt động tiêu thụ như: số lượng sản phẩm tiêu thụ, quy mô bán hàng

4 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Để lập được dự toán tiêu thụ người làm dự toán cần tham khảo hàng loạt những thông tin cơ sở về:

 Tình hình tiêu thụ các kỳ trước và chính sách giá của doanh nghiệp;

 Nhu cầu thị trường và giá bán của đối thủ cạnh tranh;

 Phương thức bán hàng và thời hạn thanh toán

Ví dụ tình huống: Công ty T3 là hoạt động trong lĩnh vực may gia công áo sơ

mi nam Trong năm tới doanh nghiệp dự kiến tiêu thụ 9.000 sản phẩm với sản lượng tiêu thụ các quý lần lượt là:

Quý 1: 1.500 sản phẩm

Quý 2: 2.500 sản phẩm

Quý 3: 3.000 sản phẩm

Quý 4: 2.000 sản phẩm

Doanh nghiệp cho phép khách hàng được trả chậm 40% doanh thu sau

một quý Hiện tại nợ phải thu còn tồn đọng là 100 triệu đồng

Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Năm N

Sản lượng tiêu thụ (SP) 1.500 2.500 3.000 2.000 9.000 Giá bán đơn vị (1000 đ) 180 180 180 180 180

Doanh thu 270.000 450.000 540.000 360.000 1.620.000

Trang 19

4.2 Dự toán sản xuất

- Dự toán sản lượng sản xuất là dự toán được lập căn cứ trên khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp với mục tiêu:

+ Đảm bảo đủ lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu thụ;

+ Duy trì thành phẩm tồn kho ở mức an toàn hợp lý

Sản lượng sản xuất = Sản lượng tiêu thụ + tồn cuối kỳ – tồn đầu kỳ

- Để xây dựng được dự toán sản xuất người lập dự toán cần tham khảo thông tin từ dự toán tiêu thụ kết hợp với những biến động về môi trường sản xuất, năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ dự toán

- Giá thành của sản phẩm tồn kho đầu năm là 105.000 đồng/chiếc

Trang 20

4.2.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu đƣợc lập dựa trên dự toán về khối lƣợng sản xuất và phải đáp ứng đƣợc những mục tiêu cơ bản sau:

+ Xác định đƣợc lƣợng vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất;

+ Đảm bảo vật liệu tồn kho ở mức an toàn và hợp lý;

+ Thiết kế lịch trả tiền phù hợp để cân đối luồng tiền trong doanh nghiệp

- Cơ sở quan trọng nhất để lập dự toán chi phí nguyên vật liệu đó là định mức chi phí nguyên vật liệu tiêu hao cho một sản phẩm

Chi phí nguyên vật liệu = Sản lƣợng SX * Định mức tiêu hao NVL * Giá NVL

Ví dụ tình huống: Giả sử công ty T3 có định mức nguyên vật liệu tiêu hao cho một sản phẩm là 1,8 m2 vải và đơn giá 1 m2 vải Kate có giá 25.000 đồng

Hiện tại công ty đang tồn kho 342 m2 vải và tỷ lệ dự trữ vật liệu cũng là 10% so với nhu cầu sản xuất trong từng quý

Công ty nhập từ một nhà cung cấp vải lớn nên có thể thanh toán chậm 60% tiền hàng sau một quý

Nợ phải trả đầu năm 20 triệu đồng

Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Năm N

1.Sản lƣợng sản xuất (SP) 1.450 2.600 3.050 1.900 9.000 2.Định mức tiêu hao NVL 1,8 1,8 1,8 1,8 1,8 3.Lƣợng NVL cho SX 2.610 4.680 5.490 3.420 16.200

Trang 21

Thanh toán Quý 3 55.710 83.565 139.275

Tổng chi mua NVL 45.290 86.805 129.015 115.695 376.805 4.2.2 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp cũng đƣợc lập dựa trên dự toán về khối lƣợng sản xuất Dự toán này phản ánh tình hình sử dụng lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm và phải đảm bảo đƣợc những mục tiêu cơ bản sau:

Xác định tổng thời gian lao động cần thiết cho nhu cầu sản xuất;

Xác định đƣợc đơn giá thời gian lao động phù hợp

- Cơ sở quan trọng nhất để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp là định mức thời gian lao động trực tiếp cho một sản phẩm và đơn giá một đơn vị thời gian

Chi phí NCTT = Sản lƣợng SX * Định mức thời gian * Đơn giá thời gian LĐ

- Dự toán chi phí sản xuất chung cũng đƣợc lập dựa trên dự toán sản lƣợng sản xuất Tuy nhiên chi phí sản xuất chung là một chi phí hỗn hợp nên khi xây dựng dự toán cần tách biệt hai phần cụ thể là chi phí biến đổi và chi phí cố định

+ Dự toán chi phí sản xuất chung biến đổi đƣợc xây dựng dựa trên định mức tiêu hao của các chi phí trực tiếp vì phần chi phí này phụ thuộc sản lƣợng sản xuất

của tƣng kỳ dự toán

Trang 22

+ Dự toán chi phí sản xuất chung cố định thì hoàn toàn không biến động theo

sản lượng sản xuất của các kỳ dự toán do đó chi phí này được ước tính chung cho

cả kỳ dự toán dài và phân bổ đều cho từng giai đoạn ngắn hơn trong dự toán

Ví dụ tình huống: Nếu công ty T3 có chi phí sản xuất chung được xác định dựa

trên thời gian lao động trực tiếp với tỷ lệ phân bổ của chi phí sản xuất chung biến

đổi là 16.000 đồng/giờ và tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuất chung cố định là 14.000

đồng/giờ

Chi phí sản xuất chung biến đổi hầu hết là các khoản hao phí bằng tiền

Chi phí sản xuất chung cố định chủ yếu là tiền thuê nhà xưởng, lương nhân viên

quản lý và chi phí khấu hao máy móc thiết bị Trong đó chi phí khấu hao một năm

Chi phí SXC (1.000đ) 82.050 109.650 120.450 92.850 405.000 4.3 Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

• Chi phí bán hàng và quản lý có đặc điểm hoàn toàn giống với chi phí sản

xuất chung Đây là một chi phí hỗn hợp do đó khi xây dựng dự toán cũng cần tách

hai phần chi phí biến đổi và cố định

• Tuy nhiên dự toán chi phí bán hàng và quản lý khác chi phí sản xuất chung

vì chi phí này không được xây dựng trên cơ sở là sản lượng sản xuất mà căn cứ trên

sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp

Trang 23

Ví dụ tình huống: Giả sử công ty T3 có chi phí bán hàng và quản lý biến đổi tính bình quân trên một sản phẩm là 10.000 đồng và tổng chi phí bán hàng và quản lý cố định là 100 triệu đồng trong đó chi phí khấu hao là 20 triệu đồng

Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Năm N

Sản lượng tiêu thụ (SP) 1.500 2.500 3.000 2.000 9.000

Chi phí BH và QL biến đổi 15.000 25.000 30.000 20.000 90.000 Chi phí BH và QL cố định 25.000 25.000 25.000 25.000 100.000 Trong đó:

Bằng tiền 20.000 20.000 20.000 20.000 80.000

Chi phí BH và QL (1.000đ) 40.000 50.000 55.000 45.000 190.000 4.4 Dự toán thu chi tiền mặt

- Dự toán thu chi tiền mặt được xem như trung tâm của hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh Dự toán thu chi tiền mặt cần phải đảm bảo những mục tiêu cơ bản như sau:

Xác định được luồng tiền vào, ra và cân đối thu chi trong kỳ dự toán;

Xây dựng kế hoạch dự trữ tiền mặt ở mức an toàn hợp lý;

Trong trường hợp cân đối thu chi chưa được đảm bảo thì cần lên kế hoạch tài trợ từ bên ngoài để đảm bảo sự ổn định dòng tiền cho sản xuất kinh doanh

- Để xây dựng được dự toán tiền người lập dự toán cần căn cứ trên những dự toán doanh thu, chi phí đã lập; lượng tiền tồn đầu kỳ dự toán và khả năng huy động vốn từ bên ngoài của doanh nghiệp

- Bên cạnh đó thông tin về kế hoạch đầu tư và phân chia cổ tức cũng ảnh hưởng trực tiếp tới dự toán dòng tiền trong kỳ

Ví dụ tình huống:

- Giả sử công ty T3 có lượng tiền mặt tồn quỹ đầu năm là 50 triệu đồng và các nhà quản trị cho rằng đây là mức dự trữ tối thiểu để đảm bảo tính an toàn về khả năng thanh toán

Trang 24

- Theo kế hoạch trong năm tới công ty sẽ đầu tư mua sắm mới một số máy móc sản xuất lần lượt trong quý 1 là 150 triệu đồng, quý 2 là 30 triệu đồng và quý

4.5 Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh

Dự toán Báo cáo kết quả kinh doanh nhằm để khái quát tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong kỳ tới, từ đó các nhà quản trị chủ động trong các quyết định điều hành doanhn nghiệp

Dự toán Báo cáo kết quả kinh doanh có thể được xây dựng theo 1 trong 2 phương pháp xác định chi phí trực tiếp và toàn bộ

Trang 25

Báo cáo kết quả kinh theo phương pháp trực tiếp

Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Năm

1 Doanh thu

2 Chi phí biến đổi

3 Lợi nhuận góp (3 = 1 – 2)

4 Chi phí cố định

5 Lợi nhuận thuần

6 Chi phí lãi vay

7 Lợi nhuận trước thuế

Báo cáo kết quả kinh theo phương pháp toàn bộ

Trang 26

4.6 Dự toán bảng cân đối kế toán

Dự toán Bảng cân đối kế toán nhằm khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp theo dự toán Từ đó các nhà quản trị có phương án kiểm soát tình hình sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp

Giải quyết tình huống

Với những thông tin đã thu thập được về tình hình kinh doanh của công ty T3 có thể nhận thấy công ty đang gặp hai vấn đề lớn cần giải quyết

Vấn đề thứ nhất là sản lượng sản xuất ngày càng tăng cao trong khi sản lượng

tiêu thụ vẫn được duy trì như cũ Điều này dẫn tới lượng hàng tồn kho ngày càng tăng và rủi ro về tính thanh khoản của tài sản càng rõ rệt

Vấn đề thứ hai là doanh thu chủ yếu là doanh thu bán chịu vì sau 2 – 3 tháng các

siêu thị mới thanh toán tiền nên công ty gặp phải vấn đề về cân đối dòng tiền thu chi Điều này ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp và có thể làm doanh nghiệp sụp đổ bất cứ lúc nào

Để giải quyết vấn đề này, giám đốc doanh nghiệp cần một hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh để lường trước những rủi ro trong tương lai

5 Bài tâp vận dụng mục 3,4

Tại một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm A, dự kiến trong năm 20x5 có tài liệu sau :

Trang 27

1/ Số lượng sản phẩm tiêu thụ tháng 4 là 20.000 sp; tháng 5 là 21.000 sp; tháng

6 là 23.000sp; tháng 7 là 22.000sp

Đơn giá bán sản phẩm dự kiến là 50 ngàn đồng/sp và doanh thu hàng tháng thu ngay trong tháng bán hàng là 60%,tháng kế tiếp thu 30%, tháng tiếp theo nữa thu 10% Biết rằng ngày 01/4/20x5 còn phải thu khách hàng là 630.000 ngàn đồng trong đó phải thu tiền bán hàng của tháng 2 là 30.000 ngàn đồng và của tháng 3 là 600.000 ngàn đồng

2/ Số lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ là 4.000 SP Số lượng sản phẩm tồn kho cuối tháng bằng 20% mức tiêu thụ của tháng kế tiếp

3/ Sản xuất 1 sản phẩm A cần 0,5 kg nguyên vật liệu với đơn giá mua là 40 ngàn đồng/kg Tiền mua nguyên vật liệu trả ngay trong tháng mua hàng là 80%,

số còn lại chuyển sang tháng sau Ngày 1/4/20x5 còn phải trả người bán là 60.000 ngàn đồng

4/ Số lượng nguyên vật liệu tồn cuối tháng bằng 10% nhu cầu vật liệu cần cho sản xuất ở tháng kế tiếp số lượng nguyên vật liệu tồn cuối tháng 6 là 1.000kg

Yêu cầu:

1/ Xác định doanh thu của tháng 2 và tháng 3 Lập dự toán tiêu thụ sản phẩm cho từng tháng và cả quí 2 năm 20x5

2/ Lập dự toán sản xuất cho từng tháng và cả quí 2 năm 20x5

3/ Lập dự toán mua NVL cho từng tháng và cả quí 2 năm 20x5

Trang 28

Lịch thu tiền tháng 5 = 200.000 + 30% x 1.000.000 + 60% x 1.050.000 = 1.130.000

Lịch thu tiền tháng 6 = 10% x 1.000.000 + 30% x 1.050.000 + 60% x 1.150.000= 1.105.000

2/ Lập dự toán sản xuất cho từng tháng và cả quí 2 năm 20x5

SL sp tồn kho đầu kỳ tháng 5 = SLSP tồn cuối kỳ tháng 4=4.200

SL sp tồn kho đầu kỳ tháng 6 = SLSP tồn cuối kỳ tháng 5 = 4.600

3/ Lập dự toán mua NVL cho từng tháng và cả quí 2 năm 20x5

Trang 30

CÂU HỎI ÔN TẬP

Bài tập 1: Công ty XYZ dự kiến sẽ bán được 200.000 sản phẩm trong tháng 7 năm

2006 Ban giám đốc hy vọng rằng, tốc độ tăng trưởng doanh thu là 5% mỗi tháng

Nhu cầu tồn kho thành phẩm cuối mỗi tháng bằng 80% s ố lượng sản phẩm dự kiến

sẽ tiêu thụ trong tháng tới Số lượng sản phẩm tồn kho ngày 30/6/2006 là 150.000 đơn vị Mỗi sản phẩm sản xuất cần 4 kg nguyên vật liệu với gia mua dự kiến là 12.000 đồng/kg Có 800.000 kg nguyên vât liệu tồn kho vào ngày 30/6/2006

Yêu cầu

1 Lập dự toán sản xuất của công ty XYZ cho thời kỳ ba tháng 7, 8, và 9 năm

2006

2 Giả sử rằng, công ty lập kế hoạch sản xuất 600.000 sản phẩm trong quý 3 năm

2006 Nhu cầu tồn kho nguyên vật liệu cuối quí 3 bằng 25% tổng lượng nguyên vât liệu sử dụng trong quí Hãy tính chi phí mua nguyên vật liệu ước tính trong quí (câu hỏi này là độc lập với câu 1)

Bài tập 2: Công ty N ghi nhận số liệu quá khứ về việc thu tiền bán hàng cho những giao dịch bán hàng trả chậm như sau:

70% doanh thu trong tháng sẽ thu được tiền trong tháng ấy

15% doanh thu trong tháng sẽ thu được tiền trong tháng tiếp theo

10% doanh thu trong tháng sẽ thu được tiền trong tháng thứ hai sau tháng bán hàng 5% doanh thu trong tháng sẽ thu được tiền trong tháng thứ ba sau tháng bán hàng

Doanh thu dự toán cho 6 tháng tới năm 2006 như sau:

Trang 31

1 Tính tổng số tiền ƣớc tính sẽ thu đƣợc trong tháng 10 năm 2006

2 Tính tổng số tiền ƣớc tính sẽ thu đƣợc trong quí 4 từ việc bán hàng trong quí 4

Bài tập 3: Dự kiến về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty H các tháng trong quý 1, năm 2006 nhƣ sau:

Tháng 1: 1.100 sản phẩm Tháng 2: 1.200 sản phẩm Tháng 3: 1.900 sản phẩm Yêu cầu:

1 Hãy lập dự toán tiêu thụ sản phẩm của Công ty trong quý 1 (theo từng tháng và tổng cộng cả quý) Biết rằng giá bán sản phẩm dự kiến là P = 100.000đ/sản phẩm

2 Lập dự toán sản xuất cho Công ty trong quý 1 (theo từng tháng và tổng cộng cả quý) Biết rằng, tình hình tồn kho thành phẩm dự kiến của công ty nhƣ sau:

Ngày 01/01/2006: 850 sản phẩm Ngày 31/01/2006: 750 sản phẩm Ngày 28/02/2006: 800 sản phẩm Ngày 31/03/2006: 200 sản phẩm

3 Lập các dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí lao động trực tiếp và dự toán chi phí sản xuất chung cho Công ty trong quý 1 (theo từng tháng và tổng cộng cả quý) Biết rằng, định mức chi phí sản xuất nhƣ sau:

- Nguyên liệu trực tiếp: 2 kg/sản phẩm, với mức giá 5.000đ/kg

- Lao động trực tiếp: 3 giờ/sản phẩm, với mức giá 5.000đ/giờ

- Sản xuất chung phân bổ:

+ Khả biến: 1.500đ/1 giờ lao động trực tiếp

Trang 32

Tháng 2: 12.000 bộ bàn ghế

Tháng 3: 15.000 bộ bàn ghế

Mỗi bộ bàn ghế cần 10 tấm gỗ có kích thước 30cmx30cm để sản xuất và 1.5 giờ lao động trực tiếp Giá bán của mỗi bộ bàn ghế là $50 Mỗi tấm gỗ dùng để đóng bàn ghế có giá mua là $0.5 Nhu cầu tồn kho nguyên liệu (tấm gỗ) mỗi tháng phải đáp ứng được 10% yêu cầu sản xuất trong tháng tới Đơn giá tiền lương lao động trực tiếp (bao gồm cả phụ cấp) là $20/1 giờ lao động Nhu cầu tồn kho thành phẩm cuối mỗi tháng phải đáp ứng 20% số lượng sản phẩm tiêu thụ trong tháng tới Yêu cầu: Hãy điền vào những chổ còn trống trong các bảng dự toán sau đây:

1 Dự toán doanh thu

Tổng nguyên liệu cần cho sản xuất (tấm gỗ) 104.000

Cộng: Nhu cầu tồn kho cuối kỳ (tấm gỗ) 12.600 16.000 Tổng nhu cầu nguyên liệu (tấm gỗ) 116.600

Trang 33

Trừ: Tồn kho nguyên liệu đầu kỳ (tấm gỗ) 10.400

Số lượng nguyên liệu cần mua vào (tấm gỗ) 106.200

Chi phí mua nguyên liệu ước tính $53.100

4 Dự toán lao động trực tiếp

Số lượng sản xuất dự kiến (bộ) 10.400

Số giờ lao động trực tiếp để sản xuất 1 bộ 1.5

Tổng nhu cầu thời gian lao động (giờ) 15.600

Đơn giá tiền lương/1 giờ lao động trực tiếp $20

Dự toán chi phí lao động trực tiếp $312.000

Trang 34

CHƯƠNG 5 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM

Mã chương 5: MĐ23-05 Giới thiệu: Quyết định, định giá bán sản phẩm trong dài hạn và trong ngắn hạn

Các quyết định, định giá bán sản phẩm trong dài hạn thường dựa trên cơ sở chi phí sản xuất ra sản phẩm đó Các quyết định ngắn hạn thường dựa trên các tình huống cụ thể của doanh

1 Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến các quyết định về giá

1.1 Khái quát về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về giá

Quyết định, định giá bán sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau như nhân tố bên trong, bên ngoài, nhân tố tích cực, tiêu cực, nhân tố định tính

và định lượng Những nhân tố này có thể chia thành 2 nhóm cơ bản:

 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

- Mục tiêu của doanh nghiệp không phải là nhân tố tác động trực tiếp, song

là nhân tố tác động gián tiếp tới hình thành giá bán khác nhau Các mục tiêu của doanh nghiệp thường thể hiện trong từng giai đoạn khác nhau, có thể mục tiêu trước mắt là lợi nhuận hay tiêu diệt đối thủ cạnh tranh, có thể mục tiêu cuối cùng là phi lợi nhuận hay lợi nhuận Doanh nghiệp được hỗ trợ ngân sánh hoạt động hay tự chủ kinh phí… Tất cả những mục tiêu đó đều ảnh hưởng tới giá bán sản phẩm của doanh nghiệp

- Chính sách marketing trong doanh nghiệp, đây là yếu tố quan trọng đến quyết định, định giá bán sản phẩm Thông thường giá bán sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chính sách bán hàng của doanh nghiệp Chính sách bán hàng được thực hiện qua một chuỗi các công việc từ khi quảng cáo thâm nhập thị trường, xây dựng

hệ thống phân phối bán hàng, bảo hành sau khi bán…

Trang 35

Trong nền kinh tế thị trường phát triển, nhiều khách hàng thường quan tâm tới chính sách bán hàng của doanh nghiệp để chấp nhận giá mua, nhằm đảm bảo an toàn cho quyết định của mình

- Chi phí của sản phẩm là yếu tố có tính chất quyết định tới việc hình thành và vận động của giá bán sản phẩm Chi phí của sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả và hiệu quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp, đó là nhân tố để doanh nghiệp tồn tại và phát triển như thế nào trên thị trường Do vậy chỉ cần sự thay đổi đáng kể của chi phí, các nhà quản trị lại có quyết định định giá mới

 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp thường các nhà quản trị không kiểm soát và thay đổi được Các nhân tố bên ngoài thường tồn tại một cách khách quan, tác động trực tiếp tới sự hình thành các mức giá khác nhau Do vậy các nhà quản trị cần cân nhắc, phân tích các yếu tố bên ngoài để xác định mức ảnh hưởng như thế nào trong các quyết định, định giá bán sản phẩm của mình

- Nhu cầu của thị trường là yếu tố quan trọng nhất của bất kỳ nhà quản trị kinh doanh nào Trước khi nhà quản trị đưa ra quyết định sản xuất sản phẩm gì, cần phải tính toán ngay sản phẩm đó tiêu thụ ở thị trường nào và phục vụ cho ai Cầu của thị trường có thể hiểu đơn giản đó là tổng hợp nhu cầu của người mua và khả năng thanh toán của khách hàng đối với các sản phẩm của doanh nghiệp chuẩn bị tung ra thị trường Do vậy để đưa ra quyết định giá bán có độ tin cậy cao, các nhà quản trị thường phải nắm bắt các thông tin về số lượng khách hàng có nhu cầu, mức thu nhập của khách hàng, số lượng các sản phẩm cùng loại trên thị trường và khối lượng các sản phẩm của từng nhà cung cấp tung ra thị trường Các nhà quản trị cũng cần dự đoán xu hướng vận động nhu cầu của thị trường để đưa ra các quyết định định giá bán sản phẩm đúng thời điểm nhằm tối đa hóa lợi nhuận

- Tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường Đây là nhân tố rất quan trọng trong các quyết định, định giá bán sản phẩm của các nhà quản trị Đối với các sản phẩm độc quyền bán, nhà quản trị có thể định giá bán sản phẩm cao nhằm thu tối đa lợi nhuận Đối với các sản phẩm cạnh tranh nhà quản trị đưa ra giá bán phù hợp vì nếu giá bán cao quá sẽ không tiêu thụ được, hoặc giá bán thấp quá, doanh nghiệp sẽ mất đi một mức lợi nhuận Do vậy các nhà quản trị cần nghiên cứu yếu tố cạnh tranh trên thị trường thông qua những điểm sau: Uy tín và

vị thế của doanh nghiệp hiện tại, chiến lược dài hạn của doanh nghiệp như thế nào, các chỉ tiêu tài chính đã minh bạch trên thị trường chứng khoán ra sao…

Trang 36

- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Đây là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới các quyết định, định giá bán sản phẩm Các chính sách kinh tế vĩ mô được thể hiện từ những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như: Hệ thống văn bản luật pháp của Nhà nước quy định, những điều mà doanh nghiệp phải chấp hành trong việc định giá sản phẩm như không lũng đoạn thị trường Đối với các sản phẩm đặc biệt có tính chất thiết yếu hay quốc phòng Nhà nước can thiệp vào các quyết định định giá Nhà nước có thể đưa ra các khung giá quy định, trên cơ sở đó doanh nghiệp đưa ra các mức giá phù hợp Các quy định của các Bộ, Tỉnh về quy hoạch tổng thể hay chiến lược phát triển dài hạn đều ảnh hưởng đến các quyết định định giá bán sản phẩm cụ thể của doanh nghiệp Sự ổn định về chế độ chính trị là nhân tố quyết định đến quá trình thu hút đầu tư và định giá bán sản phẩm của các doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị cần nghiên cứu, phân tích các chính sánh kinh tế vĩ mô để đưa ra các quyết định, định giá bán sản phẩm cho phù hợp

- Các nhân tố tổng thể trong môi trường kinh doanh, đó là những yếu tố nhà quản trị cần thu thập, phân tích để đưa ra các quyết định định giá bán sản phẩm phù hợp Các yếu tố này bao gồm số lượng dân số, điều kiện tự nhiên của các vùng, miền, trình độ kỹ thuật, công nghệ của từng nơi Các yếu tố này thông thường có mối quan hệ với nhau trong quá trình phân tích để đưa ra quyết định Như các tỉnh đồng bằng thường tập trung một lượng dân cư dồi dào, có mức thu nhập đáng kể, cơ sở hạ tầng giao thông thuận tiện, do vậy có lợi thế so sánh hơn các tỉnh miền ngược và lợi thế so sánh kém hơn các Thành phố Như vậy các nhân

tố môi trường kinh doanh cũng là những yếu tố cần được xem xét để các nhà quản trị đưa ra các quyết định, định giá bán sản phẩm trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và phát triển

1.2 Một số lý thuyết căn bản trong quá trình định giá

1.2.1 Lý thuyết cơ bản của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp của nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều tự do cạnh tranh và phát triển Do vậy để đảm bảo cho mỗi doanh nghiệp của mình tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra một loạt các quyết định tối ưu Trong tất

cả các quyết định, quyết định về định siá bán sản phấm là một trong những quyết định đầy khó khăn đối với nhà quan trị của mọi loại hình doanh nghiệp Quyết định này nếu không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm tiêu thụ ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp trong chiến lược phát triên dài hạn Do vậy khi ra quyết định về định giá bán sản phẩm cần dựa trên những lý thuyết kinh tế của quá trình định giá bán

Trang 37

 Quyết định về định giá bán sản phẩm phải xuất phát từ những quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường

Quy luật cung - cầu, phải xem xét sản phẩm của doanh nghiệp trong mỗi quan

hệ tổng cung và tổng cầu của toàn thị trường Xác định được mức sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp trong mối quan hệ với các doanh nghiệp cùng loại Cầu của thị trường được hiểu đơn giản đó là sức mua và khả năng thanh toán của khách hàng

Quy luật cạnh tranh, đây là quy luật cơ bản chi phối tới mức định giá sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp nằm trong nhóm các sản phẩm cạnh tranh mạnh hay độc quyền mua, hoặc độc quyền bán Trong một số trường hợp đặc biệt, khi đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm quy luật cạnh tranh giữ vai trò chỉ đạo

mà nhà quản trị hoàn toàn thích ứng không có sự lựa chọn nào khác

Ví dụ, đối với các sản phẩm độc quyền bán, nhà quản trị có thể đưa ra giá bán

cao hơn chi phí rất nhiều, đối với các sản phẩm cạnh tranh mạnh, nhà quản trị có thể đưa ra giá bán thấp hơn chi phí

Quy luật giá trị, cần xem xét những thuộc tính cơ bản của sản phẩm như giá trị hàng hóa và giá trị sử dụng, để từ đó mở rộng hay thu hẹp khách hàng cần phục vụ Giá trị hàng hóa của sản phẩm thực chất là sự kết tinh của các khoản chi phí thông qua sản xuất Giá trị sử dụng đó là lợi ích của sản phẩm mang lại cho khách hàng

Do vậy khi đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm nhà quản trị cần dựa trên các thuộc tính cơ bản của hàng hóa thông qua quy luật giá trị

 Quyết định định giá bán sản phẩm còn dựa trên hệ thống những văn bản pháp quy của nền kinh tế vĩ mô, các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia Chính sách nhập khẩu, xuất khẩu, thuế suất, ngoại tệ đều ảnh hưởng đến các quyết

định về định giá bán sản phẩm Sự ổn định của nền kinh tế trong những mục tiêu phát triển dài hạn đều ảnh hưởng và chi phối tới các quyết định về giá bán sản phẩm

Trong một số trường hợp đặc biệt và ở những giai đoạn khác nhau của nền kinh tế, Nhà nước trực tiếp xác định mức giá cho các sản phẩm cụ thể như điện, nước sinh hoạt… Nhà nước có thể xây dựng khung giá để các doanh nghiệp đưa ra mức giá phù hợp nhằm ổn định nền kinh tế

Các yếu tố về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, quốc gia, và toàn thế giới đều ảnh hưởng quan trọng đến quyết định, định giá bán sản phẩm Các yếu tố

đó bao gồm dân số, văn hóa, kỹ thuật công nghệ, tốc độ tăng trưởng, tốc độ lạm phát, sự ổn định chính trị, kinh tế…

Trang 38

 Quyết định về định giá bán sản phẩm dựa trên những mục tiêu hoạt

động của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, mục tiêu

cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy khi đưa ra quyết định về định giá bán sản

phẩm phải đảm bảo nguyên tắc tối thiểu là bù đắp các khoản chi phí và thu được lợi

nhuận Do vậy để đưa ra giá bán vừa phù hợp với thị trường vừa có lợi nhuận các

nhà quản trị cần phải biết được mức chi phí giới hạn của các sản phẩm sản xuất là

bao nhiêu Đối với các doanh nghiệp công ích, hoạt động không phải lợi nhuận là

mục tiêu hàng đầu, do vậy khi đưa ra quyết định giá bán yếu tố chi phí giới hạn

càng quan trọng để vừa đủ bù đắp chi phí và thỏa mãn các đối tượng khách hàng vì

mục tiêu xã hội

 Quyết định về định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp phải dựa

trên hệ thống chi phí tiêu hao cho sản phẩm đó Yếu tố chi phí được coi là yếu

tố quan trọng nhất tác động tới sự hình thành của giá bán sản phẩm Do vậy nhà

quản trị cần phải hiểu biết sâu về chi phí trong quá trình sản xuất, mối quan hệ của

chi phí với mức độ hoạt động, bản chất vận động của mỗi yếu tố chi phí trong

doanh nghiệp và nền kinh tế

 Quyết định, định giá bán sản phẩm dựa trên lý thuyết cơ bản của

kinh tế học vi mô trong doanh nghiệp Kinh tế học vi mô cho rằng giá bán sản

phẩm tối ưu chính là điểm mà doanh nghiệp đạt mức chênh lệnh doanh thu và chi

phí cao nhất Do vậy nó được chứng minh qua 2 đồ thị biểu diễn sau:

Sơ đồ 4.1: Đồ thị biểu diễn tổng doanh thu và tổng chi

phí

Trang 39

Sơ đồ 4.2 Đồ thị biểu diễn xác định giá tối ưu

+ Đường tổng doanh thu (TR) là đường cong, bắt đầu xuất phát từ gốc tọa

độ Công ty không thể bán một mức sản lượng sản phẩm lớn với cùng một mức giá

vì đó là sự đa dạng của các phương thức bán hàng trong nền kinh tế thị trường Đường cong tổng doanh thu có xu hướng nghiêng về bên phải, các nhà quản trị cho ràng đến giai đoạn bão hòa, suy thoái công ty phải giảm giá bán

+ Đường tổng chi phí (TC) cũng là đường cong, vì theo quy luật sản xuất, càng sản xuất nhiều thì chi phí bình quân cho đơn vị sản phâm có xu hướng giảm

+ Đến một điểm nào đó, tốc độ tăng của chi phí tương ứng với tốc độ tăng của doanh thu, thì khoảng cách giữa 2 đường TR và TC là xa nhất, đó chính là điếm mà doanh nghiệp đạt mức lợi nhuận cao nhất Vậy giá bán ở mức sản lượng này là giá bán tối ưu nhất trên thị trường

1.2.2 Ý nghĩa của định giá bán sản phẩm trong quản trị doanh nghiệp

Định giá bán sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp thường coi đây là nhiệm vụ quan trọng, có tính sứ mệnh lịch sử ảnh hưởng đến các nhiệm vụ khác

 Trước hết việc đưa ra giá bán sản phẩm tác động tới mức doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, giá bán cao tạo ra mức lợi nhuận lớn, giá bán thấp đó là

sự thiệt hại của doanh nghiệp Song giá bán lại bị giới hạn bởi cầu của thị trường

Trang 40

và tính cạnh tranh của sản phẩm Do vậy đưa ra giá bán cụ thể bao nhiêu, đó là câu trả lời thật khó của nhà quản trị Chính vì thế, nhà quản trị cần xây dựng giá bán phải thật khoa học, vừa phù hợp với nhu cầu của thị trường và đảm bảo lợi nhuận tối đa

 Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế có tính lịch

sử, song nó thể hiện trình độ tổ chức và quản lý các yếu tố sản xuất của các nhà quản trị Do vậy để đưa ra giá bán phù hợp, yêu cầu nhà quản trị phải am hiểu về

kế toán chi phí, doanh thu và lợi nhuận, tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, môi trường kinh doanh

 Giá bán sản phẩm là thước đo thể hiện giá trị của sản phẩm, do vậy nó thường ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thương trường

Do vậy đưa ra giá bán thấp quá có thể thị trường hiểu nhầm chất lượng sản phẩm kém, giá bán cao không phù hợp với thu nhập của khách hàng, sản lượng tiêu thụ chậm Như vậy đưa ra giá bán phải thận trọng vừa phù hợp với mức thu nhập của khách hàng phục vụ vừa đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp cao nhất

1.3 Vai trò của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp thường là những quyết định chiến lược dài hạn, đôi khi là những quyết định điều chỉnh trong ngắn hạn của các nhà quản trị Do vậy các quyết định về định giá bán sản phẩm thường phù hợp với chiến lược chung của doanh nghiệp và thể hiện tính linh hoạt, thay đổi của thị trường Do vậy định giá bán sản phẩm có những vai trò quan trọng sau:

Định giá bán sản phẩm quyết định tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Sự hình thành các mức giá bán trên thị trường được xuất phát từ những cơ

sở khoa học khác nhau, nhưng đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc quan trọng

đó là bù đắp được chi phí và tạo ra lợi nhuận để doanh nghiệp có điều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng

Định giá bán sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị trong hoạt động kinh doanh Định giá bán sản phẩm là một bộ phận quan trọng của Marketing trong doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường Định giá bán sản phẩm còn thể hiện những thành công của các nhà quản trị nhằm giữ vững thị trường và tạo ra lợi nhuận Nếu chỉ có sản xuất tốt mà khâu bán hàng yếu kém thì nhà quản trị không thành công trong con đường kinh doanh Do vậy sản xuất và tiêu thụ là 2 khâu quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo ra sự thành công của các nhà quản trị trên thương trường

Ngày đăng: 18/07/2022, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Bảng cân đối kế toán dự toán - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng c ân đối kế toán dự toán (Trang 9)
 Tình hình tiêu thụ các kỳ trƣớc và chính sách giá của doanh nghiệp; - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
nh hình tiêu thụ các kỳ trƣớc và chính sách giá của doanh nghiệp; (Trang 18)
Dự toán Báo cáo kết quả kinh doanh nhằm để khái quát tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong kỳ tới, từ đó các nhà quản trị chủ động trong các quyết định  điều hành doanhn nghiệp - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
to án Báo cáo kết quả kinh doanh nhằm để khái quát tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong kỳ tới, từ đó các nhà quản trị chủ động trong các quyết định điều hành doanhn nghiệp (Trang 24)
4.6. Dự toán bảng cân đối kế toán - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
4.6. Dự toán bảng cân đối kế toán (Trang 26)
Yêu cầu: Hãy điền vào những chổ cịn trống trong các bảng dự tốn sau đây: 1. Dự toán doanh thu - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
u cầu: Hãy điền vào những chổ cịn trống trong các bảng dự tốn sau đây: 1. Dự toán doanh thu (Trang 32)
Bảng số 2 3: Sổ chi tiết tài khoản 331N : Phải trả khách hàng phòng nhập - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng s ố 2 3: Sổ chi tiết tài khoản 331N : Phải trả khách hàng phòng nhập (Trang 65)
Từ bảng phân tích trên ta thấy phƣơng án mua máy mới mang lại lợi nhuận cao hơn phƣơng án mua máy cũ là 750 triệu đồng - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
b ảng phân tích trên ta thấy phƣơng án mua máy mới mang lại lợi nhuận cao hơn phƣơng án mua máy cũ là 750 triệu đồng (Trang 72)
Căn cứ vào bảng phân tích trên ta thấy, việc sử dụng thiết bị bổ sung đã làm cho chi phí nhân cơng trực tiếp tiết kiệm đƣợc 25.000 triệu đồng so với phƣơng  án ban đầu - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
n cứ vào bảng phân tích trên ta thấy, việc sử dụng thiết bị bổ sung đã làm cho chi phí nhân cơng trực tiếp tiết kiệm đƣợc 25.000 triệu đồng so với phƣơng án ban đầu (Trang 73)
Ví dụ: Có tài liệu sau về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại công ty A trong năm N nhƣ sau: (đơn vị tính: ngàn đồng) - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
d ụ: Có tài liệu sau về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại công ty A trong năm N nhƣ sau: (đơn vị tính: ngàn đồng) (Trang 74)
Bảng số 5: Sổ chi tiết tài khoản - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng s ố 5: Sổ chi tiết tài khoản (Trang 75)
Tình hình tài chính của doanh nghiệp. - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
nh hình tài chính của doanh nghiệp (Trang 84)
Ta có bảng tính chi phí đầy đủ nhƣ sau: - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
a có bảng tính chi phí đầy đủ nhƣ sau: (Trang 85)
Ta tiến hành lập bảng phân tích sau: - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
a tiến hành lập bảng phân tích sau: (Trang 89)
CÂU HỎI ÔN TẬP - Giáo trình Kế toán quản trị (Nghề: Quản trị kinh doanh - Cao đẳng): Phần 2 - Trường CĐ Cộng đồng Đồng Tháp
CÂU HỎI ÔN TẬP (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm