TÂY TIẾN Giới thiệu chung I Tác giả (thời kì kháng chiến chống Pháp ) Tên khai sinh Bùi Đình Diệm Quê quán Hà Tây Bút danh Quang Dũng Vị trí trong nền văn học dân tộc nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Đặc điểm về con người, cuộc đời là nghệ sĩ đa tài (làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc ) Đặc điểm về PCNT nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng hồn hậu, lãng mạn và tài hoa Tác phẩm tiêu biểu Mây đầu ô (1986), Thơ văn Quang Dũng (1988) Tây Tiến – Quang Dũng Đây là bài thơ.
Trang 1TÂY TIẾN
• Giới thiệu chung
I/ Tác giả (thời kì kháng chiến chống Pháp )
- Tên khai sinh : Bùi Đình Diệm
- Quê quán : Hà Tây
- Bút danh : Quang Dũng
- Vị trí trong nền văn học dân tộc: nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp
- Đặc điểm về con người, cuộc đời: là nghệ sĩ đa tài (làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc )
- Đặc điểm về PCNT: nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng hồn hậu, lãng mạn và tài hoa
- Tác phẩm tiêu biểu: Mây đầu ô (1986), Thơ văn Quang Dũng
(1988)
* Tây Tiến – Quang Dũng
- Đây là bài thơ có số phận thăng trầm (vì bị cho rằng: bài thơ mang khuynh hướng mộng rớt tiểu tư sản, đầy ủy mị, yếu đuối )
- 1986: Tác phẩm mới được trả về nguyên giá trị
II/ Tác Phẩm
1 Hoàn cảnh sáng tác
- Sáng tác vào cuối năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, khi QD phải rời
xa binh đoàn cũ – binh đoàn Tây Tiến
- Binh đoàn Tây Tiến được thành lập vào mùa xuân năm 1947:
+ Thành phần tham gia : phần đông là học sinh – sinh viên Hà Nội + Địa bàn hoạt động: vùng rừng núi rộng lớn: Rừng núi phía Tây Bắc : Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình; Rừng núi phía Tây Thanh Hóa;
Một phần rừng núi của nước bạn Lào (Sầm Nưa )
+ Điều kiện chiến đấu, vô cùng khó khăn, gian khổ
- Mục đích: Phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào; Tuyên truyền cho nhân dân về cuộc kháng chiến; Đánh tiêu hao
Trang 2lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miên Tây Bắc
Bộ Việt Nam
2 Cảm hứng sáng tác
- Cảm hứng lãng mạn
- Tinh thần bi tráng
*- Bi kết hợp tráng, tráng nâng đỡ bi; vẻ đẹp hào hùng của người lính (bi: hiện thực, khó khăn -> buồn; tráng: lạc quan, vẻ đẹp lí tưởng - hào hùng, hùng tráng)
3 Bố cục và cảm xúc chủ đạo
- Mạch cảm xúc chủ đạo xuyên suốt toàn bài thơ là nỗi nhớ
- Chính nhờ nỗi nhớ, các khổ thơ tưởng chừng rời rạc, thiếu kết nối
với nhau đã được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất Bởi nỗi nhớ có quy luật riêng của nó - Thông thường, người ta chỉ nhớ những gì sâu đậm nhất, ấn tượng nhất - và Quang Dũng, ở bài thơ này đã cho thấy điều đó không nỗi nhớ của mình
*Bố cục : 4 phần
- Nỗi nhớ về: những chặng đường hành quân gian khổ/ trên nền
thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội, khắc nghiệt/ mà không kém phần thơ mộng
- Nỗi nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước
miền Tây thơ mộng, mỉ lệ trữ tình
- Nỗi nhớ về binh đoàn Tây Tiến/ Chân dung những người lính Tây
Tiến
- Lời thề Tây Tiến
4 Nhan đề
- Nhớ Tây Tiến => Tây Tiến
* Tây Tiến => hướng hành quân
tên binh đoàn
miền rừng núi rộng lớn
Bỏ đi từ “Nhớ” nhan đề bài thơ có nhiều sức gợi hơn
• Phân tích
1 Đoạn 1:
Trang 3* 2 câu đầu : Mở đầu bài thơ là tiếng gọi tha thiết
Sông Mã xa rồi/ Tây Tiến ơi -> cảm xúc tràn đầy
(với nỗi nhớ)
Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi – điệp từ, nối gieo
vần ơi -> sắc thái nỗi nhớ, trải dài vô tận
Nhớ binh đoàn Tây Tiến = nhớ rừng núi – địa bàn hoạt động của binh đoàn
Bềnh bồng, lơ lửng -> phù hợp với địa hình núi cao nhẹ mà sâu, trải dài
- Hai câu đầu bài thơ cho chúng ta thấy được cảm xúc chủ đạo xuyên suốt toàn bài là nỗi nhớ Nỗi nhớ được mở ra với hình ảnh
sông mã: “Sông Mã xa rồi” Sông Mã là một trong những con sông
lớn của tổ quốc, gắn với những chặng đường hành quân gian khổ của bộ đội Tây Tiến -> nó trở thành người bạn đồng hành, chứng nhận lịch sử QD phải rời xa binh đoàn cũng có nghĩa là phải rời xa sông Mã cho nên không hoàn cảnh này, nhà thơ mới thốt lên “
Sông Mã … ơi”
- Câu thơ mở đầu là tiếng gọi, sau tiếng gọi “Tây Tiến ơi”, bao
nhiêu cảm xúc mở ra Đó chính là nỗi nhớ còn da diết về TT
- Câu thơ thứ 2 giúp người đọc cảm nhận trọn vẹn nỗi nhớ ấy
“Nhớ về chơi vơi” Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại, theo kèm là không gian cụ thể của nỗi nhớ (rừng núi) và mức độ, tính chất của nỗi nhớ (nhớ chơi vơi) giúp người đọc hình dung tình cảm của tác giả Cụm từ “nhớ chơi vơi” thể hiện được một nỗi nhớ nhẹ, sâu,
miên man không dứt, con người bị bủa vây ngập chìm trong nỗi nhớ ấy Trước QD, ca dao cũng từng có cách diễn tả nỗi nhớ như
thế : “Ra về nhớ bạn chơi vơi”, đến bây giờ, QD sử dụng lại cụm
từ này nhưng có sự phù hợp với những đỉnh cao chót vót, với những vưc sâu thăm thẳm, với những con đường hun hút thì còn từ
nào phù hợp hơn là từ “chơi vơi” khi nghĩ và nhớ về vùng đất đó?!
(cứ lửng lơ và trải dài vô tận như những chặng đường hành quân gian khổ dài dặc)
- Hai câu thơ còn sử dụng hình thức điệp âm ơi (ơi-chơi vơi) Âm
ơi là âm tiết mở và ngân, tạo nên dư âm của nỗi nhớ Bởi thế, lời thơ dừng lại nhưng nỗi nhớ còn mãi ngân vọng, vang xa trong lòng người, tạo nên giai điệu trữ tình luyến láy tha thiết
II/ Tác Phẩm
1 Hoàn cảnh sáng tác
Trang 42 Cảm hứng sáng tác
- Cảm hứng lãng mạn
- Tinh thần bi tráng
3 Bố cục và cảm xúc chủ đạo
- Mạch cảm xúc chủ đạo xuyên suốt toàn bài thơ chính là nỗi nhớ.
*Bố cục : 4 phần
4 Nhan đề
• Phân tích
1 Đoạn 1: Nỗi nhớ về những cuộc hành quân gian khổ trên nền thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, hiểm trở
mà không kém phần thơ mộng
* 2 câu đầu :
* Các câu tiếp theo:
Dàn ý: Nỗi nhớ về
- Con đường hành quân gian khổ trải dài theo những địa danh
- Địa hình rừng núi hùng vĩ, hiểm trở chập chùng những dốc cao,
vực sâu mà cũng không kém phần thơ mộng
- Bối cảnh thiên nhiên dữ dội: thời tiết khắc nghiệt/oai linh rừng
thẳm, thú dữ rình rập
- Hình ảnh đoàn quân
Diễn đạt ý:
- Nỗi nhớ đưa QD trở về với những ngày tháng gian khổ mà hào
hùng Từ trong kí ức của nhà thơ, con đường hành quân dần dần hiện lên Trước hết con đường đó được gợi ra qua lớp địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu
Đây là những địa danh xác thực và đều thuộc về miền Tây xa xôi, heo hút Những địa danh này chỉ trở thành thi liệu khi nó lưu dấu bước chân người lính TT và cũng đã hóa thành kỉ niệm thiêng liêng trong tâm hồn QD Hàng loạt địa danh được nhắc đến rõ ràng
đã gợi cho người đọc hình dung về những vùng đất xa ngái, hoang
dã, với bao hiểm nguy luôn chực chờ rình rập Những tên đất, tên miền đó, những chặng đường hành quân gian khổ đó làm sao lòng người có thể nguôi quên?!
Trang 5- Nhà thơ Sóng Hồng từng cho rằng “Thơ là nhạc, là họa, là chạm khắc theo một cách riêng” Đúng như vậy, Bút pháp “Thi trung hữu họa” quen thuộc trong thơ ca cổ điển đã được QD vận dụng để
vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc
TT là họa! Và địa hình rừng núi Tây Bắc khi đi vào trong thơ QD
vẫn giữ được chất hoang sơ, hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội muôn đời:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Câu 1: Có thể nói đặc điểm nổi bật của không gian miền Tây là
dốc Điệp từ dốc đã khắc chạm ấn tượng của người đọc về một địa
hình toàn dốc đèo như thế Hai từ láy khúc khủy và thăm thẳm là những từ láy tượng hình giàu sức gợi Hai từ láy này đã đặc tả cung đuồng hành quân gian khổ của người lính TT: lúc lên dốc gập ghềnh, quanh co, khúc khuỷu, lúc xuống dốc lại dựng đứng thăm thẳm Dốc tiếp dốc, dốc chồng dốc, con dốc này chưa qua, con dốc khác đã tới, đẩy không gian lên đến độ cao tận cùng Câu thơ với nhiều thanh trắc đã tô đậm được sự nguy hiểm của cung đường, nhấn mạnh sự hiểm nguy mà người lính TT phải vượt qua
Câu 2: Địa hình miền Tây đâu chỉ hiểm trở với những con dốc khúc khuỷu, thăm thẳm mà còn hùng vĩ, dữ dội ở những ngọn núi cao ngất ngưởng Nơi đó là cồn mây heo hút không có dấu chân
người Với phép đảo ngữ và từ láy heo hút, QD đã rất sáng tạo khi
dùng hình ảnh cồn mây để đặc tả độ cao tận cùng của không gian, cái chót vót của đỉnh núi Tây Bắc – nơi đã in dấu bước chân của binh đoàn TT Những người lính TT không còn đi trên đất, trên đá nữa mà đang bước trên mây bồng bềnh Ở độ cao này, người lính
có cảm giác mũi súng như chạm đến bầu trời Cái hay của câu thơ
là ở động từ ngửi và cũng là phép tu từ nhân hóa Thay vì viết súng chạm trời, QD đã viết súng ngửi trời Động từ ngửi gần gũi, giản
dị, và hơn thế, đây còn là cách nói tếu táo, vui đùa, hóm hỉnh của người lính Cách nói ấy đã thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, giúp người lính TT xua đi phần nào những nhọc nhằn, vượt qua được mọi gian lao thử thách trên con đường hành quân
Câu 3: Địa hình miền Tây không chỉ có dốc mà còn có núi cao,
vực sâu Cách ngắt nhịp 4/3 ở câu thơ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống, phép thậm xưng, cường điệu, điệp từ ngàn thước cùng với sự đối lập giữa lên cao-xuống thấp đã tạo hình không
gian bị bẻ gẫy gập thành hai chiều đối lập: lên–xuống; cao–sâu Bước chân người lính vừa vượt núi cao đã lao xuống vực sâu Một
Trang 6quãng đường dằng dặc với ngàn thước lên cao, rồi lại ngàn thước xuống thấp, chông chênh gập ghềnh, thử hỏi người lính TT làm sao không mệt nhoài vắt cạn sức mình cho được?!
Câu 4: Địa hình miền Tây không chỉ dữ dội hiểm trở mà còn đẹp
đẽ, thơ mộng; không chỉ mở ra với chiều cao, sâu mà còn mở ra với cả chiều dài và bề rộng Câu thơ toàn thanh bằng đã gợi ra điều
đó: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Địa danh Pha Luông được đặt
vào trong câu thơ thật hợp lí Uông là âm dài và ngân, gợi ra ấn tượng về không gian mênh mông, xa ngái Đọc câu thơ này, người đọc có thể cảm nhận được sự thư thái của người lính TT khi họ được dừng chân nghỉ ngơi ở một độ cao nào đấy sau cả ngày dài trèo đèo, vượt dốc, được phóng tầm mắt ra xa chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của cảnh vật: một màn mưa giăng mắc khắp không gian, phía xa xa thấp thoáng bóng dáng ngôi nhà đồng bào như đang bềnh bồng, trôi nổi giữa biển khơi trắng xóa mưa rừng Đoạn thơ đã chạm khắc một cách vô cùng ấn tượng một địa hình núi rừng miền Tây vừa hoang vu, hiểm trở mà không kém phần thơ mộng
- Con đường hành quân của binh đoàn TT không chỉ hiện lên với địa hình hoang vu, hiểm trở mà còn hiện lên với bối cảnh thiên nhiên dữ dội
+ Vùng núi rừng miền Tây nổi tiếng với khí hậu vô cùng khắc nghiệt Không trực tiếp miêu tả nhiều về thời tiết nơi đây, QD chỉ
nhẹ điểm xuyết với ba hình ảnh: sương lấp, đêm hơi, mưa xa khơi.
Trên chặng đường hành quân, người lính băng vượt rừng, trèo đèo, lội suối, vượt qua màn sương dày đặc giăng mắc, mịt mù che phủ cảnh vật; vượt qua những đêm hơi giá lạnh, buốt giá; vượt qua cả những cơn mưa rừng triền miên nặng hạt kéo dài không ngớt đến tưởng như nhấn chìm vạn vật vào bể nước mênh mông Rõ ràng, điều kiện thời tiết khắc nghiệt ấy đã bào mòn không ít sức lực của những chàng trai TT
+ Sự hiểm nguy trên những chặng đường hành quân của người lính
TT còn tăng lên gấp bội phần bởi họ còn phải đối diện với sự rình rập thường xuyên của thú dữ vào chiều chiều và đêm đêm, đối diện với oai linh của rừng thẳm qua âm thanh thét gào của thác rừng:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Hai trạng từ thời gian phiếm chỉ chiều chiều và đêm đêm góp phần
tô đậm tính chất huyền hoặc của thiên nhiên dữ dội Lối miêu tả
cường điệu thác gầm thét là oai linh của núi cao và cọp trêu người
là sự đáng sợ của rừng sâu Một lần nữa ta lại thấy khả năng phối
Trang 7thanh điệu và sử dụng địa danh thật chính xác của QD Ba thanh
trắc thác gầm thét khiến ta như đang nghe thấy tiếng thét gầm như sát bên tai, hai thanh trắc Hịch, cọp đã kéo chùng không gian
xuống, gợi ấn tượng về một khung cảnh âm u, chất chứa bao hiểm họa, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người, đang rình rập, ngăn cản bước chân người lính TT
- Trên con đường hành quân xa xôi, vô tận, nổi bật lên hình ảnh người lính được tả thực với những tình trạng gian lao, hiểm nguy
+ QD đã không né tránh mà nhìn thẳng vào sự thật để mô tả những gian truân của người lính:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Đọc câu thơ trên, ta có thể tưởng tượng thấy bước chân người lính lầm lụi, nặng nề Ở Sài Khao, cả đoàn quân như đã bị vùi lấp vào trong sương mù Vậy nên, dáng vẻ của binh đoàn mới mệt rã rời và như muốn gục ngã không thể bước đi Phải trải qua bao gian lao,
bao hiểm nguy, không ít người lính đã gục ngã – không bước nữa
trên cuộc hành binh khắc nghiệt:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời
QD viết về cái chết của người lính nhưng lời thơ không bi lụy mà vẫn ngân vang âm hưởng bi tráng hào hùng Bởi lẽ, nhà thơ đã
diễn tả cái chết của người lính bằng cách nói bỏ quên đời mang
khẩu khí ngang tàng, ngạo nghễ, đầy chất lính Cách nói đó biểu thị thái độ bất chấp, bất cần coi thường cái chết của những người lính mang dáng dấp những tráng sĩ và chinh nhân thời trước
+ Ngay trên cuộc hành binh đầy gian lao hiểm nguy, người lính TT vẫn bộc lộ tâm hồn lãng mạn:
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Câu thơ trên nghiêng về gợi tả ấn tượng hơn là tả thực Ở Mường Lát, trong một khoảnh khắc, người lính đã rung động trước cái đẹp của thiên nhiên Tâm hồn mẫn cảm, tinh tế của họ đã nắm bắt được nét đẹp mong manh huyền hồ hư ảo Hương hoa thoang thoảng trong đêm mù sương là cái gì đó rất mơ hồ khó nắm bắt, chỉ có tâm hồn lãng mạn mới xúc động, say mê trước cái đẹp này
+ Trong kí ức của QD, vẫn còn đó bao kỉ niệm về binh đoàn TT Một trong những kỉ niệm mà nhà thơ vẫn mãi cất giữ trong lòng là bữa cơm đầm ấm ở một bản làng miển Tây xa xôi:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Trang 8Mai châu mùa em thơm nếp xôi Khác với tiếng gọi ở câu thơ mở đầu Tây Tiến ơi!, tiếng gọi hướng
về bình đoàn cũ, ở câu thơ khép lại đoạn thơ này, nhà thơ dùng
hình thức cảm thán nhớ ôi Tây Tiến, là hướng vào mình, nói với
chính mình về nỗi nhớ đang trào dâng bất tận, không thể nào kìm nén nổi Nỗi nhớ làm sống dậy một kỉ niệm thật đẹp Đó là lần dừng chân nơi bản làng xa xôi, người lính TT được đồng bào tận tình chăm sóc bằng bữa ăn nóng hổi - nồi xôi vừa nấu hãy còn ấm nóng, khói tỏa nghi ngút và thơm lừng mùi hương nếp mới Cái
hay của câu thơ trên là cách sử dụng từ mùa em – một cách nói
lãng mạn hóa, thi vị hóa hương vị thơm nếp xôi của Mai Châu Đối với người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa thì thơm nếp xôi là một cái gì đó tình tứ, quyến rũ Nhà thơ đã thi vị hóa hương thơm này
thành mùa em – cách nói cho thấy hương nếp xôi đã quyện vào
hồn và trở thành ấn tượng đẹp tình tứ, gợi cảm không thể nào quên
2 Đoạn 2: Nỗi nhớ về
* Kỉ niệm đẹp của đời lính – đêm liên hoan văn nghệ
Doanh trại bừng lên/ hội đuốc hoa Kìa/ em xiêm áo /tự bao giờ
Khèn lên/ man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
* Bức tranh sông nước miền Tây thơ mộng, mĩ lệ trữ tình
a) Nhớ về đêm liên hoan văn nghệ:
Kí ức chiến tranh không chỉ lưu giữ những chiến công, những tàn tích về một thời máu lửa mà còn lưu giữ bao kỉ niệm đẹp về tình quân dân thắm thiết, về những chặng dừng chân yêu thường ngọt ngào Vì thế, QD lại nhớ đến những kỉ niệm của đêm liên hoan văn nghệ với đồng bào miền Tây được dựng lên ngay trong doanh trại Chất tài hoa, tài tử và tâm hồn bay bổng lãng mạn của những
chàng lính chiến được nói đến thật hay trong đêm hội đuốc hoa
này
- Câu 1: Khung cảnh sinh hoạt văn nghệ hiện lên trong cái nhìn hào hoa của người lính đã trở thành hội ánh sáng lung linh huyền
ảo: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Hoàng hôn vùng cao đến
sớm, cả doanh trại chìm dần vào bóng tối tĩnh mịch Và rồi, cả
doanh trại bỗng bừng lên Từ bừng là một nét vẽ có thần, gợi cảm
giác đột ngột thật giàu sức gợi Đó là sự bừng lên của ánh sáng từ
Trang 9những bó đuốc, đó cũng là sự bừng lên của âm thanh tiếng khèn, tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng nói cười sôi nổi cùng những âm thanh xôn xao lòng người và đó cũng còn là sự bừng sống dậy của kí ức trong tâm trí nhà thơ Trong cái nhìn lãng mạn của người lính, đêm
liên hoan đã trở thành đêm hội đuốc hoa QD quả thật sáng tạo với
cách dùng từ đọc đáo: hội đuốc hoa Đuốc hoa vốn là nến thắp trong đêm động phòng hoa chúc, nay lại được dùng để chỉ ánh sáng của những bó đuốc trong đêm sáng như những bó hoa lửa rực
rỡ Như thế, hình ảnh này thật có sức gợi, tạo màu sắc bức tranh sinh hoạt vừa cổ kính, vừa hiện đại, khiến người đọc không thể không nghĩ tới một lễ cưới, một đêm tân hôn ngọt ngào
- Câu 2: Câu thơ thứ hai thể hiện sự thích thú tột cùng của người lĩnh TT trước sự xuất hiện của những cô sơn nữ - những diễn viên
trong đêm hội: Kìa em xiêm áo tự bao giờ Câu thơ với nhịp ngắt
1/3/3 khác với nhịp ngắt thông thường 4/3 cùng với từ kìa đã thể
hiện được sự ngỡ ngàng, choáng ngợp, thích thú say đắm đến đê
mê của những chàng trai TT trước vẻ đẹp yêu kiều, lộng lẫy của của những cô sơn nữ Trong ánh lửa đuốc bập bùng, những cô gái Mường, cô gái Thái miền Tây Bắc, những cô gái Lào hiện ra thật lộng lẫy trong những bộ xiêm áo dân tộc rực rỡ sắc màu đem đến cho những người lính trẻ đoàn binh TT bao niềm vui, tình quân dân thắm thiết
- Câu 3,4: Hai câu thơ tiếp theo diễn tả một không khí và tâm trạng
vui say bốc trời của người lính TT: Khèn lên man điệu nàng em ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Không chỉ choáng ngợp và say mê
trước vẻ đẹp lộng lẫy của các cô sơn nữ, người lính TT còn bị cuốn hút với âm thanh của khèn – một nhạc cụ đặc trưng của đồng bào vùng núi cao Tây Bắc và ngất ngây say đắm với những điệu múa
khác lạ - man điệu của các cô vũ nữ Tiếng khèn đã cất lên với
những giai điệu âm nhạc hoang sơ mà du dương trầm bổng Hòa vào với tiếng khèn là vũ điệu e ấp, kín đáo mà duyên dáng, dịu
dàng mà tình tứ, gợi cảm Đến đây, QD dùng đại từ nàng để gọi
người vũ nữ trên sân khấu Có thể xem đại từ này là nhã ngữ, uyển ngữ, được dùng để biểu thị tình cảm trân trọng, đầy say mê của người lính với cái đẹp động tác và hình thể của những bông hoa rừng Và từ đây, khúc nhạc du dương đã giúp cho tâm hồn người lính dạt dào xúc cảm, bay bổng, thăng hoa, cất cánh thành cảm
hứng thi ca - xây hồn thơ ở xứ bạn - Viên Chăn.
Đoạn thơ đã tái hiện một đêm liên hoan thật đáng nhớ, thật ấn tượng, tràn ngập ánh sáng, tràn ngập sắc màu cùng âm thanh lời ca, tiếng hát, câu cười, điệu nói Dù biết rằng con đường phái trước sẽ còn lắm gian truân và nguy hiểm, sẽ còn lắm mất mát, hi sinh, người lính vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan yêu đời, vẫn sống hết mình trong men say bốc trời của tuổi trẻ trong đêm giao lưu
Trang 10văn nghệ Có thể ngay ngày hôm sau, một người nào đó trong số
họ sẽ phải nằm lại nơi núi rừng u tịch, nhưng hôm nay, họ vẫn yêu đời, vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh của thơ và họa Và như vây, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách tiếp theo, coi đó như việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận Và họ sẽ vẫn luôn lạc quan, vẫn sống với tâm hồn thật trẻ trung, tươi mát Chính vì thế, những kỉ niệm vui say của đêm liên hoan văn nghệ này chắc chẵn
sẽ không thể nào phai mờ trong kí ức của những chàng trai TT
b) Nhớ về bức tranh sông nước miền Tây thơ mộng, mĩ lệ trữ tình
Lưu ý:
- Mạch thơ, âm điệu thơ có sự thay đổi nhịp thơ, giọng thơ thay
đổi Đoạn thơ sử dụng cảm hứng và bút pháp lãng mạn, nét bút mềm mại, nhẹ nhàng, bay bổng rất phù hợp khi khắc họa cảnh vật
và con người với đẹp mĩ lệ, nên thơ
- Thời gian - chiều sương, không gian – nẻo bến bờ sông nước Châu Mộc, hình ảnh thiên nhiên và con người - hồn lau, dáng người trên độc mộc, hoa đong đưa; biện pháp tu từ; câu hỏi tu từ, điệp từ có thấy, có nhớ, đảo ngữ - trôi dòng nước lũ hoa đong đưa, cách dùng từ có sắc thái tạo hình, biểu cảm cao - đong đưa
Diễn đạt ý:
Chặng đường dừng chân nghỉ ngơi đã kết thúc Khoảnh khắc xúc động, lãng mạn, say mê cũng đã khép lại, người lính TT tiếp tục
bước đi, dấn thân vào cuộc vạn lí trường chinh: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thầy hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
- Xa TT, nhà thơ không bao giờ quên những nét đặc trưng của cảnh, của người nơi đèo cao núi thẳm Tây Bắc với cảnh sông nước mênh mông, hoang dại, huyền ảo tiếp tục được miêu tả qua những nét bút tài hoa, lãng mạn của QD Người lính TT chia xa Châu Mộc trong một chiều sương bảng lảng, huyền hồ như thực như mơ Các yếu tố cổ điển: “tà huy” - chiều sương; “cổ độ” - bến bờ được tác giả sử dụng rất đắt ở khổ thơ này Từ chiều sương làm cho cảnh vật Tây Bắc vốn đã huyền ảo nay càng thêm ảo huyền Và người lính TT làm sao có thể ra đi mà không quyến luyến ngắm nhìn không gian cảnh vật giăng mắc đầy sương khói đang bày ra quá đỗi thơ mộng trước mắt mình?!
- Trong tâm trí của những người lính TT, hồi ức đang hiện lên thật
rõ ràng qua những câu hỏi tu từ được lặp đi lặp lại: Có thấy nẻo bến bờ; Có nhớ trên độc mộc Điệp ngữ có thấy, có nhớ tạo sự luyến láy như gợi cảm giác bâng khuâng man mác khiến khổ thơ