Vì thế, Việt Nam không những cónhiều thuận lợi để khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo và không táitạo phong phú, quan trọng do thiên nhiên mang lại, mà còn là cơ hội giaothương
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới có 151 quốc gia ven biển, vùng biển rộng gần 109 triệu km2,biển được các nước xác định là vùng đặc quyền kinh tế trong giới hạn 200hải lý tính từ đường cơ sở (theo công ước quốc tế) Biển có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có biển nói riêng vàcủa thế giới nói chung Các nước có biển luôn vươn ra biển, khai thác vàphát huy tiềm năng lợi thế của biển Với sự tăng trưởng kinh tế và dân sốhiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạođược trên đất liền đang được khai thác với quy mô và tốc độ ngày càngcao, sẽ bị cạn kiệt trong vài ba thập kỷ tới Trong khi đó, biển chứa đựngnguồn tài nguyên rất dồi dào Vì vậy các nước có biển, nhất là các nướclớn, đều đã và đang vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cườngtiềm lực để khai thác biển
Việt Nam là một quốc gia có biên giới biển, có lãnh hải và vùng đặcquyền kinh tế ở biển Đông, thêm vào đó là đặc điểm không phải quốc gia nàocũng có - biển hở thông với đại dương Vì thế, Việt Nam không những cónhiều thuận lợi để khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo và không táitạo phong phú, quan trọng do thiên nhiên mang lại, mà còn là cơ hội giaothương với thế giới để phát triển nền kinh tế hội nhập, trong đó phát triểnngành hải sản, hàng hải, giao thông vận tải biển, các công trình ven biển, cácngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch và thương mại quốc tế
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong đó có chiến lược kinh tếbiển những năm gần đây được xây dựng và hoàn thiện trong bối cảnh hộinhập, phát triển và đầy thách thức, nhất là việc thực hiện Hiệp định Thươngmại giữa Việt Nam - Hoa kỳ (BTA) và việc Việt Nam gia nhập tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) Chiến lược kinh tế biển của nước ta dựa trênmục tiêu lớn mà Đảng ta đặt ra cho thiên kỷ mới là khai thác tối đa tiềm năng
Trang 2và lợi thế vùng biển, ven biển, kết hợp quốc phòng-an ninh, tạo thế và lực mới
để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc
Để đạt được mục tiêu trên thì một trong những biện pháp quan trọng nhất làxây dựng cơ cấu kinh tế vùng hướng mạnh về xuất khẩu, kết hợp khai tháckinh tế vùng ngập mặn và ven biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.Việc phát triển thương mại - hàng hải trong một chuơng trình liên kết cácngành kinh tế quan trọng như dầu khí, vận tải (đặc biệt là vận tải đa phươngthức), kéo theo đó là công nghiệp đóng tàu, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, xâydựng cảng biển và dịch vụ cảng biển, tạo nên cơ cấu kinh tế công nghiệp venbiển hiện đại, nơi có số lượng và cường độ giao dịch thương mại-hàng hảidiễn ra hết sức lớn
Việt Nam là một bán đảo nằm trên bờ biển Đông, có vùng biển rộngtrên 1 triệu km2 Bờ biển nước ta dài trên 3.260 km ở cả 3 huớng Đông, Nam
và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6lần tỷ lệ này của thế giới) Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại,chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích 1.700 km2, trong đó có một số đảolớn, đặc biệt có 2 quần đảo Trường sa và Hoàng sa án ngữ biển Đông
Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thươngmại Quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả 4 phía đều cóđường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển Hầu hếtcác nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt độngthương mại hàng hải rất mạnh trên biển Đông
Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế vàchính trị quan trọng, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong chiến lượcphát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một sốcường quốc hàng hải khác trên thế giới Tiềm năng tài nguyên, khoáng sảnphong phú và đa dạng là điều kiện thúc đẩy khai thác hiệu quả các nguồn lợi
từ biển, phục vụ cho quá trình CNH-HĐH đất nước
Trang 3Từ lợi thế về vị trí địa lý và vai trò của biển đối với quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng nước ta là hết sức quan trọng Ngày06/5/1993 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ pháttriển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định phải đẩymạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi íchquốc gia; Ngày 22/9/1997 Bộ Chính trị tiếp tục ra Chỉ thị số 20-CT/TW vềKinh tế biển, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ biển Đến Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta xác định rõ: “Phát triển kinh tế biển theo một chiến lược toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” Từ quan điểm chỉ đạo trên, Hội
nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghịquyết số 09-NQ/TW về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Đến đâyquan niệm về kinh tế biển đã toàn diện hơn
Để triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; pháthuy vai trò của biển và vùng ven biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng - an ninh của Kiên Giang, ngày 02/5/2007 Ban Chấphành Đảng bộ Tỉnh ban hành Chương trình hành động số 12-CTr/TU thựchiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaX) “về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Vì ý nghĩa đó, tôi chọn đề
tài “Kinh tế biển Kiên Giang trong hội nhập kinh tế quốc tế” để viết luận
văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành: kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề của kinh tế biển là chủ đề mới được đề cập gần đây, do đó sốcông trình nghiên cứu chưa nhiều, chưa đa dạng chủ yếu chỉ đề cập nhữngdạng sau:
Trang 4- Lê Cao Đoàn (1999), “Đổi mới phát triển kinh tế ven biển”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Đỗ Hoài Nam (2003), “Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Thông tin chuyên đề số 08, ngày 25/12/2006 của Văn phòng Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “Chiến lược và mô hình quản lý biển của một số nước”.
- TS.Tạ Quang Ngọc, “Để Việt Nam sớm trở thành quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển”, Tạp chí Cộng sản số 777, tháng 7/2007.
- Tạp chí Cộng sản số 20, ngày 25/9/2007 “Về kinh tế biển”.
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2007) về “Biển và hải đảo Việt Nam”.
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2008) về “Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam”.
- Nguyễn Văn Bon (2008), “Kinh tế biển Sóc Trăng”, Luận văn thạc sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Dương Văn Hồng (2008), “Kinh tế biển Trà Vinh”, Luận văn thạc sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Vũ Khánh Trường (2009) “Kinh tế biển ở Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính Trị - Hành Chính
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Phạm Văn Quang (2011), “Kinh tế biển ở Kiên Giang hiện nay”,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội
Mặc dù thời gian qua không ít đề tài nghiên cứu kinh tế biển ở nhiềukhía cạnh khác nhau, nhưng cho đến nay kinh tế biển trong hội nhập kinh tếquốc tế vẫn là lĩnh vực còn rất mới, ít được nghiên cứu Kinh tế biển KiênGiang trong hội nhập kinh tế quốc tế lại càng ít được đề cập, cho đến naychưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Do đó, việc nghiên cứu
đề tài này không trùng với các công trình đã công bố
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của kinh tế biển nóichung, đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy tiềmnăng, lợi thế để phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong hội nhập kinh tếquốc tế
3.2 Nhiệm vụ
Trình bày khái quát cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tếbiển; đánh giá thực trạng kinh tế biển Kiên Giang giai đoạn 2005-2010; đềxuất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế biểnKiên Giang trong hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế chính trị Mác Lênin gồm phương pháp trừu tượng hóa khoa học, lôgích và lịch sử, tổng hợp
-và phân tích -và một -vài phương pháp khác
Trang 66 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ sở chủ yếu của phát triển kinh
tế biển ở địa bàn cấp tỉnh;
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của kinh tế biển Kiên Giangtrong thời gian qua, làm rõ những vấn đề đặt ra cần phải có giải pháp;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp có tính khả thi để phát triển kinh
tế biển Kiên Giang, giai đoạn đến 2015 và tầm nhìn 2020
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ BIỂN TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH CỦA KINH
TẾ BIỂN
1.1.1 Khái niệm kinh tế biển
Về mặt khái quát có thể định nghĩa kinh tế biển như sau: “là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển”.
Từ khái niệm trên kinh tế biển bao gồm:
- Thứ nhất, các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển: 1.Kinh tế Hàng hải
(Vận tải biển và dịch vụ cảng biển); 2 Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hảisản); 3 khai thác dầu khí ngoài khơi; 4 Du lịch biển; 5 Làm muối; 6 Dịch
vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển; 7 Kinh tế đảo
- Thứ hai, các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển,
mặc dù không hoàn toàn diễn ra trên biển nhưng những hoạt động này lại liênquan đến yếu tố của biển hoặc trực tiếp phục vụ cho kinh tế biển ở ven biển,bao gồm: 1 Đóng và sửa chữa tàu biển; 2 Công nghiệp chế biến dầu, khí; 3.Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; 4 Cung cấp dịch vụ biển; 5 Thông tinliên lạc biển; 6 Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; 7 Đào tạo nhân lựcphục vụ kinh tế biển; 8 Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển; 9.xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế Biển
1.1.2 Đặc điểm kinh tế biển trong hội nhập kinh tế quốc tế
Từ định nghĩa về kinh tế biển cho thấy đặc điểm của kinh tế biển khác
so với một số ngành kinh tế khác đó là:
Trang 8- Kinh tế biển là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực Bao gồmnhiều ngành, nghề khác nhau, có quan hệ và tác động lẫn nhau
- Quá trình phát triển của kinh tế biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về
vị trí địa lý, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển, thời tiết và khí hậu…Kinh tế biển chịu sự tác động rất lớn của thiên nhiên, bão lũ
- Kinh tế biển là ngành kinh tế chủ yếu nhờ vào việc vận tải hàng hóaxuất, nhập khẩu và khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính Thí dụ như: vậntải hàng hóa, khai thác dầu khí, đánh bắt thuỷ sản, du lịch…
- Kinh tế biển là ngành kinh tế mà ở đó mọi hoạt động chủ yếu diễn ratrên biển và ven biển Do vậy, tác động rất lớn đến môi trường sinh thái biển
- Trong kinh tế biển doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò đầu tàu trongmột số ngành trọng yếu của kinh tế biển như: tìm kiếm, khai thác, chế biếndầu khí; khai thác khoáng sản biển và ven biển; cảng biển Với vốn đầu tưlớn, sử dụng lao động và công nghệ chất lượng cao, đóng góp lớn cho ngânsách nhà nước, mhiệm vụ mở đường, hỗ trợ cho các ngành kinh tế phát triển,khai thác có hiệu quả tài nguyên biển
- Hoạt động kinh tế biển mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua vậntải biển, khai thác đánh bắt thuỷ sản không chỉ dừng lại trong phạm vi vùngbiển của địa phương mà diễn ra trên phạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyềnViệt Nam
Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lượcđặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới Cùng với xu hướng giatăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiênnhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt trongvài ba thập kỷ tới Để đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, cáclĩnh vực kinh tế liên quan đến biển sẽ ngày càng có vai trò quan trọng Hơnnữa, hướng phát triển ra biển còn là đòi hỏi cấp bách của chiến lược mở cửa
và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Vấn đề đặt ra là,
Trang 9trong tình hình phát triển kinh tế biển của nước ta chậm như hiện nay, nếukhông bắt kịp xu thế chung của thế giới, thì không chỉ hạn chế trong việc bảo
vệ và khai thác lợi thế của biển mà còn làm hạn chế khi vươn ra biển quốc tế.Việt Nam là một quốc gia có biển, một nhân tố mà thế giới luôn xem như mộtyếu tố địa lợi, chúng ta phải cần tăng cường hơn nữa những khả năng vươn rabiển và xác định đây là động lực quan trọng thúc đẩy các vùng khác trong đấtliền phát triển [13]
1.1.3 Vai trò của kinh tế biển trong hội nhập kinh tế quốc tế
Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, trong quá trình đổi mới kinh tế và xãhội, phát triển bền vững với những nội hàm phát triển toàn diện và có hiệuquả về kinh tế, đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường luôn là mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ đổi mới đất nước
Trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) sau hơn 11 năm kiên trì và nỗ lực đàm phán, đánh dấu quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện của nước ta, tạo ra thế và lựcmới cho nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới và phát triển Là kếtquả của đường lối “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” với các nỗlực hội nhập trên các cấp độ: song phương, khu vực và đa phương … Thờiđiểm trở thành thành viên chính thức của WTO (năm 2007) là mốc thời gianquan trọng để Việt Nam thúc đẩy các lộ trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh
tế khu vực và toàn cầu; là thời điểm mang tính bước ngoặc để thúc đẩy quátrình điều chỉnh cơ cấu, cơ cấu kinh tế, năng lực cạnh tranh, các thể chế kinh
tế theo hướng hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, thiết định mộtnền hành chính quốc gia minh bạch, có hiệu quả và có tính dự báo
Trong quá trình phát triển đất nước, với tiềm năng biển to lớn, Đảng vàNhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế biển, đếnnay những kết quả bước đầu đã cho thấy kinh tế biển chiếm giữ nhiều ngànhkinh tế mũi nhọn và chủ lực của nền kinh tế cả nước Kinh tế biển ngày càng
Trang 10giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế biển đã trở thành động lực thúc đẩyphát triển công nghiệp vì biển là cửa ngõ giao lưu với thế giới, tạo điều kiệncho công tác xuất nhập khẩu hàng hóa thuận lợi với chi phí thấp Trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay thì biển ngày càngđóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lực cạnh tranh của quốc gia vàcủa ngành công nghiệp Ngoài ra, biển còn là nơi cung cấp nguyên liệu phongphú, đa dạng cho công nghiệp chế biến.
1.1.3.1 Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những nămqua, cùng với việc đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa, các lĩnh vực kinh
tế biển cũng được tăng cường và đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ
So với thời kỳ trước, kinh tế biển của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừaqua đã có bước chuyển biến đáng kể Kinh tế biển đóng vai trò đặc biệt quantrọng đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước Quy môkinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùngvới sự xuất hiện ngành kinh tế mới như khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộcứu nạn… Hiện nay, kinh tế biển nước ta mang lại nguồn thu hơn 10 tỷUSD/năm; Năm 2000, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng 47%GDP cả nước Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển hơn 48%GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổngGDP cả nước.Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn
ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%.Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửachữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc,…bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước) Công nghiệp tàu biển: Công
Trang 11nghiệp tàu thủy và thiết bị nổi trên biển là một trong năm lĩnh vực để pháttriển kinh tế biển Phát triển ngành công nghiệp tàu thủy là lợi thế, tiềm năng,thế mạnh của đất nước để đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngành côngnghiệp đóng tàu biển nước ta mới khởi sắc trong ba năm gần đây, đã đóngnhiều chủng loại tàu có trọng tải lớn đến 10 vạn tấn để xuất khẩu, là ngànhquan trọng của kinh tế biển Cơ cấu ngành nghề đang có sự thay đổi lớn Ngoàicác ngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn vớicông nghệ - kỹ thuật hiện đại, ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triểnkéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giaothông vận tải biển, đánh bắt xa bờ, du lịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứunạn thương mại trong nước và khu vực Việc khai thác nguồn lợi biển đã cóđóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhất là cho xuất khẩu (dầukhí, hải sản ) Kinh tế biển đã được chú ý hơn và các công việc về biển đã làmđược nhiều hơn (hoạch định biên giới trên biển, ban hành khung luật pháp, pháttriển các hải đảo kết hợp bảo vệ quốc phòng, an ninh trên biển)
1.1.3.2 Phát triển kinh tế biển sẽ khai thác những tiềm năng tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế
Do bao hàm trong nó nhiều ngành kinh tế quan trọng nên kinh tế biểnkhai thác được nhiều nguồn lợi từ thiên nhiên cụ thể là:
* Đối với ngành thủy sản: Ngành thủy sản là một trong những ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nước, bao gồm các hoạt động khai thác, nuôi trồng,vận chuyển thủy sản, bảo quản, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thủysản, dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợithủy sản Trong số những lợi ích mà biển mang lại, kinh tế thủy sản chiếm vịtrí đặc biệt quan trọng, đan xen giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
GDP của ngành thủy sản giai đoạn 1995-2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên24.125 tỷ đồng Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rấtquan trọng Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục
Trang 12với tốc độ tăng bình quân hàng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991-1995) và10% (giai đoạn 1996-2003) Bước vào thời kỳ đổi mới, ngành thủy sản ViệtNam đã nhanh chóng chuyển đổi từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuấthàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế cao Năm 2006, tổng sản lượng thủy sản đạtgần 3,7 triệu tấn, chủ yếu khai thác từ biển (khoảng 1,8 triệu tấn) và nuôitrồng thủy sản nước lợ (trên 1 triệu tấn), tăng gấp 3,6 lần so với năm 1990.Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2000 đạt mốc 1 tỷ USD/năm, năm 2002đạt mốc 2 tỷ USD/năm, năm 2005 đạt mốc 2,5 tỷ USD/năm và năm 2006 đãđạt 3 tỷ 357 triệu USD, đứng vững trong tốp đứng đầu đất nước về kim ngạchxuất khẩu và tiếp tục giữ vững vị trí trong 10 nước xuất khẩu thủy sản đứngđầu thế giới.
Ngành thủy sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việclàm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các côngđoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước
Ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong việc mở rộng quan hệthương mại quốc tế Năm 1996, ngành thủy sản mới chỉ có quan hệ thươngmại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Đến năm 2001, quan hệ này
đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùnglãnh thổ Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngànhthủy sản đã tạo dựng được uy tín lớn Những nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Nhật Bản và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn vàthường xuyên của ngành Năm 2003, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vàobốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75%tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thủysản đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinhnghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khuvực và thế giới
Trang 13* Kinh tế hàng hải: Vai trò của phát triển kinh tế biển trong phát triển
công nghiệp thể hiện rõ nhất là phát triển vận tải biển, cảng biển, dầu khí,điện lực, khai thác khoáng sản và ngành du lịch Phát triển giao thông nối liềnvới nhiều quốc gia nhất và có chi phí vận tải thấp nhất nhưng lại có thể đápứng khối lượng vận tải lớn nhất Vì vậy, chính vận tải biển phát triển đã thúcđẩy thương mại các quốc gia, ngày càng trở lên có hiệu quả Vận tải biển: trênthế giới có khoảng 80% lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển.Đối với Việt Nam, 90% lượng hàng xuất nhập khẩu được vận chuyển đi vàđến Việt Nam bằng đường biển Vì thế, vận tải biển là một trong những ngànhkinh tế mũi nhọn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng trong chiến lược pháttriển kinh tế và tiến trình hội nhập của nước ta Trong hội nhập, việc mở rộnggiao lưu kinh tế đối ngoại, trao đổi hàng hóa quốc tế diễn ra bắt đầu từ cáchoạt động hàng hải, chủ yếu là vận tải trên tuyến quốc tế, vận tải hàng hóaxuất nhập khẩu bằng đội tàu biển quốc gia Chính vận tải biển phát triển đãthúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, là động lực thúc đẩy phát triểncông nghiệp Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tải nguyên vật liệu,hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển xa từ quốc gia nàyđến quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác Vận tải bằngđường biển hầu như không phải làm đường mà chỉ xây dựng cảng và muasắm phương tiện vận tải Cảng biển: xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu cótrọng tải lớn, áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đaphương thức Do vậy, việc xây dựng các cảng nước sâu với trang thiết bị hiệnđại, công nghệ quản lý điều hành tiên tiến là yêu cầu bức xúc Hiện nay, nước
ta đang tập trung vốn đầu tư cho một số cảng trọng điểm như: Cảng HảiPhòng (cho tàu 10.000 tấn ra vào), Cảng Cái Lân (Quảng Ninh) hướng tớinăm 2010 - 2020 cho tàu 50.000 tấn ra vào; Cảng Sài Gòn cho tàu 25.000 -35.000 tấn ra vào (giai đoạn 2 đến năm 2010) và một số cảng khác sẽ đượcđầu tư cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha
Trang 14Trang, một số cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của Cảng tàu Dung Quất(Liên doanh Việt Xô); Cảng Nghi Sơn (ximăng); Cảng Cát Lái (ximăng vàcontainer) và một số cảng ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước Nhờ có
hệ thống giao thông biển mà các trung tâm công nghiệp lớn của đất nước đãhình thành và phát triển như khu vực kinh tế trọng điểm Nam Bộ, Bắc Bộ gắnliền với cụm cảng Sài Gòn và Hải Phòng
* Ngành dầu khí và điện lực: Ngành dầu khí ngày nay đã trở thành một
trong những ngành chủ lực của nền kinh tế Việt Nam, là ngành xuất khẩuhàng đầu của đất nước, gắn liền với kinh tế biển Gần như toàn bộ trữ lượngdầu khí của nước ta nằm trong thềm lục địa Trên phần diện tích thềm lục địa
có chiều sâu đến 200 m, đã phát hiện trữ lượng dầu khoảng 540 triệu tấn và
610 tỷ m3 khí Trữ lượng tiềm năng dự báo khoảng 900 - 1.200 tỷ m3 dầu và2.100 - 2.800 tỷ m3 khí Như vậy, trữ lượng tiềm năng tập trung chủ yếu ởvùng nước sâu và các vùng chồng lấn Nguồn dầu khí khai thác được tạo điềukiện phát triển công nghiệp điện lực, hóa chất (phân bón và hóa dầu) với quy
mô lớn Các cơ sở công nghiệp này đều gắn liền với các vùng ven biển nhưkhu khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau; khu lọc hóa dầu Dung Quất, Nghi Sơn.Việc phát triển phong điện và điện nguyên tử dọc bờ biển sẽ đóng vai trò vôcùng quan trọng trong công nghiệp
* Ngành khai thác khoáng sản khác: những năm gần đây, công tác khai
thác ilmenit đã được phát triển mạnh ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định
và Bình Thuận với sản lượng khai thác khoảng 100.000 tấn/năm phục vụ chonhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, nhiều địa phương như QuảngNinh, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận ….đang khai thác các mỏ cát thủy tinh nằm dọc theo bờ biển với tổng trữ lượng
đã thăm dò trên 300 triệu tấn (trữ lượng dự báo khoảng trên 700 triệu tấn)phục vụ cho các nhà máy sản xuất kính và thủy tinh trong nước và xuất khẩu
Trang 15* Ngành Du lịch: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài
nguyên rõ rệt và phát triển của du lịch luôn gắn với môi trường trong mốiquan hệ tác động qua lại với nhau Những năm qua, do nhận thức được tiềmnăng du lịch biển Việt Nam, ngành du lịch không ngừng phát triển đến naythành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Hàng năm, du lịch biển thuhút 80% lượng khách của toàn ngành (Bình quân đạt trên 3 triệu lượt kháchnước ngoài và trên 15 triệu lượt khách nội địa) Khách du lịch nước ngoàivào Việt Nam để du lịch biển ngày càng đông với mức tăng trưởng đạt bìnhquân hàng năm trên 15%, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đónggóp xây dựng các đô thị ven biển Hiện nay cả nước có gần 200 điểm dulịch và nghĩ dưỡng nằm ở các vùng ven biển trải dọc từ Bắc đến Nam vớinhiều địa danh du lịch biển nổi tiếng như Hạ Long, Cát Bà, Cảnh Dương,Lăng Cô, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Vũng Tàu, Mũi Né… Trong đóVịnh Hạ Long và Vịnh Nha Trang được bình chọn là 2 vịnh trong số 29vịnh đẹp nhất thế giới Các tour du lịch sinh thái - văn hóa, du lịch biển gắnliên kết hỗ trợ sản phẩm giữa các địa bàn để phát triển du lịch bền vững
* Giá trị hệ sinh thái biển: Đến nay, trong vùng biển nước ta đã phát
hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh tháiđiển hình Chúng thuộc về 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau Trongtổng loài được phát hiện, có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài
cá, trong đó trên 100 loài cá kinh tế, 653 loài rong biển, 657 loài động vậtphù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tômbiển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa biển và
43 loài chim nước Các hệ sinh thái biển và ven biển có giá trị cực kỳquan trọng, như: điều chỉnh khí hậu và điều hòa dinh dưỡng trong vùngbiển thông qua các chu trình sinh địa hóa; là nơi cư trú, sinh đẻ và ươmnuôi ấu trùng của nhiều loài thủy sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ, màcòn từ ngoài khơi và theo mùa, trong đó có nhiều loài đặc sản Các hệ
Trang 16sinh thái có năng suất sinh học cao như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừngngập mặn, vùng triều cửa sông, đầm phá và vùng nước trồi thường phân
bố ở vùng bờ và quyết định hầu như toàn bộ năng suất sơ cấp của toànvùng biển và đại dương phía ngoài
1.1.3.3 Phát triển kinh tế biển sẽ khai thác được nguồn lực lao động tại địa phương
Với nhiều ngành kinh tế, kinh tế biển phát triển sẽ sử dụng và phát triểntối đa nguồn nhân lực trong nước và ở địa phương Những số liệu sau đây đãchứng minh điều đó: Cả nước ta có khoảng 1/3 dân số sinh sống ven biển,trong đó 40% các hoạt động kinh tế liên quan đến biển Các cộng đồng dân cưven biển là một tiềm năng lao động dồi dào của đất nước Đánh bắt hải sản đãtạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch
vụ nghề cá Du lịch biển đã tạo việc làm gián tiếp cho 60 vạn lao động là cácdân cư ven biển Nghề muối cũng tạo việc làm hơn 90 nghìn lao động
Hệ thống hậu cần nghề cá đã có những chuyển đáng kể, đặc biệt là hệthống các cảng cá được xây dựng suốt dọc bờ biển Đã triển khai các hoạtđộng nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản như cấp giấy phép khaithác thuỷ sản; kiểm tra theo dõi giám sát các hoạt động nghề cá trên biển;kiểm tra giám sát an toàn cho người và phương tiện nghề cá trên biển Mặtkhác, quá trình kinh tế biển phát triển đã tạo ra các ngành nghề mới như khaithác dầu khí, nuôi trồng hải sản đặc sản, du lịch biển đang trong quá trình pháttriển bước đầu thu hút nguồn nhân lực lớn
1.1.3.4 Phát triển kinh tế biển sẽ góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền quốc gia
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của cácnước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnhthổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao Dotầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển
Trang 17cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biểndiễn ra rất gay gắt.
Biển là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốcphòng an ninh của đất nước Việt Nam có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địahình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãi núi chạy lan ra biển, chiềungang đất liền có nơi chỉ rộng 50 km, nên việc phòng thủ hướng ra biển luônmang tính chiến lược, mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền,chia cắt đất liền thành nhiều khúc Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biểnnước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứquân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủnhiều tầng nhiều lớp Ngày nay trong phát triển kinh tế xây dựng nước, vùngnày gắn liền với vùng thềm lục địa đang triển khai mạnh công nghiệp, thăm
dò và khai thác dầu khí cùng với vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn, chứađựng nhiều nguy cơ tranh chấp quốc tế và âm mưu xâm phạm chủ quyền lãnhthổ và đặc quyền kinh tế biển Việt Nam Vì thế, việc kết hợp kinh tế với anninh quốc phòng trên vùng này trở nên vô cùng cấp thiết, một "điểm nóng"trong chiến lược kinh tế biển Việt Nam là tất yếu khách quan để tồn tại vàphát triển của đất nước Phải có quan điểm toàn diện về an ninh - quốc phòngbao gồm: an ninh chính trị, kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa - xã hội,môi trường sinh thái; chống diễn biến hòa bình và chiến tranh kinh tế tàichính, chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Quan điểmnày phải được quán triệt trong toàn bộ các khâu, các bước quy hoạch pháttriển từ ban đầu đến triển khai thực hiện để tạo nên sức mạnh tổng hợp củamột địa bàn kinh tế trọng điểm có hai bộ phận đất liền và biển
Trong quá trình bố trí "trận đồ" kinh tế, bao gồm hệ thống dân cư, các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, giao thông vận tải cùng với các cơ sở kết cấu hạtầng khác, cần tính đến sao cho phù hợp với "trận đồ" của an ninh quốcphòng Một trận đồ kinh tế mạnh cần và phải được gắn bó và bảo vệ bởi một
Trang 18trận đồ an ninh quốc phòng mạnh và sẵn sàng ứng phó trước một "biến cố".Tất cả các ngành kinh tế của vùng trong phương án và kế hoạch sản xuất đềuphải có ý thức phục vụ an ninh - quốc phòng bằng những sản phẩm và côngnghệ cao của mình, chủ động đề xuất kế hoạch và khả năng của mình trongthời bình và thời chiến, sẵn sàng ứng phó khi có "động viên công nghiệp".Ngược lại các xí nghiệp, đơn vị an ninh quốc phòng của Bộ và địa phươngcũng phải có kế hoạch tham gia phát triển kinh tế trong thời bình theo truyềnthống của ông cha ta là "tinh vi dân, động vi binh" Sự kết hợp hài hòa baogồm cả trên bộ, trên biển và trên không, cả tinh thần và vật chất, biến vùngnày đồng thời thành một khu vực phòng thủ chiến lược vững chắc trong thờibình và thời chiến Với tinh thần trên công tác an ninh quốc phòng cần kếthợp giải quyết các vấn đề lớn sau đây:
- Phối hợp trong cụ thể hóa phương châm kết hợp kinh tế với an ninhquốc phòng trên địa bàn cụ thể, trong bố trí tổng mặt bằng của vùng, xác địnhnhững khu trọng điểm về an ninh quốc phòng, bố trí những công trình trọngđiểm kết hợp với quốc phòng, gắn với "trận đồ" chung về chiến lược kinh tế -
xã hội bao gồm kinh tế biển
- Xác định yêu cầu của an ninh - quốc phòng đối với phát triển kinh tếnhằm xây dựng lực lượng an ninh và vũ trang hùng mạnh, hiện đại đủ sức bảo
vệ khu vực phía Nam chống mọi âm mưu tấn công và phá rối của kẻ thù
- Định hướng xây dựng công nghiệp quốc phòng và khả năng tham giaphát triển kinh tế của lực lượng này
- Xây dựng những định chế và kết hợp kinh tế với an ninh quốc phòngbao gồm cả trên bộ, trên biển và trên không
1.1.3.5 Phát triển kinh tế biển là điều kiện để đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Kinh tế biển Việt Nam có tính quốc tế rất cao, bởi vì vùng biển và venbiển nước ta giáp với nhiều nước, với đường hàng hải quốc tế, có các vùng
Trang 19biển tranh chấp lớn như Hoàng Sa và Trường Sa, cho nên vùng biển Việt Nam
có tính quốc tế từ rất lâu Các lĩnh vực dầu khí, hải sản, du lịch, các hải cảnglớn nổi tiếng đều có liên quan đến quan hệ quốc tế Nếu dừng quan hệ quốc
tế, kinh tế biển Việt Nam sẽ trì trệ
Ngược lại, khi quan hệ quốc tế được mở rộng, kinh tế biển sẽ pháttriển nhanh, giải quyết được thoả đáng các vấn đề tranh chấp tại Biển Đông,khai thác và tiêu thụ các nguồn dầu khí và hải sản có hiệu quả, thu hút khách
du lịch quốc tế Chúng ta đã có nhiều cố gắng đổi mới các chính sách thu hútFDI, thương mại, hải quan Song đáng tiếc là cho đến nay chúng ta hầu nhưchưa khai thác đáng kể lợi thế địa kinh tế này Từ đó, vươn ra biển, khai thác
và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còn của dân tộc Việt Nam, Hộinghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã ra Nghị quyết
về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” Nhằm nhanh chóng đưa nước ta trởthành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra các mục tiêu và những giải phápchiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếthế giới Nước ta có quan hệ thương mại song phương với trên 100 nước,quan hệ đầu tư với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia các tổ chứcquốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hộicác nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - TháiBình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO)…Tới đây, cáchoạt động hợp tác song phương, đa phương sẽ diễn ra rộng lớn trong nhiềulĩnh vực cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại…Trong đó, hoạt độngtrên biển sẽ diễn ra với quy mô và cường độ lớn hơn, thuận lợi xen lẫn tháchthức Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấu tranh đểthực hiện các cam kết quốc tế về biển Đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyềnvùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để nước
ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện
Trang 20đại hoá trang bị cho quốc phòng-an ninh; tăng cường mối quan hệ hiểu biết lẫnnhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế…, với mục đích caonhất là ổn định để phát trển đất nước, sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của
nó trong cơ cấu kinh tế củng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [3]
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ BIỂN
1.2.1 Tài nguyên của biển và vùng ven biển
Biển có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế và đảmbảo an ninh, quốc phòng Các nước có biển đều vươn ra biển, xây dựng chiếnlược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để chinh phục và khai thác biển
Ngày nay, trong hệ thống giao thông vận tải thì giao thông vận tải biểnđược các nhà sản xuất, kinh doanh ưa chuộng vì ưu thế của vận tải biển làchi phí thấp, khối lượng vận tải lớn Vì vậy, vận tải biển phát triển đã thúcđẩy thương mại các quốc gia ngày càng trở nên có hiệu quả Phát triển vậntải biển thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, là động lực thúc đẩyphát triển công nghiệp Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tảinguyên vật liệu, hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển
xa từ quốc gia này đến quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới châu lụckhác Vận tải bằng đường biển hầu như không phải làm đường mà chỉ xâydựng cảng và mua sắm phương tiện vận tải Đến năm 2005, Việt Nam có
126 cảng biển ở các vùng, miền trong đó có 4 cảng có công suất trên 10triệu tấn/năm và 14 cảng có công suất trên 1 triệu tấn/năm, còn lại là cảngquy mô nhỏ, khả năng neo đậu được tàu 3.000 tấn trở xuống [ 21, tr.6].Trong những năm tới, nền kinh tế phát triển mạnh theo hướng hội nhậpquốc tế và khu vực, giao lưu hàng hoá quốc tế và trong nước tăng nhanh,đòi hỏi hệ thống cảng biển cần có những bước tiến mạnh mới đáp ứng yêucầu của nền kinh tế - xã hội
Biển Việt Nam có hệ sinh thái phong phú và đa dạng, là nhân tố quantrọng để phát triển nuôi trồng, đánh bắt hải sản, cung cấp ngày càng nhiều và
Trang 21đa dạng các loại nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: cá, tôm, cua, sò,mực, rong, ngọc trai… dưới dạng đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng Như vậy,phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản ở nước ta ngày càng giữ vai trò quantrọng trong phát triển kinh tế của đất nước nói chung và công nghiệp nóiriêng Ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản đã trở thành ngành mũi nhọn đemlại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho ngư dân và cho nền kinh tế quốcdân giải quyết nhiều công ăn việc làm Nguồn lợi hải sản của nước ta đượcđánh giá vào loại phong phú trong khu vực Tổng trữ lượng hải sản khoảng3,9-4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đóvùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ; cá biểnchiếm 95,5% [1, tr.109] Theo các nghiên cứu khoa học, nguồn lợi hải sảnViệt Nam có: 105 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 653 loài rong biển,trong đó rong kinh tế chiếm 14% (90 loài), san hô (loài san hô cứng) tạo rạn
có 298 loài, thuộc 76 giống, 16 họ và trên 10 loài san hô sừng Cá có trên2.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế [5, tr.15] Dọc theo bờ biển
có khoảng 180 cửa sông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài trên
13 vĩ độ, có hơn 3 triệu ha đất ngập nước, hiện nay nước ta có khoảng100.000 ha rừng đước mang lại cho cư dân nhiều loại cá và chim, đước cũngđem lại nguồn kiếm sống cho hàng nghìn bà con vùng ven biển Mặc khác,rừng ngập mặn rất thích hợp cho nuôi trồng hải sản, gắn với bảo vệ môitrường sinh thái biển Hệ sinh thái rạng san hô với tổng diện tích ước tínhkhoảng 127 nghìn ha, hệ sinh thái cỏ biển khoảng 8 nghìn ha [44, tr.6]…
Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Kinh tế
du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng ngàycàng tăng trong thu nhập kinh tế quốc dân Đặc biệt, biển và vùng ven biểngắn chặt với du lịch và tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh cho du lịch.Việt Nam có bờ biển dài, với những cảnh quan đẹp vào lọai bậc nhất thế giới,như Vịnh Hạ Long và vô số vịnh đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng Dọc bờ biển
Trang 22Việt Nam có khoảng 125 bãi biển lớn, nhỏ với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ
xa bờ [44, tr.6] là lợi thế cho phát triển du lịch, du lịch sinh thái Trong đó cókhoảng 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế [44, tr.4] Biển và vùngven biển Việt Nam có hệ khoáng sản phong phú, đa dạng Khai thác chúngphục vụ cho phát triển công nghiệp, với nguồn nguyên liệu tại chổ góp phầngiảm giá thành sản phẩm, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá sẽ cao hơn.Mặc khác, xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới: dầu khí, vàng sakhoáng… Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp cho
sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong đó phải kể đến dầu khí,một nguồn tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội nhất của vùng biển ViệtNam, tiềm năng và trữ lượng dầu khí của Việt Nam khoảng 3 - 4 tỷ m3 dầuquy đổi, trong đó 0,9 - 1,2 tỉ m3 dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m3 khí [44, tr.3].Ngoài dầu mỏ, biển và ven bờ biển Việt Nam còn có nhiều khoáng sản quantrọng phục vụ phát triển công nghiệp như than, sắt, titan, cát thuỷ tinh, cácloại vật liệu xây dựng khác và khoảng 5-6 vạn ha ruộng muối biển… Tiềmnăng về khí-điện-đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió,năng lượng mặt trời, thuỷ triều, sóng và cả thuỷ nhiệt
Có thể nói, tài nguyên trên biển và vùng ven biển có vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển các ngành, nghề, tạo ra nguồn nguyên liệu đáp ứngnhu cầu cuộc sống cho con người, giải quyết công ăn việc làm cho người laođộng, góp phần đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Vì vậy, cần phải đánh thứccác tiềm năng tài nguyên của biển và ven biển mang lại, đưa ra giải pháp,chiến lược khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên bantặng phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sớm đưanước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
1.2.2 Vốn, công nghệ
Vốn và công nghệ là đòn bẩy của quá trình sản xuất và kinh doanh, nângcao năng suất và hiệu quả, sức cạnh tranh của sản xuất, kinh doanh, có vai trò rất
Trang 23quan trọng đến phát triển kinh tế, xã hội Vốn cũng ảnh hưởng rất lớn đến pháttriển kinh tế biển Có thể thấy đều này ở nước ta:
* Đối với ngành thuỷ sản: Từ năm 1997 đến nay, nhà nước đã đầu tư
1.300 tỷ đồng đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ trong chương trình đánhbắt cá xa bờ [21, tr.6] Đến nay cả nước đã có khoảng 14 ngàn tàu đánh bắt xa
bờ, chiếm trên 40% tổng sản lượng hải sản khai thác [16, tr.3] Một hệ thốngtrên 60 cảng cá, bến cá với hơn 10 ngàn mét cầu cảng [16, tr.3] đã được xâydựng chủ yếu trong 10 năm gần đây đang dần phát huy hiệu quả, đặc biệt làphục vụ cho các tàu đánh bắt xa bờ Khai thác hải sản là một nghề truyềnthống của đại bộ phận cư dân ven biển Hiện nay hơn 80% [41, tr.1] số tàuthuyền tập trung khai thác chủ yếu ở vùng nước nông ven bờ, trong khivùng này chỉ chiếm khoảng 11% diện tích vùng đặc quyền kinh tế Sảnlượng khai thác bền vững ở vùng nước có độ sâu nhỏ hơn 50 mét được ướctính khoảng 600 nghìn tấn, trong khi sản lượng khai thác ven bờ hiện nay đãđạt khoảng 1,1 triệu tấn [40, tr.2] Điều này chứng tỏ sức ép lên nguồn lợi ven
bờ là quá lớn Chính vì vậy, Bộ Thuỷ sản trong chiến lược phát triển nghề cácủa mình đưa ra mục tiêu là đến năm 2010 giảm số tàu thuyền khai thác ven
bờ từ 96.000 chiếc như hiện nay xuống còn 50.000 chiếc [40, tr.3], tăng sốtàu thuyền đánh bắt xa bờ nhằm giảm sức ép khai thác huỷ diệt nguồn lợithủy sản
Ngành thuỷ sản đã hiện đại hoá thành công ngành công nghiệp chế biếnthuỷ sản Cuối năm 1980 có tổng số 27 nhà máy [15, tr.67], thì đến cuối năm
2005 cả nước đã có tổng cộng 439 nhà máy đông lạnh với tổng công suất cấpđông 4.262 tấn/ngày [15, tr.67] Nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản hiện nay đãngang với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và thế giới Từ 18
cơ sở chế biến được phép xuất khẩu thuỷ sản vào EU hồi tháng 11-1999 [15,tr.67], đến nay trong tổng số hơn 470 cơ sở-doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
đã có 248 cơ sở-doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã được Liên minh châu Âu
Trang 24công nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn vệ sinh, 300 đơn vị đã áp dụngHACCP đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường Mỹ, 295 doanh nghiệp đạttiêu chuẩn vào Trung Quốc và 300 doanh nghiệp chế biến đáp ứng các yêucầu an toàn vệ sinh đối với thị trường Hàn Quốc [16, tr.3]
* Đối với ngành hàng hải: Trong 10 năm qua, đội tàu biển quốc gia
Việt Nam đã có bước phát triển, tăng bình quân 10%/năm về số lượng tàu
và trên 10%/năm về trọng tải Theo thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước cótrên 1.000 tàu với tổng vận tải hơn 3,5 triệu DWT Năng lực vận tải tănglên, đồng thời có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêmthị trường và trực tiếp tham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài
đã sử dụng trên 50% năng lực của đội tàu Việt Nam Ngành công nghiệpđóng tàu củng được Chính phủ quan tâm đầu tư rất nhiều vốn để phát triển.Như vậy, công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã đạt những bước phát triểnkhích lệ, ngày càng được nhiều hảng tàu lớn của nước ngoài tín nhiệm, gópphần đưa Việt Nam trở thành quốc gia được công nhận là ngành côngnghiệp đóng tàu đứng hàng thứ 11 trên thế giới Hiện nay, Việt Nam có hơn
60 nhà máy sửa chữa và đóng tàu thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn và Bộ Giao thông Vận tải, trong đó Bộ Giao thôngVận tải có số lượng chiếm trên 70% công xuất đóng tàu của ngành Năm
2005, trong tổng số 126 cảng biển ở các vùng, miền thì chỉ có 4 cảng cócông suất trên 10 triệu tấn/năm và 14 cảng có công suất trên 1 triệutấn/năm, còn lại là cảng quy mô nhỏ, khả năng neo đậu được tàu 3.000 tấntrở xuống [21, tr.6] Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu trung chuyển hànghoá phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế Những năm qua Chính phủ đãrất chú trọng đầu tư mở rộng và phát triển cảng biển Chỉ tính từ tháng6/2006 - 2/2007, đã có năm cảng biển mới được phép xây dựng tại phíaNam với tổng vốn đầu tư 984 triệu USD [1, tr.362] Việc thu hút đầu tư vàocác khu công nghiệp ven biển cũng đạt bước nhảy vọt, chỉ riêng khu kinh tế
Trang 25vịnh Vân Phong (Khánh Hoà) đã và đang hình thành 48 dự án với tổng vốnđăng ký đầu tư trên 7 tỷ USD [1, tr.363]
* Đối với du lịch biển: để khai thác lợi thế tiềm năng từ du lịch biển,
những năm qua đầu tư cho phát triển du lịch biển luôn được các cấp, các ngành
và toàn xã hội quan tâm, nhiều nhà đầu tư du lịch lớn quốc tế đã và đang chọnViệt Nam làm địa điểm đầu tư Các khu du lịch biển ngày càng hoàn thiện vàkhang trang hơn, hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển phục vụ cho du kháchkhông ngừng tăng lên Theo thống kê, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trúvới trên 45.000 buồng Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếmkhoảng 65% tổng số lao động trực tiếp làm du lịch của cả nước [44, tr.27]
* Đối với nghề làm muối: Nghề muối là nghề có truyền thống lâu đời của
Việt Nam, gắn chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết.Trong những năm qua, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận lợi Nhưng nhờcông tác huy hoạch, đầu tư sản xuất muối, đặc biệt là muối công nghiệp, cho nênnghề muối Việt Nam đã phần nào giảm bớt những khó khăn Hiện nay, ngànhmuối Việt Nam đang tích cực triển khai các dự án xây dựng đồng muối côngnghiệp, đổi mới công nghệ sản xuất muối, nhất là công nghệ sản xuất muối sạch.Hoạt động đầu tư về vốn, công nghệ sản xuất trên đồng muối có nhiều chuyểnbiến tích cực theo hướng xã hội hoá Ngoài nguồn vốn xây dựng cơ bản củangành nông nghiệp dành để đầu tư các dự án về muối, ngành muối đang tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu
tư vào các dự án sản xuất muối, chế biến, tiêu thụ muối công nghiệp
1.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội.Tăng năng suất lao động, tạo ra giá trị cho sản phẩm hàng hoá Do vậy, nguồnnhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tếnói chung và kinh tế biển nói riêng Ở nước ta có lợi thế nguồn nhân lực dồidào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác
Trang 26tiềm năng nguồn lợi biển, vùng ven biển Vùng ven biển Việt Nam gồm 29tỉnh, thành phố gồm 124 huyện, thị xã với 612 xã, phường (trong đó có 12huyện đảo, 53 xã đảo), dân cư tập trung khá đông đúc với khoảng 25 triệungười, bằng gần 31% dân số cả nước và khoảng hơn 13 triệu lao động (năm2005) Dự báo đến năm 2010, dân số vùng ven biển khoảng gần 27 triệungười, trong đó lao động gần 18 triệu người, năm 2020 dân số khoảng trên 30triệu người, trong đó lao động khoảng 19 triệu người [1, tr.45] Tuy dân sốvùng ven biển chiếm khoảng 1/3 dân số cả nước, nhưng chỉ có gần 40% sốnày sống nhờ vào hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến biển [1, tr.52].Điều này cho chúng ta thấy tuy nguồn nhân lực ở vùng ven biển nước ta sốlượng thì đông nhưng chất lượng thì còn hạn chế, trình độ học vấn rất thấp Nhất là các tỉnh ven biển miền trung do thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra.
Từ đó, đã ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, điều kiện để nuôi con, em ănhọc gặp rất nhiều khó khăn Dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực kém Đối vớingành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, lao động chủ yếu là từ kinh nghiệm,cha truyền con nối, ít được đào tạo Do vậy, năng suất, hiệu quả kinh tế khôngcao Phần nào ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội nói chung, ảnh hưởngtrực tiếp đến phát triển kinh tế biển nói riêng
1.2.4 Thị trường
Thị trường có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanhcủa nền kinh tế nói chung của kinh tế biển nói riêng
* Đối với thị trường ngành thuỷ sản: Thế mạnh của thị trường thuỷ sản
được thể hiện chủ yếu ở thị trường xuất khẩu thuỷ sản là chính Thị trườngnguyên liệu của ngành thuỷ sản đã hội đủ các điều kiện để phát triển với tốc
độ tăng trưởng rất cao và có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá vàngày càng đáp ứng nhu cầu của thị trường xuất khẩu Hiện nay, hàng thuỷ sảnViệt Nam đã có mặt ở khoảng 130 thị trường trên thế giới [6, tr.6] Bên cạnh
đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam còn luôn chú trọng khai thác chiều sâu của
Trang 27các thị trường chính, thực hiện “khai thác thị trường mới trên địa bàn cũ” như
Mỹ, Nhật Bản, EU Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản đã có sự thay đổi rõnét kể từ năm 2000 đến nay Trước tiên là việc Mỹ trở thành thị trường tiêuthụ thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam cùng với Nhật Bản Trước kia thị trườngNhật Bản thường chiếm tỷ trọng 50 - 60% kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam, nhưng trong gần 10 năm trở lại đây chỉ còn trên dưới 30% Các thịtrường tiêu thụ hàng thuỷ sản của Việt Nam ở châu Á như Đài Loan, HànQuốc khá ổn định, chiếm tỷ trọng khoảng 3 - 6% giá trị xuất khẩu, vị trí tiếptheo thuộc về các nước ASEAN Năm 2006, thị trường EU chiếm khoảng22% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đứng vị trí thứ hai sau NhậtBản Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2006 đạt 3,4 triệu tấn, tăng 3,37 lần so vớinăm 1990 [15, tr.64] Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,3 tỷ USD, tăng 16,1lần so với năm 1990 [15, tr.64]
Bảng 1.1: Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Mỹ 489.035 27,51 654.977 32,38 777.656 35,35 602.969 25,12 649.630 23,81 Nhật Bản 465.901 26,21 537.459 26,57 582.838 26,50 772.195 32,16 824.907 30,24
Bỉ 18.517 1,04 18.574 0,92 31.935 1,45 51.075 2,13 76.482 2,80 Đức 20.708 1,16 11.750 0,58 18.245 0,83 44.200 1,84 67.812 2,49 Italia 13.075 0,74 17.491 0,86 23.043 1,05 32.123 1,34 63.202 2,32
Hàn Quốc 102.788 5,78 114.308 5,65 107.296 4,88 144.002 6,00 162.083 5,94 Đài Loan 93.519 5,26 116.261 5,75 70.723 3,22 106.072 4,42 118.965 4,36 Hồng Kông 121.953 6,86 129.325 6,39 96.320 4,38 85.917 3,58 73.823 2,71 Trung Quốc 194.766 10,96 172.612 8,53 50.785 2,31 46.827 1,95 60.843 2,23
Canađa 20.218 1,14 16.477 0,81 22.514 1,02 56.839 2,37 66.971 2,45
Singapo 24.980 1,41 35.747 1,77 27.527 1,25 79.407 3,31 42.644 1,56 Thái Lan 25.214 1,42 27.535 1,36 29.852 1,36 26.401 1,10 40.987 1,50
Các thị
trường khác 109.830 6,18 98.667 4,88 257.295 11,70 103.971 4,33 111.823 4,10
Cộng 1.777.486 100,00 2.022.821 100,00 2.199.577 100,00 2.400.781 100,00 2.728.023 100,00
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Trang 28Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển nhanh và có thể coi là độnglực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thuỷsản Đến nay, trong tổng số hơn 470 cơ sở-doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đã
có 248 cơ sở-doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã được Liên minh châu Âucông nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn vệ sinh, đưa vào “danh sách I” xuấtkhẩu vào EU-thị trường khó tính nhất hiện nay [16, tr.3] Ngoài ra, có trên
300 cơ sở-doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩn chất lượng…Hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thếgiới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc
Mỹ Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, thuỷ sản Việt Nam hiện đã vươn lên vị tríthứ 7 thế giới [16, tr.3]
* Đối với thị trường hàng hải: Vận tải biển của Việt Nam trong những
năm vừa qua không ngừng lớn mạnh về cơ sở vật chất, bên cạnh đó khôngngừng vươn ra mở rộng hợp tác quốc tế Trong tổng số trên 1.000 tàu của độitàu quốc gia chỉ có hơn 300 tàu hoạt động tuyến quốc tế và làm nhiệm vụtrung chuyển hàng hoá đến các cảng lớn trong khu vực
* Đối với ngành du lịch biển: Nước ta có lợi thế phát triển du lịch biển.
Hàng năm vùng biển thu hút 73% số lượt khách du lịch quốc tế, với tốc độtăng trưởng bình quân khoảng 12,6%/năm Năm 1997, số lượt khách du lịchquốc tế đến vùng biển đạt 2,1 triệu người, năm 2000 đạt 3,29 triệu người, năm
2002 đã đón khoảng 5,3 triệu lượt người; riêng năm 2003, do ảnh hưởng củadịch SARS, số khách đạt khoảng 4,7 triệu lượt, giảm so với năm 2002 Khách
du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch tăng nhanh, riêng khu vựcQuảng Ninh - Hải Phòng và Huế - Đà Nẵng tăng 41%/năm; Bà Rịa - VũngTàu tăng 22,6% [1, tr.232]
Đối với khách du lịch nội địa, biển thu hút trên 50% số lượt, với tốc độtăng trung bình thời kỳ 1994 - 2003 là 16%/năm [1, tr.232] Năm 1997, toànvùng đón được 5,7 triệu lượt khách, năm 2000 đón 7,46 triệu lượt, năm 2002đạt 10,8 triệu lượt và năm 2003 tới 12,4 triệu lượt khách [1, tr.232]
Trang 29* Đối với ngành dầu khí: Việc tìm kiếm và khai thác dầu khí là việc rất
khó khăn, cần nhiều vốn, kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật cao Cũng giốngnhư nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam cũng có các chính sáchkhuyến khích đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực này Hiện nay có 25 công
ty dầu khí nước ngoài từ 13 quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, trongkhuôn khổ 27 dự án khác nhau Các công ty dầu khí nước ngoài đã đầu tư hơn
7 tỷ USD vào Việt Nam Không chỉ hoạt động tại thị trường nội địa, PetroVietnam đang tăng cường các hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí trên thịtrường quốc tế Trong năm 2007 Petro Vietnam đã tiến hành thăm dò dầu khí
ở Cuba và Peru và hiện tiến hành đấu thầu để thăm dò dầu khí ở Nigeria vàKazakhstan Đến nay Petro Vietnam đã tiến hành thăm dò và khai thác dầukhí ở Algeria, Iraq, Madagascar, Venezuela, Mông Cổ [44, tr.23]
1.2.5 Cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách ảnh hưởng rất lớn đến phát triển các ngành kinh tếnói chung, kinh tế biển nói riêng Cơ chế chính sách có thể thúc đẩy hoặckiềm hảm sự phát triển kinh tế, xã hội Trong đó, có ảnh hưởng đến sự pháttriển của kinh tế biển Nước ta có một vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên
1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, có bờ biển dài 3.260 km Do vậy,vùng biển và ven biển nước ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh tế, chínhtrị và an ninh, quốc phòng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) tiếptục khẳng định: “ Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọngtâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thànhquốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợptác quốc tế” [11, tr.225] Từ những quan điểm chỉ đạo trên, Hội nghị lần thứ
tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã thông qua Nghị quyết vềChiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-02-2007) Để đạt được mục tiêu tổng quát đến năm 2020 phấn đấu đưa nước tatrở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, cần thực hiện tốt cácnhiệm vụ chiến lược quan trọng Để thực hiện đường lối của Đảng, nhà nước
Trang 30đã ban hành nhiều chính sách Triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TWcủa Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trong các Chỉ thị số 339/TTg (ngày 5-8-1993) và Chỉ thị 170-TTg (ngày 18-3-1995) đã chỉ đạo: “ Bộ Thuỷ sản xâydựng kế hoạch phát triển ngành khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản thànhmột ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn” Chủ trương của Đảng về phát triểnthuỷ sản như là một ngành kinh tế biển đã được nhấn mạnh trong Chỉ thị số20-CT/TW của Trung ương (ngày 22-9-1997) “Với sự hỗ trợ ban đầu của Nhànước, ngành thuỷ sản phải vươn lên thực hiện tự đầu tư, tự cân đối để pháttriển tập trung vào chương trình đánh bắt khơi xa và hiện đại hoá nuôi trồngthuỷ sản theo hướng thâm canh Khẩn trương hiện đại hoá chế biến thuỷ sản
đi liền với nâng cao năng lực quản lý và tiếp thị” Từ năm 1997 đến năm
1999, Tổng cục Đầu tư và Phát triển đã cho vay 867.871 triệu đồng, tươngđương với 802 con tàu [16, tr.3] Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ký Quyếtđịnh số 64/2000/QĐ-TTg về việc sửa đổi quy chế quản lý và sử dụng vốn tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàuđánh bắt tàu dịch vụ và đánh bắt hải sản xa bờ, tổng số vốn đã duyệt cho vay
từ năm 2000 đến năm 2005 là 1.820.372 triệu đồng để đóng mới 166 con tàu[6, tr.8] Việc gia tăng số lượng tàu lớn đánh bắt xa bờ không chỉ nhằm khaithác các tiềm năng mới, cung cấp nguyên liệu cho chế biến mà còn góp phầnbảo vệ an ninh quốc phòng trên các vùng biển của nước ta Tính đến nay, rấtnhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển Đông hảiđảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng),Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí(Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du,Thổ Chu và Phú Quốc (Kiên Giang) Xây dựng cảng Vân Phong thành cảngtrung chuyển của khu vực và quốc tế Cảng Vân Phong là 1 trong số 7 cảng có
ưu thế nhất thế giới, khi trở thành cảng trung chuyển quốc tế, nhất định sẽ đưa
cả vùng trở thành trung tâm kinh tế lớn Cần có thể chế, chính sách phù hợp vớithông lệ quốc tế, có chính sách mở cửa và hội nhập sâu rộng hơn Ngoài ra, còn
Trang 31chú trọng đầu tư đồng bộ như sửa đổi các quy hoạch đầu tư về vận tải, địnhhướng chiến lược Trước mắt phải hiện đại hoá vận tải đường biển, cùng vớihiện đại hoá đường bộ và đường sắt theo hướng Đông - Tây, nhằm phục vụ chocác khu kinh tế, các thành phố lớn ở ven biển Đồng thời Chính phủ đã đưa ranghị quyết 09-NQ/CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quátrình chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh vàrộng khắp hơn Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả,sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn200.000 ha [6, tr.7] diện tích được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặckết hợp nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếptục chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha [6,tr.7] Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu đượchiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ởcác vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu chonông dân Tại nhiều vùng nông thôn, phong trào nuôi cá ruộng trũng phát triểnmạnh mẽ Đây là hình thức nuôi cho năng suất và hiệu quả khá lớn, được đánhgiá là một trong những hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, góp phầnlàm tăng thu nhập cho người lao động và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.Tính đến nay, tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo mô hình
cá - lúa 446.151 ha Năm 2001, diện tích đã nuôi được xác định là 239.379 ha,con số này vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo Về xuất khẩu, so vớinăm 1995, giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 tăng 2,7 lần, từ 55 triệu USD(năm 1995) lên 1,478 tỷ USD (năm 2000) [6, tr.8] Năm 2006 sản lượng thuỷsản đạt 3,75 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt 3,75 tỷ USD [16, tr.3]
Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách về biển, cần tăngcường phối hợp giữa các cấp, các ngành và các địa phương, chỉ đạo sâu sátcông cuộc xây dựng phát triển kinh tế biển và cuộc đấu tranh bảo vệ chủquyền, tài nguyên cũng như bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển
Trang 32Một trong những nét nổi bật và khác biệt so với các ngành kinh tế khác
là kinh tế biển là một ngành kinh tế đa ngành, đa nghề Do đó, các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều tham gia vào quá trình hoạt động củakinh tế biển Nhưng vị trí, vai trò của các doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế có khác nhau:
- Doanh nghiệp nhà nước với vai trò chủ thể tham gia vào các lĩnh vựckhai thác, sản xuất trọng yếu Có nguồn vốn lớn, công nghệ hiện đại, nguồnnhân lực trình độ chất lượng cao, giá trị đóng góp lớn cho nền kinh tế Cụ thểlà: Khai thác và chế biến dầu khí, đóng tàu, phát triển cầu cảng… Trongnhững năm gần đây, ngành dầu khí chủ yếu do các doanh nghiệp thuộc thànhphần kinh tế nhà nước đã duy trì mức đóng góp từ 20 đến 25% tổng thu ngânsách nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chủ trương đổi mớiđất nước do Đảng ta khởi xướng
- Các thành phần kinh tế khác tham gia khai thác tối ưu và có hiệu quảtài nguyên, khoáng sản, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, tạo nên sự đa dạnghoá ngành, nghề, giải quyết tốt việc làm cho người lao động, góp phần giảiquyết vấn đề xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho họ, đảm bảo an ninhlương thực, thực phẩm, cung cấp nguồn nguyên liệu phục cho quá trình sảnxuất, kinh doanh Đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình và kinh tếhợp tác có vai trò quan trọng trong nuôi trồng, khai thác thuỷ sản [13]
1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của tỉnh Quảng Ngãi
Quảng Ngãi có 131 km bờ biển, có vùng đặc quyền kinh tế rộng 60.732
km2, có 6 huyện đảo và ven biển với 47.725 khẩu sinh sống bằng ngư nghiệp, 4vạn lao động gắn bó với biển Quảng Ngãi có truyền thống về hoạt động kinh
tế biển, về bảo vệ chủ quyền biển đảo qua hàng trăm năm lịch sử Kinh nghiệmphát triển kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Quảng Ngãi đó là:
Trang 33Một là, phát triển kinh tế biển một cách toàn diện, có trọng tâm, phát
triển một số mũi có ưu thế truyền thống, sớm đưa ngành kinh tế thuỷ sản thực
sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Phát triển kinh tế biển, lấyngành thuỷ sản, du lịch làm chính Đẩy mạnh đánh bắt xa bờ đồng thời vớinuôi trồng, chế biến thuỷ sản Tận dụng và phát huy các bến bãi, cầu cảngbiển Chú trọng khai thác cảng biển, phát triển công nghiệp đóng, sửa chữatàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá
Hai là, phát triển đồng bộ và có hiệu quả việc nuôi trồng và đánh bắt
thuỷ sản Chủ trương của tỉnh là phát triển kinh tế thuỷ sản đồng bộ và bềnvững, gắn kết giữa khai thác, nuôi trồng, chế biến và cung ứng dịch vụ thuỷsản Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trịnuôi trồng và chế biến Sản lượng khai thác đến năm 2010 đạt 95.000 tấn,trong đó nuôi trồng 5.500 tấn (riêng sản lượng tôm nuôi 4.200 tấn)
Ba là, đẩy mạnh công nghiệp chế biến thuỷ sản, nâng cao giá trị và sức
cạnh tranh sản phẩm thuỷ sản Thực hiện chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế khuvực này theo hướng đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh họcvào sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn công nghiệp chế biến vớithị trường Nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra những sản phẩm mang thươnghiệu có sức cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế Cùng với đẩy mạnh đánh bắt vànuôi trồng là phát triển mạnh cơ sở chế biến thuỷ sản, tăng nhanh sản phẩm xuấtkhẩu Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nghề cá, trước hết làcảng cá Sa Huỳnh, vũng neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá Lý Sơn, bến neođậu tàu thuyền Tịnh Hòa, cảng cá Sa Kỳ, Sa Cần
Bốn là, đặc biệt chú trọng tổ chức những tập đoàn, những đội tàu chuyên
đánh bắt xa bờ Tổ chức dịch vụ cung ứng nghề cá phục vụ chủ trương vươnkhơi xa Tính đến tháng 7/2006, cả tỉnh có 3.896 chiếc tàu thuyền trên 20 CV.Tuy số lượng nhiều nhưng không mạnh, tàu công suất thấp, trang bị lạc hậu,hầu như tác chiến đơn lẻ, thiếu sự liên kết chặt chẽ Thực trạng đó khiến cho
Trang 34mỗi khi gặp bão lốc bất thường, sự cố va quệt không có sự ứng cứu kịp thờinên tổn thất nặng Khâu dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh vốn đang là khâuyếu Hướng tới đóng những con tàu công suất lớn, trang bị hiện đại, đảm bảohoạt động đánh bắt khơi xa, dài ngày và hiệu quả.
Năm là, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền Biển Đông
của Tổ quốc Tăng cường tuyên truyền nâng cao trình độ pháp luật về biển,Luật biển quốc tế, những quy định bắt buộc đối với ngư dân khi ra khơi.Trang bị cho ngư dân nghiệp vụ thông tin cứu nạn tàu thuyền đánh cá Tăngcường tuyên truyền về vị trí, tầm quan trọng của thềm lục địa đối với pháttriển kinh tế-xã hội trong tương lai Ý thức của nhân dân trên một số lĩnhvực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên biển chưa thấu đáo nên hệquả là hiểu về pháp luật, chấp hành luật trên biển còn yếu, còn vi phạmpháp luật do không có kiến thức khi hoạt động ở vùng đánh cá chung, ởkhu phân định trên vịnh Bắc Bộ và không thông hiểu luật pháp quốc tế khitránh bão ở biển nước ngoài Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việcbảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước Mỗi ngư dân là tai, là mắt tinhtường trên vùng biển trời của Tổ quốc Đẩy mạnh công tác tuyên truyềnchủ quyền lãnh hải, đi đôi với đấu tranh chống các quan điểm sai trái, kịpthời định hướng dư luận, bác bỏ luận điệu xuyên tạc chống lại các quanđiểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biển đảo
Sáu là, cần nêu cao ý thức bảo vệ tài nguyên biển của mỗi người dân.
Ngăn chặn các hành vi huỷ hoại và gây ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ đadạng sinh học Thời gian qua, Quảng Ngãi vốn là địa phương trọng điểm tệnạn sử dụng thuốc nổ đánh bắt thuỷ hải sản Các cấp, các ngành và cả hệthống chính trị đã tích cực vào cuộc nhưng xem ra chưa có dấu hiệu suy giảm.Trước hết là nhận thức và cùng với nhận thức là các biện pháp ngăn chặnquyết liệt việc sử dụng thuốc nổ đánh bắt cá để giữ cho biển không biến thànhbiển chết [13]
Trang 351.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, là tỉnh duy nhất của cả nước có
3 mặt tiếp giáp với biển Vùng biển tỉnh Cà Mau nằm trong vòng cung đườngbiển của nhiều trung tâm phát triển khu vực Đông Nam Á, có ngư trường rộngtrên 80.000 ha, với nhiều loài thủy sản quý hiếm, có trữ lượng lớn, khả năngkhai thác khoảng 250.000 tấn/năm và có tiềm năng khá lớn về dầu khí tronglòng biển Tỉnh Cà Mau nằm trong vùng kinh tế động lực của đồng bằng sôngCửu Long Trong mối quan hệ của vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh CàMau là điểm đến của một số tuyến quốc lộ và đường thủy quan trọng Trongmối quan hệ của khu vực, Cà Mau nằm trong hành lang phát triển phía namcủa tiểu vùng Mê Kông mở rộng
Với chiều dài bờ biển 254 km, Cà Mau chiếm 7,8% chiều dài bờ biểncủa cả nước và là tỉnh có bờ biển dài nhất trong số 28 tỉnh, thành phố có biển;
có 6/9 huyện, thành phố và 22 xã, thị trấn/97 xã, phường, thị trấn trong tỉnhtiếp giáp với biển; diện tích đất liền các huyện ven biển trên 402.000 ha,chiếm 75,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; dân số năm 2008 trên 730.000người, chiếm gần 60% dân số toàn tỉnh Vùng biển Cà Mau rộng trên 80.000km2, biển Cà Mau có vị trí nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông - Nam
Á nên có nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển, phát triểnkinh tế biển, khai thác dầu khí và tài nguyên khác trong lòng biển
Từ tiềm năng và lợi thế trên, những năm qua, tỉnh đã xác định pháttriển các ngành nghề có liên quan như: thuỷ sản, đóng tàu, khai thác và chếbiến dầu khí, du lịch… Trong đó xác định thuỷ sản là kinh tế mũi nhọn, từ đó,tập trung chỉ đạo phát triển khai thác, đánh bắt thuỷ sản theo hướng xa bờ,chuyển đổi cơ cấu ngành nghề khai thác phù hợp để tăng hiệu quả đánh bắt
Tỉnh đã triển khai thực hiện khá tốt chủ trương, chính sách về pháttriển kinh tế thuỷ sản, phù hợp với đặc thù của địa phương gắn với an sinh
xã hội Đầu tư vốn, miễn giảm thuế, hỗ trợ ngư dân khai thác biển theo
Trang 36Quyết định 289 của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo bộ đội biên phòng, Chicục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tạo thuận lợi cho các phương tiện hoạt động
ra vào cửa biển và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển Phần lớn ngưdân được trang bị máy thông tin liên lạc, máy định vị, một số tàu có trang
bị máy tầm ngư
Với truyền thống gắn bó lâu đời với biển, có tay nghề và nhiều kinhnghiệm trong khai thác, lực lượng lao động tăng từ 18.000 lên 35.000 người.Năm 2008, tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đạt khoảng79.128 tấn Kim ngạch xuất khẩu là 582,8 triệu USD, diện tích nuôi trồngthuỷ sản toàn tỉnh khoảng 278.240 ha
Trong khi đó, dầu khí vùng biển Tây Nam có trữ lượng rất lớn trong đókhí đốt khoảng 170 tỷ m3 phục vụ cho 2 nhà máy điện hoạt động với công suất1.500 MWh Hiện nay, tập đoàn dầu khí Việt Nam đang thi công Nhà máyphân đạm có công suất 800 ngàn tấn/năm ngay trên địa bàn tỉnh
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp đóng tàu ở Cà Mau trong thời giangần đây phát triển khá mạnh với đội ngũ công nhân có tay nghề khá vữngvàng, hiện nay tỉnh có một xưởng đóng tàu với công suất đóng mới, sửa chữakhoảng 120 tàu/năm Vừa qua Vinashin đã khởi công nhà máy đóng tàu vớicông suất đóng tàu 30.000 tấn
Du lịch biển đảo và du lịch sinh thái ngày càng phát triển, nhiều tuyến,điểm du lịch biển đảo và du lịch sinh thái như Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, KhaiLong, Đất Mũi… thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài tỉnh
Kết cấu hạ tầng khu vực ven biển từng bước được cải thiện, các tuyếnđường giao thông, các công trình điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế,cấp nước, bưu chính, viễn thông đặc biệt là hệ thống thông tin vùng ven biển.Ngoài ra tỉnh đã và đang triển khai xây dựng các công trình hạ tầng nghề cá,cảng cá, khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu, thuyền Xây dựng, nâng cấp cơ sở
hạ tầng đảo Hòn Chuối (nơi có cư dân sinh sống)
Trang 37Tuy có nhiều lợi thế nhưng quy mô kinh tế của vùng ven biển và vùngbiển của tỉnh Cà Mau còn nhỏ bé Mức độ đầu tư chưa tương xứng với vị thế
và tiềm năng nên hạn chế không nhỏ đến sự phát triển Cơ cấu kinh tế vùngven biển và vùng biển của tỉnh mới chỉ là các hoạt động khai thác tự nhiên, hệthống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đặc biệt là giao thông đường bộ, các ngànhdịch vụ phục vụ hậu cần nghề cá còn phân tán, chương trình đánh bắt xa bờcòn hạn chế nhiều mặt
Nhưng với quyết tâm vực dậy nền kinh tế biển Việt Nam nói chung và
Cà Mau nói riêng, trong thời gian tới, tỉnh tập trung giải quyết một số vần đềcho phát triển kinh tế biển theo hướng đa dạng các ngành nghề; củng cố, pháthuy năng lực và nâng cao hiệu quả đội tàu khai thác xa bờ gắn với bảo vệvững chắc tình hình an ninh trên biển
Từ nay đến năm 2020, Cà Mau sẽ xây dựng vùng kinh tế biển, đảo trởthành vùng kinh tế động lực, giàu lên từ biển, từng bước nâng cao tỷ trọngcho kinh tế biển (dự tính đến năm 2020, GDP đạt từ 65-70% toàn tỉnh), mụctiêu trọng tâm là hệ thống giao thông kết nối hệ thống đường ven biển, tạothành các hành lang kinh tế, kết nối kinh tế nội địa với dải hành lang kinh tếven biển vịnh Thái Lan; xây dựng, nâng cấp cảng biển, đê biển, hạ tầng nghề
cá, hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, các công trình phòng tránh thiên tai,tìm kiếm cứu nạn Tập trung phát triển các đô thị ven biển, đặc biệt hai đô thịđộng lực là Năm Căn và Sông Đốc, đưa Năm Căn thành khu kinh tế tổng hợp,nằm trong hành lang kinh tế ven biển phía Đông vùng biển Tây Nam Bộ,cùng cụm công nghiệp Khí-Điện-Đạm Cà Mau tạo thành động lực tăngtrưởng, phát triển cho tỉnh và vùng đồng bằng sông Cửu Long
Để phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả bền vững và có khả nănghội nhập quốc tế Cần có một phương thức quản lý biển tổng hợp đảm bảođược an ninh, sinh thái và an sinh xã hội ở vùng biển, ven biển Đẩy mạnhphát triển kinh tế biển bằng cách tận dụng các nguồn lực và công nghệ hiệnđại để khai thác biển có hiệu quả và bền vững
Trang 38Tập trung phát triển nhanh kinh tế vùng biển và ven biển cao hơn mứctăng trưởng kinh tế chung toàn tỉnh Chú trọng nâng cao đời sống kinh tế, vănhoá tinh thần cho cư dân vùng biển, ven biển, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo Xâydựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Tranh thủ vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, phối hợpvới Trung ương hoàn thành nhanh tuyến đường Hồ Chí Minh đến Đất Mũi vàcác tuyến ven biển Tập trung xây dựng các tuyến đường ô tô đến trung tâmcác khu dân cư ven biển nhất là các cửa biển Xây dựng các cụm, tuyến dân
cư tập trung để có điều kiện đầu tư đồng bộ về điện, đường, trường, trạm và
hệ thống thông tin liên lạc để đảm bảo phục vụ cho việc phát triển kinh tế xãhội, tạo mọi điều kiện có thể nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dânvùng biển và ven biển
Hỗ trợ tích cực các dự án đầu tư, nhất là dự án đầu tư phát triển và nângcấp kết cấu hạ tầng nghề cá để sớm đưa vào sử dụng phục vụ cho nhu cầuđánh bắt hải sản Chú trọng hơn nữa đến quy hoạch chi tiết hệ thống giaothông đường thuỷ nội địa Ngoài việc xác định, phân cấp luồng - tuyến, tỉnhđặc biệt quan tâm quy hoạch hệ thống giao thông tĩnh ở trên bờ phục vụ sựtăng trưởng liên hoàn trong vận chuyển và cho các khu vực bến bãi đậu xe,tập kết hàng hoá
Sự phát triển sẽ bền vững, an toàn thông qua việc triển khai đẩy mạnhcông tác đào tạo, huấn luyện nghề cho người đi biển và làm du lịch; giữ gìnmôi trường sinh thái biển, tạo nguồn nhân lực cho quá trình CNH, HĐHchương trình kinh tế biển Đồng thời, tăng cường đầu tư xây dựng, lắp đặttrang thiết bị đầy đủ cho các khu hậu cần - phòng tránh bão lũ cho tàu thuyền
mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đã quy hoạch theo hướng chỉ đạo của Chính phủ
Nhà nước và người dân buộc phải thay đổi cách tư duy về quản lý vàkhai thác tài nguyên biển Tư duy này không có nghĩa là ở bên cạnh biển màphải đối diện với biển, chinh phục biển và chế ngự biển khơi Có như vậy,
Trang 39mục tiêu “Việt Nam phải là một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển vàonăm 2020” của Chính phủ mới có khả năng trở thành hiện thực [25]
1.3.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh có 65 km bờ biển, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu,thông ra biển Đông bằng cửa Cung Hầu và cửa Định An với nhiều lợi thế vềphát triển kinh tế biển Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm2020”, tỉnh tập trung phát triển lĩnh vực thủy sản ngày càng vững mạnh, phấn
đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 60% GDP của tỉnh Vùng biển Trà
Vinh nằm trong vùng biển Tây Nam bộ có nguồn lợi hải sản phong phú vớinhiều bãi cá, bãi tôm, bãi mực tự nhiên; bên cạnh đó lại tiếp giáp với vùngbiển Đông - Trường Sa có độ sâu lớn và nhiều loại hải sản có giá trị thươngphẩm cao như cá ngừ, cá hồng, cá thu, cá chim tạo tiềm năng lớn cho pháttriển ngành thủy sản tỉnh nhà Những năm qua, ngành thủy sản của tỉnh liêntục đạt sản lượng cao, tỷ trọng giá trị (GDP) đạt 11,62% năm 2001, tăng lên17,86% năm 2006, đóng góp giá trị xuất khẩu chiếm 51% năm 2001 và 75%năm 2006 trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh 7 tháng đầunăm 2008, GDP của tỉnh tăng 13,39%, trong đó, lĩnh vực nông-lâm-thủy sảnước tăng 12,5% Nuôi trồng thủy sản vùng nước mặn ven biển tiếp tục pháttriển đa dạng như tôm, cá, cua, nghêu, sò huyết với diện tích nuôi năm 2001
là 13.600ha, năm 2006 là 38.000ha
Hiện tại, Trà Vinh có 2 hợp tác xã và 7 tổ hợp tác hùn vốn nuôi nghêu,thu hút hơn 2.000 người tham gia Niên vụ 2006-2007, các đơn vị này đã thảnuôi gần 500 tấn nghêu giống trên diện tích khoảng 1.200 ha, thu gần 3.200tấn nghêu thương phẩm, tăng gần 500 tấn so với vụ trước Vụ nghêu 2007-
2008, các tổ hợp và hợp tác xã có kế hoạch thả nuôi diện tích 1.500 ha; đếnnay, đã thả nuôi được 500 tấn nghêu giống trên diện tích gần 1.000 ha, tậptrung chủ yếu ở huyện Duyên Hải và Cầu Ngang Bên cạnh đó, tỉnh đã đầu tư
Trang 40xây dựng cảng cá, bến cá phục vụ khai thác biển, xây dựng khu nuôi tômcông nghiệp 200 ha ở xã Long Toàn và huyện Duyên Hải
Phấn đấu đến năm 2020, Trà Vinh đưa kinh tế biển phát triển mạnh,đóng góp khoảng 60%GDP toàn tỉnh với mục tiêu phát triển mạnh lĩnh vựcthủy sản Về khai thác hải sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tỉnh sẽ chú trọngđầu tư phát triển và hiện đại hóa từng bước đội tàu khai thác hải sản xa bờ,thực hiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư tăng sốlượng tàu khai thác ở ngư trường xa bờ và vùng biển quần đảo Trường Sa; hỗtrợ ngư dân làm nghề đáy biển; thực hiện tốt các chính sách miễn giảm thuế
và phí, lệ phí đối với tàu khai thác hải sản xa bờ, khuyến khích đầu tư đóngmới hoặc nâng cấp vỏ máy tàu có công suất từ 90CV trở lên; tăng cường hoạtđộng bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản như thả con giống để tái tạonguồn lợi, quản lý, khai thác và bảo vệ các khu vực tôm, cá bố mẹ, các bãigiống tự nhiên, thanh tra và xử lý đúng theo quy định của pháp luật cáctrường hợp vi phạm; hình thành các tổ, đội nghiên cứu khai thác biển, tiến tớihình thành trung tâm nghiên cứu về biển
Về nuôi trồng thủy sản, tỉnh mở rộng trên 50.000 ha đất ven biển và15.000 ha đất bãi bồi và cồn nổi để nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạnghóa đối tượng nuôi, nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng diện tích nuôitrồng ở vùng bãi bồi và cồn nổi ven biển, vùng đất rừng, đất nông nghiệpngập nước khi triều lên; quy hoạch và giao đất bãi bồi, cồn nổi cho hộ dântham gia tổ hợp tác và hợp tác xã sản xuất, ưu tiên giải quyết cho đối tượng
là hộ ngư dân khai thác hải sản ven bờ chuyển nghề và hộ nông nghiệpkhông đất sản xuất ở các xã ven biển
Về chế biến thủy - hải sản, tỉnh tiếp tục ban hành và tổ chức thực hiện
có hiệu quả các chính sách kêu gọi, thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chếbiến thủy sản đông lạnh như tôm sú, cá tra, chế biến nghêu, sò huyết, chế biếntôm khô xuất khẩu; thực hiện tốt chính sách miễn giảm thuế đối với cơ sở đầu