1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm thực tiễn của triết học mác lênin và sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới

93 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Điểm Thực Tiễn Trong Triết Học Mác - Lênin Và Sự Vận Dụng Của Đảng Ta Trong Công Cuộc Đổi Mới
Tác giả Lê Văn Mười
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà
Trường học Học Viện Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Triết Học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 495,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà kinhđiển của Chủ nghĩa Mác - Lênin không những có sự giải thích sâu sắc về thựctiễn, đặc biệt về vai trò của thực tiễn trong nhận thức chân lý, mà còn vậndụng quan điểm của mình

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN

TRUYỀN

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN TRIẾT HỌC

Lấ VĂN MƯỜI

quan điểm thực tiễn trong triết học Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới

Chuyờn ngành : Triết học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà

Hà Nội – 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà Nội dung trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực

Tác giả

Lê Văn Mười

Trang 3

1.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức chân lý 211.3 Tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn 32

Chương 2: SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC

LÊNIN VỀ THỰC TIỄN VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 422.1 Sự vận dụng quan điểm thực tiễn của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới

vào việc xây dựng quan hệ sản xuất: những kết quả đạt được 422.2 Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng quan điểm thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÓM TẮT

8290

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn là một trong những khái niệm cơ bản hàng đầu của lý luậnnhận thức V.I.Lênin đã khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn,phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” Các nhà kinhđiển của Chủ nghĩa Mác - Lênin không những có sự giải thích sâu sắc về thựctiễn, đặc biệt về vai trò của thực tiễn trong nhận thức chân lý, mà còn vậndụng quan điểm của mình về thực tiễn vào thực hiện những nhiệm vụ cụ thểtrong phong trào cộng sản quốc tế Quan điểm về thực tiễn của triết học Mác -Lênin có nhiều nội dung phong phú, trong đó việc thừa nhận thực tiễn là tiêuchuẩn của chân lý là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Quan điểm đó

đã được những người mácxít trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhậnthức và vận dụng Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (ởViệt Nam nói riêng cũng như ở các nước XHCN nói chung), không phải lúcnào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thực tiễn cũng được tuân thủnghiêm túc Biểu hiện của tình trạng xa rời quan điểm thực tiễn là không coitrọng vai trò của hiệu quả kinh tế - xã hội với tính cách là tiêu chuẩn để kiểmtra tính đúng sai của các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội; áp dụng mộtcách máy móc, giáo điều lý luận về chủ nghĩa xã hội, về con đường xây dựngchủ nghĩa xã hội mà không xem xét đầy đủ đến hoàn cảnh thực tế của từngquốc gia, vùng lãnh thổ Việc xa rời quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác -Lênin là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế

- xã hội trong giai đoạn đầu thập kỷ thứ 8 của thế kỷ XX

Trước thực tế đó, tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12 - 1986), Đảng cộng sản

Việt Nam đã chỉ ra sự cần thiết phải quán triệt nghiêm túc quan điểm thực

tiễn khi rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng là “Đảng phải luôn xuất phát từ

thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” [29; tr.30] và “Tiêu

Trang 5

chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương,chính sách của Đảng và nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt,đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân từng bước được ổn định và nângcao” [29; tr.30] Khi đánh giá về những nguyên nhân gây ra tình trạng khủnghoảng kinh tế - xã hội trong giai đoạn trước đó, Đảng ta đã xác định:

“Khuynh hướng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những chính sáchsai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, là lối suy nghĩ,hành động giản đơn nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” [29; tr.9],

“trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và sự yếukém về vận dụng các quy luật” [26; tr.213] Từ Đại hội VI đến nay, Đảngluôn coi tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận là một đòi hỏi vừa cấp bách,vừa thường xuyên trong suốt quá trình cách mạng Đặc biệt, trong Hội nghịTrung ương 5 khóa IX, Đảng ta đã nhấn mạnh việc cần thiết phải phát triển lýluận trên cơ sở tổng kết thực tiễn, gắn lý luận với xây dựng đất nước

Trong bối cảnh đất nước hiện nay, để có được những quyết sách đúngđắn về những vấn đề mới, phức tạp do thực tiễn đặt ra, chúng ta phải đứng

vững trên quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lênin, đặc biệt quan điểm

coi thực tiễn là một tiêu chuẩn khách quan của chân lý Vì lẽ đó chúng tôi

chọn đề tài “Quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lênin và sự vận dụng

của Đảng ta trong công cuộc đổi mới” làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ triết

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong nhiều tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề vaitrò thực tiễn trong quá trình nhận thức đã được đề cập, đặc biệt trong các tácphẩm: “Luận cương về Phoiơbắc” của C Mác; “Chống Đuyrinh” và “Biệnchứng tự nhiên” của Ph Ăngghen; “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán” của V.I Lênin… Qua các tác phẩm đó, thực tiễn được

Trang 6

khẳng định là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân

Ở tác phẩm “Lênin và vai trò của thực tiễn trong nhận thức” (Nxb Sựthật, Hà Nội, 1961), tác giả M.A Tác-khốp-va đã chỉ ra sự đối lập giữa chủnghĩa Ma-khơ và chủ nghĩa thực dụng với chủ nghĩa Mác - Lênin trong quanđiểm về thực tiễn và nhận thức Những kẻ theo chủ nghĩa Ma-Khơ, chủ nghĩathực dụng cho rằng thế giới là tập hợp các cảm giác, kinh nghiệm của conngười, vì thế không thể đưa tới chân lý khách quan; họ hoặc tách rời thực tiễnkhỏi nhận thức, hoặc quy quá trình nhận thức vào thực tiễn; từ đó quan điểmsai lầm về vai trò thực tiễn đối với nhận thức Ngoài ra, tác giả cũng có sựphân tích kỹ về thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn chân lý Song khi bàn đếnvai trò của thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực cho nhận thức của thực tiễnthì tác giả vẫn chưa có sự trình bày cụ thể, sâu sắc

Ngoài các tác phẩm kinh điển và các sách giáo khoa về triết học Mác Lênin còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về thực tiễn như: Ie V

-Bedơtreresnưi, Vấn đề thực tiễn trong quá trình hình thành triết học của chủ

nghĩa Mác (M 1972); Mao Trạch Đông, Bàn về thực tiễn (Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1960); Hồ Văn Thông, Một số vấn đề về phạm trù thực tiễn (Tạp chí

Triết học, số 8, 1975); Lê Hữu Tầng, Cống hiến của V.I.Lênin trong việc xác định vai trò của thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý (Trong sách:

Sức sống của một tác phẩm triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000);

Nguyễn Ngọc Hà, Về vấn đề tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý (Tạp chí Triết

học, số 6, 1998); …

Đối với vấn đề vận dụng quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lêninvào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thới kỳ đổi mới đã có nhiều công

trình nghiên cứu đề cập Chẳng hạn, trong cuốn Về định hướng xã hội chủ

nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2001), các tác giả đã phân tích vấn đề định hướng xã hội chủ

Trang 7

nghĩa ở nước ta dưới nhiều góc độ, gắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vớicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa,đồng thời đưa ra những nhận xét mang tính tổng kết thực tiễn xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta trong 15 năm tiến hành đổi mới Cuốn sách cũng đãdành một phần quan trọng làm rõ hơn nữa bản chất của chủ nghĩa xã hội và sựcần thiết phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới cùng

với những thách thức không nhỏ Trong cuốn sách Đổi mới tư duy và công

cuộc đổi mới ở Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008), GS.VS.

Nguyễn Duy Quý đã nhấn mạnh, muốn nhận rõ đổi mới tư duy một cách khoahọc cần làm rõ lý luận và phương pháp luận tiếp cận khái niệm tư duy trênbình diện triết học Đây là cách giúp chúng ta tìm hiểu bản chất của tư duy và

để làm được điều này phải lấy thực tiễn để làm cơ sở nghiên cứu Đổi mới tưduy đã dẫn đến sự chuyển biến từ mô hình kinh tế tập trung, kế hoạch hóa với

cơ chế bao cấp và bình quân chủ nghĩa sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, vận động theo cơ chế của thị trường có sự quản lý của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sở dĩ có những thành công đó là do Đảng

ta vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cụ thểnước ta Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác như: Bùi Đình Thanh (chủ

biên), Chính sách xã hội: một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Hà Nội, 1993); Dương Phú Hiệp, Chủ nghĩa xã hội cần được nhận thức lại (Tạp chí Triết học, số 1, 1988); Dương Phú Hiệp (Chủ biên), Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ

qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001); Đào Duy Cận - Khoa Minh - Đỗ Nguyên Phương, Những vấn đề lý

luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (chính sách xã hội và hệ thống chính trị) (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Đào Duy Quát, Cao Thái, Một số nhận thức về con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Nxb Tư tưởng văn hoá,

Hà Nội, 1992); Đào Duy Tùng, Quá trình hình thành con đường đi lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 1994);

Trang 8

Đỗ Mười, Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, (Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1992); Hoàng Chí Bảo, Chủ nghĩa xã hội hiện

thực: khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển (Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 1994); Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Lam Sơn,

Chủ nghĩa xã hội dân chủ-huyền thoại và bi kịch (Nxb Sự thật, Hà Nội,

1991); Lê Hữu Tầng, Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - vấn đề nguồn

gốc và động lực (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991); Lê Hữu Tầng, Chủ nghĩa xã hội: từ lý luận đến thực tiễn Những bài học kinh nghiệm chủ yếu

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Những

vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Nguyễn Duy Quý (chủ

biên), 150 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: lý luận và thực tiễn (Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998); Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê,

Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Nxb Lao động,

Hà Nội, 1998); Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), Về định hướng xã hội chủ

nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 2001); Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Về sự phát triển của xã

hội ta hiện nay (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991); Nguyễn Trọng Chuẩn

-Hoàng Tụy - Nguyễn Văn Thu, Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam (cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và công nghiệp hoá) (Nxb

Sự thật, Hà Nội, 1988); Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý

(đồng chủ biên), Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin

về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1997); Phạm Ngọc Quang (chủ biên), Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ

yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001); Phạm Xuân Nam,

Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Quý, Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998); Trần Xuân Trường (chủ biên),

Trang 9

Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận cấp bách

(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Trần Xuân Trường (chủ biên), Một

số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta (Nxb Chính trị Quốc gia,

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: Góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của triết

học Mác - Lênin về thực tiễn, những thành công và thiếu sót trong quá trìnhvận dụng quan điểm đó vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước tathời kỳ đổi mới

Nhiệm vụ của luận văn: Trình bày quan điểm của triết học Mác - Lênin

về thực tiễn; phân tích sự vận dụng quan điểm đó của Đảng ta vào công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Khi phân tích Đảng ta vận dụng quan điểm thực tiễn của triết học Mác

-Lênin vào công cuộc đổi mới, luận văn tập trung xem xét sự vận dụng quanđiểm đó trong việc xây dựng quan hệ sản xuất mới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy

vật biện chứng về nhận thức; quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng

ta về chủ nghĩa xã hội

Trang 10

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích, tổng hợp, so

sánh, lôgíc, lịch sử và hệ thống hóa và các phương pháp nhận thức chung củakhoa học xã hội

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ thêm quan điểm của triết học Mác - Lênin về thựctiễn

- Góp phần làm rõ thêm những thành tựu và những hạn chế trong côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam từ quan điểm của triết học Mác

- Lênin về thực tiễn

7 Ý nghĩa và kết cấu của luận văn

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người quantâm nghiên cứu về quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lênin, về vấn đềđổi mới tư duy lý luận đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương 5 tiết

Trang 11

Chương 1:

QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm thực tiễn

Nghiên cứu đời sống hiện thực của con người là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của triết học Trong lịch sử hình thành và phát triển của triếthọc, đời sống hiện thực của con người được xem xét ở những góc độ khácnhau Đó là vị trí, vai trò và phạm vi tác động của con người đối với thế giớihiện thực; các phương pháp hữu hiệu để nhận thức chân lý; mối quan hệ giữacon người và giới tự nhiên, mối quan hệ giữa hoạt động tinh thần (lý luận) vàhoạt động vật chất Trong đó, vấn đề cơ bản là phân tích hoạt động có mụcđích của con người Tùy theo cách giải quyết vấn đề này của các trào lưu triếthọc mà hình thành lên những quan niệm khác nhau về vấn đề thực tiễn

Các nhà duy vật trước Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giớiquan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết.Tuy nhiên, lý luận của họ còn có nhiều hạn chế Họ không thấy được vai tròcủa hoạt động thực tiễn với nhận thức; chủ nghĩa duy vật của họ có tính trựcquan C.Mác chỉ rõ rằng: “Khuyết điểm chủ yếu, từ trước tới nay của mọi chủnghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc) là sản xuất, hiện thực,cái có thể cảm giác được, chỉ nhận thức được dưới hình thức khách thể, trongnhận thức trực quan… Phoiơbắc muốn có những khách thể cảm giác được,thực sự tách biệt với những khách thể của thực tiễn, nhưng ông không xemhoạt động của con người như là một hoạt động khách quan Bởi thế, trong

“Bản chất của Đạo Cơ đốc” ông chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đíchthực của con người, còn thực tiễn thì chỉ được ông xem xét và xác định trongbiểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi Vì vậy, ông không hiểu được ý

Trang 12

nghĩa của hoạt động “cách mạng”, của hoạt động “thực tiễn - phê phán”” [72;tr.252-255].

Còn chủ nghĩa duy tâm tuy đã thấy vai trò tích cực của con người trongnhận thức, nhưng lại chỉ ở giới hạn ở tính tích cực trong lĩnh vực tinh thần.Khi đề cập đến khái niệm thực tiễn, các nhà triết học duy tâm đã tuyệt đối hóayếu tố tinh thần, tư tưởng trong hoạt động của con người và gạt bỏ vai trò củathực tiễn trong nhận thức Chủ nghĩa duy tâm đã phát triển một cách trừutượng yếu tố tinh thần, tư tưởng hoạt động trong hoạt động thực tiễn của conngười

Khác với các trào lưu triết học trước đó, C.Mác cho rằng, quan hệ đầutiên khởi nguyên của con người đối với thế giới xung quanh là thực tiễn; đểnhận thức thế giới bên ngoài, con người phải tác động một cách tích cực đếnthế giới đó Con người không ngừng tác động vào thế giới xung quanh, mọihoạt động của con người xét tới cùng đều dựa trên cơ sở quan hệ tác động qualại giữa họ với giới tự nhiên Sự khác biệt căn bản giữa con người với tất cảcác thực thể tự nhiên khác là ở chỗ, con người có khả năng nhận thức thế giớikhách quan, biến đổi, cải tạo thế giới đó nhằm đáp ứng những nhu cầu củamình Đương nhiên, để tác động và cải tạo được thế giới xung quanh thì conngười phải có nhận thức Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của conngười, nhưng bản chất của nó chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn trong mốiquan hệ của nó đối với thực tiễn Với quan niệm đó, C.Mác đã viết: “Vấn đềtìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới một chân lý khách quan haykhông, không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chínhtrong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý nghĩa là chứng minhtính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình” Khi phát triểnquan điểm đó của C.Mác, V.I.Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, vềthực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [53;tr.167]; “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những

Trang 13

của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp” [60; tr.230] Vậy thực tiễntrong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin là gì?

Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn

là hoạt động vật chất, cảm tính, có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Thực tiễn không chỉ bó hẹp trong những hoạt

động vật chất cảm tính của từng cá nhân riêng biệt, mà là hoạt động của loàingười trong tiến trình phát triển lịch sử Thực tiễn ngay từ đầu mang tính xãhội, tính cộng đồng loài người Về điều này, C.Mác khẳng định: “Mọi đờisống xã hội, về thực chất là có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bíđang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp hợp lý trong thựctiễn của con người, và trong sự hiểu biết ấy” [72; tr.258] Thực tiễn thể hiệntrong mối quan hệ đa dạng và vô tận giữa con người với giới tự nhiên, giữangười và người; nó là phương thức tồn tại cơ bản của xã hội loài người Điềunày đã được C.Mác đề cập trong “Hệ tư tưởng Đức”: “Cho đến đây, chúng tamới chủ yếu chỉ nói đến một mặt của hoạt động con người; con người tácđộng vào thế giới khách quan Còn mặt khác: con người tác động vào conngười … thì chưa được đề cập một cách đầy đủ” [72; tr.299] Trong quanniệm của C.Mác thì hoạt động thực tiễn là một hoạt động của con người nhằmtác động cả vào con người nhằm cải tiến cả con người và xã hội loài người.C.Mác còn chỉ rõ, hoạt động thực tiễn của con người mang tính sáng tạo,nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và con người Quan điểm về thực tiễn là mộtcăn cứ cho phép chúng ta phân biệt chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủnghĩa duy vật siêu hình Về điều này, trong “Luận cương về Phoiơbắc”C.Mác đã viết: “Các học thuyết duy vật chủ nghĩa coi sự thay đổi là do hoàncảnh giáo dục gây ra, đã quên rằng cần phải có những con người làm thay đổihoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục Bởi vậy,học thuyết đó phải chia xã hội thành hai bộ phận, trong đó có một bộ phậnđứng lên trên xã hội”; “Sự phù hợp giữa sự thay đổi hoàn cảnh với hoạt động

Trang 14

của con người tức là với sự tự biến đổi, chỉ có thể được quan niệm và đượchiểu một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng” [72; tr.255-266].Xuất phát từ những quan niệm đó của C.Mác, V.I.Lênin cho rằng, thựctiễn là hoạt động có mục đích của con người, hoạt động đó “do thế giới kháchquan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề” [60; tr.201], “thựctiễn của con người và của loài người là sự kiểm nghiệm, là tiêu chuẩn của tínhkhách quan của nhận thức” [60; tr.227], “Thực tiễn của con người lặp đi lặplại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức con người bằng những hình tượnglôgíc Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên kiến, có tínhchất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn lần ấy” [60; tr.234].

Qua việc phân tích khái niệm thực tiễn trong triết học duy vật biệnchứng, chúng ta có thể hình dung khái niệm thực tiễn như sau: Thực tiễn làphạm trù chỉ toàn bộ hoạt động vật chất, cảm tính, có mục đích, có tính chấtlịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo, biến đổi tự nhiên, xã hội và chínhbản thân con người; thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực nhận thức và làtiêu chuẩn của chân lý Khác với hoạt động sinh tồn của loài vật, hoạt độngthực tiễn của con người là hoạt động có mục đích, mang tính cách mạng Hoạtđộng thực tiễn của con người là hoạt động mang tính chất cộng đồng, tínhchất xã hội, chứ không phải là hoạt động của mỗi cá nhân riêng lẻ Hoạt độngthực tiễn là hoạt động vật chất, cảm tính

Thực tiễn là hoạt động của con người Vì vậy, để hiểu đặc điểm củathực tiễn, chúng ta cần phân biệt hoạt động của con người với hoạt động củacon vật Hoạt động của con người cũng như của con vật có hai loại là hoạtđộng vật chất và hoạt động tinh thần Hoạt động tinh thần (hay hoạt độngnhận thức) của con vật là hoạt động nhận thức cảm tính, còn hoạt động tinhthần của con người gồm cả hoạt động nhận thức cảm tính và hoạt động nhậnthức lý tính Hoạt động tinh thần diễn ra bên trong bộ não; còn hoạt động vật

Trang 15

chất là sự tác động qua lại giữa chủ thể hoạt động với các đối tượng vật chất.

Để tồn tại và phát triển, con người phải có các hoạt động vật chất là ăn, mặc,

ở, đi, quan sát, sinh con đẻ cái, lao động và nhiều hoạt động khác Con vật,đặc biệt là động vật bậc cao, cũng có một số hoạt động vật chất giống conngười; bởi vì nó cũng ăn, ở, đi, quan sát và sinh con đẻ cái Tuy nhiên, hoạtđộng vật chất của con vật không có tư duy chỉ đạo, còn hoạt động vật chất củacon người thì có tư duy chỉ đạo Tư duy (bao gồm ý nghĩ, suy nghĩ, tư tưởng,tri thức, hiểu biết, ý thức, nhận thức lý tính) tồn tại trong bộ não con người vàđược thể hiện ở hoạt động vật chất của con người Chúng ta không nhìn thấyhay sờ thấy tư duy nhưng căn cứ vào hoạt động vật chất của con người và convật vẫn có thể biết được rằng con người có tư duy còn con vật không có tưduy Con người khi làm việc gì cũng đều có tư duy chỉ đạo; khi ăn thì có tưduy ăn, khi mặc thì có tư duy mặc, khi ở thì có tư duy ở, khi quan sát thì có tưduy quan sát, v.v Đấy là sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động vật chất củacon người và hoạt động vật chất của con vật

Nhờ có tư duy nên hoạt động vật chất của con người còn khác với hoạtđộng vật chất của con vật ở tính văn hóa, tính mục đích Hoạt động vật chấtcủa con vật là hoạt động không có văn hóa, không có mục đích; còn hoạtđộng vật chất của con người là hoạt động có văn hóa, có mục đích Chẳnghạn, chỉ con người mới có văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa ở, văn hóa đi,văn hóa nghe, văn hóa nhìn, văn hóa sinh con đẻ cái Chỉ con người mới cómục đích khi ăn, khi mặc, khi ở, khi đi, khi nghe, khi nhìn, khi sinh con đẻcái Văn hóa và mục đích là đặc điểm chỉ có ở con người Tuy nhiên, văn hóa

và mục đích cũng chỉ là một hình thức hay bộ phận của tư duy

Tư duy tồn tại trong đầu óc của mỗi người Nhưng tư duy của mộtngười bất kỳ nào đó không phải chỉ là sản phẩm riêng của người ấy, mà chủyếu là sản phẩm của mọi người trong xã hội được truyền lại từ người này sangngười khác qua nhiều thế hệ, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của xã hội

Trang 16

trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Vì thế, tư duy của con người có tínhchất lịch sử-xã hội Nhưng tư duy được thể hiện qua hoạt động vật chất củacon người, là cái chỉ đạo hoạt động vật chất của con người Tư duy như thếnào thì hoạt động vật chất như thế Nếu tư duy có tính chất lịch sử-xã hội thìhoạt động vật chất của mỗi người cũng có tính chất lịch sử-xã hội. Trong khi

đó, hoạt động vật chất của con vật vì không có tư duy nên không có tính chấtlịch sử-xã hội Đó cũng là điểm khác nhau giữa hoạt động vật chất của conngười với hoạt động vật chất của con vật

Ngoài ra, hoạt động vật chất của con người và hoạt động vật chất củacon vật còn có sự khác nhau ở chỗ, hoạt động vật chất của con người có thểcải tạo được thế giới, còn hoạt động vật chất của con vật thì không thể cải tạođược thế giới Hoạt động vật chất của con người là quá trình con người tácđộng vào các đối tượng vật chất theo tư duy của mình Nếu coi tư duy là vậtchất được di chuyển vào trong bộ óc con người và được cải biến ở đó thì cũng

có thể coi hoạt động vật chất của con người là quá trình con người di chuyển

tư duy từ bộ óc ra hiện thực; đó là quá trình con người hiện thực hóa tư duycủa mình Tư duy tự nó không thể làm thay đổi được thế giới Tuy nhiên,thông qua hoạt động vật chất của con người, tư duy có thể dẫn đến sự thay đổithế giới Con vật bằng hoạt động vật chất cũng có thể làm thay đổi thế giới;nhưng nó chỉ làm thay đổi được thế giới theo nhận thức cảm tính đơn giản; nóchỉ thu nhặt những sản vật có sẵn trong thế giới để duy trì sự tồn tại, chứkhông thể tạo ra những sản vật mới Còn con người không chỉ thu nhặt nhữngsản vật có sẵn trong thế giới, mà còn có thể cải tạo được thế giới bằng cáchtạo ra những sản vật mới

Tóm lại, hoạt động vật chất của con người là hoạt động có tư duy, cònhoạt động vật chất của con vật là hoạt động không có tư duy Do sự khác nhau

đó cho nên hoạt động vật chất của con người là hoạt động có văn hóa, có mụcđích, có tính xã hội và có thể cải tạo được thế giới; còn hoạt động vật chất của

Trang 17

con vật là hoạt động không có văn hóa, không có mục đích, không có tính lịchsử-xã hội và không thể cải tạo được thế giới.

Thực tiễn là như vậy Câu hỏi đặt ra ở đây là, nó có khác với thực tế haykhông? Để hiểu được vấn đề này chúng ta đi tìm hiểu khái niệm thực tế Theo

“Từ điển tiếng Việt” (của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, xuất

bản năm 2000), khái niệm thực tế được hiểu là “tổng thể nói chung những gì

đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt có quan hệđến đời sống con người"; là “tổng thể nói chung những gì cụ thể xảy ra xungquanh một sự việc, một vấn đề nào đó” Với cách hiểu về thực tế và thực tiễntrên đây, ta thấy thực tiễn không phải là bản thân hiện thực, cũng không phải

là con người mà là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với nhữngkhách thể bên ngoài và với chính con người Còn thực tế là tất cả những cáiđang tồn tại, bao gồm cả hoạt động cụ thể của con nguời hằng ngày, cả đờisống con người diễn ra

Để hiểu cụ thể hơn về khái niệm thực tiễn, chúng ta đi sâu vào tìm hiểunhững biểu hiện của hoạt động thực tiễn con người hay các hình thức cơ bảncủa thực tiễn Thực tiễn là hoạt động riêng có của con người Con ngườithông qua hoạt động thực tiễn của mình, tác động một cách tích cực, sáng tạonhằm biến đổi và cải tạo thế giới bên ngoài, biến đổi và cải tạo chính bản thâncon nguời Chính vì thế mà hoạt động thực tiễn được xem như là phương thứctồn tại của con người Hoạt động thực tiễn của con người là hết sức đa dạng

và phong phú; trong đó hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, hoạt động cảitạo xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học là ba hình thức hoạt động thựctiễn cơ bản của con nguời

Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là hình thức hoạt động thực tiễn

cơ bản thứ nhất của con người; hoạt động đó quyết định sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người Hoạt động sản xuất là sự tác động qua lại giữa

Trang 18

con người với tự nhiên Khi con người chưa xuất hiện, xã hội loài người chưahình thành thì loài động vật, do nhu cầu sinh tồn của nó, đã có sự tác độngqua lại với môi trường tự nhiên xung quanh Loài vật cao cấp đã biết chọnmột số vật tự nhiên (chẳng hạn như hòn đá, cây que), để tìm kiếm thức ăn.Con người ngay mới khi xuất hiện đã biết chế tạo ra các vật mới mà thế giớikhông có Như vậy, con người tác động vào giới tự nhiên để tìm kiếm thức

ăn một cách có hiệu quả hơn Khi tìm kiếm thức ăn với những công cụ domình tự chế tạo ra, loài người đã đồng thời tự cải tạo chính bản thân mình vàqua đó mà dần dần phát triển lên Với những công cụ do mình tạo ra, conngười tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên nhằm phục vụ nhữngnhu cầu của mình về ăn, ở, mặc… Hoạt động đó là hoạt động lao động sảnxuất Cùng với hoạt động sản xuất con người còn trao đổi với nhau nhữngkinh nghiệm lao động; do đó mà tiếng nói ra đời, bộ óc loài vượn người biếnđổi dần dần thành bộ óc con người Nội dung của những hình ảnh về thế giớibên ngoài ở trong đầu óc con nguời được biểu đạt qua tiếng nói đã mang hìnhthái ý thức Cũng từ đó, thực tiễn lao động sản xuất và nhận thức gắn bó chặtchẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Thực tiễn ngày càng phát triển thìnhận thức con người ngày càng phong phú

Thông qua hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sống còncủa mình, con người đã tác động vào giới tự nhiên, cải tạo và biến đổi giới tựnhiên theo những mục đích của mình Đây chính là sự khác nhau căn bảngiữa con người và loài vật Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Loài vật chỉ lợidụng trong tự nhiên bên ngoài và gây ra những biến đổi trong giới tự nhiên,chỉ đơn thuần do sự có mặt của nó mà thôi; còn con người, thì do đã tạo ranhững biến đổi đó, mà bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích củamình, mà thống trị giới tự nhiên Và đó chính là sự khác chủ yếu cuối cùnggiữa con người và các loài vật khác, và một lần nữa, chính cũng nhờ lao động

mà con người mới có được sự khác đó” [79; tr.654] Không chỉ thế, thông

Trang 19

qua hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, con người còn làm biến đổi và cảitạo chính bản thân mình Khẳng định vai trò to lớn và có thể nói là vĩ đại đócủa lao động, Ph.Ăngghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải Laođộng đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vậtliệu cho lao động biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vôcùng lớn lao hơn thế nữa Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộđời sống loài người, và như thế trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói:Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [79; tr.614] Đồng thời, hoạtđộng sản xuất ra của cải vật chất của con người ngày càng phát triển “đã đưađến kết quả tất yếu” là liên kết con người với con người thành một cộng đồng

và rút cuộc thì xã hội loài người cũng đã xuất hiện” [79; tr.647] Không chỉthế, sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất còn dẫn đến “sự sáng suốtngày càng tăng của ý thức, sự phát triển của năng lực trừu tượng hóa và nănglực suy luận” [79; tr.647], đưa con người đến chỗ “nhận thức được quy luậtcủa giới tự nhiên và có thể sử dụng quy luật đó một cách chính xác” [79;tr.665] Nhờ hoạt động sản xuất mà nhận thức của con người ngày càng pháttriển, và đến lượt mình nhận thức của con người ngày càng phong phú đã đưacon người tới chỗ “có đủ kinh nghiệm hoàn thành những công việc ngày càngphức tạp hơn, có đủ khả năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càngphức tạp hơn” [79; tr.650], khiến cho hoạt động sản xuất con người “ngàycàng nhiều vẻ hơn, hoàn thiện hơn, có nhiều mặt hơn” [79; tr.651], “tác độngcủa con người vào giới tự nhiên càng mang tính chất của một hoạt động cótính toán trước, có kế hoạch hướng vào những mục đích nhất định, được biếttrước” [79; tr.652] Thông qua hoạt động sản xuất, con người không chỉ tácđộng vào giới tự nhiên, mà còn tác động vào chính bản thân mình, vào tiếntrình phát triển của xã hội, làm lên lịch sử loài người, lịch sử xã hội Đóchính là hình thức cơ bản thứ hai trong hoạt động thực tiễn của con người -hoạt động cải tạo xã hội

Trang 20

Hoạt động cải tạo xã hội bao gồm những hoạt động của con người trong

lĩnh vực chính trị - xã hội, nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội,các mối quan hệ xã hội để làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo

ra những môi trường lao động xứng đáng với bản chất con người Hoạt độngchính trị thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng

xã hội Thông qua hoạt động cải tạo xã hội, con người đã hình thành nênnhững hiểu biết của mình về xã hội, về giai cấp và về những hoạt động xã hộidiễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống của con người, của xã hội nói chung, củacác giai cấp, các dân tộc, các tập đoàn người, các lực lượng xã hội nói riêng.Trong điều kiện xã hội có sự phân chia thành các giai cấp với lợi ích căn bảnđối lập nhau, thì mọi nhận thức của con người về xã hội đều phản ánh hiệnthực xã hội thông qua lợi ích giai cấp Hoạt động cải tạo xã hội của con ngườitrong xã hội có đối kháng giai cấp là hoạt động đấu tranh giai cấp

Hoạt động đấu tranh giai cấp mang tính vật chất, mang tính khách quan,chứ không phải là hoạt động tinh thần Bản thân hoạt động này là sự tiếp tụccủa hoạt động cải tạo tự nhiên Bởi lẽ, như C.Mác và Ph.Ăngghen khẳngđịnh: “Không thể thực hiện được một sự giải phóng hiện thực nào nếu khôngthực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện thực; rằng không thể xóa bỏđược chế độ nô lệ, nếu không có máy nước và máy dệt, không xóa bỏ đượcchế độ nông nô, nếu không cải tiến canh tác; rằng nói chung, không thể giảiphóng con người, chừng nào họ chưa có khả năng tự kiếm ra cái ăn, thứcuống nơi ở và quần áo đầy đủ cả về mặt chất lượng và số lượng” [72; tr.280].Quan niệm này hoàn toàn trái ngược với quan niệm của các nhà triết học duytâm cho rằng, lịch sử xã hội biến đổi chỉ bằng các luận điểm tinh thần, tưtưởng, hoặc lịch sử có tính chất định mệnh, không có quy luật Hoạt động đấutranh giai cấp với tư cách là hoạt động vật chất có thể được hiểu là việc conngười chọn phương thức đấu tranh, cải tạo xã hội bằng phương tiện vật chất.Hoạt động đấu tranh giai cấp, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “là một sự kiện

Trang 21

lịch sử, chứ không phải sự kiện tư tưởng và nó nảy sinh từ điều kiện lịch sử”[72; tr.280]

Hoạt động đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến các cuộc cách mạng xã hội.Bước chuyển hóa từ xã hội này sang xã hội khác, đầu tiên là sự chuyển hóa vềmặt vật chất, tiếp đó mới là sự chuyển hóa về tinh thần C.Mác - Ph.Ăngghenkhẳng định: “Sự biến đổi lịch sử toàn thế giới không phải là hành vi trừutượng đơn thuần nào đó của “tự ý thức”, của tinh thần thế giới hay của mộtcon ma siêu hình nào đó, mà là một hoạt động hoàn toàn vật chất, có thể kiểmnghiệm bằng kinh nghiệm…” [72; tr.300] Sự biến đổi thế giới hiện thực nàykhông phải chỉ là sự biến đổi về số lượng mà còn là sự biến đổi về chất lượng;

nó làm cho xã hội ngày càng phát triển, quan hệ con người và con người trong

xã hội càng chặt chẽ, càng khác xa với đời sống động vật Đó cũng chính lànguồn gốc thúc đẩy sự phát triển của văn minh nhân loại Với quan niệm nhưvậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận: “Tất cả vấn đề là ở chỗ cáchmạng hóa thế giới hiện có, tấn công và thay đổi một cách thực tiễn trạng thái

sự vật mà mình thấy [72; tr.281]; từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy mất đithì “lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là đấu tranh giai cấp”, vàbao giờ nó cũng được kết thúc bằng “một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xãhội” [72; tr.540] Đương nhiên là, đồng thời với sự tác động thực tiễn này,con người cũng ngày càng nâng cao nhận thức của mình về thế giới tự nhiên,

về xã hội Trong quá trình nhận thức, con người không phải thụ động ngồichờ thế giới cung cấp thông tin cho mình, mà chủ động tác động vào thế giới,

từ đó, có một hình thức khác của hoạt động thực tiễn Đó là hình thức cơ bảnthứ ba của hoạt động thực tiễn của con người, hoạt động thực nghiệm khoahọc

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động thực tiễn góp phần thúc

đẩy nhận thức của con người về giới tự nhiên, về xã hội, nhằm cải tạo tựnhiên, cải tạo xã hội Mục đích của hoạt động thực nghiệm khoa học là tìm ra

Trang 22

những quy luật của tự nhiên và của xã hội, và vận dụng sự hiểu biết đó, để cảitạo tự nhiên, cải tạo xã hội Hoạt động thực nghiệm khoa học có thể đượchiểu như là một dạng hoạt động thực tiễn của con người, bởi vì ở hoạt độngnày con người cũng tác động vào giới tự nhiên, vào xã hội loài người Nhưng

để tìm ra các quy luật của thế giới thì con người nhiều khi phải tiến hành cácthí nghiệm, thực nghiệm, phải chủ động tác động vào thế giới Thực nghiệmkhoa học cũng là sự chủ động, có mục đích, của con người vào thế giới, nhằmbắt thế giới bộc lộ các bản chất của nó Đó cũng là một hình thức cơ bản củathực tiễn

Ba hình thức hoạt động thực tiễn nói trên của con người được phân biệtvới nhau một cách tương đối Nếu xét theo tiến trình hình thành lịch sử xã hộiloài người thì hình thức hoạt động sản xuất vật chất là nền tảng Ph.Ăngghenkhẳng định: “Ngay từ đầu, sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học

đã do sản xuất quy định” Hoạt động cải tạo xã hội và hoạt động thực nghiệmkhoa học là để góp phần phát triển sản xuất, thúc đẩy sự phát triển xã hội,phát triển con người và cũng từ hoạt động sản xuất mới nảy sinh các nhu cầucủa nhận thức, nhu cầu hiểu biết

Ngoài ba hình thức nói trên, thực tiễn còn những hình thức nào khác?Các hoạt động vật chất của con người như ăn, mặc, ở, đi, quan sát, sinh con

đẻ cái có phải là những hình thức của thực tiễn không? Có ý kiến cho rằng,các hoạt động ấy của con người không phải là thực tiễn Có ý kiến cho rằng,mọi hoạt động vật chất của con người (kể cả các hoạt động vật chất như ăn,mặc, ở, đi, quan sát, sinh con đẻ cái) là thực tiễn V.I.Lênin cho rằng thực tiễn

“bao gồm cả thực tiễn của những sự quan sát” [53; tr.164] Trong hai ý kiến

ấy, ý kiến sau hợp lý hơn Bởi vì, đó cũng là những hoạt động vật chất củacon người Hơn nữa, ăn, mặc, ở, đi, quan sát, sinh con đẻ cái là điều kiện sinhtồn của con người và khi thực hiện các hoạt động ấy con người đều có tư duy

Trang 23

chỉ đạo Việc thừa nhận những hoạt động vừa nói là thực tiễn không có nghĩa

là tầm thường hóa khái niệm thực tiễn

Chúng ta cũng có thể nói đến các hình thức khác của thực tiễn tươngứng với các ngành nghề của mỗi người Trong quá trình thực hiện các nhiệm

vụ của xã hội, mỗi người đều phải hoạt động trong một ngành nghề nào đó.Công nhân, nông dân, thương nhân, quân nhân, nhà chính trị, nhà quản lý,nhà giáo, nhà khoa học, nghệ sĩ cũng đều phải vừa hoạt động nhận thức vừatham gia hoạt động vật chất thì mới hoàn thành nhiệm vụ do xã hội phâncông Trình độ tư duy càng cao thì con người càng có khả năng thực hiệnđược những hoạt động vật chất phức tạp Tương ứng với các ngành nghề nóitrên, có các hình thức hoạt động thực tiễn như hoạt động kinh tế, hoạt độngchính trị, hoạt động xã hội, hoạt động văn hóa, hoạt động nghệ thuật, hoạtđộng khoa học, hoạt động giáo dục Tất cả các hoạt động này (chứ không phảichỉ hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, hoạt động xã hội) đều là thực tiễn.Nói cách khác, không phải chỉ những người làm việc trong lĩnh vực lao độngsản xuất, trong lĩnh vực chính trị-xã hội và những người làm thực nghiệmkhoa học, mà cả những người làm việc trong các lĩnh vực khác đều tham giahoạt động thực tiễn

Qua việc xem xét khái niệm thực tiễn trong triết học Mác - Lênin và cáchình thức hoạt động tực tiễn cơ bản của con người, chúng ta thấy rằng, thựctiễn cần được xem xét với tư cách là một khâu trong quá trình nhận thức củacon người về giới tự nhiên, về xã hội loài người Vậy thực tiễn có vai trò nhưthế nào trong nhận thức chân lý?

1.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức chân lý

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức chân lý là vấn đề mà các nhà triếthọc từ xưa tới nay rất quan tâm Thời cổ đại những quan niệm về vấn đề nàychỉ dừng lại ở mức độ sơ khai, do sự phát triển hạn chế của xã hội loài người

Trang 24

lúc đó Mỗi một thời đại lịch sử đều bị giới hạn bởi chính thời đại của mình.Càng ngày con người càng tích lũy nhiều sự hiểu biết xã hội, nhận thức conngười ngày càng được khẳng định Khi nhân loại bước sang thế kỷ XIX, cùngvới sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tiến bộ loài người, trong nền triếthọc Đức, Phichtơ đã đưa ra một quan niệm đúng đắn khi cho rằng quá trìnhcon người nhận thức và cải tạo thế giới là quá trình giải quyết mâu thuẫn củacái tôi và cái không tôi Còn I.Cantơ cũng đã đặt hoạt động thực tiễn của conngười cao hơn lý luận Song, trong hoạt động thực tiễn của con người, ôngmới đề cập đến những hoạt động đạo đức, pháp quyền, chính trị, mà ít đề cậpđến hoạt động sản xuất vật chất; bởi thế mà ông chưa thể đi đến chỗ đánh giámột cách đầy đủ về vai trò của thực tiễn trong sự nhận thức chân lý.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng hoạt động nhận thức và cải tạo thế giớitrong con người chính là công cụ để “tinh thần tuyệt đối” (với tư cách là sựthống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể)nhận thức chính bản thân mình, trở về với chính bản thân mình, G.V.Ph.Hêgen đã coi thực tiễn của con người chẳng qua chỉ là “một suy lý lôgíc,một hình tượng lôgíc” Quan điểm như vậy về thực tiễn, theo V.I.Lênin, làquan niệm “duy tâm tuyệt đối” Song với quan niệm đó, Hêghen cũng đã coithực tiễn như là một mắt khâu của quá trình nhận thức chân lý Khẳng địnhđiều này V.I.Lênin viết: “Không còn nghi ngờ gì nữa, đối với Hêghen, thựctiễn là một mắt khâu trong sự phân tích của quá trình nhận thức, và chính làvới tính cách là sự chuyển hóa sang chân lý khách quan” [60; tr.228] VàHêgen cũng chỉ dừng lại ở đó chứ chưa đi đến được quan niệm coi thực tiễn

là tiêu chuẩn khách quan, duy nhất của chân lý Điều này cũng đúng vớiPhoiơbắc Bởi lẽ, Phoiơbắc đôi khi vẫn nói đến hoạt động giai cấp của conngười, nhưng ông chỉ đề cao hoạt động lý luận của con người, còn hoạt độngthực tiễn thì được ông coi như thứ hoạt động “con buôn”, “bẩn thỉu” Hơnnữa, do không nhận thấy bối cảnh xã hội của con người, không thấy ý nghĩa

Trang 25

của hoạt động “cách mạng”, hoạt động “thực tiễn - phê phán” của con người,nên Phoiơbắc đã không đánh giá đúng vai trò của hoạt động thực tiễn của conngười trong việc cải tạo thế giới và nhận thức chân lý

C.Mác là người đầu tiên khẳng định rõ ràng thực tiễn là tiêu chuẩn củachân lý C.Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thểđạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề

lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con ngườiphải chứng minh chân lý nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sứcmạnh, tính trần tục của tư duy của mình” [78; tr.9-10] Luận điểm nàycủa C.Mác đánh dấu bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhậnthức

Ph.Ăngghen trong “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổđiển Đức” và trong “Lời tựa” viết cho lần xuất bản bằng tiếng Anh của tácphẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học” cũngkhẳng định tiêu chuẩn khách quan để đánh giá tính đúng đắn của nhận thứccon người là thực tiễn, là hoạt động thực tiễn của con người [77; tr.376] và[76; tr.537-538]

V.I.Lênin cũng đưa ra một quan niệm như vậy khi cho rằng: “Nhận thức

lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những mốiquan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó.Nhưng khái niệm của con người nắm “hẳn” lấy cái chân lý khách quan ấy củanhận thức, nó chỉ nhận thức và chiếm lấy khách quan ấy khi khái niệm trởthành “tồn tại vì nó”, theo ý nghĩa thực tiễn Nghĩa là thực tiễn của con người

và của loài người là sự kiểm nghiệm, là tiêu chuẩn của tính khách quan củanhận thức” [60; tr.227], “Kết quả của hoạt động là sự kiểm nghiệm nhận thứcchủ quan và là tiêu chuẩn của tính khách quan thực sự tồn tại” [60; tr.236],

“con người chứng minh bằng thực tiễn của mình sự đúng đắn khách quan của

Trang 26

những ý niệm, khái niệm, tri thức của mình, của khoa học của mình” [60;tr.203].

Như vậy, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin,thực tiễn vừa là cơ sở, vừa là động lực của sự nhận thức chân lý Thực tiễn làhoạt động vật chất của con người tác động vào thế giới khách quan làm chothế giới khách quan bộc lộ những đặc tính, thuộc tính, kết cấu, nội dung, bảnchất, quy luật của nó Thông qua hoạt động thực tiễn, nhờ hoạt động thực tiễn

mà con người có được nhận thức về quy luật của thế giới Sự phản ánh đóhoàn toàn không nảy sinh một cách máy móc mà phải thông qua sự trung giancủa thực tiễn Sự phản ánh đó chỉ bắt đầu, diễn biến và phát triển khi có sự tácđộng qua lại giữa khách thể và chủ thể nhận thức Không chỉ thế, trong hoạtđộng thực tiễn, con người còn tác động một cách tích cực vào thế giới kháchquan nhằm tạo ra một hiện thực mới, một “thiên nhiên thứ hai” - thế giới củavăn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại của conngười, cho con người hoàn thiện và phát triển chính bản thân mình Khẳngđịnh quan niệm đó, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Từ trước cho đến nay, khoa học

tự nhiên cũng như triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt độngcon người với tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặtkhác chỉ biết có tư tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứkhông phải một mình giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của

tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người

ta đã học cải biến tự nhiên” [79; tr.720]

Những tri thức mà chúng ta có được, xét đến cùng hoặc trực tiếp hoặcgián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Nhờ hoạt động thực tiễn, chúng

ta có được tri thức Từ thực tiễn hôm nay và mai sau chúng ta sẽ lại thu nhận

và làm phong phú thêm cho chính mình bằng những tri thức mới Trong mốiquan hệ giữa hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức, mỗi bước tiến củathực tiễn lại thúc đẩy nhận thức tiến lên một bước mới, cao hơn, phản ánh

Trang 27

một nội dung mới về một thế giới khách quan Với ý nghĩa đó, thực tiễn đượccoi là động lực của nhận thức chân lý Về điểm này, Ph.Ăngghen đã khẳngđịnh: “khi xã hội có những nghiên cứu về kỹ thuật thì nghiên cứu này thúcđẩy khoa học hơn mười trường đại học” [71; tr.188].

Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt độngthực tiễn của con người đã, đang và sẽ mãi mãi là nguồn lực bất tận thúc đẩycon người không ngừng phát triển nhận thức Không chỉ thế, trong quan niệmcủa các ông, những tri thức khoa học mà con người tích lũy được chỉ có ýnghĩa thực sự khi được vận dụng vào trong thực tiễn, phục vụ thực tiễn, thúcđẩy thực tiễn phát triển hơn nữa Thực tiễn nêu lên những vấn đề cho nhậnthức con người hướng tới để giải đáp; đồng thời thực tiễn cũng tạo ra nhữngphương tiện cho nghiên cứu, đem lại những tài liệu, những dữ kiện ngày càngphong phú để con người tổng kết, khái quát những hiểu biết của mình thànhtri thức luận, thành chân lý khách quan Với nghĩa đó, thực tiễn còn đóng vaitrò là động lực của sự nhận thức chân lý Khẳng định điểu này Ph.Ăngghenviết: “Cũng như tất cả các khoa học khác, toán học sinh ra từ những nghiêncứu thực tiễn của con người: từ việc đo đạc diện tích của những khoảng đất vàviệc đo dung tích của những bình chứa, từ việc tính toán thời gian và từ cơhọc” [79; tr.59]

Nói tóm lại, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin, thực tiễn không chỉ là cơ sở, mà còn là động lực, là mục đích của sựnhận thức chân lý Và chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn để xác định tính chân

-lý của tri thức con người Thông qua sự vận dụng của tri thức vào thực tiễn,thông qua hiệu quả của hoạt động thực tiễn mà con người nhận biết tri thức

đó là chân lý hay sai lầm; cũng qua thực tiễn, con người có điều kiện để sosánh khảo nghiệm những tri thức, những tư tưởng của mình đối với hiện thực,

từ đó mới có thể xác định đâu là đúng, đâu là sai Việc kết luận một tư tưởng,một tri thức nào đó là chân lý hay sai lầm, theo C.Mác, “không phải là một

Trang 28

vấn đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn Sự tranh cãi về tính hiện thực haykhông hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh nghiệmthuần túy”, rằng “tất cả những vấn đề thực tiễn đang đẩy lý luận vào conđường thần bí đều được giải quyết một cách hợp lý trong thực tiễn của conngười” [72; tr.255].

Song, theo các ông, khi thừa nhận thực tiễn như là tiêu chuẩn khách quanduy nhất của chân lý, cũng cần phải thừa nhận rằng sự hình thành chân lý làmột quá trình “Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình: tưtưởng (=con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng imchết cứng, một bức tranh (hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), khôngkhuynh hướng không vận động, y như một thần linh, một số, một tư tưởngtrừu tượng” [60; tr.207] Theo V.I.Lênin, sự nhận thức chân lý là một quátrình nhưng không phải tùy tiện mà là quá trình có tính tất yếu, phản ảnh sựvật hiện tượng từ đơn giản đến phức tạp, từ bề ngoài đến cái sâu sắc bên trongcủa chúng, có tính chất biện chứng Con đường nhận thức chân lý đó là: “Từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,

đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiệnthực khách quan [53; tr.179] Quan niệm này cho chúng ta thấy, nhận thứccủa con người muốn đạt đến chân lý phải trải qua nhiều giai đoạn Nhận thứccảm tính là bước đầu của quá trình nhận thức, là mắt khâu nối liền con ngườivới thế giới xung quanh Cảm giác là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức củachúng ta Nhận thức cảm tính có được nhờ tiếp xúc trực tiếp với các đốitượng Song nhận thức của con người không chỉ dừng lại ở đó, nó được nânglên giai đoạn cao hơn - giai đoạn nhận thức lý tính (mà V.I.Lênin gọi là “Tưduy trừu tượng”) Trong giai đoạn này, thông qua các khái niệm, phán đoán,suy lý, sự phản ánh của con người đối với hiện thức khách quan đạt tới mộttrình độ sâu sắc hơn

Trang 29

Trong nhận thức khoa học, để đạt đến chân lý, nhận thức của con ngườiphải đi từ nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận Nhận thức kinhnghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính Kinh nghiệm là những tri thức được con người thu nhận trực tiếptrong quá trình hoạt động thực tiễn Trong nhận thức khoa học, tri thức kinhnghiệm chính là những kết quả, số liệu, dữ kiện thu nhập được qua thựcnghiệm Tri thức kinh nghiệm nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, giúpcon người kịp thời điều chỉnh phương hướng, cách thức hoạt động của mình.

Và, do nảy sinh từ hoạt động thực tiễn của con người, nó cũng luôn luôn mới

mẻ không ngừng phát triển Không những thế, nó còn là cơ sở để con ngườitổng kết khái quát thành lý luận, là cái để con người căn cứ vào đó để xem xétlại, bổ sung, sửa đổi, phát triển hệ thống lý luận cũ Tri thức lý luận là cáiphản ánh những mối liên hệ bên trong mang tính quy luật của hiện thực Ởtrình độ lý luận, tư duy của con người đã vượt ra ngoài những tri thức kinhnghiệm, nâng nhận thức của con người lên một trình độ cao hơn, chỉ ra nhữngphương hướng mới cho sự phát triển của hoạt động thực tiễn Như vậy, chỉ cótri thức lý luận mới làm cho thực tiễn của con người trở lên chủ động, tự giáchơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát Song, tri thức lý luận là cái đượchình thành thông qua tư duy trừu tượng của cá nhân nhà tư tưởng, nhà khoahọc; vì thế, nó có khả năng tách rời thực tiễn và trở thành giáo điều Bởi vậy,nguyên tắc kết hợp lý luận với thực tiễn, vận dụng lý luận một cách sáng tạophải được coi là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn của con người

Nhận thức là một quá trình từ thấp tới cao, từ phiến diện đến toàn diện,

từ nông cạn đến đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Trên con đường đạt tới chân lýkhách quan, nhận thức con người nhiều khi phải vượt qua những khúc quanh

co, thậm chí mắc phải không ít những sai lầm Song, trên con đường pháttriển của nhận thức, những sai lầm đó dần dần được khắc phục, con người

Trang 30

càng gần tiếp cận đến chân lý khách quan Trong một thời điểm lịch sử nhấtđịnh, con người chỉ có thể thu nhận được những chân lý tương đối, và xéttrong quá trình nhận thức, con người chỉ có thể “mãi mãi tiến gần đến chân lýtuyệt đối” Bởi thế giới khách quan là hết sức đa dạng, trong quá trình vậnđộng luôn luôn nảy sinh những hình thức mới Nhận thức của con người mộtkhi bị cố định và trở lên cứng nhắc trong một trạng thái nào đó thì sẽ mất đitính khách quan và biến thành sai lầm Hêgen đã đúng khi khẳng định chân lýchỉ có thể được hiểu như là một quá trình, và do đó sự nhận thức nếu khôngmuốn rời xa chân lý cũng phải là một quá trình Khi đánh giá đó là một quanniệm đúng đắn, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp nhận, pháttriển luận điểm này và khẳng định không thể coi một tri thức nào đó, một luậnđiểm, thậm chí một hệ thống lý luận nào đó là những chân lý tuyệt đối, khôngcần và không thể điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện Ph.Ăngghen viết: “Ý nghĩathực sự và tính chất cách mạng của triết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đãgiáng một đòn chí tử vào tính tối hậu của những kết quả của tư tưởng và củahành động con người Theo Hêghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phảinhận thức, không còn là một tập hợp những nguyên lý giáo điều có sẵn màngười ta chỉ có việc học thuộc lòng, một khi đã tìm ra được: từ nay, chân lýnằm trong chính ngay quá trình nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dàicủa khoa học đang tiến từ trình độ hiểu biết thấp lên trình độ hiểu biết caohơn, song không bao giờ, do chỗ tìm ra được cái gọi là chân lý tuyệt đối màđạt đến điểm khiến cho nó không thể tiến xa hơn được nữa, đến điểm đó nókhông còn gì để làm, ngoài việc khoanh tay lại và đứng ngắm một cách kinhngạc cái chân lý tuyệt đối đã đạt được” [77; tr.363] Hơn nữa, Ph.Ăngghen đãkhẳng định: “Đó là điều xảy ra ở những lĩnh vực triết học cũng như ở trongmọi lĩnh vực nhận thức khác và cả ngay trong lĩnh vực hoạt động thực tiễnnữa” [77; tr.363]

Trang 31

Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt độngthực tiễn của con người cũng là một quá trình Nếu như ở Hêgen, hoạt độngthực tiễn, “hoạt động có mục đích của con người” là một “suy lý” lôgíc, thìvới V.I.Lênin, “hoạt động thực tiễn của con người phải làm cho ý thức củacon người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần những hình tượng lôgíc khácnhau, đã cho những hình tượng này có thể có được ý nghĩa những công lý”[60; tr.202-203] Từng giai đoạn của hoạt động thực tiễn đó không chỉ có ýnghĩa là sự bổ sung tri thức mới mà còn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức cũ,đánh giá mức độ phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là vội vàng và thiếuluận cứ xác đáng nếu chỉ căn cứ vào hành động thực tiễn riêng lẻ, chẳng hạnnhư trong một thời điểm nhất định, một diễn biến cụ thể, để khẳng định haybác bỏ một luận điểm, một học thuyết Và đương nhiên mỗi hoạt động thựctiễn có thể chứng minh một cái gì đó trong nhận thức, nhưng chỉ trong quátrình luôn luôn phát triển thì thực tiễn mới có thể khẳng định được toàn bộ nộidung của nó Thực tiễn là con đường ngắn nhất, đúng đắn nhất để đánh giáchân lý Về điều này, khi phê phán nguyên tắc tiết kiệm tư duy, V.I.Lênin đãchỉ rõ: “Tư duy của con người có phản ánh được đúng đắn chân lý kháchquan thì mới là tư duy “tiết kiệm” và thực tiễn, thực nghiệm, công nghiệp làtiêu chuẩn của sự đúng đắn đó” [53; tr.203] Cách nhìn nhận đó dựa trênnguyên tắc nhất quán: vật chất là cái có trước quyết định tinh thần, ý thức.Quan niệm này cho chúng ta thấy sự khác nhau cơ bản giữa chủ nghĩa thựcdụng, chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật biện chứng về tiêu chuẩn chân

Thật vậy, trong lịch sử triết học đã từng có quan niệm coi chân lý lànhững gì được cảm nhận bằng các giác quan, là những gì được chứng minhbằng những tài liệu cảm tính do các giác quan đem lại Cũng đã từng có quanniệm khẳng định tiêu chuẩn của chân lý là ở “tính chính xác, rõ ràng của tưduy”, lại có quan niệm coi chân lý là những nguyên lý được nhiều người công

Trang 32

nhận, là những gì đem lại lợi ích cho con người, thỏa mãn một nhu cầu nào đócủa con người Song, những quan điểm đó không thấy rằng không phải mọitri thức đều có thể chứng minh bằng những tài liệu cảm tính Chân lý bao giờcũng rõ ràng, chính xác, “không có chân lý trừu tượng, chân lý luôn luôn là cụthể”, nhưng không thể tìm tiêu chuẩn của nó ngay trong bản thân ý thức củachủ thể nhận thức Tất cả những nguyên lý nào đúng là chân lý thì sớm muộn

nó cũng sẽ được nhiều người thừa nhận và tuân theo Song, thực tế, có nhữngcái được nhiều người thừa nhận vẫn không phải là chân lý Trong thực tế, cónhững cái đem lại lợi ích cho người này, song lại là có hại cho người khác,bởi thế lợi ích không thể coi là tiêu chuẩn khách quan của chân lý được Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác, Ph.Ăngghen và sau đóV.I.Lênin đã khẳng định tiêu chuẩn khách quan, duy nhất để xác định tínhchân lý của tri thức của nhận thức con người là thực tiễn, là hoạt động thựctiễn nhằm cải tạo và biến đổi thế giới của con người Điều V.I.Lênin khẳngđịnh rằng “quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và

cơ bản của lý luận nhận thức” chính là với nghĩa đó

Trên đây chúng tôi đề cập đến luận điểm cho rằng thực tiễn là tiêu chuẩnduy nhất của chân lý hiểu theo nghĩa là xét đến cùng, còn ở mức chưa “xétđến cùng” vẫn còn các tiêu chuẩn khác để kiểm nghiệm, xem xét, bổ trợ chotiêu chuẩn thực tiễn P.V Côpnin viết: “Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất vìcuối cùng chỉ có nó mới giải quyết được vấn đề độ tin cậy của tri thức, không

có một tiêu chuẩn nào khác ngang bằng với thực tiễn và thay thế được nó”[dẫn theo 23; tr.162] Thực tiễn có một vai trò lớn lao trong nhận thức chân

lý Tuy nhiên, trong sự vận dụng quan điểm này của học thuyết mácxít không

ít tác giả đã tuyệt đối hóa tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý Ở Trung Quốc, vàocuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đã diễn ra cuộc thảo luận sôi nổi chung quanhchủ đề “Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý” Qua thảoluận, quan điểm coi thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý

Trang 33

đã thắng lợi trước phương châm “Hai phàm là” (Hai phàm là phương châmđược đề xuất vào giữa thập kỷ 70 ở Trung Quốc, theo đó, “Phàm là nhữngquyết sách do Mao Chủ tịch đưa ra chúng ta đều phải kiên quyết ủng hộ,phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải răm rắp tuân theo”).Các tác giả theo quan điểm coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý đã có

sự phân tích đúng đắn Theo đó, chân lý mà chủ nghĩa duy vật biện chứng nóiđến là chân lý khách quan, là sự phản ánh chính xác thế giới khách quan của

nó vào tư tưởng con người Chúng ta không thể tìm tiêu chuẩn để kiểmnghiệm chân lý từ trong lĩnh vực chủ quan; tư tưởng, lý luận không thể trởthành tiêu chuẩn để kiểm nghiệm mình có phù hợp với thực tế khách quanhay không Đây là quan niệm đúng đắn Tuy nhiên, nếu từ đó mà đi đến kếtluận thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý thì

không đúng; bởi bên cạnh tiêu chuẩn thực tiễn còn có tiêu chuẩn lôgíc Tiêu

chuẩn lôgíc đòi hỏi quá trình tư duy phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, cácquy tắc và quy luật của lôgíc hình thức; vi phạm sự tuân thủ nghiêm ngặt đótất dẫn đến sai lầm Tiêu chuẩn lôgíc đóng vai trò rất quan trọng trong kiểmnghiệm chân lý, đặc biệt trong trường hợp không thể dựa trực tiếp vào thựctiễn để kiểm tra Một số giả thuyết khoa học có thể sớm kiểm nghiệm quathực tiễn, nhưng một số giả thuyết khoa học đòi hỏi phải qua hàng chục năm,hàng trăm năm, thậm chí vài trăm năm mới có điều kiện để kiểm nghiệm.Trong trường hợp đó lấy gì làm căn cứ cho độ tin cậy của giả thuyết để có thể

sử dụng nó trong hoạt động thực tiễn? Đó là tiêu chuẩn lôgíc Trong hoạtđộng chúng ta nhiều khi phải dựa vào dự báo của chúng ta, độ chính xác của

dự báo một mặt phụ thuộc vào độ chính xác trong sự hiểu biết của chúng ta vềcác quy luật khách quan và về hoàn cảnh tác động cụ thể của các quy luậtkhách quan ấy (sự hiểu biết này tạo nên căn cứ của dự báo, còn bản thân cácquy luật khách quan và hoàn cảnh tác động cụ thể của các quy luật kháchquan ấy là cơ sở khách quan của dự báo); mặt khác, độ chính xác của dự báo

Trang 34

phụ thuộc vào sự đúng đắn của quá trình suy lý theo các quy tắc lôgíc (vì dựbáo là kết quả suy lý lôgíc từ các căn cứ) Giả sử sự hiểu biết của chúng ta vềcác quy luật khách quan và về hoàn cảnh tác động cụ thể của các quy luậtkhách quan ấy là đúng thì sự đúng đắn của dự báo phụ thuộc vào sự đúng đắncủa quá trình suy lý lôgíc theo các quy tắc lôgíc Về điều này Ph.Ăngghen đãkhẳng định: “Nếu những tiền đề của chúng ta là đúng và nếu chúng ta vậndụng một cách chính xác những quy luật của tư duy đối với những tiền đề ấythì kết quả phải phù hợp với hiện thực” [79; tr.829-830] Tiêu chuẩn lôgícđóng vai trò rất quan trọng trong kiểm nghiệm chân lý P.V.Côpnin nói về vaitrò của tiêu chuẩn lôgíc như sau: “Trên cơ sở của thực tiễn đã xuất hiện một

bộ máy lôgíc với rất nhiều phân nhánh để kiểm tra tính chân lý của các kiếntạo lý luận Các phương pháp kiểm tra tính chân lý này là các phương tiệnthấu hiểu và củng cố thực tiễn trong các hình thức lôgíc chặt chẽ Không nênđem những phương tiện ấy đối lập với thực tiễn như một cái gì tồn tại tự lập

và không phụ thuộc vào thực tiễn” [dẫn theo 23; tr.162] Sự thừa nhận trênđây của P.V.Cốpnin cho thấy tiêu chuẩn lôgíc đã được dùng và hiện nay đang

có vai trò rất quan trọng trong kiểm nghiệm chân lý Tiêu chuẩn lôgíc suy chocùng phải dựa trên thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn; nhưng sau khi xuất pháttrên cơ sở thực tiễn, các quy tắc lôgíc có tính độc lập tương đối Trong phạm

vi độc lập tương đối ấy, nó là một tiêu chí giúp cho việc kiểm tra chân lý.Không phải ngẫu nhiên mà tiêu chuẩn lôgíc có được khả năng ấy Theo nhậnxét của V.I.Lênin: “Thực tiễn của con người được lặp đi lặp lại hàng nghìntriệu lần được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng lôgíc.Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên kiến, có một chân lýcông lý Chính vì (và chỉ vì) sự lặp đi lặp lại hàng triệu lần ấy” [60; tr.234].Như vậy, có thể coi tiêu chuẩn lôgíc là đại diện của của tiêu chuẩn thực tiễntrong việc kiểm tra chân lý Dĩ nhiên để có độ tin cậy đầy đủ nhất thì vẫn phảicăn cứ vào tiêu chuẩn thực tiễn

Trang 35

Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để kiểm nghiệm chân lý Tuy nhiên, lýluận của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng tiêu chuẩn thực tiễn vừa cótính tương đối, vừa có tính tuyệt đối Vậy quan niệm về tính tương đối, tínhtuyệt đối của tiêu chuẩn đó như thế nào? Đây là vấn đề được đề cập tới ởphần tiếp theo của chương này

1.3 Tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn

Vấn đề tiêu chuẩn thực tiễn đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đếntrong khi xây dựng học thuyết của mình Ngay từ năm 1845, tức là từ nhữngnăm tháng đầu tiên bước vào hoạt động lý luận, C.Mác đã đề xuất quan điểmphải lấy tiêu chuẩn thực tiễn làm cơ sở lý luận nhận thức duy vật Ngay vàonăm ấy, C.Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tác động của con người có đạt tớichân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận

mà là vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minhtính hiện thực và sức mạnh tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi vềtính hiện thực hay không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn

đề kinh viện thuần túy” [78; tr.9-10] Luận điểm này của C.Mác đã đánh dấubước ngoặt lý luận trong nhận thức, trở thành cơ sở khoa học chống lại quanđiểm bất khả tri dưới mọi hình thức Ph.Ăngghen tiếp tục khẳng định lại kếtluận trên đây khi phê phán quan điểm của những người theo thuyết bất khảtri Ph.Ăngghen viết: “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặnvẹo triết học ấy, là thực tiễn, tức thực nghiệm và công nghiệp” [80; tr.406].Tất cả những ý kiến trên đây của C.Mác và Ph.Ăngghen đều đã đượcV.I.Lênin dẫn lại một cách đầy đủ trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa kinh nghiệm phê phán”, coi chúng là quan niệm nền tảng của lý luậnnhận thức duy vật Song, V.I.Lênin không chỉ dừng lại ở chỗ chỉ trình bày lạinhững quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen để phê phán những quan điểmcủa những trào lưu triết học khác Theo Makhơ, thực tiễn là một việc, lý luậnnhận thức lại là một việc khác Makhơ viết: “Trong thực tiễn, khi làm một

Trang 36

việc gì, chúng ta không thể thiếu được quan niệm về cái tôi, cũng như chúng

ta không thể thiếu được quan niệm và vật thể khi chúng ta giơ tay ra để nắmlấy một vật nào đó Về mặt sinh lý học, chúng ta vẫn thường xuyên là nhữngngười ích kỷ và những người duy vật, cũng như chúng ta thường xuyên chúng

ta nhìn thấy mặt trời mọc vậy Nhưng trong lý luận, chúng ta tuyệt đối chonên giữ rịt lấy quan điểm ấy” [dẫn theo 53; tr.164] Về quan điểm này củaMakhơ, V.I.Lênin chỉ nhận xét: “Trong thực tiễn của mình, người ta hoàntoàn và tuyệt đối chịu sự hướng dẫn của lý luận về nhận thức Âm mưu toanlẩn tránh lý luận đó “về mặt lý luận” chỉ biểu hiện chủ nghĩa duy tâm gượnggạo của Makhơ mà thôi” [53; tr.164-165]

V.I.Lênin không chỉ nhắc lại quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, cũngkhông chỉ đứng trên quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen để phê phán quanđiểm của Makhơ và các trào lưu triết học khác tách rời thực tiễn với lý luậnnhận thức, mà còn đi xa hơn C.Mác và Ph.Ăngghen khi bổ sung thêm luậnđiểm về tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của

chân lý Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán, sau khi nhấn mạnh thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý,

V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải làquan điểm thứ nhất và là cơ bản của lý luận nhận thức” [53; tr.167], “Dĩ nhiênkhông nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ cóthể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của conngười, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa Tiêu chuẩn ấy cũng khá

“không xác định” để không cho phép các hiểu biết của con người trở thànhmột cái tuyệt đối, đồng thời nó cũng khá xác định để tiến hành đấu tranhquyết liệt chống tất cả các thứ chủ nghĩa duy tâm và bất khả tri” [53; tr.167-168] Đây là sự bổ sung quan trọng vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vềvai trò của thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý Luận điểm bổsung này của V.I.Lênin có lúc đã không được chúng ta chú ý đầy đủ, hoặc

Trang 37

không được phân tích một cách rõ ràng Hậu quả là khi tiếp thu lý luận nhậnthức của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta thường cho rằng, nếu cái gì đã đượcthực tiễn kiểm nghiệm là chân lý thì cái đó đúng ở mọi nơi, mọi lúc Chúng taquên mất rằng tiêu chuẩn thực tiễn ấy, xét về thực chất, cũng mang tính tươngđối, hay nói theo cách của V.I.Lênin, nó vừa tuyệt đối, vừa tương đối, vừa xácđịnh, vừa không xác định.

Luận điểm của V.I.Lênin về tính tương đối của thực tiễn với tính cách làtiêu chuẩn của chân lý xuất phát từ cách nhìn biện chứng về sự vật Chính vìxuất phát từ cách nhìn biện chứng về sự vật như thế nên ta có thể thấy mầmmống của tư tưởng này cũng đã có ở Ph.Ăngghen Ph.Ăngghen viết: “Nếuchúng ta đạt được mục đích của chúng ta, nếu chúng ta nhận thấy rằng vật ấyphù hợp với quan niệm của chúng ta về nó, rằng nó đem lại kết quả mà chúng

ta mong muốn khi chọn nó, thì nó là bằng chứng xác thực chỉ ra rằng trongphạm vi đó, cảm giác của chúng ta về vật ấy và về thuộc tính của nó là ănkhớp với hiện thực ở bên ngoài của chúng ta” [81; tr.434] “Trong phạm viđó” thì tiêu chuẩn thực tiễn hoàn toàn xác định để kiểm tra tính chân lý của trithức của chúng ta về sự vật Còn “ngoài phạm vi đó” thì tiêu chuẩn thực tiễnkhông đủ xác định nữa và trở thành tương đối Như vậy, Ph.Ăngghen đã cócái nhìn tổng hợp về tính vừa tuyệt đối, vừa tương đối của tiêu chuẩn thựctiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý Tuy vậy ở Ph.Ăngghen cách nhìn

đó mới hình thành dưới dạng mầm mống còn ở V.I.Lênin nó đã được hìnhthành một cách rõ nét

Tư tưởng của V.I.Lênin về tính tuyệt đối và tính tương đối của tiêuchuẩn thực tiễn còn liên quan đến một tư tưởng khác của ông về mối quan hệ

giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối Trong tác phẩm Chống Đuyrinh,

Ph.Ăngghen đã nói về mối quan hệ giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tươngđối như sau: “Tư duy của con người vừa tối cao, vừa không tối cao, và khảnăng nhận thức của con người vừa là vô hạn, vừa là có hạn Tối cao và vô hạn

Trang 38

là xét theo bản tính, sứ mệnh, khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; khôngtối cao và có hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi thờiđiểm nhất định” [79; tr.127] Nhất trí với quan điểm của Ph.Ăngghen,V.I.Lênin nói rõ hơn: “Như vậy là theo bản chất của nó, tư duy của con người

có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lýnày là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển của khoa họclại đem những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng giớihạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra, khithì thu hẹp lại, tùy theo sự tăng tiến của tri thức” [53; tr.158] Như vậy, theoPh.Ăngghen và V.I.Lênin, giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối không

có ranh giới nào không thể không vượt qua được Mỗi chân lý vừa là tuyệtđối, vừa là tương đối Tuyệt đối trong phạm vi không-thời gian xác định vàtương đối khi vượt ngoài phạm vi không-thời gian ấy Đáp lại kẻ cho rằng sựphân biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là không xác định,V.I.Lênin viết: “Tôi xin trả lời các ngài rằng: nó chính vừa đủ “không xácđịnh” để ngăn ngừa khoa học không trở thành một giáo điều theo nghĩa xấucủa từ đó, một vật chết, ngưng đọng, cứng đờ, nhưng đồng thời nó lại là vừa

đủ “xác định” để phân rõ ranh giới dứt khoát và kiên quyết nhất với chủ nghĩatín ngưỡng và thuyết bất khả tri, với chủ nghĩa duy tâm triết học và thuyếtngụy biện của các đồ đệ của Hium và Cantơ” [53; tr.159-160] Ở đây, như tathấy, luận điểm về tính vừa tương đối vừa tuyệt đối của chân lý gắn bó hếtsức chặt chẽ với luận điểm của V.I.Lênin về tính vừa tuyệt đối vừa tương đốicủa tiêu chuẩn thực tiễn Trong chừng mực nào đó, có thể nói rằng, chính vìtiêu chuẩn thực tiễn vừa tuyệt đối vừa tương đối nên chân lý do nó xác nhậncũng vừa tuyệt đối vừa tương đối Vậy vì sao tiêu chuẩn thực tiễn có tínhtương đối? Đó là vì thực tiễn là một quá trình Thực tiễn không ngừng biếnđổi, bằng một hành động thực tiễn, con người có thể chứng minh một cái gì

đó trong nhận thức của mình, song bất kỳ thực tiễn nào cũng đều chưa hoàn

Trang 39

thiện vì nó luôn luôn phát triển và hoàn thiện hơn Do đó bất kỳ thực tiễn nàocũng không thể xác nhận hoặc bác bỏ hoàn toàn các tư tưởng của con người.

Về điều này, V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng: “Dĩ nhiên không nên quên rằng tiêuchuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ xác nhận hoặc bác bỏ mộtcách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng đó là thếnào đi chăng nữa Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không chophép những hiểu biết của con người trở thành một cái tuyệt đối, đồng thờicũng khó xác định để có thể tiến hành đấu tranh quyết liệt chống tất cả cácthứ chủ nghĩa duy tâm và bất khả tri” [53; tr.167-168]

Tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn được hiểu theo nghĩa là, thựctiễn ở giai đoạn lịch sử cụ thể nào đó chỉ xác nhận tri thức đúng ở giai đoạnđó; tri thức đó chỉ đúng trong một giai đoạn lịch sử, cụ thể nhất định nào đócủa toàn bộ tiến trình thực tiễn Nếu xét trong suốt quá trình vận động, pháttriển không ngừng của thực tiễn thì chân lý ở một giai đoạn nào đó chỉ là chân

lý tương đối Vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, bằng việc nghiêncứu xã hội tư bản, C.Mác đã rút ra kết luận rằng giai cấp vô sản muốn giànhthắng lợi thì không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh bằng các hình thức kinh tế,

mà phải đấu tranh bằng các hình thức chính trị Khi giai cấp tư sản không còn

là những ông chủ riêng lẻ, rời rạc, mà là một giai cấp thực sự, có quan hệ chặtchẽ giữa các thành viên với nhau và hơn thế nữa, khi giai cấp tư sản khôngchỉ bó hẹp lợi ích của mình trong một dân tộc, mà còn có lợi ích ở các dân tộcquốc gia khác, thì theo C.Mác, cách mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi nếu nhưgiai cấp vô sản đoàn kết lại, ít nhất là ở các nước phát triển như Đức, Anh,Pháp Nhưng đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển lên thành chủ nghĩa đếquốc, ngoài mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, còn có mâuthuẫn của các nước đế quốc V.I.Lênin rút ra kết luận rằng, giai cấp vô sản cóthể thắng lợi ở một số nước, thậm trí ở một nước Như vậy chân lý có tínhlịch sử cụ thể Sự thay đổi quan điểm đó phụ thuộc vào sự thay đổi của thực

Trang 40

tiễn Do sự thay đổi đó nên chúng ta không thể lấy thực tiễn của giai đoạntrước để chứng minh cho tính chân lý của giai đoạn sau V.I.Lênin đã phêphán sự lẫn lộn này như sau: “Chẳng hạn Bôgđanốp đồng ý thừa nhận rằng lýluận của C.Mác về lưu thông tiền tệ là một chân lý khách quan “đối với thờiđại chúng ta” mà thôi, và ông ta cho rằng gán cho lý luận đó một chân lý

“khách quan siêu lịch sử” tức là xa vào “chủ nghĩa giáo điều”… Đây lại làmột sự lẫn lộn nữa Vì cái lý do cũng đơn giản như cái lý do khiến Napôlêôngchết ngày 5 tháng 5 năm 1821 thành một chân lý vĩnh cửu, sự phù hợp của lýluận đó với thực tiễn không thể bị những hoàn cảnh nào đó sau này làm thayđổi đi được Nhưng vì tiêu chuẩn thực tiễn đã chứng minh tính chân lý kháchquan của toàn bộ lý luận kinh tế và xã hội của C.Mác nói chung, chứ khôngphải của một bộ phận nào hay một công thức nào…, cho nên rõ ràng ở đây

mà nói đến “chủ nghĩa giáo điều” của những người theo chủ nghĩa Mác thìnhư thế có nghĩa là nhượng bộ kinh tế học tư sản một cách không thể tha thứđược” [53; tr.168]

Khẳng định tính có giới hạn về mặt lịch sử của hoạt động thực tiễnkhông có nghĩa là phủ nhận tính tuyệt đối của chân lý Tri thức phản ánh đúngđắn hiện thực khách quan là chân lý tuyệt đối nhưng nó chỉ là chân lý tuyệtđối ở giai đoạn đó, còn trong giai đoạn mới của hiện thực khách quan nó làchân lý tương đối Bởi vậy, để tránh đi theo khuynh hướng của chủ nghĩatương đối (khuynh hướng phủ nhận khả năng đạt đến chân lý) và tránhkhuynh hướng giáo điều (khuynh hướng cho rằng có chân lý vĩnh cửu chomọi thời đại) thì chúng ta phải xem xét chân lý trong mối quan hệ lịch sử cụthể Điều đó có nghĩa là thực tiễn giai đoạn sau là sự bổ sung cho thực tiễngiai đoạn trước, đồng thời nó cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra lại, đánh giá lạimột cách đầy đủ hơn nhận thức ở giai đoạn trước

Thực tiễn là quá trình phát triển vô hạn không có điểm kết thúc Theo sựphát triển của thực tiễn, nhận thức cũng không ngừng phát triển Tri thức

Ngày đăng: 18/07/2022, 13:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê (1998), Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
2. Hoàng Chí Bảo (1994), Chủ nghĩa xã hội hiện thực: khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội hiện thực: khủng hoảng, đổi mớivà xu hướng phát triển
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
3. Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Lam Sơn (1991), Chủ nghĩa xã hội dân chủ-huyền thoại và bi kịch, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩaxã hội dân chủ-huyền thoại và bi kịch
Tác giả: Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Lam Sơn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
4. Nguyễn Đức Bình (2001), Một số vấn đề công tác lý luận tư tưởng và văn hóa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề công tác lý luận tư tưởng và vănhóa
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
5. Nguyễn Đức Bình (2008), Vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
6. Nguyễn Đức Bình (1994), Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
7. Nguyễn Trọng Chuẩn (1994), “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1994
9. Đào Duy Cận - Khoa Minh - Đỗ Nguyên Phương (1998), Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (chính sách xã hội và hệ thống chính trị), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lýluận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (chính sách xã hội và hệ thống chínhtrị)
Tác giả: Đào Duy Cận - Khoa Minh - Đỗ Nguyên Phương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (2009), Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (2000), Sức sống của một tác phẩm triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống của một tác phẩm triếthọc
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (1993), “Đôi điều suy nghĩ về học thuyết Các Mác với sự nghiệp đổi mới của chúng ta”, Tạp chí Triết học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về học thuyết Các Mácvới sự nghiệp đổi mới của chúng ta”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1993
13. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), “Kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong điều kiện nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làmkinh tế tư nhân trong điều kiện nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2002
14. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (1991), Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phát triển của xã hội tahiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
15. Nguyễn Trọng Chuẩn - Hoàng Tụy - Nguyễn Văn Thu (1988), Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và công nghiệp hoá), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấnđề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (cách mạng khoa học-kỹ thuậthiện đại và công nghiệp hoá)
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Hoàng Tụy - Nguyễn Văn Thu
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1988
16. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) (1997) Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chủ nghĩa xãhội và thời kỳ quá độ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Cách nhìn mới về đảng viên làm kinh tế, http://dangcongsan.vn/CPV/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30119&cn_id=239398. ngày 25/07/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách nhìn mới về đảng viên làm kinh tế
18. Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cách mạng công nghiệp, (1996), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cách mạng công nghiệp
Tác giả: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cách mạng công nghiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
19. Trường Chinh (1986), Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
20. Trường Chinh (1987), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại , Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và củathời đại
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
21. Ngô Thành Dương (1986), Một số khía cạnh về phép biện chứng, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh về phép biện chứng
Tác giả: Ngô Thành Dương
Nhà XB: NxbSách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 1986

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w