các nước chậm phát triển đang nhanh chóng trở thành những đối tác lớn tham gia thị trường hoa cắt cành thế giới.. Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù sản xuất đã có bước phát triển đáng kể về q
Trang 1THƯƠNG MẠI HOA CẮT CÀNH TRÊN THẾ GIỚI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM
Phạm Xuân Tùng1
Summary
"The world cut flower industry and floriculture in VIetnam "
The world cut flower industry is a dynamic and growing multi-million dolars worth business During the last few decades, though production area tends to decline in the more industrialized economies, those developed countries are still the largest flower producers and consumers and share the larger portion of world total production value of USD 35 billion The Western Europe, North America and Japan are still the largest cut flower consumers, but consumption is fast increasing in some other important regions such as China, India, Eastern Europe The European Union occupies only 12% of world total production area, but generates 42% of the total production value, the Netherlands being the largest holder of more than half of that
All flower producing countries and /or regions build their competitiveness by minimizing cost of production on the ground of vertical investment, promoting innovation and /or employing geographical advantages The developing countries to take the comparative advantages of their more favourable climatic conditions, lower cost of land and labour as well as encouraging government preference policies On the contrary, the developed countries take the advantages of their capability of vertical investment into technological development and innovation Those countries which based their competitiveness on non-stop innovation are always the stronger competitors
The mid 1990’s was a new start of floriculture in Viet Nam Cut flower production exploded around the large cities of Ha Noi, Ho Chi Minh, Hai Phong and spread out to other more distant provincial areas In Dalat, the “flower city” and its vinicities, production rapidly expanded by tenfold within just
a few years to meet the sharp increase in the market demand However, as many farmers depart from vegetable production to flower cultivation, the supply gains surplus causing decline in the market price and growers’ income Flower export becomes an ambitious target of many flower growers that attracts much of government endowment and interest of local agricultural enteprises However, by the end of 2008, only 5% of the total production is exported by foreign companies, which have in-hand all the capital resource, advanced production technology and international markets, of that 95% being by the Dutch company Harsfarm
Results from recent research on the current scennario of the country flower production show that beside several technical weaknesses of the local producers and marketers, strategic issues of limitation includes: 1) lack of a system of cooperative maketing, 2) lack of supporting infrastructures (cold chains, logistics, internal transportation systems, ect.), and 3) lack of producers with capability
of handling an export chain (including understanding of and business relation with the international markets, adequate flower quality, adequate management strategies, adequate production volume and stability of supply)
Keywords: cut flowers, demand, consumption, production, flower market, world trade,
competitiveness, problems
1
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghiệp hoa cắt cành thế giới là
một ngành hàng có giá trị nhiều tỷ đô-la
(USD) và vô cùng năng động Sự đa dạng
về chủng loại hàng, công nghệ sản xuất-tiếp
thị, nguồn cung ứng, thị trường tiêu thụ,
tất cả đều sôi động và thay đổi thường
xuyên, liên tục tạo ra những thách thức lớn
cho các đối tác tham gia vào ngành hàng
này Cho dù còn nhiều hạn chế về vốn,
công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, các
nước chậm phát triển đang nhanh chóng trở
thành những đối tác lớn tham gia thị trường
hoa cắt cành thế giới Colombia, Equador,
Zimbabwe, Kenia là những nước xuất khNu
hoa được nhanh chóng xác lập từ thập niên
1990 và đã trở thành những nhà xuất khNu
có vai vế Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,
Hàn Quốc, Malaixia, Malawi, Zambia, N am
Phi, Mexico, đang dần trở thành những
đối thủ cạnh tranh đầy tham vọng trên thị
trường xuất khNu hoa Với thị trường tiêu
thụ lớn nhất vẫn là châu Âu, Bắc Mỹ và
N hật Bản, khoảng cách vận chuyển lớn và
tính dễ hư hao của hàng hoa tạo ra những
khó khăn đáng kể về kho vận mà các nước
này cần phải giải quyết Tuy vậy, các thành
viên mới trỗi dậy này vẫn có thể và thực sự
đã và đang cạnh tranh với các đối thủ tại
chỗ một cách gay gắt
N hững năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ
XX đánh dấu một sự khởi đầu mới của
nghề sản xuất hoa Việt N am Sản xuất hoa
và cây cảnh bùng nổ trước tiên xung quanh
các thành phố lớn như Hà N ội, Hải Phòng,
Tp Hồ Chí Minh và lan rộng sang các vùng
khác Ở Đà Lạt, sản xuất mở rộng nhanh
chóng, gia tăng hàng chục lần về quy mô
chỉ trong vài năm do nhu cầu gia tăng của
thị trường tiêu dùng
Quyết định số 182 QĐ/TTg, ngày
3/9/1999, phê duyệt Dự án “Phát triển sản
xuất rau, hoa, quả giai đoạn 1999-2010”
khẳng định chủ trương lớn của N hà nước trong việc đNy mạnh phát triển nghề vườn nói chung và ngành hàng hoa nói riêng
N hững mục tiêu lớn của Dự án gồm: i) Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rau, hoa, quả của nhân dân; ii) Tạo ra khoảng 5 triệu việc làm
và iii) Đưa kim ngạch xuất khNu rau, hoa, quả lên 01 tỷ USD Để đạt được mục tiêu
đó, nhiều chương trình, dự án phát triển đã được triển khai, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển đã được áp dụng Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù sản xuất đã có bước phát triển đáng kể về quy mô diện tích và sản lượng, hoa cắt cành Việt N am vẫn được coi
là có chất lượng thấp với trên 95% sản phNm được tiêu thụ trên thị trường nội địa, vốn được coi là một thị trường non trẻ Gần 5% sản lượng xuất khNu được chủ yếu do một số doanh nghiệp nước ngoài có sẵn công nghệ, vốn và thị trường thực hiện Trong khi tiềm năng phát triển có thể coi là còn rất lớn, hiện trạng sản xuất cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải được giải quyết nhằm khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh, tăng cường chất lượng và năng lực cạnh tranh để hoa cắt cành Việt N am có thể thâm nhập vào thị trường thế giới Bài viết này tổng quan bối cảnh sản xuất, thương mại hoa cắt cành thế giới và những vấn đề của ngành hàng này ở Việt N am
II SẢN XUẤT VÀ THƯƠN G MẠI HOA CẮT CÀN H THẾ GIỚI
1 hu cầu tiêu dùng
N hu cầu tiêu thụ hoa cắt cành thế giới gia tăng với mức 6-9% mỗi năm N ăm
1985, giá trị tiêu dùng là 12,5 tỷ USD, năm
1990 khoảng 25 tỷ, năm 1995 khoảng 31 tỷ
và ước tính sẽ đạt 35 tỷ trong 10 năm tiếp theo (de Groot, 1998) Ở quy mô toàn cầu, Tây Âu, Bắc Mỹ và N hật Bản là những khu vực tiêu thụ hoa cắt cành nhiều nhất Chỉ riêng 25 nước thuộc Liên minh châu Âu (European Union - EU) đã chi trung bình
Trang 313,5 tỷ USD/năm trong giai đoạn
2001-2005 (CBI, 2006) cho tiêu dùng hoa cắt
cành, chiếm gần 50% tổng mức tiêu dùng
hoa thế giới (hình 1) N ăm 2005, tiêu dùng
nhiều nhất là Đức (4,03 tỷ USD), Liên hiệp
Anh (2,8 tỷ), Pháp (2,4 tỷ), Ý (2,6 tỷ) (CBI,
2006) N gười Mỹ chi khoảng một 11 tỷ
USD mỗi năm (FCH-Flower Council of
Holland-FCH, 2006), N hật Bản 5,4 tỷ
(APEDA, 2000) (hình 1)
Tổng mức tiêu dùng của Tây Âu giai
đoạn 2001-2005 giảm khoảng 3,2%, trong
đó Ý giảm 5,9% Sự suy giảm này một
phần do sự bão hòa ở một số thị trường,
phần khác do suy thoái kinh tế và sức mua
của người tiêu dùng (CBI, 2006) Trong khi
đó, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và thu
nhập của người dân, tiêu dùng hoa cắt cành
có xu hướng gia tăng ở một số nước Đông
Âu, châu Á và Mỹ Latin Trung Quốc nhanh chóng trở thành quốc gia có quy mô sản xuất và tiêu dùng lớn nhất thế giới với mức tăng trưởng 15% mỗi năm Riêng ở Bắc Kinh, tỷ lệ người tiêu dùng hoa cắt cành cho nhu cầu cá nhân từ 2,3% năm
1985 tăng lên 29% năm 2004 (GADIN FOcenter, 2006) vượt qua tỷ lệ này
ở Mỹ (28%) (FCH, 2006) Ấn Độ, với 300 triệu dân thuộc tầng lớp trung lưu và khá giả, có mức tăng trưởng về tiêu dùng hoa 40% mỗi năm (N ishimura, 2006) Từ 1985 đến 1996, tiêu dùng hoa cắt cành ở Hàn Quốc tăng 18,9% trong khi thu nhập bình quân tăng 15,1% (http://www.krei.re.kr/ krei/korea /kreireport/zb) Đây cũng là xu thế chung xuất hiện ở nhiều nước có nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, thu nhập của người dân được cải thiện nhanh chóng
§øc
13,5
2,8
4,03 2,6 2,4
11
5,4
0 2 4 6 8 10 12 14
EU LH Anh Italy Pháp Mü NhËt
B¶n
Hình 1 Giá trị tiêu dùng hoa cắt cành của một số nước
Theo FCH (2006), Hà Lan có mức tiêu
dùng tính trên đầu người cao nhất trong giai
đoạn 2001-2005 (trung bình 56 euro/năm),
Áo đứng thứ hai (45 euro/năm) Trung bình
của các nước thuộc EU giai đoạn này là 28
euro/người/năm, tương đương với mức tiêu
dùng của người Nhật (29 euro/người/năm)
(ITC, 2006), 4,3 lần mức của người Đài
Loan (RIRDC, 1999) và 37 lần mức trung
bình của người Trung Quốc (FCH, 2006)
Mức tiêu dùng tính trên đầu người ở EU
trong giai đoạn này giảm 7,1% do các
nguyên nhân suy thoái kinh tế và thu nhập thực tế của cá nhân Người Mỹ chi trung bình 31 USD/người/năm cho tiêu dùng hoa Châu Á cùng với Trung Quốc được dự báo
sẽ là thị trường hoa lớn nhất trong vài thập
kỷ tới
2 Sản xuất
Toàn cầu có khoảng 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố trên 27 nước chủ yếu EU chia sẻ 12%, trong khi các nước châu Á và Thái Bình Dương chiếm 70% diện tích này,
Trang 4trong đó Trung Quốc 40% (EC, 2006, hình
2) (120.000 ha, theo People’s Daily Online,
2001) và Ấn Độ 15% (45.000 ha, theo AIC,
2006) Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan là
những nước và vùng lãnh thổ (VLT) sản
xuất hoa quan trọng ở vùng này với tổng
diện tích chiếm 10% (hình 2) Mỹ (7%),
Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia
(2%) là các nước sản xuất hoa chủ yếu ở
châu Mỹ, chiếm tổng số 16% diện tích hoa của thế giới (EC, 2006)
Chỉ 25 nước thuộc EU đã sản xuất 42% (hình 3) giá trị tổng sản lượng toàn cầu (8.634 tỷ euro), trong đó, Hà Lan chiếm qúa nửa Mỹ sản xuất 6%, Nhật Bản 13%, Trung Quốc 7%, Canada và Colombia mỗi nước 3% giá trị sản lượng toàn cầu (EC, 2006) (hình 3)
Hình 2 Diện tích hoa cắt cành của một số nước và vùng lãnh thổ (% tổng diện tích thế giới)
Hình 3 Giá trị tổng sản ph.m hoa cắt cành một số nước và vùng lãnh thổ
(% tổng sản ph.m thế giới)
Trung Quốc
Ấn Độ
EU
Mỹ Nhật Mexico VLT Đài Loan Brazil Thái Lan Colombia Hàn Quốc Còn lại
EU
Mỹ Nhật Trung Quốc Canada Colombia Hàn Quốc Brazil Australia VLT Đài Loan Israel
Equador Còn lại
Trang 5T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
5
EU chiếm 12% tổng diện trồng hoa thế giới nhưng tạo 42% ra giá trị tổng sản lượng, là khu vực có trình độ thâm canh cao nhất Công nghệ nhà kính là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong ngành hàng hoa thế giới Giá trị sản lượng trên một hecta của từng nước tương ứng với tỷ lệ diện tích sản xuất trong nhà kính (EC, 2006) Đan Mạch và Thụy Điển với tỷ lệ diện tích sản xuất hoa trong nhà kính tương ứng là 65 và 92% tạo ra năng suất hàng hóa trên 600 ngàn euros/ha/năm Hà Lan với tỷ
lệ 69%, sản xuất 430 ngàn euros/ha/năm Trung bình toàn EU, tỷ lệ hoa sản xuất trong nhà kính là 31% và năng suất trung bình là 120 ngàn euros/ha/năm Trong khi đó, Trung Quốc và Nhật Bản có tỷ lệ hoa trong nhà kính tương ứng là 17% và 51%, năng suất trung bình tương ứng là 10 và 140 ngàn euros/ha/năm (EC, 2006)
3 Thương mại
/hập kh.u: Thị trường nhập khNu hoa cắt cành toàn cầu có giá trị 4 tỷ USD (ITC,
2001) với tốc độ gia tăng 0,7% mỗi năm Tốc độ gia tăng nhập khNu không lớn tương ứng với nhu cầu tiêu dùng do bản thân các nước nhập khNu hầu hết đều tự sản xuất hoa Chi phí vận chuyển cao (chủ yếu qua đường hàng không) là yếu tố hạn chế gia tăng nhập khNu Mặc dù vậy, nhập khNu từ các nước đang phát triển vẫn tiếp tục gia tăng nhờ các ưu thế cạnh tranh về nguồn nhân công rẻ và điều kiện khí hậu thuận lợi Năm 1995, kim ngạch nhập khNu từ các nước chậm phát triển chỉ là 18 triệu USD, năm 1999 là 45 triệu (ITC, 2001), năm 2003 trên 640 triệu (DFAA, 2004) và năm 2005, chỉ riêng EU đã nhập
643 triệu (CBI, 2006)
EU là thị trường nhập khNu hoa cắt cành lớn nhất với tổng kim ngạch 3,3 tỷ euros năm 2005, với mức tăng trưởng 3,3% /năm từ 2001 đến 2005, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại và sức mua của người tiêu dùng suy giảm (CBI, 2006) Đức và Anh là các nước nhập lớn nhất chiếm tương ứng 25% và 23% tổng kim ngạch nhập khNu của
EU Hà Lan và Pháp đứng thứ ba và thứ tư với với thị phần tương ứng là 14 và 13% Tuy vậy, 78% sản phNm nhập khNu của EU là trong nội bộ các nước thuộc EU và chỉ 22% được nhập từ bên ngoài Hà Lan là nước đứng đầu EU về nhập khNu từ bên ngoài, chiếm 56% thị phần này Tuy vậy, một phần lớn hoa nhập khNu vào Hà Lan được tái xuất sang các nước khác trong EU Cùng với Hà Lan, nguồn cung ứng từ bên ngoài chủ yếu là các nước chậm phát triển như Kenya (8%), Colombia (3%), Equador (3%) và Israel (3%) (CBI, 2006)
Bắc Mỹ là thị trường nhập khNu lớn thứ hai Riêng Mỹ nhập khNu 10% (de Groot, 1998) cho nhu cầu tiêu dùng 11 tỷ USD mỗi năm Nguồn nhập của Mỹ chủ yếu từ Mexico (24%), Hà Lan (10%), Thái Lan (8%), Colombia (6%), Equador (5%), Costa Rica (4%) (USDA, 2004) Nhật Bản là thị trường nhập khNu hoa lớn nhất châu Á với kim ngạch nhập khNu 179 triệu USD năm 2006, tăng 40% so với năm 2000 Nguồn nhập hoa chủ yếu của Nhật Bản là Hà Lan, Thái Lan, New Zealand, Australia, Trung Quốc, Malaysia, Colombia, vùng lãnh thổ Đài Loan và Hàn Quốc (Nishimura, 2007) Hà Lan và Thái Lan mỗi nước chiếm 16-17% thị phần nhập khNu Nhật Bản, tiếp theo là New Zealand và Hàn Quốc (14-15%), Australia và Colombia (6-7%) (JETRO, 2001)
Xuất kh.u: EU là khu vực xuất khNu mạnh nhất với tổng kim ngạch năm 2005 đạt 2,7
tỷ euros và mức tăng trưởng 1,1% trong giai đoạn 2001-2005 (CBI, 2006) Hà Lan chiếm
ưu thế với 88% tổng kim ngạch xuất khNu trong khu vực này Xuất khNu hoa của EU diễn
ra chủ yếu trong nội bộ EU (86%) Đức là thị trường lớn nhất của Hà Lan, chiếm 26% thị
Trang 6T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
6
phần với kim ngạch nhập khNu 679 triệu euros/năm (CBI, 2006) Liên hiệp Anh chiếm 19%, Pháp 14%, Ý 5% Thị trường quan trọng ngoài EU bao gồm Thụy Sỹ (4%), Nga (3%) và Mỹ (3%)
Mỹ Latin là khu vực xuất khNu hoa mạnh thứ hai với kim ngạch 750-800 triệu USD mỗi năm Trên 60% sản phNm hoa của khu vực này được xuất vào Bắc Mỹ Các nước xuất khNu chủ yếu là Colombia, Equador, Mexico và Costa Rica Xét về xuất khNu ra ngoài vùng thì Mỹ Latinh đứng đầu
Trong một thời gian ngắn, châu Phi đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình trên thị trường xuất khNu hoa cắt cành Kenya, Zimbabwe, Uganda, Nam Phi, Tanzania là các nước xuất khNu chủ yếu của châu Phi Năm 2005, chỉ riêng Kenia, Zimbabwe và Uganda
đã xuất hoa qua các sàn đấu giá Hà Lan trị giá 290 triệu USD, trong đó Kenya chiếm trên 70% (CBI, 2006) Israel là nước xuất khNu hoa chủ yếu của Trung Đông chiếm 3% thị trường nhập khNu của EU trong năm 2005
Châu Á có vai trò không đáng kể trên thị trường xuất khNu hoa thế giới Xuất khNu của các nước châu Á diễn ra chủ yếu giữa các nước trong vùng Xuất khNu ngoài vùng sang châu Âu và Mỹ chỉ có Thái Lan (chủ yếu là phong lan) và Trung quốc (chủ yếu là hoa khô)
4 Lợi thế cạnh tranh
Các nước hoặc khu vực xây dựng khả năng cạnh tranh của mình trên cơ sở hạ giá thành sản xuất, đầu tư chiều sâu, phát huy sức sáng tạo hoặc ưu thế cạnh tranh về địa lý
và từ xuất phát điểm có sẵn Những nước cạnh tranh trên cơ sở phát huy sức sáng tạo là những nước có khả năng cạnh tranh mạnh hơn Những nước này không phụ thuộc hoàn toàn vào việc hạ giá thành hoặc đầu tư công nghệ của nước ngoài mà có đủ sức mạnh để
tự sáng tạo về công nghệ và chiến lược kinh doanh
Hà Lan là nước tiêu biểu xây dựng được khả năng cạnh tranh của mình dựa trên sự năng động sáng tạo trong cả cung và cầu Để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng
và những người bán lẻ, Hà Lan đã tạo được tính thống nhất theo chiều sâu trong nhiều vần đề lớn như hệ thống kho vận, chất lượng sản phNm và các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường (de Groot, 1998) Những hạn chế như giá nguyên liệu và nhân công cao, khí hậu bất thuận được bù đắp bằng năng suất, chất lượng sản phNm cao, hệ thống phân phối có hiệu quả và sự đa dạng phong phú của các sản phNm hoa Vị trí địa lý thuận lợi ở trung tâm châu Âu, cơ sở hạ tầng tốt, khả năng đầu tư và sự hiểu biết toàn diện là các nhân tố cơ bản tạo ra sức sáng tạo năng động của Hà Lan Mặc dù cũng cạnh trên lĩnh vực giá, Hà Lan không phụ thuộc hoàn toàn vào việc cắt giảm các chi phí về nhân công, vật liệu và vốn đầu tư Sức mạnh cạnh tranh của đất nước này là khả năng sáng tạo cái mới, thể hiện ở năng suất, chất lượng, sự đa dạng sản phNm, trình độ chuyên môn và trình
độ công nghệ
Tuy vậy, ở những thị trường mà giá thành hạ là vấn đề quan trọng thì Hà Lan sẽ vấp phải những đối thủ cạnh tranh quyết liệt như một số nước châu Phi (Kenya, Zambabwe, Zambia, Nam Phi) và Mỹ Latinh (Colombia, Equador) Các nước châu Phi
có lợi thế cạnh tranh ở các yếu tố cơ bản như khí hậu thuận lợi, giá đất, nhân công và nước tưới rẻ Ngược lại, thiếu những yếu tố kích thích sáng tạo công nghệ, thiếu hệ thống phân phối, thiếu vốn để phát triển trình độ chuyên môn và công nghệ cao trên
Trang 7T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
7
diện rộng và thị trường nội địa yếu là những hạn chế cơ bản của các nước này Vì vậy,
họ sản xuất những mặt hàng hoa ít yêu cầu trình độ công nghệ cao và cung cấp cho thị trường thế giới một khối lượng đáng kể các sản phNm này với giá thành hạ Các nước
Mỹ Latinh có được lợi thế cạnh tranh dựa vào nhiều yếu tố, trong đó đầu tư chiều sâu
về công nghệ là yếu tố cơ bản Diện tích sản xuất hoa tăng nhanh chóng nhờ thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Colombia là nước xuất khNu hoa cắt cành đứng thứ hai trên thế giới với kim ngạch xuất khNu trên 550 triệu USD mỗi năm (Batt, 2000) Trong vòng 30 năm, sản xuất hoa cắt cành của Colombia phát triển ngoạn mục và chiếm lĩnh 10% thị trường thế giới Những yếu tố cơ bản tạo nên sự phát triển vượt bậc
đó là: i) Điều kiện khí hậu đặc biệt thuận lợi cho sản xuất các loại hoa cắt cành ôn đới truyền thống; ii) Chi phí sản xuất thấp (chi phí nhà kính và lao động, cước phí vận chuyển đến thị trường Mỹ), iii) Khoảng cách với gần thị trường Mỹ, iv) Sự hỗ trợ tối đa của Chính phủ Hiệp hội những nhà xuất khNu hoa Colombia (Ascolflores), hình thành năm 1986, tạo nên sức mạnh rất đáng kể của ngành hàng hoa (Batt, 2000) Ascolflores họat động rất mạnh mẽ trong quảng bá thương hiệu hoa Colombia, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực và các họat động xã hội khác Chính phủ tác động thông qua các chính sách: i) Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi (dài hạn và ngắn hạn), ii) Thuế trực tiếp ưu đãi (từ 15% còn 0,1% cho hoa xuất khNu vào Mỹ), iii) Giảm đáng kể thuế xuất nhập khNu cho các nguyên vật liệu chuyên dụng cho sản xuất hoa, iv)
Hỗ trợ hiện đại hóa, v) Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và vi) Khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu phát triển và bảo đảm sở hữu trí tuệ cho các công nghệ mới (Batt, 2000) Các nước phát triển sản xuất hoa (Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản và Australia) có ưu thế chủ yếu là nguồn tài chính dồi dào, cơ sở hạ tầng tốt, nền công nghiệp hỗ trợ phát triển
và thị trường nội địa mạnh Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao luôn là yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh trên thị trường hoa thế giới Vì vậy, đã xuất hiện xu thế giảm sản xuất trong nước và chuyển dịch vốn đầu tư sang các nước đang phát triển có ưu thế về điều kiện khí hậu và nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực rẻ hơn Ở châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam là những nước sản xuất và xuất khNu hoa còn nhiều tiềm năng và ưu thế cạnh tranh chưa được khai thác Thái Lan và Malaysia ít nhiều đã góp mặt trên thị trường Nhật Bản, châu Âu và Bắc Mỹ Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Thái Lan xuất 21-28 triệu USD hoa (chủ yếu là phong lan) mỗi năm cho thị trường Nhật Bản và một lượng tương đương cho Bắc Mỹ và châu Âu Malaysia xuất 3,5 - 4 triệu USD/năm, chủ yếu cho thị trường Nhật Bản (JETRO, 2001) Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam đang bước những bước khởi đầu Lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển châu Á chủ yếu là điều kiện khí hậu thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân công rẻ Kinh nghiệm, hiểu biết, trình độ công nghệ và cơ sở hạ tầng thấp kém là những hạn chế cơ bản của các nước này Mặc dù vậy, tham gia thị trường hoa thế giới luôn là tham vọng kích thích đầu tư phát triển Trung Quốc quy hoạch phát triển Vân Nam thành một trung tâm xuất hoa cắt cành lớn nhất châu Á và là một trong những vùng sản xuất hoa cắt cành quan trọng nhất của thế giới Theo kế họach này, các mục tiêu chính sẽ là:
• Ngắn hạn, đến 2007: Đưa diện tích hoa cắt cành từ 4000 ha năm 2002 lên 8000 ha, với năng suất 375.000 nhân dân tệ/ha (tăng 35%) đạt sản lượng 4,5 tỷ cành hoa trị giá 3 tỷ nhân dân tệ (375 triệu USD) (tăng trưởng 22%/năm); xuất khNu 20%, đạt kim ngạch 50 triệu USD;
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8
• Trung hạn, đến 2010: Đưa diện tích hoa cắt cành lên 10.000 ha, sản xuất 5,7 tỷ cành, với năng suất 450.000 nhân dân tệ/ha (tăng 20% so với 2007), đạt giá trị tổng sản lượng
9 tỷ nhân dân tệ; xuất khNu 30% đạt kim ngạch 100 triệu USD;
• Dài hạn, đến 2020: Đạt giá trị tổng sản lượng 20 tỷ nhân dân tệ (chiếm 20% sản lượng cả nước), xuất khNu 50%, đạt kim ngạch 700 triệu USD (Yunnan KeYi flower
Co Ltd.)
Với sự hỗ trợ tư vấn và kỹ thuật của ITC và hỗ trợ tài chính của Chính phủ Thụy Sỹ (500 ngàn USD) Vân N am đã đưa được ngành hàng hoa cắt cành từ 16 ha năm 1991 lên 10.600 ha với giá trị tổng sản lượng 415 triệu USD và kim ngạch xuất khNu 30 triệu USD vào năm 2004 (mục tiêu của năm 2010 (ITC, 2004)) N ăm 2003, Vân N am cũng đã xây dựng được sàn đấu giá hoa quốc tế tại Côn Minh (Kunming International Flora Austion Co Ltd - KIFA) (Costa et al., 2004) trên diện tích 11 ha với tổng mức đầu tư 11,87 triệu euros
Hệ thống đấu giá của KIFA được áp dụng theo phuơng thức của sàn Aalsmeer Flower Austion (VBA) của Hà Lan (Evans, 2007)
III SẢN XUẤT VÀ THƯƠN G MẠI HOA CẮT CÀN H Ở VIỆT N AM
1 Tiềm năng và hiện trạng
Sản xuất hoa cắt cành của Việt Nam hiện nay tập trung ở xung quanh một số đô thị lớn Xung quanh Hà Nội có trên 1000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh
và huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc Các loại hoa cắt cành chủ yếu là hồng, cúc, đào, lay-ơn, cNm chướng, Hải Phòng với trên 300 ha, cung cấp một lượng đáng kể (chủ yếu là hoa lay-ơn) cho thị trường tại chỗ, Hà N ội và một số tỉnh lân cận phía Bắc Sapa là địa bàn có tiềm năng đối với một số hoa ưa lạnh, nhưng sản xuất còn ở quy mô nhỏ với một số hecta trồng hoa hồng Một số tỉnh duyên hải miền Trung bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng hàng hóa, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, với chủng loại tương đối hạn chế Ở phía N am, không kể Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh có các huyện Hoóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức và các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa (và cây cảnh) đáng kể Tuy nhiên, các địa bàn này chỉ sản xuất chủ yếu một số loại hoa nhiệt đới (phong lan, cúc móng rồng, cúc đại đóa, huệ, mai, )
N hìn chung, sản xuất hoa cắt cành truyền thống tại các vùng đồng bằng, cả ở phía Bắc và phía N am, bị hạn chế rất lớn về thời vụ do điều kiện khí hậu không thích hợp Ở phía Bắc, hầu hết các loại hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cNm chướng, đồng tiền, lay-ơn, ) chỉ có thể sản xuất được với chất lượng khá trong vụ đông -xuân Mùa hè nóng bức, nhiệt độ và độ Nm quá cao là yếu tố khó có thể khắc phục của vùng đồng bằng để có thể đạt yêu cầu chất lượng và hiệu quả kinh tế cao Khí hậu ở miền Trung và miền N am càng ít thuận lợi hơn ngay cả trong mùa mát nhất Sapa là vùng có khí hậu mát lạnh, nhưng không ôn hòa, mùa đông qúa lạnh, mùa hè mưa quá nhiều (trên 3000 mm/năm) tạo những bất thuận lớn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và hoa cắt cành nói riêng Lâm Đồng hiện có khoảng 2200 ha sản xuất hoa cắt cành truyền thống, tập trung chủ yếu ở Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương và sản xuất mỗi năm khoảng 740 triệu cành hoa, trị giá 296 tỷ đồng (TT DL-TM-ĐT, 2006) Riêng Đà Lạt sản xuất mỗi năm 600 triệu cành hoa trên diện tích 1400 ha Các chủng loại hoa chủ yếu là
Trang 9T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
9
cúc (57%), hồng (15%), lay-ơn (15%), đồng tiền (3%), cNm chướng (2%), địa lan (1%) (ước tính diện tích)
Với nhiệt độ trung bình ban ngày 25oC, nhiệt độ ban đêm hiếm khi xuống quá
10oC, Đà Lạt và vùng ven có điều kiện lý tưởng cho sản xuất thâm canh quanh năm các loại hoa cắt cành ôn đới truyền thống Khoảng cách gần với thành phố Hồ Chí Minh, sự thuận tiện về vận tải đường bộ và hàng không là thuận lợi lớn để hoa Đà Lạt
có thể đến được các thị trường trong nước và quốc tế Các yếu tố thuận lợi đó cùng với giá lao động rẻ hiện nay tạo cho Lâm Đồng những lợi thế so sánh rất đáng kể so với những vùng sản xuất hoa khác ở Đông và Đông N am Á, kể cả “người khổng lồ” Vân
N am, Trung Quốc Vì vậy, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thành lập các trang trại trồng hoa tại Đà Lạt Hasfarm, Bonnie Farm là những công ty lớn đã gặt hái nhiều thành công
Trong những năm qua, do có khá nhiều nông dân chuyển từ sản xuất rau sang sản xuất hoa, cung có xu hướng vượt cầu, làm cho giá hoa và thu nhập của người trồng hoa suy giảm đáng kể Xuất khNu hoa trở thành một nguyện vọng, một mục tiêu bức xúc của những người trồng hoa và thu hút được nhiều sự quan tâm của N hà nước và đầu tư của các doanh nghiệp Đã có nhiều cố gắng nhằm cải thiện trình độ công nghệ, quảng bá hình ảnh của ngành hàng hoa Đà Lạt, xây dựng thương hiệu và thử nghiệm xuất khNu, nhưng cho đến nay, ngoài một số doanh nghiệp nước ngoài có sẵn vốn, công nghệ và thị trường, vẫn chưa có kênh xuất khNu chính thức nào thực sự thành công đáng kể Trên 95% sản lượng hoa Đà Lạt vẫn được tiêu thụ trong nước Chỉ khoảng 5% lượng hoa được xuất chính thức thông qua các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu là Hasfarm, công ty lớn nhất đảm đương 95% lượng hoa xuất khNu của cả nước năm 2006 (BTM, 2007), đạt kim ngạch 8,179 triệu USD, gấp 3,36 lần năm 2000 (TT TM-DL-ĐT, 2006)
2 hững vấn đề
Kết quả từ một số nghiên cứu gần đây (Poulish et al., 2003; P X Tùng et al., 2004) cho thấy một số vần đề căn bản của ngành hàng hoa: i) Thiếu nhận thức tốt về yêu cầu chất lượng trong tất cả các khâu trong dây chuyền cung ứng, ii) Thiếu kỹ năng cần thiết
để sản xuất những cành hoa có chất lượng cao thực sự, iii) Rất ít người sản xuất có khả năng đầu tư công nghệ cần thiết, iv) Thiếu năng lực bảo quản, vận chuyển lạnh, v) Rất ít người sản xuất, kinh doanh hoa áp dụng kỹ thuật xử lý sau thu họach, vi) Hầu hết người sản xuất hoa thiếu hiểu biết tốt về thị trường và vii) Thiếu thông tin ngành hàng ngay tại các cơ quan chức năng của N hà nước để hỗ trợ lập kế họach sản xuất và tiếp thị
Cho đến nay, xuất khNu vẫn là vấn đề khó tiếp cận đối với hầu hết các doanh nghiệp trong nước Chưa có doanh nghiệp nào thực sự thành công như những nhà xuất khNu chính ngạch ổn định và vững vàng Trong rất nhiều nguyên nhân kỹ thuật và xã hội, với các doanh nghiệp, thiếu giống hoa thích hợp với thị trường mục tiêu, thiếu công nghệ sản xuất thích hợp, thiếu quy trình kiểm soát chất lượng thích hợp, thiếu điều kiện xử lý, bảo quản và thiếu nguồn cung ứng hoa là những nguyên nhân cơ bản nhất (Poulish et al., 2003; P X Tùng, 2004 và P X Tùng et al., 2004)
Từ những kết quả nghiên cứu, những vấn đề hạn chế xuất khNu có tính chiến lược của ngành hàng hoa Việt N am được xác định là:
• Thiếu hệ thống tiếp thị hợp tác;
Trang 10T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
10
• Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ (kho vận lạnh, kho bãi xử lý hoa, giao thông nội vùng);
• Thiếu những người sản xuất (nông hộ hoặc doanh nghiệp) có năng lực xuất khNu (bao gồm thiếu hiểu biết thị trường và quan hệ với thị trường xuất khNu, chất lượng hoa thấp, thiếu chiến lược quản lý kinh doanh và sản xuất nhỏ lẻ, không đủ nguồn cung ứng hoa)
IV NHẬN ĐNN H CHUN G
Thị trường hoa cắt cành thế giới là một thị trường năng động, mang tính cạnh tranh găy gắt nhưng cũng là thị trường rộng mở và có khuynh hướng phát triển mạnh trong những thập kỷ tới Sản xuất hoa cắt cành có xu hướng dịch chuyển về phía các nước đang phát triển để tận dụng các lợi thế cạnh tranh từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ và các chính sách ưu đãi đầu tư Các nước đang phát triển, mặc dù chỉ chia sẻ một phần nhỏ thị trường hoa thế giới, nhưng với những lợi thế cạnh tranh của mình đang dần trở thành những nhà cung cấp và xuất khN u hoa có vai vế trên thị trường quốc tế Việt N am có nhiều lợi thế so sánh để có thể trở thành một nước sản xuất và xuất khN u hoa có tầm cỡ trong khu vực và trên thế giới N hờ có điều kiện đặc biệt thuận lợi về khí hậu, đất đai, Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có tiềm năng lớn để trở thành trung tâm sản xuất và xuất khN u hoa cắt cành của cả nước Khả năng sản xuất quanh năm với chất lượng hoa tốt là một lợi thế cạnh tranh lớn cần được khai thác Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ hoa cắt cành của Đà Lạt, Lâm Đồng cho thấy để có thể phát triển một ngành hàng hoa cắt cành phục vụ xuất khN u cần có những thay đổi phù hợp về chính sách đầu tư phát triển ngành hàng như ITC (2001a) khuyến cáo nhằm phát triển toàn diện cả
hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh hoa cắt cành Sự phát triển vượt bậc của ngành hàng hoa Vân N am, Trung Quốc là một mô hình cần nghiên cứu, học tập TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 AIC (Agribusiness Information Centre), 2006 Indian Floriculture Industry Present
Status & Scope Federation of Indian Chambers of Commerce & Industry (FICCI) http://www.ficciagroindia.com/
2 APEDA (Agricultural & Processed Food Products Export Development Authority, India), 2000 World Trade in Floriculture 2000 http://www.apeda.com/
3 Batt, P., 2000 Strategic lessons to emmerge from an analysis of selected flower
export nations J Internat Food & Agribusiness Marketing, N o 11 (3)
nhất trong nửa đầu 2007 http://www.rauhoaquavietnam.vn)
5 CBI (Center for Promotion of Imports from developing countries), 2006 CBI
market survey: the cut flowers and foliage market in the EU
6 Costa, J M., / Borde và A Vander Ploeg, 2004 Ornamental production in China
FlowerTech 2004, vol 7/N o 3, p 18-21
7 De Groot, 1998 Floriculture worldwide - Trade and consumption patterns Proc
http://www.vbn.nl/