Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dântộc, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, ở nước ta, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14%dân số cả nước; cư trú trên 52 tỉnh, thành phố; phần lớn đồng bào các dân tộcthiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn: miền núi, vùng cao, vùng sâu,vùng xa, biên giới và hải đảo Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái
Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dântộc, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cáchmạng nước ta; giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là độnglực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa; công tác dân tộc là một bộ phận quan trọng của đường lối cáchmạng Việt Nam; chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ trong chính sáchphát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương nhất quán vàđúng đắn về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: đoàn kết, bìnhđẳng, thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹpcủa mỗi dân tộc; chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành độngchia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Để chính sách dân tộc pháthuy hiệu quả thì vấn đề giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ít ngườiđóng vai trò rất quan trọng
Cao Bằng là một tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc với địa hình phầnlớn là rừng núi, có nhiều dân tộc cùng sinh sống, kinh tế phát triển chậm, đờisống người dân còn gặp nhiều khó khăn Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc,đông nhất là dân tộc Tày có 208.822 người, chiếm 42,54%; dân tộc Nùng có161.134 người, chiếm 32,86%; dân tộc Dao có 47.218 người, chiếm 9,63%;dân tộc Mông có 41.437 người, chiếm 8,45%; dân tộc Kinh có 22.956 người,
Trang 2chiếm 4,68%; dân tộc Sán Chay có 6.051 người, chiếm 1,23%; dân tộc Lô Lô
có 1.936 người, chiếm 0,39%; dân tộc Hoa có 163 người, chiếm 0,033%; dân
tộc Ngái có 64 người, chiếm 0,013%; các dân tộc khác chiếm 0,18% Trình
độ chính trị, kinh tế, văn hóa của họ nói chung còn rất thấp kém Giữa các dântộc thiểu số trình độ cũng chênh lệch nhau: có những dân tộc thiểu số trình độkhông kém người Kinh bao nhiêu như người Tày, người Nùng,… nhưng cũng
có dân tộc thiểu số còn rất lạc hậu, như người Lô-lô, người Mèo, người Dao,người Sán Chay
Nhìn chung, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số còn rất thấp Kinh tế hàng hóa chậm phát triển, kinh tế tự nhiên và nửa
tự nhiên còn chiếm tỉ trọng không nhỏ Tình trạng du canh du cư vẫn chưađược khắc phục một cách căn bản Đời sống của đại bộ phận đồng bào dântộc thiểu số còn nhiều khó khăn, thậm chí có nơi rất khó khăn Nghèo đóivẫn còn trên diện rộng, sinh hoạt văn hóa thiếu thốn, tỷ lệ số người mù chữ
và thất học còn lớn Một số bệnh dịch chưa bị đẩy lùi một cách căn bản, cónơi, có lúc còn phát triển gây tử vong cao Nhiều vấn đề tiêu cực xã hộiphát sinh Bọn phản động và các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng địa bànhiểm trở của miền núi để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng nước ta
về mọi mặt
Trong thời gian vừa qua, tồn tại khá phổ biến tình trạng các dân tộcthiểu số đến tuổi lao động nhưng do hạn chế về nhận thức, trình độ tay nghề,lại ở xa trung tâm huyện, thị trấn nên đa số đều không có việc làm hoặc cóviệc làm nhưng không ổn định, nhất là đối với những người làm nông nghiệphay các ngành thủ công truyền thống Hiện nay, ở một số huyện giáp biên giớiTrung Quốc như Trùng Khánh, Trà Lĩnh còn xuất hiện tình trạng lao động bỏsang nước láng giềng để tìm kiếm việc làm, mà chiếm đa số là lao động dântộc ít người gây không ít bức xúc cho lãnh đạo tỉnh và các cấp ban ngành cóliên quan
Trang 3Vì vậy, giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số không chỉ
có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về cả các mặt chính trị, xã hội,văn hóa đối với tỉnh
Xuất phát từ thực tế trên, tôi xin chọn đề tài “Giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sáchđầu tư cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồngbào dân tộc thiểu số (DTTS), tạo cơ hội cho đồng bào vượt lên khó khăn pháttriển kinh tế-xã hội, hoà nhập vào xu thế phát triển chung của đất nước như:
- “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ” (do
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày21/5/2002)
- “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm
giai đoạn 2001-2005” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số
143/2001/QĐ-Ttg, ngày 27/9/2001)
- “Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006 - 2010” (do Thủ
tướng chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 07/2006/QĐ-T\Tg ngày10/01/2006)
- Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số chính sách
“phát triển ngành nghề nông thôn”.
- Ngoài ra Đảng và Nhà nước ta còn có Chương trình Phát triển kinh
tế-xã hội các tế-xã đặc biệt khó khăn vùng DTTS và miền núi (Chương trình 135),Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo, Chương trình mục tiêu Quốcgia về việc làm, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môitrường, Chương trình mục tiêu Quốc gia về biến đổi khí hậu, Quyết định 134,
Trang 4Quyết định 32, Quyết định 33… dành cho các xã đồng bào khó khăn, vùngđồng bào DTTS nghèo nói riêng và người nghèo cả nước nói chung
Các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ hội độtphá giúp người nghèo ổn định cuộc sống Nhiều hộ đã thoát nghèo và vươnlên làm giàu, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS,miền núi
Ở những giác độ khác nhau, cũng đã có một số công trình đề cập tớivấn đề này như:
- Thị trường lao động: Thực trạng và giải pháp của PGS Nguyễn
Quang Hiền, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995
- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu
Dũng và Trần Hữu Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997
- Luận án tiến sĩ "Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong
công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc)" của Trịnh
Quang Cảnh, 2001
- Thị trường lao động Việt Nam: Định hướng và phát triển của Thạc sỹ
Nguyễn Thị Lan Hương, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002
- Đề tài cấp bộ, “Thị trường lao động ở Việt Nam - Thực trạng và giải
pháp”, chủ nhiệm TS Nguyễn Thị Thơm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2004
- Trần Thị Tuyết Hương (2005), “Giải quyết việc làm trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hưng Yên đến 2010”, Luận văn Thạc sỹ kinh
tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng ở nước
ta hiện nay; Đề tài khoa học cấp Bộ do TS Bùi Thị Ngọc Lan làm chủ nhiệm,
Hà Nội, 2006
- Việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tỉnh Bắc Giang, Luận văn
thạc sỹ kinh tế - chính trị của Ngô Văn Dũng, Hà Nội, 2011
Trang 5Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình,bài viết về vấn đề nguồn nhân lực các DTTS và đã được đăng tải trên các Tạp
chí như: “Chính sách dân tộc đã thực sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân
tộc thiểu số ở Kon Tum” của Nguyễn Thanh Cao, tạp chí Tư tưởng Văn hoá
2004; “Chính sách cử tuyển- một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số” của Nguyễn Thị Mỹ Trang- Lại Thị Thu Hà, Tạp chí
Dân tộc học 2005; “Vấn đề dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số ở
nước ta” của Nguyễn Thế Huệ, Tạp chí Cộng sản 2004, Các bài viết này
bước đầu đề cập đến các vấn đề cấp bách hiện nay như giáo dục - đào tạo,việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số Nhìn chung chưa có một công trìnhnào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống về giải quyết việc làm cho lao độngdân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việclàm; từ những phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao độngcác dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng, luận văn đề xuất phương hướng và giảipháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số ởtỉnh Cao Bằng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làmcho lao động dân tộc thiểu số
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động các
dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng trong những năm (2006 - 2011)
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việclàm cho lao động các dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 6- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giải quyết việc làm cho laođộng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu việc giải quyết việc làmcho lao động các dân tộc thiểu số thuộc các huyện ở Tỉnh Cao Bằng trongthời gian từ năm 2006 - 2011
Nếu tính theo tiêu chuẩn của cả nước thì Cao Bằng có tới 95% dân số
là dân tộc thiểu số, tuy nhiên thực tế ở Cao Bằng thì dân tộc Tày và dân tộcNùng lại chiếm đa số và dân tộc Kinh lại là dân tộc chiếm thiểu số Vì vậy,trong quá trình thu thập số liệu thì số lượng lao động các dân tộc thiểu số ởCao Bằng được tính trong phạm vi của Tỉnh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước; Các nghị quyết,quyết định của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về giải quyết việc làm cho lao độngcác dân tộc thiểu số Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của cácnhà nghiên cứu, các học giả về vấn đề trên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê,… kết hợp với việc xửlý các tài liệu về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng giải quyết việc làm cho lao độngcác dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng trong thời gian vừa qua
- Đề xuất một hệ thống các quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết tốtvấn đề việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 7Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy một số vấn đề kinh tế chính trị trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như vấn đề giải quyết việc làm, vấn đề thực hiệncông bằng xã hội…
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Cao Bằng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương, 8 tiết, 92 trang
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm
cho lao động các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc
thiểu số ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2005 - 2011
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp giải quyết việc làm cho
lao động các dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Việc làm, giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
1.1.1 Việc làm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Việc làm hay hoạt động lao động sản xuất luôn gắn liền với con người
và xã hội loài người Từ thủa khai thiên lập địa, con người đã biết tìm kiếm ởthế giới xung quanh những sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cho bản thân Xãhội loài người dần dần phát triển, các hoạt động lao động sản xuất dần đượcchia thành các nghề khác nhau và như vậy người lao động sẽ lựa chọn nơi vàlĩnh vực lao động phù hợp với khả năng của mình
Hiện nay, việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giảiquyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống củabản thân và của gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của
họ Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quảcủa chính sách giải quyết việc làm Với tầm quan trọng như vậy, việc làmđược nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịchsử,… Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phươngthức lao động kiếm sống của con người và xã hội loài người Các nhà kinh tếcoi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động làyếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất bên cạnh đó cũng xem xét vấn đề thunhập của người lao động từ việc làm
Việc làm là vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp, đây là công việc của mỗi
cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội và chính sách của nhà nước, người laođộng có việc làm nghĩa là có thu nhập nuôi sống bản thân đồng thời cũng tạo
ra một lượng của cải cho xã hội C.Mác cũng đã khẳng định: “Với những điều
Trang 9kiện khác không thay đổi thì khối lượng và giá trị sản phẩm tăng lên tỷ lệthuận với số lượng lao động được sử dụng” [26, tr.75]
Việt Nam ta trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu baocấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng
là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tậpthể) Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tếkhác, đồng thời cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp,…
Ngày nay các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn
và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, màkhông bị pháp luật cấm Điều 13, chương II Bộ Luật lao động Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồnthu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1, tr42]
Xuất phát từ các căn cứ trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việclàm như sau: Việc làm là những hoạt động sản xuất trong tất cả các lĩnh vựccủa đời sống kinh tế xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động mà không
bị luật pháp cấm
Theo khái niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công tiền lương hoặc hiện vật choviệc đó
- Làm các công việc tự làm, mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thunhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trảcông bằng hiện vật
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện và đủ củahoạt động được thừa nhận là việc làm
Trang 10Quan niệm về việc làm trên đây là hoàn toàn phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay Trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất kì đâu, miễn
là không vi phạm luật pháp để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn Quanniệm trên đã mở ra hướng giải quyết việc làm, tạo ra một thị trường việc làmphong phú và đa dạng, thu hút nhiều người lao động, thực hiện mục tiêu giảiphóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội
1.1.1.2 Bản chất của lao động và việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
a Lao động, nguồn lao động và lực lượng lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người trong đó con người
sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến các dạngvật chất trong tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ con người Khoa học vàthực tiễn lịch sử đã chứng minh thông qua lao động mà con người ngày càngthoát ra khỏi thế giới của loài vật và ngày càng phát triển
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt nguồn lao động với dân sốtrong độ tuổi lao động Cả hai thuật ngữ trên đều giới hạn độ tuổi lao độngtheo luật định của mỗi nước, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người
có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộphận dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động nhưtàn tật, mất sức lao động bấm sinh hoặc do các nguyên nhân: chiến tranh, tai nạngiao thông, tai nạn lao động,… Vì thế quy mô dân số trong độ tuổi lao động ở
các nước là khác nhau Căn cứ để xác định độ tuổi lao động là: một là, sức khỏe của người dân; hai là, giới tính; ba là, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Đối với Việt Nam, Điều 6 của Luật Lao động năm 2002 quy định:
“Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giaokết hợp đồng lao động” và Điều 145 quy định “Người lao động được hưởngchế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng
Trang 11bảo hiểm xã hội như sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi” Theo quy định đóthì độ tuổi lao động của người Việt Nam được xác định là từ 15 đến 60 và nữ
là từ 15 đến 55
Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những
người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việclàm nhưng có nhu cầu làm việc Theo ý nghĩa đó, lực lượng lao động cũngnhư nguồn lao động gắn với độ tuổi lao động mà Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội định nghĩa: “Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt độngkinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làmhoặc đang tìm kiếm việc làm Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còngọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những ngườitrong độ tuổi lao động (nam từ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đếnhết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng cónhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”
Như vậy, lực lượng lao động bao gồm những người đang làm việctrong, ngoài độ tuổi lao động và cả những người thất nghiệp
Người có việc làm là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động, có việc làm và đang hoạt động trong các ngành, các lĩnh vựccủa đời sống xã hội trong nền kinh tế quốc dân
Đây là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm và của cải vật chất cho xãhội Những người có việc làm trong xã hội còn được gọi là dân số tham giahoạt động kinh tế Trên thực tế, lực lượng này đã và đang tạo ra nhiều sảnphẩm vật chất cho xã hội
Người thất nghiệp: Là những người có khả năng lao động, có nhu cầu laođộng nhưng hiện tại không có việc làm hoặc đang chờ đợi được trở lại làm việc
Xét trong cơ cấu lực lượng lao động, thất nghiệp có vai trò như mộtnguồn dự trữ lao động về nhân lực, bao gồm thất nghiệp dài hạn (hoàn toànkhông có việc làm) và thất nghiệp mùa vụ Ở các nước đang phát triển, thất
Trang 12nghiệp theo mùa vụ thường chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng số nhữngngười thất nghiệp và là nhân tố cần tính đến trong cân đối nguồn nhân lực.
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là không thể tránh khỏi, songmột quốc gia giữ cho người lao động có đủ việc làm ở mức cho phép sẽ đạtđược mức GDP cao hơn so với việc để cho người lao động không có việc làm
b Việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
Dân tộc, được hiểu ở đây chính là “dân tộc - tộc người” mà đến nay các
nhà nghiên cứu đều thống nhất một cộng đồng dân tộc người có ba tiêu chísau: một là, có ngôn ngữ chung; hai là, có đặc trưng về văn hóa sinh hoạtchung; ba là, có ý thức tự giác về tộc người Cả ba tiêu chí trên hợp thành tínhtộc người Ngôn ngữ là dấu hiệu quan trọng đầu tiên, vừa là phương tiện giaotiếp giữa những người đồng tộc, vừa là vách ngăn với các dân tộc khác Vănhóa tộc người được biểu hiện trong vô vàn các lĩnh vực văn hóa vật chất vàvăn hóa tinh thần, như các loại hình nhà cửa, đồ dùng trong gia đình, y phục,
ăn uống, tập quán, nghi lễ, nghệ thuật dân gian, tôn giáo,…ý thức tự giác tộcngười được thể hiện ở tên tự gọi (Kinh, Tày, Thái, Mường,…) và quan niệm
về nguồn gốc lịch sử con người
Dân tộc thiểu số là khái niệm chỉ các cộng đồng dân tộc người không
phải đa số trong quốc gia-dân tộc Ở Việt Nam, theo cách phân chia hiện nay
có 55 thành phần tộc người, trong đó người Kinh được xem là cư dân đa số,
54 tộc người còn lại được xem là cư dân thiểu số Thiểu số hay đa số là xemxét trên phạm vi toàn quốc không xem xét trên phạm vi một địa phương cụthể, bởi một tộc người này được xem là thiểu số khi xét trên phạm vi toànquốc, nhưng ở một địa phương có khi lại là đa số như trường hợp người Tày ởCao Bằng, người Nùng ở Lạng Sơn, người Thái ở Sơn La,…
Ở đây cần phân biệt khái niệm “dân tộc” với “miền núi” Dân tộc là chỉcộng đồng xã hội tộc người, còn miền núi là hình thái lãnh thổ, được phânbiệt với trung du và đồng bằng Miền núi được dùng để chỉ địa bàn có địa
Trang 13hình dốc, lồi, có độ cao trên 200m so với mặt nước biển Tỉnh miền núi là tỉnh
có trên 2/3 diện tích núi Sở dĩ khái niệm “dân tộc” thường có quan hệ vớikhái niệm “miền núi”, nhất là trong thực hiện chính sách dân tộc vì miền núi
là địa bàn tụ cư phần lớn các tộc người thiểu số Tuy nhiên, ở miền núi khôngchỉ có tộc người thiểu số, mà có cả tộc người đa số (Kinh); mặt khác, các tộcngười thiểu số cũng không chỉ cư trú ở miền núi, mà còn ở cả đồng bằng
Như vậy, việc làm cho lao động dân tộc thiểu số là hoạt động tạo ra củacải vật chất hoặc tinh thần không bị pháp luật cấm của lực lượng lao độngthiểu số, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật Hoạt động nàymang lại lợi ích cho bản thân họ và tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng
1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
a Nhân tố điều kiện tự nhiên
Các tộc người thiểu số cư trú ở nhiều hình thái lãnh thổ như sơn nguyên(Mông, Dao, ), cao nguyên (Êđê, Giarai,…), thung lũng (Tày, Nùng, Thái,Mường,…), biển đảo (Hoa, Sán Dìu,…) với hệ sinh thái đa dạng (rẻo cao, rẻogiữa, rẻo thấp, biển-đảo)
Đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc do địa hìnhhiểm trở và chia cắt mạnh bởi núi cao đã cản trở quá trình giao thương và đilại, học tập của người dân Tuy nhiên, miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu củacác dân tộc thiểu số Việt Nam là nơi chứa đựng trong lòng đất hầu hết trữlượng khoáng sản của đất nước, rất cần cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Từ nhiều thế kỷ qua, hàng triệu cư dân các dân tộc thiểu số ở ViệtNam đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm có sẵn trong tự nhiên, rừng cungcấp lâm thổ sản, sông suối cung cấp nước, tôm, cá,…Ngày nay, những vùngđất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệpdài ngày như cà phê, cao su, chè,… Những đồng cỏ rộng lớn trên các caonguyên là nơi thuận lợi cho sự phát triển các ngành chăn nuôi đại gia súc
Trang 14Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng xây dựng các nông trại,trang trại Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồntài sản quý báu của đất nước.
Gắn với những hình thái lãnh thổ, từng hệ sinh thái nên đặt ra nhữngyêu cầu rất khác nhau về quản lý và phát triển không gian kinh tế-xã hội tộcngười Tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số với tư cách là một bộ phậnhợp thành kinh tế xã hội phải gắn với đặc điểm địa lý, thạch quyển, khíquyển, thủy văn, hệ sinh thái,… của từng vùng
b Nhân tố chính sách giải quyết việc làm của Nhà nước
Để giải quyết việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước phảitạo các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thông quanhững chính sách kinh tế-xã hội cụ thể Các chính sách tác động đến việc làm
có nhiều loại, có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành hệthống chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sungcho nhau hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làmcung cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau, thực chất là tạo ra
sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế
Chính sách đất đai, Theo Luật đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
nhà nước thống nhất quản lý Nhờ có chính sách đất đai đúng đắn đã tạo tiềmnăng mới để giải phóng sức sản xuất xã hội, tạo thêm nhiều việc làm, thúcđẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Chính sách huy động vốn, Vốn có vị trí quan trọng, là yếu tố cơ bản để
giải quyết việc làm, nếu vốn được gia tăng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thuhút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác nhau như: lao động, tàinguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ,… để phát triển sản xuất, tạo ranhiều việc làm Nhà nước ta chủ trương huy động vốn trong và ngoài nước đểđầu tư vào phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốnngoài nước có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong vớikhả năng có thể tranh thủ ở bên ngoài
Trang 15Chính sách giáo dục đào tạo, Chính sách này có ý nghĩa quyết định tới
việc làm của người lao động Thực tiễn cho thấy, chỉ khi nào được trang bịkiến thức, kỹ năng đầy đủ, người lao động mới có khả năng tìm được việclàm, đặc biệt là đối với lao động dân tộc thiểu số
Chính sách dân tộc, là một bộ phận hữu cơ trong chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương nhất quán và đúng đắn
về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: đoàn kết, bình đẳng,thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộcsống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp củamỗi dân tộc; chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia
rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Chính sách khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống và tạo thêm nhiều ngành nghề mới, Một trong những tiềm năng và thế mạnh của nước ta
là có nhiều ngành nghề truyền thống từ lâu đời Đó là những nghề: dệt tơ lụa,gốm sứ, đúc đồng, sơn mài,… nằm rải rác ở tất cả các vùng miền trong cảnước Nhất là ở những khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có nhiềungành nghề truyền thống mang những nét đặc trưng riêng như nghề dệt thổcẩm, nghề rèn, đúc đồng,… Ngành, nghề truyền thống có khả năng thu hútnhiều lao động, tận dụng được lao động tại chỗ Chính vì vậy, chính sách khôiphục và phát triển các ngành, nghề truyền thống của Nhà nước sẽ góp phầngiải quyết việc làm cho nhiều người ở nhiều lứa tuổi khác nhau Và song hànhvới chính sách trên là chính sách tạo thêm nhiều ngành nghề mới để tạo nhiềuviệc làm mới cho người lao động, đưa nhiều khoa học kỹ thuật và công nghệvào trong sản xuất để nâng cao năng suất, tăng giá trị hàng hóa
c Nhân tố điều kiện cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
* Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng về kinh tế.
Nói đến cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế là nói đến các công trình
về giao thông, thủy lợi, điện, nước, thông tin liên lạc,…Nếu kết cấu hạ tầng
Trang 16kinh tế phát triển ở trình độ thấp kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tăngtrưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng nguồn lao động Từ
đó, gây khó khăn trong việc tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
Trong những năm qua, Nhà nước ta đã cố gắng nâng cấp mạng lướigiao thông, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, các đường huyện, liên xã, được
mở mang, hệ thống đường sắt được khôi phục và phát triển Nhiều đoạn sôngđược nạo vét, khai thác để phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, ngoài
ra còn có các tuyến đường thủy nhỏ nội tỉnh Các phương tiện vận tải cũngdần được mở rộng và phát triển cả về cơ giới lẫn thô sơ
Do địa hình ở một số nơi có các dân tộc ít người sinh sống rất phức tập
và hiểm trở nên hệ thống giao thông vận tải đóng một vài trò rất quan trọng.Ở một số vùng hẻo lánh ở miền núi phía Bắc còn có gần 30% số xã chưa cóđường ôtô đến trung tâm Những xã có đường cũng không hẳn sử dụng được
cả 4 mùa trong năm
Các tộc người thiểu số nước ta có trình độ kinh tế không đều, có người
đã biết định canh định cư, có tộc người đã định cư, nhưng còn du canh; có tộcngười đã biết canh tác lúa nước đồng bằng châu thổ, có tộc người canh tác lúanước thung lũng, phần lớn canh tác lúa nương, có tộc người sống chủ yếu dựavào kinh tế tự nhiên Tính đa cấp về trình độ nêu trên đặt ra những khó khăn,thách thức trong tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Với những trình
độ hiện có của lao động dân tộc ít người cần có những hình thức và phươngpháp đào tạo thích hợp
* Kết cấu hạ tầng xã hội
Giáo dục đào tạo: Thúc đẩy quá trình con người tích lũy kiến thức, kỹ
năng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội Quá trình đào tạo làmbiến đổi lực lượng lao động cả về số lượng, chất lượng và quy mô khơi dậy vàphát huy tiềm năng con người Đầu tư vào giáo dục là biện pháp quan trọng
để tạo dựng nguồn vốn con người và phát triển nền kinh tế tri thức Đối với
Trang 17mỗi cá nhân giáo dục có tác dụng mở rộng khả năng nhận thức, tạo dựng chomọi người có cuộc sống lành mạnh, đầy đủ về vật chất Vì vậy, giáo dục đàotạo, đặc biệt là các cơ sở đào tạo và dạy nghề đối với các tỉnh có dân tộc ítngười sinh sống có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng lao động, giảiquyết được một bộ phận lớn lao động chưa có việc làm, cải thiện được kinh tếcho các hộ gia đình, hỗ trợ các tỉnh thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấulao động theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp,nâng tỷ trọng trong ngành công nghiệp và dịch vụ.
Các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe: Đói nghèo và bệnh tật là những yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến trí lực, thể lực và tinh thần của nguồn lao động dântộc thiểu số Do khí hậu nóng ẩm, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thêm vào đócông tác phòng chống bệnh còn hạn chế, nên cả trẻ em và người lớn ở cácTỉnh miền núi phía Bắc thường mắc nhiều bệnh tật, lại thiếu những kiến thứccần thiết về phòng dịch bệnh nên nhiều nơi vẫn còn tình trạng người ở chungvới gia súc, gia cầm Trong vấn đề ăn uống đồng bào chưa quan tâm đếnnguồn nước sạch cần cho sinh hoạt nên càng đẩy dịch bệnh gia tăng Theo kếtquả điều tra y tế quốc gia, tỷ lệ người dân tộc thiểu số ốm đau không đi khámchữa bệnh cao hơn nhóm người Kinh Ngoài ra, tỷ lệ xã có trạm y tế ở nhữngnơi có người dân tộc ít người cư trú rất ít, như Cao Bằng chưa đến được 45%.Các huyện đều có bệnh viện song thiết bị đã cũ và lạc hậu, đội ngũ y, bác sỹ
và nhân viên phục vụ ở đây trình độ còn hạn chế, lại ít có điều kiện bồi dưỡnghoặc không được bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn Đây là nhữngrào cản trực tiếp đối với sự phát triển thể lực, trí lực và tinh thần cho lao độngdân tộc thiểu số, không chỉ trước mắt mà còn để lại những di chứng cho thế
hệ sau Vì vậy, các cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng nguồn lao động dân tộc thiểu số Nếu vấn đề này không được quantâm và đầu tư đúng mức sẽ gây khó khăn cho công tác tạo việc làm cho laođộng dân tộc ít người
Trang 18d Nhân tố về số lượng và chất lượng lao động dân tộc thiểu số
Số lượng lao động dân tộc thiểu số, Các tộc người có dân số phát triển
không đồng đều, có dân tộc có dân số khá, có dân tộc có dân số trung bình, códân tộc có dân số ít Điều này đặt ra phát triển lực lượng lao động dân tộcthiểu số ở mỗi vùng; một mặt, phải đảm bảo bình đẳng giữa không chỉ giữadân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, mà cả giữa các dân tộc thiểu số này vớidân tộc thiểu số khác; mặt khác phải lựa chọn một dân tộc chủ thể của vùngtrong tạo dựng nguồn nhân lực tinh hoa (trí thức, cán bộ, doanh nhân) mangtính đại diện Theo số liệu thống kê, ở vùng núi phía Bắc, nhân khẩu trong độtuổi lao động chiếm khoảng 46,6% tổng dân số toàn vùng, tập trung chủ yếutrong nông nghiệp và nông thôn, nhất là trồng trọt, mà độc canh cây lươngthực là chủ yếu Vì vậy, việc tăng hay giảm số lượng lao động dân tộc thiếu
số cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến việc giải quyết việc làm cho họ
Chất lượng lao động dân tộc thiểu số, lao động dân tộc thiểu số chủ
yếu là lao động giản đơn do trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao Theo sốliệu thống kê, ở miền núi phía Bắc, số người có trình độ đại học, cao đẳng chỉchiếm 1,2% dân số của vùng (cả nước là 2,1%); tỷ lệ lao động kỹ thuật chỉ có5%, mà chủ yếu là giáo viên và bác sĩ (cả nước là 12%) Điều này gây không
ít khó khăn trong công tác tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Bởi sựnghiệp công nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôntrong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏinguồn nhân lực không chỉ đọc thông viết thạo, mà quan trọng phải có đủ trình
độ nắm bắt khoa học-công nghệ để tiến quân vào nền kinh tế tri thức, pháttriển nông thôn mới, nâng cao mức sống của người dân Với chất lượng laođộng còn ở trình độ thấp, lao động dân tộc thiểu số rất khó tìm được việc làmphù hợp với khả năng và có thu nhập cao Vì vậy, chất lượng lao động cũng làmột nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến giải quyết việc làm cho lao động dân tộcthiểu số
Trang 19e Nhân tố phong tục, tập quán truyền thống
Phong tục, tập quán truyền thống của các dân tộc rất phong phú, đadạng Có cả những yếu tố truyền thống ảnh hưởng tốt và những yếu tố ảnhhưởng xấu đến quá trình tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
Những yếu tố ảnh hưởng tích cực: Đồng bào các dân tộc thiểu số có
truyền thống chịu thương chịu khó, cần cù trong lao động, có kinh nghiệmkhai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng và đất đồi núi dốc;Mặt khác, đồng bào các dân tộc có nhiều mặt hàng truyền thống như là nghềđúc, rèn, đan lát, đặc biệt la ngành dệt thổ cẩm,… có thể phát triển thànhnhững hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Những yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực: Đồng bào các dân tộc thiếu số có
thói quen sản xuất tự cấp, tự túc, chưa có tư duy kinh tế thị trường, lại thêmtập quán canh tác một vụ Đa số đồng bào chỉ tập trung sản xuất từ tháng 3đến tháng 10 (âm lịch), còn từ tháng 11 đến tháng 2 (âm lịch) đất bị bỏ hoang,làm giảm sản lượng các sản phẩm; Tập quán du canh, du cư của một số dântộc ít người ở vùng cao đã dẫn đến những tác hại rất lớn Vì nhu cầu lươngthực, nên ngoài cây lúa nước, họ ra sức phá rừng để trồng cây lúa nương, lúacạn, ngô, khoai, sắn,… Họ chỉ biết gieo trồng, không có thói quen nuôi dưỡngchăm bón Do vậy, khi đất đã bị rửa trôi, bạc màu (thường là sau 3 vụ sửdụng), họ lại chuyển đến nơi khác để phá rừng đầu nguồn Rừng càng già thìđất càng tốt Phá rừng già, rừng đầu nguồn, đó là đối tượng chính của ducanh, du cư Do đó, kinh tế của đồng bào các dân tộc rơi vào vòng “luẩnquẩn”: càng đói, đồng bào càng phá rừng, môi trường sinh thái càng bị hủyhoại, đồng bào càng bị nghèo đói và càng phá rừng…; Sự cố kết trong cộngđồng (gia đình, dòng họ, làng bản) đã tạo ra sự khép kín trong đời sống kinh
tế, kĩm hãm sự phát triển của các quan hệ xã hội; Tập quán thả “rông” gia súc,gia cầm vừa làm mất nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng, vừa phá hoại, cảntrở sản xuất; Các tệ nạn tảo hôn, ly hôn, ma chay, cúng bái, mê tín dị đoan,
Trang 20hội hè kéo dài,… là những tập tục mang tính phổ biến, đã kìm hãm sự tăngtrưởng kinh tế và là một trong những nguyên nhân của sự đói nghèo, thấpkém về đời sống kinh tế và tinh thần của đồng bào trong vùng.
1.1.2 Giải quyết việc làm
1.1.2.1 Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việclàm và tăng được thu nhập phù hợp với khả năng và lợi ích của bản thân, giađình, cộng đồng và xã hội
Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm huy động tối đa tiềm năng củacon người tham gia vào quá trình lao động sản xuất Điều này có ý nghĩa rấtquan trọng vì đã tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụcủa mình, trong đó có quyền cơ bản nhất làm quyền được làm việc để nuôisống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng quê hương đất nước
Và như thế giải quyết việc làm có thể hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Điều này phụ
thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học - kĩ thuật áp dụng trong sản xuất vàkhả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó
Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng lao động
phụ thuộc vào quy mô, tốc dộ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động
và sự di chuyển của lao động; chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triểncủa kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khỏecộng đồng
Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu
quả cao; các giải pháp về tổ chức, quản lý thị trường, nhân sự, kĩ thuật…nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm
Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao độnggặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành Giải quyếtviệc làm cần phải được xem xét ở cả phía người lao động, người sử dụng laođộng và vai trò của nhà nước
Trang 21Vì vậy “giải quyết việc làm là tổng thể các biệt pháp, chính sáchkinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể cóviệc làm” [19, tr.18].
Như vậy, tham gia vào quá trình giải quyết việc làm sẽ có nhiều thànhphần: Nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể và từng bản thân người laođộng trong toàn xã hội Với quan niệm như vậy, Đảng và Nhà nước ta rấtquan tâm đến việc chăm lo, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực với con ngườiViệt Nam, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay Hiện nay,giải quyết việc làm là một chính sách xã hội quan trọng và cấp bách Nhànước ta cũng đã và đang đưa ra nhiều giải pháp nhằm tạo ra việc làm mới,tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nhiệp, nôngthôn và vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo Muốn vậy, các thành phầnkinh tế cần mở rộng các ngành, nghề, cơ sở sản xuất, dịch vụ, có khả năng sửdụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn
vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người laođộng Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đẩy mạnh phongtrao lập nghiệp của thanh niên va đào tạo lao động có nghề Tổ chức chặt chẽhoạt động suất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi người lao động ở nướcngoài Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội va an ninh xã hội Sớmxây dựng và thực hiện chính sách xã hội đối với người lao động thất nghiệp
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy nguồn nhânlực; vấn đề bức xúc đối với nước ta hiện nay là phải tính đến và giải quyếtđầy đủ các yếu tố cơ bản tác động đến vấn để này, đặc biệt là: vấn đề an toànviệc làm, an toàn lương thực và an toàn môi trường Trong đó an toàn việclàm và có việc làm ổn định, thường xuyên cho người lao động là yếu tố quantrọng hàng đầu Hiện nay nước ta đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi để hình
Trang 22thành thị trường sức lao động trong nước đa dạng, đảm bảo chất lượng và hộinhập với thị trường thế giới Thực hiện và ngày càng phát huy dân chủ đểngười lao động được làm chủ sức lao động của mình, tự do tìm kiếm việc làmtheo năng lực của mình ở mọi lúc mọi nơi,… Người sử dụng lao động ở các loạihình doanh nghiệp khác nhau cũng được tự do thuê mướn lao động theo sốlượng, chất lượng, theo nhu cầu sản xuất kinh doanh mà pháp luật cho phép.
1.1.2.2 Nội dung của giải quyết việc làm cho người lao động
a Giải quyết việc làm là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối vớimỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng laođộng lớn như nước ta Do đối tượng giải quyết việc làm rất lớn, đa dạng, vìvậy giải quyết việc làm là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các doanhnghiệp và của toàn xã hội
Giải quyết việc làm cho người lao động gắn với sự phát triển của thịtrường lao động, có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế, mà còngóp phần giải quyết một vấn đề cấp thiết và cơ bản là chuyển đổi cơ cấu laođộng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế hiện nay Đó là tiền đề quantrọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội; là yếu tố quyết định đểphát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xãhội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân Ởnước ta quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩymạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt rahàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việclàm Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột pháchiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học,công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi
Trang 23thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh và bềnvững”(Văn kiện Đại hội Đảng XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.130, 192.) Nhậnthức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương đườnglối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trìnhCNH, HĐH và hội nhập quốc tế, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm
tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nôngthôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng xã hội
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trách nhiệm của Đảng và Nhà nước được thể hiện cụ thể ở một số nộidung như:
Thứ nhất, Đảng đề ra chủ trương, đường lối và Nhà nước thực hiện các
chính sách, chương trình ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng như giao thông,trường học, bệnh viện và các công trình văn hóa; nông nghiệp và nông thôn;nhà ở cho người có thu nhập thấp và nhà cho thuê, hỗ trợ các doanh nghiệpnhỏ và vừa
Thứ hai, Đảng và Nhà nước đưa ra các chính sách để tiếp tục hoàn
thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, bảo đảm đối xửbình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động như: thực hiệnđúng Luật lao động, Luật tiền lương tối thiểu, Luật bảo hiểm lao động, Luậtxuất khẩu lao động, Pháp lệnh đình công,…
Thứ ba, Nhà nước cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo công nhân
có trình độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hoá đối với lao động trẻ,khoẻ, nhất là ở khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọngđiểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động đang
có nhu cầu thu hút mạnh Tập trung xử lý lao động dôi dư trong các doanhnghiệp Nhà nước theo hướng chuyển đổi ngành nghề cho họ; khắc phục tìnhtrạng "đóng băng" trong đổi mới cơ cấu lao động làm ảnh hưởng tới sự phát
Trang 24triển đa dạng và chiều sâu của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; chuyển mạnhcác đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công sang đơn vị tự chủ, tự chịutrách nhiệm và thực hiện chế độ hợp đồng lao động, để lao động khu vực này
có điều kiện tham gia vào thị trường lao động trong nước và ngoài nước, nângcao hiệu quả của lao động
Thứ tư, Nhà nước thực hiện các chính sách mở rộng và nâng cấp hệ
thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấpnghề và cao đẳng nghề) Mở rộng đào tạo và đào tạo lại số lao động để có cơcấu hợp lý ở 3 trình độ như trên, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đòihỏi của thị trường lao động Trong đào tạo và đào tạo lại, Nhà nước chỉ đạotiến hành chuyển sang đào tạo theo định hướng cầu lao động của thị trường(đào tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất) tạo khả năng cungcấp lao động có chất lượng cao về tay nghề và sức khoẻ tốt, có kỹ thuật, tácphong công nghiệp, có văn hoá, cho thị trường trong nước và thị trườngngoài nước Bởi việc nâng cao trình độ tri thức, trình độ kỹ thuật và tay nghềcho người lao động đang là yêu cầu bức thiết ở nước ta hiện nay
Thứ năm, Nhà nước thực hiện các chính sách đa dạng hoá các loại hình
thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước, của tư nhân và quốc tế; áp dụng
cơ chế thị trường trong dạy nghề, dần dần hình thành thị trường phù hợp vớipháp luật Thực hiện quy hoạch, đầu tư tập trung hệ thống dạy nghề kỹ thuậtthực hành qua lao động trực tiếp; đặc biệt là xây dựng các trường dạy nghềtrọng điểm quốc gia Đối với tỉnh, thành phố Nhà nước chỉ đạo cần phải cótrường dạy nghề; các quận và huyện cũng cần có các trung tâm dạy nghề; cổphần hoá các cơ sở dạy nghề công lập, phát triển cơ sở dạy nghề ngoài cônglập để giảm chi phí ngân sách cho Nhà nước Đa dạng hoá các kênh giao dịchtrên thị trường lao động thông qua các hệ thống thông tin, quảng cáo, trang tinviệc làm trên các báo, đài và tổ chức các hội chợ việc làm để tạo điều kiện
Trang 25cho các quan hệ giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng laođộng ký kết các hợp đồng lao động theo đúng pháp luật quy định Đồng thời,Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động quốcgia và nối mạng trước hết ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn,các khu vực công nghiệp tập trung và cho cả thị trường xuất khẩu lao động đểgiúp người lao động tìm kiếm việc làm thuận lợi nhất.
Thứ sáu, Nhà nước thực hiện các chính sách mở rộng và phát triển thị
trường lao động ngoài nước Đây là chính sách tận dụng một trong những thếmạnh của lao động nước ta về số lượng đông và trẻ Vì vậy, Nhà nước triểnkhai xây dựng các trung tâm, cơ sở tập trung đào tạo ngoại ngữ, pháp luật cholao động xuất khẩu, nhất là thanh niên nông thôn, để tạo điều kiện cho họ tiếpcận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là vớinhững nước có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao độngcho các ngành nghề sản xuất
Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ là trách nhiệm củaNhà nước mà phát huy trách nhiệm của các doanh nghiệp trong tạo việc làmcho người lao động là hướng đi đúng thực hiện mục tiêu giảm nghèo bềnvững, giúp người lao động có cuộc sống ổn định Bởi, doanh nghiệp có khảnăng thẩm định, lựa chọn công nghệ; có nguồn vốn, có tư cách pháp nhân huyđộng vốn; có khả năng đầu tư ngay từ nguyên liệu đầu vào (cung cấp giống,thiết bị hỗ trợ chuyển giao KH&CN cho người dân) Các doanh nghiệp còn cókhả năng đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm nhất
là sản phẩm nông nghiệp để xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động , gópphần thúc đẩy quá trình CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, sự hỗtrợ của các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, tiêu thụ sản phẩm sẽ
là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả của quá trìnhchuyển giao công nghệ Do có thị trường và có khả năng tiếp cận thị trườngmột cách nhạy bén, doanh nghiệp giúp người lao động tiêu thụ sản phẩm và
Trang 26có khả năng liên kết, điều tiết thị trường trong điều kiện khó khăn, giúp giảmthiệt hại cho người sản xuất, ví dụ: doanh nghiệp cùng với các hộ gia đình cóthế kết hợp với nhau để khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹnghệ, sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để tận dụnglao động dư thừa và lao động có ngành nghề truyền thống
Giải quyết việc làm là vấn đề lớn, phức tạp, luôn sống động theo cơ chếthị trường, khó có ngay một hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ để giảiquyết hiệu quả vấn đề này Vì vậy, việc giải quyết việc làm cần sự tham giacủa toàn xã hội, Nhà nước, các doanh nghiệp và người lao động
b Người lao động tự vận động tạo việc làm cho bản thân, gia đình và
xã hội.
Người lao động không thể thụ động chờ đợi việc làm mà phải chủ động
tự tạo ra việc làm cho chính bản thân, gia đình và xã hội thông qua các hìnhthức phát triển kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình nông dân
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế được hình thành dự
trên cơ sở hộ gia đình nông dân với tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng của hộ gia đình, tiến hành tổ chức sản xuất hànghoávới mục tiêu lợi nhuận quy mô lớn, có đủ khả năng ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất kinh doanh Cáctrang trại đều thuê lao động làm việc ổn định, nhất là các lao động có chuyênmôn kỹ thuật và thuê lao động hợp đồng thời vụ Cá biệt có trang trại vừa làchủ trang trại vừa là cán bộ kỹ thuật và lao động chính của trang trại
Kinh tế hộ gia đình nông dân là hình thức kinh tế mang chủ yếu tính
chất tự nhiên trong gia đình nông dân trong nông nghiệp và thủ công nghiệpchuyển dần sang sản xuất hàng hoá nhỏ
Kinh tế hộ gia đình nông dân chủ yếu tồn tại trong lĩnh vực nôngnghiệp với đặc thù sản xuất nhỏ, nó là một bộ phận của nền kinh tế xã hội chủnghĩa tuy nhiên nó không phải là một thành phần kinh tế độc lập
Trang 27Kinh tế hộ gia đình nông dân là kiểu sản xuất nhỏ gắn với sinh hoạtkinh tế của gia đình nông dân ở miền núi và khu vực phía bắc kinh tế hộ giađình nông dân còn mang nặng tính tự cấp, tự túc.
Kinh tế hộ gia đình hiện đang chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trongchuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn, giải quyết việc làm, góp phầnxóa đói giảm nghèo cho nhiều địa phương trên cả nước
Giải quyết việc làm cho người người lao động nói chung, lao động dântộc thiểu số nói riêng là một thách thức không nhỏ, không chỉ giới hạn trongphạm vi quốc gia, lãnh thổ mà liên quan đến cả vấn đề khu vực, quốc tế.Trong khi đề cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể vàcộng đồng, chúng ta không thể không nhắc đến trách nhiệm về phía bản thânngười lao động Thay đổi cách nghĩ, nếp nghĩ, yêu quý lao động, tự học, tựđào tạo, không ngừng học hỏi, tích luỹ vốn, kinh nghiệm, nâng cao trình độmọi mặt có ý chí và quyết tâm vươn lên tự tìm việc làm - đó là yêu cầu vàcũng là phẩm chất của người lao động mới
1.1.2.3 Ý nghĩa của giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
Việc làm đối với người lao động là vô cùng quan trọng, nó là điều kiện
để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động Giải quyếtviệc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trongquá trình phát triển kinh tế xã hội Bởi con người vừa là mục tiêu, vừa là độnglực cho sự phát triển Và giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu sốcòn có ý nghĩa về cả mặt chính trị và an ninh quốc phòng
a Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số giúp người lao động tăng thêm thu nhập, từng bước nâng cao đời sống.
Nghèo đói đã và đang là thách thức đối với các dân tộc thiểu số trongquá trình phát triển và hội nhập Theo số liệu thống kê năm 2008, tỷ lệ người
Trang 28dân tộc thiểu số trong cả nước chỉ chiếm 13,8%, nhưng lại chiếm tới 29% số
hộ nghèo ở Việt Nam Có thể nói, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số cònchiếm tỷ lệ cao: Tây Bắc là 18,7%, Tây Nguyên 17,4% Tình trạng tái nghèo,phát sinh hộ nghèo ở một số tỉnh còn rất lớn Thu nhập bình quân trên đầungười của lao động dân tộc thiểu số còn thấp, có nơi dưới 60.000đồng/tháng
Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ tạo thêm thu nhập cho lao động thiểu số
mà còn giúp họ ngày một nâng cao mức sống, xóa được đói, giảm đượcnghèo Bởi giải quyết việc làm là quá trình duy trì, phát triển thêm nhiềungành nghề, các loại hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện và khảnăng của lao động dân tộc thiểu số Giúp họ định canh, định cư, tránh tìnhtrạng du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy
b Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số là biện pháp thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển và tăng cường giao lưu buôn bán giữa các vùng miền.
Các dân tộc thiểu số có các trình độ phát triển kinh tế rất khác nhau.Một số ít các dân tộc còn tiến hành các hoạt động săn bắn, hái lượm, đánh cá,loại hình kinh tế của họ là chiếm đoạt, thừa hưởng của cải sẵn có của tựnhiên, họ chưa chuyển sang được loại hình kinh tế sản xuất Tuy nhiên, đại bộphận các dân tộc thiểu số ở Việt Nam mặc dù còn tiến hành kinh tế chiếmđoạt, nhưng đã chuyển sang loại hình mới, cao hơn kinh tế sản xuất, tức là tácđộng vào đối tượng sản xuất để làm ra nhiều của cải vật chất nuôi sống conngười Do loại hình kinh tế khác nhau đã kéo theo những sự khác nhau trongđời sống các tộc người Nếu với kinh tế chiếm đoạt, công cụ sản xuất rất thô
sơ, chỉ có nỏ, tên, dao; làm rẫy chỉ cần rìu, rựa, cuốc; nghề làm ruộng sử dụngcày, bừa và sức kéo của trâu bò Sản phẩm làm ra chủ yếu để nuôi sống bảnthân và gia đình; hàng hóa còn ở dạng thô, có giá trị thấp Chính vì thế nềnkinh tế hàng hóa ở đây còn chưa có điều kiện phát triển hoặc nếu có thì cũng
ở một trình độ còn thấp kém Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu
Trang 29số sẽ giúp tạo thêm nhiều ngành nghề mới; phân công lại lao động giữa cácvùng theo hướng chuyên môn hóa để khai thác tối đa mọi nguồn lực; ngườidân tộc thiểu số từ sự đầu tư của các chương trình, dự án khác nhau của Nhànước sẽ được tiếp xúc với các trang thiết bị, máy móc, công nghệ mới, cải tạolại kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từ đó giúp thay đổi lối tư duy sản xuất vàloại hình kinh tế cũ; quy mô sản xuất hàng hóa được mở rộng, sản phẩm hànghóa làm ra phong phú hơn và không ngừng nâng cao về chất lượng Một sốsản phẩm hàng hóa mang tính đặc trưng vùng miền, mang đậm bản sắc dântộc sẽ có điều kiện vươn ra thị trường ở trong và ngoài nước Từ đó, thu nhậpcủa đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng tăng lên, đời sống được cải thiệnlại làm xuất hiện các nhu cầu mới về hàng hóa, dịch vụ, kích thích nền sảnxuất hàng hóa phát triển.
c Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số góp phần làm cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH; xây dựng nông thôn mới.
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các tỉnh có đông đồng bào dân tộcthiểu số sinh sống còn chậm, về cơ bản tỷ trọng giá trị nông nghiệp còn cao,
tỷ trọng giá trị công nghiệp thấp, thương mại dịch vụ phát triển kém Khôngnhững công nghiệp phát triển yếu, mà ngay cả những tiềm năng về ngànhnghề truyền thống cũng chưa được khơi dậy Ở miền núi phía Bắc ít có nhữngvùng phát triển nghề thủ công quy mô lớn, không có những làng nghề tậptrung như đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm gần đây, một số địa phương
đã khai thác, phát huy lợi thế về đường giao thông, nhất là qua cửa khẩu biêngiới, đẩy mạnh phát triển thương mại biên mậu tiểu ngạch và chính ngạch(Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai,…) Song nhìn chung do địa hình chia cắt,giao thông kém phát triển, trình độ tiếp cận thị trường yếu, nên hoạt độngthương mại còn yếu, sản xuất tự cung tự cấp vẫn còn nặng, công nghiệp dịch
vụ kém phát triển Vì vậy, giải quyết việc làm là việc tạo ra số lượng và chấtlượng tư liệu sản xuất, chất lượng lao động Muốn giải quyết tốt vấn đề việc
Trang 30làm cho lao động thiểu số cần phân phối lại lao động giữa các vùng miền, đầu
tư về cơ sơ hạ tầng kỹ thuật, đào tạo và đào tạo lại lao động có trình độchuyên môn thấp, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất làm tiền đề để pháttriển các ngành công nghiệp khai khoáng với nguồn tài nguyên sẵn có, từ đóthúc đẩy sản xuất hàng hóa, dịch vụ phát triển sẽ làm giảm tỷ trọng lao độngtrong ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp vàdịch vụ; góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khi giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động dân tộc thiếu số thìnông thôn miền núi mới có điều kiện phát triển, đời sống kinh tế xã hội đượcnâng cao: hình thành nhiều khu buôn bán sầm uất, thay thế lối sống du canh
du canh bằng nếp sống ổn định và văn minh hơn; trình độ dân trí của ngườilao động được nâng cao; tạo không khí đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhaugiữa các dân tộc sinh sống trên cùng một địa bàn và với người dân ở các nơikhác, cùng chung sức xây dựng cộng đồng bản, xã , góp phần bảo vệ môitrường, giữ gìn trật tự trị an,… xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh
Trang 31e Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số sẽ đảm bảo vững chắc nền an ninh quốc phòng
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chinh phục thiên nhiênkhắc nghiệt và nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm Trong bối cảnh chịu
sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên và sự tác động của sự kiện lịch
sử, các dân tộc đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dântộc Mặc dù trình độ phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, nguồn gốc lịch sử,phong tục tập quán có điểm khác nhau, song các dân tộc thiểu số cũng như đa
số đã đoàn kết, đồng cam, cộng khổ, tương trợ, tương thân, tương ái đấu tranhchinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thốngnhất Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, trên từng địabàn, nhiều nhân tố tiềm ẩn tác động không nhỏ vào truyền thống đoàn kết cácdân tộc Đặc biệt, các thế lực thù địch lợi dụng địa hình xa trung tâm kinh tế-chính trị của một số xã vùng giáp biên, đời sống còn khó khăn, lạc hậu, sựnhẹ dạ, cả tin của một số đồng bào dân tộc ít người để thực hiện âm mưu diễnbiến hòa bình Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động dân tộcthiểu số còn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc: Giúp đồng bào dân tộctrau dồi vốn hiểu biết về kinh tế-chính trị-văn hóa, từ đó nâng cao cảnh giác,kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, giữ gìn nền anh ninh quốcphòng quốc gia
1.2 Một số quan điểm của Đảng và nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động các dân tộc thiểu số
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước
Hiện nay, ở nước ta, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14%dân số cả nước; cư trú trên 52 tỉnh, thành phố; phần lớn đồng bào các dân tộcthiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng sâu,vùng xa, biên giới và hải đảo Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái
Trang 32Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dântộc, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cáchmạng nước ta; giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là độnglực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa; công tác dân tộc là một bộ phận quan trọng của đường lối cáchmạng Việt Nam; chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ trong chính sáchphát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương nhất quán vàđúng đắn về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: đoàn kết, bìnhđẳng, thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹpcủa mỗi dân tộc; chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành độngchia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Hiến pháp năm 1992, quyđịnh: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thốngnhất của cả dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thựchiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữviết, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát huy những phong tục tập quántruyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định:
“Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sựnghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bìnhđẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội X về vấn đề dân tộc, chínhsách dân tộc và miền núi, với sự quyết tâm của các ngành ở Trung ương vàcác ngành, các cấp ở địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào
Trang 33các dân tộc đã tạo ra được những chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế
-xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng và giải quyết những vấn đề -xã hội bức xúc ởmiền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Nhiều mô hình sản xuất kinhdoanh có hiệu quả đã được hình thành và phát triển; đời sống của đại đa sốđồng bào các dân tộc đã được cải thiện và nâng lên; cơ cấu kinh tế miền núi
đã có bước chuyển biến tích cực, tạo đà phát triển mới theo hướng sản xuấthàng hoá và từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhìn chung, vấn đề ổn địnhchính trị và an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miềnnúi đã được thực hiện tốt; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào đường lối đổimới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng caocảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch
Trong các chương trình mục tiêu quốc gia, Đảng và Nhà nước luôn ưutiên cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi, như: Chương trìnhxoá đói giảm nghèo, Chương trình nước sạch cho nông thôn miền núi,Chương trình 134, chương trình 135 hỗ trợ phát triển cho các xã miền núi đặcbiệt khó khăn Những chương trình trên đã đạt được kết quả tốt, góp phần tíchcực giúp đồng bào các dân tộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có hiệuquả hơn, tạo thêm việc làm, tăng cường bảo vệ rừng, môi trường sinh thái,hạn chế thiên tai, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá để thoát đói, giảmnghèo, vươn lên làm giàu
1.2.2 Quan điểm của tỉnh Cao Bằng
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vềchính sách Dân tộc và chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ởmiền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Cao Bằng đã tổchức, triển khai thực hiện các chính sách theo Nghị quyết, Quyết định củaChính phủ như: Chương trình 135 giai đoạn II; Nghị quyết 30a; Quyết định
134, 32, 102, 112, 33, 167, 120,… Cao Bằng rất quan tâm và chú trọng đến
Trang 34việc triển khai thực hiện các chính sách dân tộc và coi đây là nhiệm vụ trọngtâm của Tỉnh.
Để thực hiện tốt và hiệu quả các chính sách Dân tộc và hỗ trợ đầu tưphát triển kinh tế-xã hội các xã vùng đặc biệt khó khăn Tỉnh ủy Cao Bằng đã
có chỉ thị sô 19-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảngtrong thực hiện chương trình 120, 134, 135 giai đoạn II; HĐND tỉnh có cácNghị quyết số 38, 09, 10; UBND tỉnh có các Quyết định số 1031, 308, 1500hướng dẫn nội dung thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II; Quyết định 938/QĐ-UBND giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị phụ trách và giúp đỡ các
xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh
Ngoài ra, để giải quyết vấn đề việc làm, Tỉnh cũng đưa ra các chủtrương, chính sách như:
Quyết định số 30 14/2006/QĐ-UBND tỉnh Cao Bằng Về việc Phêduyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Cao Bằng giai đoạn2007- 2010, với những nội dung chủ yếu là: Trang bị cho người lao động
ở nông thôn có kiến thức cơ bản về kỹ năng nghề và khả năng tiếp thukhoa học kỹ thuật nhằm góp phần phát triển kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn; Góp phần nângcao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo ởnông thôn
Nghị quyết Số: 14/2009/NQ-HĐND tỉnh Cao Bằng về việc ban hành chínhsách đào tạo nhân lực trình độ đại học, sau đại học tại Trường Đại học QuảngTây - Trung Quốc giai đoạn 2008 - 2011
1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số
ở một số địa phương
1.3.1 Tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Tổ quốc, có gần 85%dân số là người dân tộc thiểu số, vì vậy giải quyết việc làm cho lao động dân
Trang 35tộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ở một tỉnh miền biên giới Nhận thấy rằng, Lạng Sơn là một tỉnh
có nhiều điểm tương đồng với Cao Bằng, trong thời gian gần đây kinh tế - xãhội ở Lạng Sơn phát triển khá, tạo được nhiều việc làm cho người lao động,nhất là lao động dân tộc thiểu số Vì vậy, Cao Bằng trong quá trình giải quyếtvấn đề việc làm cho lao động dân tộc ít người có thể học tập Lạng Sơn ở một
số kinh nghiệm sau:
1.3.1.1 Lạng Sơn tổ chức thực hiện tốt một số chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc miền núi
Chương trình 135, Là chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã
miền núi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Khi có chương trìnhnày, Lạng Sơn có 106 xã được hưởng Chương trình 135 còn 73 xã thụ hưởngChương trình 135 trong năm 2003 Hiện Lạng Sơn đang thực hiện tốt Chươngtrình 135 giai đoạn II
Chương trình 134: Thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày
20-7-2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ sản xuất, đất
ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo có nhà ở ổn định, cóđất sản xuất để cải thiện đời sống, có điều kiện để học tập văn hóa
Thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước: Chính phủ trợ giá, trợ cước, trợ
cước phí vận chuyển sản phẩm địa phương đã góp phần khuyến khích sảnxuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm cho người lao động,nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, ổn định từng bước, cải thiện đời sốngcủa một bộ phận nông dân trong một số vùng
Quản lý, sử dụng báo, tạp chí không thu tiền cho vùng dân tộc thiểu số
và miền núi: Thực hiện tốt công tác này, các loại báo, tạp chí sẽ được cungcấp đầy đủ, đảm bảo thời gian, cấp đúng địa điểm, từng bước đáp ứng nhu cầu
về đời sống tinh thần cho đồng bào vùng dân tộc miền núi và ứng dụng vàosản xuất đem lại hiệu quả kinh tế
Trang 361.3.1.2 Lạng Sơn gắn giải quyết việc làm với chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình
Dân số và việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau Dân số là cơ sở hìnhthành nguồn lao động, là căn cứ xác định nhu cầu giải quyết việc làm Dân số
và lực lượng lao động dân tộc thiểu số của Lạng Sơn không ngừng gia tăngtrong những năm trở lại đây (2001-2005: tăng 1,07%), hàng năm có hơn4.000 người bước vào tuổi lao động Để giải quyết vấn đề sức ép về tăng dân
số và giải quyết việc làm, tỉnh đã có một số biện pháp như sau:
- Thực hiện tốt chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình
- Gắn chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực thànhthị và nông thôn
1.3.2 Tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi, trung du, và được coi là trung tâm kinhtế-văn hóa-xã hội của khu vực miền núi phía Bắc Tỉnh có trên 30 dân tộc,trong đó dân tộc thiểu số chiếm gần 40% dân số Mặc dù tỷ lệ lao động dântộc thiểu số chiểm tỷ lệ không lớn trong tổng số lao động của tỉnh (khoảng25%), nhưng tỷ lệ lao động thất nghiệp là đồng bào dân tộc thiểu số lại chiếmmột tỷ lệ rất cao, tạo nên sức ép về việc làm và phát triển kinh tế-xã hội Đểgiải quyết vấn đề việc làm nói chung và vấn đề việc làm cho lao động dân tộcthiểu số nói riêng, Thái Nguyên đã thực hiện một số biện pháp mang lại hiệuquả tích cực mà Cao Bằng có thể tham khảo và học tập Cụ thể:
Trang 371.3.2.1 Thái nguyên phát triển các tiểu vùng kinh tế theo hướng phù hợp với vị trí, đặc điểm, thế mạnh của từng vùng
Vùng núi cao (gồm huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ và Phú Lương): ưu
tiên phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, các ngành nghề ở nông thôn; pháttriển mạnh cây công nghiệp (đặc biệt là cây chè), cây ăn quả, chăn nuôi đàn giasúc mang lại hiệu quả kinh tế cao; phát triển lâm nghiệp và công nghiệp chế biếnlâm thủy sản, chế biến nông sản thực phẩm, khai thác vật liệu xây dựng
Vùng núi thấp, đồi cao (gồm Huyện Đồng Hỷ, Nam huyện Phú Lương
và Nam huyện Đại Từ): Củng cố, nâng cấp, hoàn thiện từng bước hệ thống kếtcấu hạ tầng nông thôn; phát triển các loại cây trồng như: rau thực phẩm, chè vàcác loại cây ăn quả cung cấp nguyên vật liệu cho các khu đô thị, khu dân cư vàcông nghiệp chế biến; phát triển mạnh chăn nuôi đàn gia súc và chăn nuôi lợn;Khai thác đi đôi với bảo vệ rừng phòng hộ, đẩy mạnh trồng rừng phục vụ chongành công nghiệp giấy và gỗ ván nhân tạo; đẩy mạnh phát triển mô hình kinh tếtrang trại; Phát triển loại hình du lịch làng, bản và du lịch sinh thái
Vùng đồi gò và vùng trung tâm (gồm huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã
Sông Công, thành phố Thái Nguyên và một số xã huyện Đồng Hỷ, PhúLương): tiếp tục đầu tư, nâng cấp, củng cố kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuấtnhư hệ thống giao thông, công trình thủy lợi, hệ thống trạm, trại kỹ thuậtnông, lâm nghiệp; hình thành các khu công nghiệp tập trung dọc Quốc lộ 3 vàQuốc lộ 1B; Phát triển ngành du lịch đặc biệt là du lịch hồ Núi Cốc; phát triểncác cơ sở giáo dục đào tạo đại học, các khu văn hóa thể thao; xây dựng một sốvùng rau an toàn, chất lượng cao phục vụ nhu cầu của nhân dân và ngànhcông nghiệp chế biến
1.3.2.2 Thái nguyên phát triển ngành nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến
Thái nguyên hình thành các nông, lâm trường đưa người dân tộc thiểu sốvào quỹ đạo sản xuất quốc doanh của các nông, lâm trường dưới nhiều hình
Trang 38thức Hàng vạn lao động các dân tộc thiếu số tại chỗ đã được thu hút vào cáchoạt động trồng và chăm sóc rừng, cây công nghiệp trong các nông, lâm trườngdưới hình thức làm thuê, hợp đồng theo mùa vụ, làm công nhân chính thức củanông, lâm trường Biện pháp này đã giúp người lao động dân tộc thiểu số bướcđầu làm quen với kỹ thuật trồng và chăm sóc cây công nghiệp (cọ, chè) Ngườilao động dân tộc thiểu số không chỉ sản xuất tự cung, tự cấp mà sản xuất hànghóa ra để bán Hình thành điểm dịch vụ hàng hóa, cung cấp vật tư, phân bón, cácnhu yếu phẩm phục vụ sản xuất và đời sống Điều đó đã làm thay đổi bộ mặtkinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số Thái Nguyên theo hướng tiến bộ.
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra
1.3.3.1 Bài học kinh nghiệm về quản lý, chỉ đạo
- Đảng, Nhà nước có những chủ trương, chính sách, chương trình đúngđắn, kịp thời và phù hợp với tình hình thực tiễn của vùng dân tộc miền núi
Có sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Phân công lãnh đạo
để chỉ đạo, kiểm tra, theo dõi trong suốt quá trình thực hiện giải quyết việclàm cho lao động dân tộc thiểu số nói riêng, các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội nói chung Cơ quan được phân công thường trực từng nội dungchương trình, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo tỉnh kịp thời tháo gỡ nhữngkhó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện tại cơ sở
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể đã phối hợp kết hợp tổ chức thực hiệnthống nhất và đồng bộ Đồng thời đã phối hợp chặt chẽ với các cấp chínhquyền địa phương trong việc điều hành, quản lý và chuyển được hình thức tạoviệc làm đến các hộ đồng bào dân tộc thiểu số có người đến độ tuổi lao động
và thường xuyên thu thập trao đổi thông tin, kinh nghiệm thông qua chế độbáo cáo định kỳ, trực báo của Ban chỉ đạo tỉnh
1.3.3.2 Bài học kinh nghiệm về tổ chức thực hiện
- Thực hiện các nhiệm vụ của nội dung giải quyết việc làm cho laođộng dân tộc thiểu số phải kết hợp và lồng ghép có hiệu quả các chương trình
Trang 39phát triển kinh tế - xã hội (chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình
134, chương trình 135, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chươngtrình phát triển kinh tế trang trại, chương trình phát triển kinh tế cửa khẩu,…)trên từng địa bàn huyện, xã, thôn, bản vùng dân tộc, miền núi; Từ kinhnghiệm các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn cho thấy sự thành công là phải dựatrên cơ sở thực tiễn về nhu cầu và trình độ của lao động dân tộc thiểu số, có
sự xem xét và định hướng của chính quyền sở tại, phát huy quyền dân chủ cơ
sở sẽ tạo thuận lợi trong quản lý điều hành, tổ chức thực hiện chương trình,chính sách, các dự án
- Quá trình thực hiện nội dung giải quyết việc làm cho lao động dân tộcthiểu số kinh nghiệm thực tiễn cho thấy việc bố trí, sắp xếp dân cư phải xen,ghép các hộ người Kinh với các hộ dân tộc thiểu số để có điều kiện học tậpkinh nghiệm lẫn nhau, để có điều kiện tác động lan toả và chuyển giao kinhnghiệm cho nhau trong lao động, sản xuất, sinh hoạt, cùng giúp đỡ nhauvươn lên thoát nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
- Nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan ban ngành liên quan trong thựchiện nội dung, chương trình là khâu then chốt cho sự thành công Tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, dự án giải quyếtviệc làm trên từng địa bàn Kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, thiếu sót trongthực hiện chương trình Tạo thuận lợi cho nhiệm vụ chỉ đạo chương trình vàthực hiện các chính sách khác trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núithống nhất và hiệu quả
- Hàng năm phải tổ chức thực hiện hội nghị sơ kết đánh giá, đúc rútkinh nghiệm quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện nội dung giải quyết việc làmcho lao động dân tộc thiểu số Kịp thời khen thưởng để động viên những nhân
tố tích cực, đồng thời khắc phục những yếu kém tồn tại để tổ chức thực hiệnnội dung này tốt hơn trong những năm sau
Trang 40Kết luận chương 1
Từ các khái niệm việc làm, giải quyết việc làm, giải quyết việc làm cholao động dân tộc thiểu số ta rút ra được nội dung của giải quyết việc làm,đồng thời thấy được ý nghĩa của việc giải quyết việc làm cho lao động dân tộcthiểu số Đây là một vấn đề thuộc về chính sách phát triển kinh tế - xã hội vàchính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Để giải quyết vấn đề việc làmcho lao động nói chung và lao động dân tộc thiếu số nói riêng cần đến sựtham gia của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các nhà doanh nghiệp và toàn xãhội Nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động dân tộc thiểu số khôngnhững có ý nghĩa về mặt phát triển đời sống kinh tế, chính trị, xã hội mà còn
có ý nghĩa cả về mặt an ninh quốc phòng Tuy nhiên, giải quyết việc làm cholao động dân tộc thiểu số lại bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố như nhân tố vềđiều kiện tự nhiên, xã hội; nhân tố về chính sách; nhân tố về kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội; nhân tố về phong tục tập quán;… Vì vậy, giải quyết việc làmcho lao động dân tộc thiểu số là một vấn đề rất phức tạp, không thể giải quyếtngay trong một thời gian ngắn và cần có sự tham gia của tất cả các tổ chứctrong xã hội cũng như sự chủ động, sáng tạo của người lao động Trong nhiềunăm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chủ trương chính sách vềvấn đề dân tộc và việc làm, trong đó có rất nhiều chính sách đề cập đến vấn
đề giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Cao Bằng là một tỉnhmiền núi với số đồng bào dân tộc thiểu số tập trung đông vì vậy, Đảng bộ vànhân dân tỉnh Cao Bằng cũng rất coi trọng vấn đề dân tộc và những vấn đềliên quan đến giải quyết việc làm cho lao động dân tộc dân tộc thiểu số Từthực tiễn giải quyết việc làm cho số lao động này ở một số tỉnh như Lạng Sơn,Thái Nguyên, tỉnh Cao Bằng có thể tiếp thu những kinh nghiệp đó và rút rabài học cho địa phương mình để có thể giải quyết tốt vấn đề này Từ những cơ
sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động thiểu số ở chương
1 sẽ là tiền đề để chương 2 trình bày chi tiết về thực trạng giải quyết việc làmcho lao động dân tộc thiểu số ở Cao Bằng trong thời gian qua