Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tây Nguyên đã khắc phục khó khăn vươn lên đạt được nhiều thành tựu quan trọng: tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá, kết cấu hạ tầng t
Trang 11 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bình đẳng giới và tham gia chính trị của phụ nữ luôn được coi là vấn
đề có tính chiến lược trong đời sống xã hội toàn cầu Nhiều hội nghị quốc tế về phụ
nữ và bình đẳng giới được tổ chức Nhiều tuyên bố, công ước quốc tế… được banhành là những bằng chứng thể hiện sự thừa nhận vị thế, vai trò của người phụ nữđối với sự phát triển, tiến bộ xã hội Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi: “giải phóngphụ nữ là thước đo sự tiến bộ xã hội” và được xác định trong trong cương lĩnh, vănkiện, chiến lược phát triển của các đảng chính trị, luật pháp của các quốc gia Tuynhiên để thực hiện được nội dung đó trong thực tế còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố:kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi một quốc gia ở những giai đoạn cụ thể
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tây Nguyên
đã khắc phục khó khăn vươn lên đạt được nhiều thành tựu quan trọng: tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá, kết cấu hạ tầng từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sốngcủa nhân dân; y tế, giáo dục, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tộc ngườithiểu số được cải thiện; an ninh trật tự được giữ vững; sự tham gia của các tộcngười thiểu số vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ngày càng tănglên… Đạt được những thành tựu trên, bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước,phải kể đến sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc Tây nguyên, trong đó có
sự đóng góp của lực lượng phụ nữ các tộc người thiểu số
Với gần 1/5 dân số toàn khu vực và ½ cư dân trong các tộc người thiểu số ở TâyNguyên, phụ nữ các tộc người thiểu số là một lực lượng quan trọng, không thể thiếu trongquá trình phát triển kinh tế- xã hội của vùng đất này Việc phụ nữ các tộc người thiểu sốtham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội chính là góp phần xâydựng địa bàn Tây Nguyên ổn định và phát triển bền vững Theo các nhà nghiên cứu,
“Sự tham gia chính trị theo nghĩa rộng nhất của nó là hướng tới xã hội, tính chất xãhội và các quan hệ xã hội của con người”[1] Do đó, nó rất cần tới sự có mặt, sự
Trang 2tham gia của giới nữ, trước hết là sự cân bằng giới như một sự cân bằng tâm lý, saunữa nó bổ sung cho nhau trong cơ cấu giới, tạo ra sự hài hòa trong phát triển Nângcao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động chính trị,tham gia bộ máy lãnh đạo, ra quyết định, tư vấn… chính là xây dựng một trongnhững cơ sở nền tảng của một xã hội ổn định và phát triển bền vững Điều này cònthể hiện sự hợp lý hoá trong sử dụng sức lao động xã hội, huy động tối đa mọi tàinăng cống hiến cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ các tộc ngườithiểu số ở Tây Nguyên hiện nay, chúng ta thấy vẫn còn một số vấn đề đặt ra là: tỷ lệcán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị còn thấp, nguồn kế cận chưadồi dào, thiếu bền vững; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị chưa đápứng được yêu cầu nhiệm vụ Việc phụ nữ các tộc người thiểu số tham gia thực hiệnPháp lệnh dân chủ ở cơ sở và tham gia giám sát hoạt động của chính quyền còn hạnchế Quá trình trưởng thành của chị em phải giải quyết nhiều trở ngại như: thiênchức làm vợ, làm mẹ, ảnh hưởng của những đặc điểm về giới, về phong tục tậpquán Ngoài ra, kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp, tâm lý tự ti, thụ động vàphải đảm nhiệm phần lớn công việc nội trợ trong gia đình đã ảnh hưởng đến sựtham gia hoạt động xã hội của phụ nữ các tộc người thiểu số Những vấn đề này vừacho thấy vai trò quan trọng của người phụ nữ nhưng cũng cho thấy những hạn chếbất cập của họ khi vừa phải làm tròn bổn phận của người vợ, người mẹ vừa phảilàm tròn trách nhiệm của người công dân
Vì vậy, việc đề ra phương hướng và xây dựng các giải pháp nhằm tăng khảnăng và mức độ tham gia của phụ nữ các tộc người thiểu số vào hoạt động chính trị
ở khu vực Tây Nguyên, huy động tối đa mọi tiềm năng của họ đóng góp cho quátrình phát triển kinh tế- xã hội là cần thiết Đâycũng chính là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ vàthực hiện chính sách bình đẳng giữa các tộc người Xuất phát từ thực tế của địa
phương, tôi lựa chọn đề tài: Sự tham gia chính trị của phụ nữ các tộc người thiểu
số ở Tây Nguyên hiện nay làm luận văn thạc sỹ.
Trang 32 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ, về gia đình, về cáctộc người thiểu số ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tuy nhiên, các công trình nghiêncứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều công trình nghiên cứu đề cậpđến vai trò giới trên các lĩnh vực khác nhau, cụ thể:
- Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa - chủ biên (1998): Phát triển kinh tế - xã hội
các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb
Chính trị quốc gia Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội vùng dân tộcthiểu số, từ đó đưa ra định hướng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuynhiên, công trình chưa khai thác những đặc điểm về dân cư, tộc người, nguồn lựclao động, trong đó có nguồn lực nữ
- Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb Chính trị quốc gia.
Đây là công trình lớn của nhiều nhà khoa học, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước,viết về quá trình phát triển các dân tộc thiểu số trong một thế kỷ qua Có một sốchuyên luận đã nói về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, chưa cóchuyên luận nào đi sâu phân tích sự tham gia của phụ nữ các dân tộc thiểu số vàohoạt động chính trị, xã hội ở Tây Nguyên
- Ủy ban Dân tộc và miền núi (2002): Miền núi Việt Nam, thành tựu và phát
triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp Đây là công trình tổng kết quá trình
đổi mới, phát triển của miền núi, và đánh giá những thành tựu, hạn chế của quátrình đó, đồng thời nêu quan điểm định hướng và nguyên tắc phát triển miền núi vàvùng dân tộc thiểu số Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đề nghèo đói và sự tácđộng của nó đến các nhóm cư dân khác nhau, trong đó, phụ nữ, trẻ em là nhóm xãhội bị tác động lớn nhất, từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ cho nhóm này
- Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002): Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách bao gồm những chuyên đề được trình bày
tại cuộc hội thảo lớn đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế- xã hội và chính sách dân tộc
Trang 4- Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia: xuất phát từ những số liệu điều tra xã hội học,
những cứ liệu được đánh giá qua các cuộc hội thảo và báo cáo chuyên đề về côngtác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, công trình nêu lên nhữngthành tựu và khó khăn của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và đề ra hướng phát huysức mạnh nguồn lực tại chỗ, nội lực của đồng bào các tộc người thiếu số
- Nguyễn Quốc Phẩm: Các dân tộc Việt Nam trên con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Kỷ yếu hội thảo của Viện Dân tộc (2003) Trong chuyên luận có
bàn đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các vùng dân tộcthiểu số miền núi Tuy nhiên, chuyên luận chưa đi sâu khai thác nội lực, nguồn lựclao động của các nhóm xã hội
- Phạm Hảo (chủ biên): “Một số giải pháp góp phần ổn định và phát triển ở
Tây Nguyên hiện nay”, là công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về ổn định
chính trị, những nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và những vấn đề đặt ratrong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần giữvững ổn định chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Quốc Phẩm: “Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến
phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam” Kỷ yếu khoa học cấp
bộ của Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc (2003) Tham luận nêu và lý giải những điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư, tộc người đối với quá trình phát triển bền vững vùngdân tộc thiểu số miền núi nước ta
- Nguyễn Đức Hạt: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ trong hệ thống
chính trị”, Nxb Chính trị quốc gia (2009) Cuốn sách góp phần làm sáng tỏ luận cứ
khoa học, thực tiễn về việc nâng cao vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ,tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong hệ thống bộ máy củaĐảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở nước ta trong tình hình mới
- Đề tài cấp cơ sở (2009), Viện Chính trị học, Học viện Chính trị- Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh: “Sự tham gia của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
trong đời sống chính trị- xã hội” Đề tài nghiên cứu những bất cập của Hội Liên
Trang 5hiệp phụ nữ Việt Nam trong sự tham gia đời sống chính trị- xã hội Đồng thời, làm
rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội phụ nữ đối với việc nâng cao năng lực cũngnhư cơ hội bình đẳng cho phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị của đất nước trong
sự nghiệp đổi mới hiện nay
Với đối tượng phụ nữ, trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiêncứu với nhiều góc độ khác nhau đề cập đến vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong
xã hội và tác động của các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác dân số,gia đình, phụ nữ Sau đây là một số đề tài, bài viết của một số tác giả như: luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành chủ nghĩa xã hội của Nguyễn Thị Bích Truyền về “Bình
đẳng giới trong hệ thống chính trị ở Tây Ninh hiện nay”; bài viết về “Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, xã hội” của Trần Thị Quốc Khánh; “Bình đẳng giới trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” của Võ Thị Mai; “Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý nhà nước, xã hội” của Hà Thị
Khiết Ngoài ra còn nhiều công trình của các cán bộ Trung tâm nghiên cứu Khoahọc về gia đình và phụ nữ là các tư liệu phong phú, phản ánh nhiều khía cạnh khácnhau liên quan đến vai trò của phụ nữ, phụ nữ trong phát triển Tiêu biểu là đề tài:
“Vai trò gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”, do tác giả Lê Thi làm chủ nhiệm; Báo cáo của Ngân hàng thế giới về Đưa vấn đề giới vào phát triển”(2001); Báo cáo tổng kết 5 năm triển khai kế hoạch hành động thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2005-2010
của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các tỉnh Tây Nguyên, Bình đẳng giới trong công tác
cán bộ của tác giả Nguyễn Văn Huê; Bình đẳng giới trong thực hiện chính sách giáo dục của Đinh Thị Minh Tuyết… Đó là những công trình nghiên cứu hệ thống
và là tư liệu tham khảo quý cho luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng
tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, luậnvăn đề xuất phương hướng và một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy sự
Trang 6tham gia của lực lượng này trong hoạt động chính trị trên địa bàn Tây Nguyên trongđiều kiện hiện nay.
Nhiệm vụ của đề tài:
- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về tham gia chính trị và tham giachính trị của phụ nữ
- Phân tích, đánh giá thực trạng tham gia của phụ nữ các tộc người thiểu số ởTây Nguyên vào các hoạt động chính trị ở vùng đất này
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm phát huy khả năngtham gia của phụ nữ các tộc người thiểu số vào hoạt động chính trị, thực hiện bìnhđẳng giới trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, góp phần đẩy nhanh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn Tây Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: các lý thuyết về tham gia chính trị, tham gia chính trị
của phụ nữ và sự tham gia chính trị của phụ nữ các tộc người thiểu số ở TâyNguyên
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phụ nữ các dân tộc thiểu số trên
địa bàn Tây Nguyên- Việt Nam (5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông,Lâm Đồng)
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2000 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác- Lênin làm cơ sở phương pháp luận
Về phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp: Lôgíc lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh,
-6 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Từ góc độ Chính trị học, luận văn kết hợp chặt chẽ quan điểm của chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam với phương pháp tiếp cận giới, từ đó làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về giải
Trang 7phóng phụ nữ, quyền tham gia của phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện để họ phát huy vaitrò của mình trong lĩnh vực chính trị, nhất là nhóm phụ nữ các tộc người thiểu số.
- Phân tích thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ các tộc người thiểu số ởTây Nguyên, từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huytính chủ động và tham gia ngày càng nhiều hơn của chị em trong lĩnh vực chính trị
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy lý luận chính trị, giảng dạy về giới trong các trường đào tạo cán bộ nữ và phục
vụ cho công tác vận động phụ nữ của các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo,
luận văn chia làm 3 chương, 8 tiết
Trang 8CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CHÍNH TRỊ
CỦA PHỤ NỮ
1.1 Khái niệm tham gia chính trị và tham gia chính trị của phụ nữ
1.1.1 Khái niệm “tham gia chính trị”
Khi xuất hiện giai cấp, chính đảng và nhà nước, xã hội mang đặc trưng của
một xã hội chính trị Trong đời sống xã hội bắt đầu xuất hiện một lĩnh vực đặc thù
là hoạt động chính trị và đời sống chính trị Tham gia vào hoạt động đó, xét về mặt
hành vi, đó là sự tham chính với rất nhiều hình thức biểu hiện và mức độ khác nhau.
Con người không chỉ hiện diện với tư cách là con người xã hội (nói chung),con người kinh tế- đảm bảo, đáp ứng nhu cầu sinh tồn phải tham gia hoạt động sảnxuất (gắn với lao động sản xuất, kinh tế, kinh doanh để thực hiện lợi ích vật chất),mặt khác còn là một con người chính trị (thực hiện quyền tham gia hoạt động chínhtrị trong đời sống hiện thực) Biểu hiện phổ biến nhất của con người chính trị làngười công dân, đối diện với nhà nước và thể chế luật pháp, thực hiện các quyền vànghĩa vụ công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Tham gia bầu cử hoặctrực tiếp ứng cử, tranh cử- đó là một hành vi chính trị, một hoạt động tham giachính trị trong đời sống chính trị
Xét về con người cụ thể, lại có những cá nhân hoặc một tầng lớp hoạt độngchính trị chuyên nghiệp, có vị thế xã hội và có chức vụ, danh vị trong hệ thống tổchức quyền lực, từ các chính khách, nghị sĩ (đại biểu Quốc hội), đến thủ lĩnh chínhtrị (các đảng và các tổ chức đoàn thể chính trị) Các nhà hoạt động chính trị - xã hội
Trang 9Thuật ngữ tham gia chính trị nói chung chỉ những hoạt động tự nguyện củacác thành viên của một xã hội tác động đến quá trình hình thành các luật lệ và chínhsách công Quyền tham gia là một khía cạnh quan trọng của nhà nước dân chủ và làmột loại quyền vốn có trong các quá trình dân chủ Tham gia chính trị là một thuậtngữ được sử dụng để chỉ các hoạt động của con người ở tất cả các cấp độ của hệthống chính trị Tham gia chính trị được định nghĩa theo cách này bao hàm sự thựcthi quyền lực trong lĩnh vực nhà nước và cả lĩnh vực phi nhà nước Sự tham gia cóthể được nhìn nhận từ hai khía cạnh là mức độ và phạm vi Mức độ một cá nhân can
dự vào vấn để chính trị như thế nào và phạm vi nào tham gia để đạt mục tiêu Phạm
vi tham gia chính trị thường tăng lên vì bản chất phức hợp của hoạt động chính trịđòi hỏi sự tham gia vào các vấn đề khác nhau, từ các cuộc bỏ phiếu đến tham giavào các ủy ban chuyên môn có tính kỹ thuật hoặc trở thành một bộ trưởng
Tham gia chính trị có thể được định nghĩa là những hoạt động của các côngdân với tư cách cá nhân mà nhờ đó họ tìm cách tác động hoặc ủng hộ chính phủ vàchính trị.1 Định nghĩa này rộng hơn hầu hết các định nghĩa khác Vì nó bao gồmkhông chỉ vai trò hoạt động mà con người theo đuổi nhằm ảnh hưởng tới các kếtquả chính trị mà còn cả các hoạt động ủng hộ và các hoạt động có tính nghi thức.Theo Almond và Powel, “Tham gia chính trị là sự can dự của các thành viên củamột xã hội vào quá trình hoạch định chính sách của một hệ thống.2
Tham gia chính trị là một thành phần căn bản của tất cả các hệ thống chínhtrị Sự tham gia giúp cho các cá nhân hoạt động có hiệu quả và gắn kết họ với hệthống chính trị Tỷ lệ và mức độ tham gia càng cao, càng có nhiều hình thức thamgia chính trị Sách bách khoa quốc tế về khoa học xã hội (InternationalEncyclopaedia of Social Sciences) định nghĩa tham gia chính trị là những cách thứccăn bản nhờ đó đạt được sự đồng thuận trong một nền dân chủ, và những người cai
1 10 Lester W Mibrath, M.L Goel, Political Participation: How and Why Do People Get Involved in
Politics (Tham gia chính trị, như thế nào và tại sao con người lại tham gia chính trị), Rand Mcnally, Chicago,
1977, p2.
2 G.A Almond, G.B Powell Jr, Comparative Politics: A Developmental Approach (Chính trị học
so sánh, cách tiếp cận phát triển), Amerind Publishing Company, New Delhi, 1975, p.98.
Trang 10trị phải có trách nhiệm giải trình với những người bị trị.3 Sự tham gia thể hiện ở cácquá trình như bỏ phiếu, tìm kiếm thông tin, thảo luận và hình thành niềm tin, tham
dự các buổi hội họp, đóng góp tài chính và quan hệ với các đại diện nhà nước
Các nghiên cứu về tham gia chính trị đều thống nhất cao rằng, tham giachính trị của công dân là dấu hiệu phân biệt các nhà nước hiện đại Các nhà nướchiện đại được phân biệt với các nhà nước truyền thống bởi mức độ người dân thamgia vào chính trị Mức độ tham gia chính trị cao thường gắn với dân chủ, nó manglại lợi ích cho cả các cá nhân và cho xã hội Tham gia chính trị được coi là điều kiệnthiết yếu của dân chủ
Các nghiên cứu cũng chi ra rằng tất cả các công dân không tham gia mộtcách như nhau hoặc theo cùng một cách và các quá trình chính trị Văn hóa chính trịcủa một xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính chất tham gia chính trị của các cánhân Mục đích thực sự và tác động của tham gia chính trị là làm cho công dânkhông phải là khán giả thụ động mà là một tác nhân trong chính trị, cho phép côngdân thể hiện sự bất đồng của mình, sự xem xét, phê phán và ngăn chặn hoặc ủng hộ,thúc đẩy các đề xuất, chính sách của chính phủ
Các phương thức tham gia chính trị
Các công dân có thể tham gia một cách khác nhau và theo những cách khácnhau để tác động đến nhà nước và hệ thống chính trị Tuy nhiên những cách thứctham gia chính trị khác nhau này phụ thuộc vào các công dân những người tham giatheo những cách mà họ hành động, các áp lực mà họ có thể gây sức ép và sự phảnứng có tính chất hệ thống đối với các hoạt động của họ Verba và Nie đã nhómthành bốn loại tham gia mà thông qua các hoạt động này các công dân có thể thamgia vào đời sống chính trị Ví dụ, bầu cử; hoạt động vận động tranh cử, các hoạtđộng cùng hợp tác và mối quan hệ giữa công dân với các quan chức nhà nước.Mibrath và Goel đề cập thêm cả sự phản đối và tiếp cận với những hoạt động đãđược đề cập ở trên, là những hoạt động gắn kết cá nhân với cộng động
3 International Encyclopedia of Social Sciences Vol.12, New York, 1968, p 253
Trang 11Xem xét các phương thức tham gia chính trị, Schonfiesl đã đề cập tới 10 hoạtđộng bao gồm: ứng cử hoặc nắm giữ các vị trí cơ quan đảng và nhà nước; là thànhviên của một đảng hoặc các tổ chức chính trị khác; làm việc trong một cuộc bầu cử;tham dự các cuộc họp chính trị hoặc các cuộc mít tinh; đóng góp tài chính cho đảnghoặc ứng cử viên; liên lạc tiếp xúc với các quan chức nhà nước; thể hiện quan điểmchính trị một cách công khai để thuyết phục người khác; tham dự các cuộc tranhluận chính trị; bỏ phiếu và thể hiện sự ủng hộ chính trị.
Như vậy, tham gia chính trị mang nội dung chính trị- xã hội rất rộng lớn vớinhiều chủ thể khác nhau (cá nhân, tập thể, cộng đồng, con người, tổ chức, bộ máy,quan hệ chỉ huy - điều khiển, lãnh đạo, quản lý…) Tham gia chính trị vừa biểu hiện
là hoạt động và hành vi chính trị thực tiễn lại vừa bao hàm hoạt động nghiên cứukhoa học, tổng kết thực tiễn chính trị, giáo dục- đào tạo, huấn luyện, tuyên truyền-
cổ động… Tham gia chính trị có mức độ, trình độ cao nhất là cầm quyền, thực thiquyền, thực hiện vai trò, chức năng lãnh đạo- quản lý, bang giao chính trị, gắn vớicon người có tên, tuổi, chức vụ, thẩm quyền từ trung ương đến cơ sở
Các yếu tố tác động tới tham gia chính trị
Tham gia chính trị là một hiện tượng phức tạp trong đời sống chính trị xãhội Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tâm lý, kinh tế- xã hội và chính trị Đây lànhững yếu tố tạo nên xu hướng tham gia tích cực hay bị động cho các cá nhân Cácnghiên cứu cũng chi ra rằng tất cả các công dân không tham gia một cách như nhauhoặc theo cùng một cách vào các quá trình chính trị Văn hóa chính trị của một xãhội ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính chất tham gia chính trị của các cá nhân
Môi trường tâm lý
Tham gia chính trị có xu hướng đáp ứng nhu cầu tâm lý của cá nhân muốnthoát khỏi trạng thái cô đơn Nó thể hiện mức độ các công dân quan tâm đến chínhtrị và các vấn đề công cộng Sự gắn bó về mặt tâm lý của một người đối với cácmục tiêu chính trị chắc chắn quyết định mức độ và sự hấp dẫn của tham gia chínhtrị
Trang 12Trong bất kỳ xã hội nào cũng có những người rất để ý và quan tâm đếnnhững vấn đề chính trị và cũng có những người không hề quan tâm tới những vấn
đề này Sự khác nhau có thể là do sự khác nhau về thái độ tâm lý của họ Trong tìnhhuống này, rõ ràng là những người quan tâm chắc chắn tích cực hơn trong đời sốngchính trị so với người không quan tâm Nói chung người ta tin tưởng rằng, nam giới
về mặt tâm lý quan tâm tới chính trị nhiều hơn phụ nữ
Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới tham gia chính trị Sựkhác nhau về mặt kinh tế - xã hội bao gồm giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập, độtuổi, địa vị, tôn giáo, giới tính, nền tảng gia đình, nơi cư trú… Nói chung, sự thamgia có xu hướng cao hơn đối với những người được giáo dục tốt hơn, các thành viêncủa nhóm có thu nhập và nghề nghiệp cao hơn, trung niên, dân tộc thống trị và cácnhóm tôn giáo, những người có nền tảng gia đình là hoạt động chính trị, nhữngngười định cư, người ở thành thị và các thành viên của các hiệp hội tự nguyện.1 Tuynhiên mối liên quan giữa tham gia chính trị và một số yếu tố của kinh tế xã hội này
có thể khác nhau ở các nền văn hóa trong những bối cảnh chính trị khác nhau và tácđộng của chúng đến tham gia chính trị có thể cũng có thể thay đổi
Môi trường chính trị
Môi trường chính trị nói chung tác động tới toàn bộ tiến trình tham gia chínhtrị ở mức độ lớn nhất Môi trường chính trị liên quan tới bản chất của hệ thống đảngphái, hệ thống bầu cử, phương tiện truyền thông và vận đồng bầu cử, mức độ hiệnđại hóa và đô thị hóa, sự tác động của hệ tư tưởng và nhận thức chung của ngườidân…
Đảng chính trị là công cụ tiềm năng nhất trong việc vận động tham gia chínhtrị Đảng chính trị đại diện cho quốc gia cả về lực lượng tiêu biểu, tiên tiến và khảnăng lôi cuốn sự trung thành, hy sinh của một bộ phận đảng viên và sự đồng cảmcủa xã hội Đảng còn truyền cảm hứng cho các thành viên của nó phát triển tìnhcảm của những người thân quen Sự quan sát cho thấy rằng, những người là hội
1 Herbert Mc Closky, "Political Participation", International Encyclopedia of Social Sciences, Vol.
12, Macmillan, New York, 1968, p 253.
Trang 13viên của một đảng bỏ phiếu thường xuyên hơn những người không phải là hội viên.Các thành viên có mối liên kết với nhau mạnh mẽ cũng tích cực hơn trong các cuộctranh luận và hoạt động chính trị
Tham gia chính trị là dấu hiệu của một nền dân chủ và hiện đại hóa Ở các
xã hội truyền thống, nhà nước và chính trị được sự quan tâm của mình giới tinh hoa.Mối quan hệ tích cực giữa cư dân đô thị và mức độ tham gia chính trị cao Đô thịhóa, kết hợp với các tiến trình khác của hiện đại hóa xã hội, sẽ ràng buộc người dânvới những mối quan hệ mới với nhà nước quốc gia và làm tăng mức độ giao tiếpchính trị và đem lại nhận thức chính trị lớn hơn
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cao rằng, tham gia chính trị của công dân
là dấu hiệu phân biệt các nhà nước hiện đại Các nhà nước hiện đại được phân biệtvới các nhà nước truyền thống bởi mức độ người dân tham gia vào chính trị Mức
độ tham gia chính trị cao thường gắn với dân chủ, nó mang lại lợi ích cho cả các cánhân và cho xã hội Tham gia chính trị được coi là điều kiện thiết yếu của dân chủ
Tham gia chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhận thức chính trị, những trithức thực sự về các vấn đề chính trị Sự nhận thức được liên kết cao với lợi ích Ởtất cả các xã hội, số lượng các công dân được mô tả là “có nhận thức” là cực kỳ ít.Nhận thức ảnh hưởng tới cả chất lượng và số lượng tham gia
Mục đích thực sự và tác động của tham gia chính trị là làm cho công dânkhông phải là khán giả thụ động mà là một tác nhân trong chính trị, khiến cho anh tathể hiện sự bất đồng của mình, sự xem xét lại, chỉ trích và ngăn chặn cũng như thúcđẩy các đề xuất hay sáng kiến của chính phủ Trong một nền dân chủ, người dânnên trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, là quátrình mà sản phẩm của nó là cái sẽ ảnh hưởng đến họ hàng ngày trong cuộc sống
1.1.2 Khái niệm “tham gia chính trị của phụ nữ”
Cùng với sự phát triển của xã hội, trong các nhà nướ dân chủ, phụ nữ đượcxác định là công dân của một quốc gia có quyền bình đẳng như nam giới Vì vậy,Tham gia chính trị của phụ nữ có tính phổ biến đại chúng Họ tham gia trực tiếpvào đời sống chính trị của cộng đồng với tư cách là công dân bình đẳng tham gia ứng
Trang 14cử, bầu cử, tổ chức ra các cơ quan quản lí nhà nước, tham gia với cương vị lãnh đạo,quản lý, ra quyết định trong hệ thống các đảng chính trị, bộ máy nhà nước; tham gialãnh đạo các tổ chức đoàn thể như phụ nữ, thanh niên, công đoàn, hội nông dân, cáchội, hiệp hội và các tổ chức xã hội khác, hoặc gián tiếp như các hoạt động kinh tế, vănhóa, xã hội, an ninh quốc phòng mà những hoạt động ấy phục vụ cho mục tiêu chínhtrị Với tư cách là công dân trong quan hệ với nhà nước, phụ nữ cũng tham gia vào cáchoạt động chính trị như giám sát, phê phán các hoạt động và các hành vi chính trịcủa các cơ quan, quan chức nhà nước Trên phương diện này, có một sự tương đồngcủa giới Nữ- xét về nội dung tham gia chính trị so với giới Nam Ví dụ: tư cách cửtri và hành vi bầu cử, sự quan tâm và tham gia thảo luận chính trị, hoạt động chínhtrị và đấu tranh chính trị (hội họp, mít tinh, biểu tình, khiếu nại, tố cáo, đề xuất,kiến nghị với nhà chính trị cầm quyền, tổ chức thực thi quyền lực vì một nền chínhtrị dân chủ pháp quyền)… Cũng như nam giới, phụ nữ tham gia chính trị tùy vàohình thức, phương thức hoạt động, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
Hoạt động chính trị là một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, của cácquan hệ con người Nó rất cần tới sự có mặt, sự tham gia nhập cuộc của giới nữ,trước hết, là sự cân bằng giới như một sự cân bằng tâm lý, sau nữa, nó bổ sung chonhau trong cơ cấu giới, tạo ra sự hài hòa trong phát triển Chính điều đó, tự nó đãkhách quan hoá vai trò của phụ nữ trong chính trị
Mức độ và phạm vi tham gia chính trị của con người có thể bị hạn chế bởi sựtồn tại của cả hai sự bất bình đẳng tự nhiên và sự bất bình đẳng do con người tạo ra.Trong khi không thể vượt qua những yếu tố tự nhiên của sự bất bình đẳng, thì việckhắc phục sự bất bình đẳng do con người tạo ra là có thể đơn giản bằng cách ápdụng và tuân thủ các nguyên tắc và giá trị của dân chủ
Đối vói Mác, tham gia chính trị của người dân là một quá trình giáo dục vàxây dựng khả năng cho việc cai quản một xã hội mới Thực tế là bản thân phụ nữ cókhả năng quyết định bản chất và phạm vi của tham gia chính trị và hệ quả là củatoàn bộ hệ thống chính trị
Quan hệ qua lại giữa phụ nữ và chính trị là một quan hệ tương hỗ, biến đổi
và phát triển lẫn nhau Chính trị cần có sự tham gia của phụ nữ và phụ nữ tham gia
Trang 15vào chính trị vừa làm tăng vị thế, năng lực sáng tạo, quyền lực, quyền dân chủ vàlàm chủ của phụ nữ vừa làm cho chính trị và đời sống xã hội phát triển.
1.2 Một số quan niệm về sự tham gia chính trị của phụ nữ
1.2.1 Quan niệm của một số nhà tư tưởng chính trị trong lịch sử về sự tham gia chính trị của phụ nữ
Nhìn vào các thời đại lịch sử có thể thấy, việc khẳng định vai trò và năng lựccủa phụ nữ trong đời sống chính trị là cả một quá trình, đó là quá trình đấu tranhgiải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền, trong đó có quyền bình đẳng vềchính trị, quyền được tham gia vào các hoạt động chính trị- xã hội của phụ nữ
Chế độ phong kiến chuyên chế, đặc biệt là phong kiến chuyên chế phươngĐông kéo dài tới hàng nghìn năm trong lịch sử Trung Quốc là chế độ vốn xa lạ vớidân chủ, tự do Đó là xã hội thần dân, trong xã hội đó phụ nữ càng bị đè nén áp bứckhông chỉ với sức mạnh của những quy định của pháp luật phong kiến mà còn bịràng buộc, kìm hãm bởi dư luận xã hội, phong tục, tập quán, lối sống và các quyphạm đạo đức phong kiến Học thuyết Nho giáo là một điển hình, cột chặt ngườiphụ nữ vào tam tòng, tứ đức, sự lệ thuộc chặt chẽ vào chồng, con và gia đình, hầunhư không có một không gian xã hội nào cho hoạt động của phụ nữ ngoài gia đình,dòng họ với những luật lệ trói buộc Mạnh Tử cho rằng: thiên hạ gốc ở nước, nướcgốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình (thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, giachi bản tại thân) Con người (nam giới - chú thích của tác giả) trước hết cần phải
học tập, tu dưỡng (Tu thân), sau đó phải xây dựng và quản lý nhà mình cho thật tốt
(Tề gia) rồi vươn lên quản lý đất nước (Trị quốc) và cai trị nước khác (Bình thiên hạ) Theo đó, có thể hiểu quan điểm của Nho giáo thì những người đàn ông sẽ đời
nối đời xây dựng, thống trị và ổn định xã hội
Ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội: Vua - tôi; Cha - con; Chồng - vợ là các
mối quan hệ bất bình đẳng trong xã hội phong kiến Quân vi thần cương là vua làm cương cho tôi Phụ vi tử cương là cha làm cương cho con Phụ vi thê cương là chồng làm cương cho vợ Trên cơ sở đó, những người làm cương cho người khác là
những người lãnh đạo và có quyền lực cao nhất trong xã hội và gia đình Trong cấu
Trang 16trúc này, phụ nữ nằm ở nhóm xã hội “tôi”, “con”, “vợ” là nhóm phải chịu sự giáo
dục, sự thống trị tuyệt đối của nam giới Nho giáo còn coi phụ nữ ngang hàng vớitiểu nhân, là loại bị khinh miệt, không đáng đếm xỉa Theo Khổng Tử thì “chỉ có
đàn bà và tiểu nhân là hạng khó dạy Khi ta gần thì họ nhờn, xa thì họ oán” Bên
cạnh đó, trật tự gia đình của Nho giáo được xác lập trong chế độ đối kháng giai cấp
và áp bức giới Nho giáo quy định trong gia đình có hai loại người là Sử và Sự Sử
là những người lãnh đạo còn Sự là những người chịu sự lãnh đạo Sử là những ông
chủ trong có quyền uy tuyệt đối trong đối nội và đối ngoại Đó là ông, cha, anh,
chồng còn Sự là những người thứ bậc dưới như cháu, con, em, vợ Mọi người đàn ông trong gia đình khi sinh ra thì thuộc hàng Sự nhưng đến khi lớn lên, có gia đình riêng, anh ta sẽ thuộc hàng Sử còn mọi người phụ nữ trong suốt cuộc đời mình không bao giờ thuộc hạng Sử cả Trong gia đình thì chồng là “Vua” còn vợ là “Nội
tướng” Nho giáo khuyên: chồng nhân nghĩa, vợ nhu thuận, “Nam bất ngôn nội, nữbất ngôn ngoại” (đàn ông không nói việc trong nhà, đàn bà không nói việc ngoàiđường) Theo sự phân công đó, đàn ông chủ việc bên ngoài, đàn bà chủ việc bêntrong nhưng đàn bà vẫn phải phục tùng đàn ông Bằng cách đó, phụ nữ bị hạn chếkhông được tham gia các công việc xã hội
Platon - nhà triết học Hy Lạp cổ đại quan tâm đến thân phận của người phụ
nữ trong xã hội Hy Lạp đương thời Mặc dù được coi là công dân nhưng họ chỉ cómột số quyền hạn chế về pháp luật và chính trị Họ không thể tham gia vào các côngviệc chính trị, và bị cấm sở hữu tài sản ở nhiều thành phố Nhiệm vụ chính của họ làsinh con, những người thừa kế hợp pháp của chồng Ông cho rằng phụ nữ phải cónhững cơ hội giống như nam giới được giáo dục về triết học và thống trị thành phốcông bằng Theo ông, một phụ nữ thông minh và có năng lực thì giỏi hơn một ngườiđàn ông thiếu những phẩm chất này, và sẽ là lãng phí khả năng con người nếukhông sử dụng người đó trong việc quản lý nhà nước
Hơn hai ngàn năm sau Platon, triết gia người Anh John Stuart Mill lại bênhvực cho phụ nữ Ông đã phát triển các nguyên tắc đạo đức và chính trị cơ bản đểbảo vệ sự bình đẳng của phụ nữ Mill phản đối sự đối xử bất bình đẳng với phụ nữ
Trang 17Ông đã phê phán sự đối xử với phụ nữ trong xã hội và cho rằng những sự tổ chứchiện tại làm phụ nữ ngột ngạt, gây cho cả họ và nam giới có cuộc sống kém hạnhphúc hơn là lẽ ra họ có thể có Theo ông, “sự phụ thuộc hợp pháp của một giới vàogiới khác” là vừa “tự nó không đúng và giờ đây vừa là một trong những trở lực đốivới sự phát triển con người” Ông tin rằng điều này phải được thay thế bằng “sựbình đẳng đầy đủ, không thừa nhận bất cứ quyền hay đặc quyền của một bên, màcũng không có sự thiếu tư cách pháp lý của bên kia” Phụ nữ có rất ít quyền chínhtrị, và gần như không có quyền bỏ phiếu Không có cơ hội có việc làm có tiền, họphải lấy chồng mà không được lựa chọn Lựa chọn duy nhất của phụ nữ là sự lựachọn bất đắc dĩ: hoặc ông chồng đó, hoặc không có gì Vì phụ thuộc vào nam giới,phụ nữ phải học cách chiều họ Mục tiêu chủ yếu của giáo dục và đào tạo phụ nữ làlàm sao thu hút đàn ông và giành được vị trí an toàn trong tình cảm của họ.
Tất cả những khả năng mà trong đó phụ nữ khác biệt và thấp kém hơn namgiới là do họ không được nhận sự giáo dục và kinh nghiệm giống như nam giớinhận được Dù cho Mill là người ủng hộ mạnh mẽ các quyền của phụ nữ trong xãhội, ông vẫn chưa tự giải phóng bản thân thoát khỏi những quan niệm phổ biến liênquan đến các quan hệ trong gia đình Ông không chỉ chấp nhận sự tồn tại của giađình như là nó không tránh khỏi như thế, mà còn chấp nhận vô điều kiện sự phâncông lao động tự nhiên trong gia đình Người đàn ông phải làm việc và người phụ
nữ phải ở nhà chăm sóc nhà cửa và con cái Ông tin rằng phụ nữ không nên làmviệc bên ngoài gia đình và tự nhiên thích ở nhà hơn Trong khi đó Harriet Taylor,
vợ ông cho rằng phụ nữ khó giành được sự bình đẳng thật sự trong xã hội trừ phi họ
có địa vị kinh tế độc lập
Điều quan trọng là Mill đã đề cập đến vấn đề bầu cử của phụ nữ Ông chorằng đó là quyền tự nhiên thuộc về phụ nữ cũng như nam giới trong việc có tiếngnói trong chính quyền của họ Ông viết, “Ngày nay không ai còn cho rằng phụ nữphải ở trong cảnh tôi đòi cá nhân; rằng họ không được có tư tưởng, ước mơ, hoặcnghề nghiệp, mà phải là kẻ lao dịch trong nhà cho các ông chồng, các ông bố, hoặc
Trang 18các anh em trai.” Ông nói không ai muốn quay trở lại thời kỳ mà phụ nữ không thể
“quản lý tài sản, và có những sở thích tiền tài và công việc giống kiểu của đàn ông.”
Beauvoir, nhà triết học người Pháp phản đối lập luận cho rằng, đàn bà sinh ra
đã là “đàn bà” (là phái yếu) chứ không phải trở thành như vậy qua quá trình vậnđộng của xã hội Bà dẫn ra quá trình giáo dục mà người phụ nữ nhận được từ khicòn bé cho tới khi bắt đầu trải nghiệm đời sống tình dục và ở mỗi giai đoạn bà đềuchứng minh được rằng, phụ nữ bằng sự chấp nhận vai trò bị động trước những nhucầu chủ động và chủ quan của đàn ông đã buộc phải từ bỏ đòi hỏi có tính chất vượttrội và tính chủ quan đích thực như thế nào Beauvoir cho rằng phụ nữ có khả nănglựa chọn như nam giới và vì thế có thể lựa chọn nâng cao vị thế của mình lên Bàchỉ ra rằng phụ nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình, trước hếtbằng cách cho phép mình vượt lên bằng những hướng đi tự do, tự hào về bản thânmình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hành động giống như nam giới Bà cũngđặt ra những đòi hỏi đối với xã hội trong mục tiêu hướng tới bình đẳng nam nữ Đểđạt được mục tiêu đó thì các cấu trúc xã hội như luật pháp, giáo dục, phong tục…cần phải được điều chỉnh
Với quan niệm của Rút-xô, con người sinh ra là con người tự do, ông chorằng, chính quyền phải thuộc nhân dân, đòi hỏi con người phải lao động, sự tồn tạicủa con người phải dựa trên lao động của bản thân Thiếu lao động, không thể cómột cuộc sống con người chuẩn mực được Nhưng trong thế giới bất công, hư hỏng,nhiều người đã chiếm đoạt kết quả lao động của người khác Con người thật sự tự
do là con người sống bằng lao động của mình Vì vậy, cần phải giáo dục con người
họ không phụ thuộc vào ai cả, họ sống bằng những thành quả lao động của mình,quý trọng sự tự do của mình và biết bảo vệ chúng Về giáo dục đối với phụ nữ, Rút-
xô tỏ ra có nhiều ý kiến lạc hậu Người thiếu nữ lý tưởng của Rút-xô là Xô-phi,người vợ sau này là Ê-mi-lơ Ông cho rằng nam giới và nữ giới có sứ mệnh khácnhau, nên sự giáo dục cũng khác nhau Sứ mệnh của phụ nữ là dạy con, trông nomviệc gia đình, làm sao trong nhà vui vẻ, chồng con được hưởng hạnh phúc đầy đủ.Ông viết: “Người đàn bà sinh ra để nhường nhịn người đàn ông và để chịu đựng cả
Trang 19sự bất công của người đàn ông nữa” Phụ nữ chỉ cần có sức khoẻ, để có thể chămsóc con cái Về đức dục, thì cần phải ôn hoà và phục tùng mẹ, cha, chồng Khôngcần phải có học vấn, vì học vấn không hợp với thiên chức của người phụ nữ.
“Người đàn bà nên lấy tư tưởng của chồng làm tư tưởng của mình, lấy lời lẽ củachồng làm lời lẽ của mình”[2]…
Trong thời kỳ Khai sáng ở Anh (cuối thế kỉ XVIII) đã có những tranh luận nổitiếng về quyền phụ nữ, phân tích sự bất lợi về kinh tế của phụ nữ do sự bắt buộc phảiphụ thuộc vào đàn ông và sự loại trừ họ khỏi môi trường xã hội [3] Các cuộc tranhluận diễn ra trong thời kỳ này hướng tới đấu tranh gay gắt cho việc phụ nữ có quyềntham gia vào các hoạt động kinh tế, phụ nữ phải được tạo cơ hội để có việc làm và tựchủ về kinh tế trong gia đình Bên cạnh đó, quyền bầu cử của phụ nữ cũng được đềcập đến và nó đã gây ảnh hưởng tới Quốc hội về việc cải tổ chế độ bầu cử
1.2.2 Quan niệm của Thuyết nữ quyền về tham gia chính trị của phụ nữ
Phân tích lịch sử của phong trào phụ nữ, các nhà nghiên cứu đưa ra ba xu
hướng phát triển mạnh mẽ, gắn liền với ba giai đoạn phát triển gọi là các Làn sóng
nữ quyền Làn sóng thứ nhất (the first wave of feminism) từ khoảng năm 1848 đến
1918 Làn sóng thứ hai (the second wave of feminism) từ 1918 đến 1968 và Làn
sóng thứ ba (the thirt wave of feminism) từ 1968 đến nay.
Làn sóng thứ nhất, sự đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ mới chỉdừng lại ở việc đòi quyền bầu cử và các quyền dân sự như cải cách trong giáo dục,việc làm và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ Tuy nhiên, nếu xét trong bối cảnh lịch
sử lúc bấy giờ, thì đây là một bước ngoặt lịch sử trong đời sống chính trị của giới
nữ, vì bầu cử là công cụ, là phương pháp để công dân lựa chọn người đại diện chomình, mà trên thực tế không có ai hiểu phụ nữ bằng phụ nữ, vì vậy, việc họ cóquyền bỏ phiếu đồng nghĩa với việc họ có người đại diện bảo vệ quyền lợi chomình
Ngay từ Làn sóng thứ hai, lần đầu tiên, phong trào nữ quyền đã cho ra đời
những nghiên cứu của phụ nữ với tư cách là nhà khoa học Theo bà EvaGamarnikow, ban đầu các nghiên cứu phụ nữ được coi là nhằm khôi phục lại thế
Trang 20cân bằng trong xã hội do trước đây họ bị gạt ra ngoài các lĩnh vực khoa học và bịhạn chế trong gia đình để thực hiện các chức năng sinh học Từ đó các nhà Nữquyền bắt đầu đặt dấu hỏi về lý do của sự vắng mặt phụ nữ trong cơ chế chính trị,trong các hoạt động trí thức và xã hội Những câu hỏi đó dẫn đến sự xét lại các quanniệm nam quyền và làm thay đổi nó.
Làn sóng thứ ba (the thirt wave of feminism) từ 1968 đến nay Việc phụ nữ
bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển đã kích thích tư tưởng và khả năngnghiên cứu của nhiều nhóm phụ nữ trí thức Trong hoàn cảnh khoa học còn đang làlĩnh vực độc quyền của nam giới, nhiều nhóm phụ nữ đã trình bày các quan điểmmới nhìn nhận vấn đề phụ nữ trong so sánh với nam giới trên những vấn đề vềchính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, gia đình Nhiều trường phái Nữ quyền đã dựavào các học thuyết xã hội và tìm cách đưa vấn đề phụ nữ với tư cách là một nửanhân loại, là một lực lượng xã hội quan trọng vào các học thuyết Trong làn sóngthứ 3, phong trào Nữ quyền đã phát triển toàn diện và sâu sắc trên rất nhiều ngànhkhoa học Bản thân thuyết Nữ quyền cũng được phân chia theo các chuyên ngành:
có các nhà Nữ quyền địa lý, lịch sử, khoa học tự nhiên, khoa học chính trị, tâm lý,
xã hội học… với sự mong muốn rằng tiếng nói và kinh nghiệm, trí thức của phụ nữcũng được coi trọng như nam giới
Mục tiêu của các nhà Nữ quyền là tạo điều kiện để phụ nữ có thể tham giavào các ngành khoa học Vào cuối những năm 1960 khi làn sóng thứ ba nổi lên, phụ
nữ ở Anh và Mỹ đã được cho phép vào các lĩnh vực kiến thức của nam giới Các tờtạp chí Nữ quyền thời kỳ này đều đưa ra các nguyên nhân và những cố gắng củaphụ nữ trong xã hội học tập Bên cạnh đó, hàng loạt các cuốn sách, nhiều tạp chímới, hội nghị, lớp học với rất nhiều chủ đề Nữ quyền cũng ra đời
Phong trào “Nữ quyền tự do” đòi bình đẳng về quyền và cơ hội giữa nam và
nữ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là yêu cầu phụ nữ cũng được tiếp cận bình đẳngvới giáo dục và vị trí chính trị như nam giới Phản đối quan niệm cho rằng phụ nữchỉ là người giúp đàn ông trong việc sinh nở, sức mạnh về trí tuệ của phụ nữ ít hơnnam giới, các nhà Nữ quyền tự do đã cho rằng phụ nữ cũng có khả năng trí tuệ như
Trang 21nam giới Theo họ, sự bị trị của phụ nữ nằm trong những ràng buộc về tập quán vàpháp lý (Ann Oakley, 1999) Theo luật pháp và phong tục, phụ nữ bị tước đi việchọc hành và bị giam hãm trong gia đình, những ràng buộc này ngăn cản phụ nữtham gia hoặc thành công trong những nơi được coi là thế giới công cộng Chủnghĩa nam quyền đã gạt bỏ phụ nữ ra khỏi hàn lâm viện, các diễn đàn và thươngtrường Do chính sách sai lầm này, tiềm năng đích thực của nhiều phụ nữ khôngđược bộc lộ; phụ nữ không được bình đẳng khi nam giới được coi là “trí tuệ” cònphụ nữ là “lao động chân tay”[4].
Từ bao nhiêu thế kỷ, bộ máy chính trị ở các quốc gia trên thế giới thuộcquyền của đàn ông Vai trò của người phụ nữ trong Quốc hội, theo nhiều nhà Nữquyền: chỉ mang đặc tính tượng trưng hơn là hiệu quả Sự hiện diện của họ cho mọingười có cái cảm giác đã có một sự cố gắng trong việc giữ cân đối nam nữ trongchính quyền Tại các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch ), sựgóp phần quan trọng của phụ nữ trong chính quyền được giải thích một phần bởi sự
áp dụng những quy chế ứng cử đặc biệt nhằm khuyến khích và hỗ trợ sự tham giacủa phái nữ vào chính quyền Với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 39,4%, nữ tham giaChính phủ đạt 47%, Na Uy được xem là một trong những nước bình đẳng nhất thếgiới Nhưng theo một cuộc thăm dò trong nước (năm 2000) thì sự hiện diện đôngđảo của phụ nữ Na Uy trong chính trị là kết quả của sự rút lui của nam giới ra khỏilãnh vực này Người đàn ông Na Uy đầu tư vào một lĩnh vực khác mà họ cho rằng
có nhiều lợi tức và quyền vinh hơn, đó là lãnh vực kinh tế quốc tế với những đại xínghiệp [5]
Một lý do khác giải thích sự hiện diện ít ỏi của phụ nữ trong chính trị là sự e
dè của phụ nữ Chính trị là một thế giới đầy tranh chấp, chính nét đặc thù này làmcho nhiều người phụ nữ chùn bước Ngoài ra, nhiều nhà Nữ quyền nhận xét rằngngười nữ chính trị gia, nhất là những người nắm quyền thường là nạn nhân của sựphê bình bất công, họ không những bị chỉ trích về tài năng, cá tính của họ mà nhữngkhía cạnh rất cá nhân cũng bị khai thác như cách trang phục, đời sống riêng tư…
Trang 22Tóm lại, ở nhiều quốc gia trên thế giới, sự bình đẳng về chính trị, với nhiều
lý do khác biệt vẫn còn là một vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng Tuy nhiên,đây là một đề tài được nhiều người chú ý, các giải pháp đang được khảo cứu tạinhiều quốc gia Tại Pháp vào năm 2001, điều luật Sanction économique được chấpnhận Theo quy luật này thì các đảng chính trị phải bảo đảm sự có mặt của một tỉ sốtối thiểu nữ ứng cử viên Những đảng không tôn trọng luật này sẽ bị phạt về tàichính Tại Québec, phong trào phụ nữ Collectif Fémmimis & Démocratie đang vậnđộng để đạo luật này được chấp thuận Nhiều người mong đợi sự tham gia của phụ
nữ vào bộ máy lãnh đạo quốc gia vì họ cho rằng người phụ nữ đem vào trong chínhphủ một luồng gió mới, một cách suy nghĩ uyển chuyển và những giải pháp dunghòa hơn
Điều không thể phủ nhận, phụ nữ tiềm tàng những khả năng, tài năng để đápứng những đòi hỏi của công tác lãnh đạo, quản lý Đặt vào một mặt bằng chung vềđiều kiện, môi trường, phụ nữ cũng như nam giới đều có thể tham gia hoạt độngchính trị Ngoài ra, phụ nữ còn nhạy cảm, cẩn thận, chu đáo, trách nhiệm với côngviệc, đó chính là một lợi thế của phụ nữ giúp họ tham chính có hiệu quả
1.2.3 Quan niệm và văn hóa truyền thống Việt Nam về sự tham gia chính trị của phụ nữ
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã cho thấy vai trò người phụ nữ vô cùng quantrọng Từ thời xưa, theo truyền thuyết, khi người Việt hình thành nhà nước đầu tiêncủa mình, họ đã đề cao vai trò người phụ nữ qua câu chuyện Mẹ Âu Cơ sinh ra bọctrăm trứng rồi sau đó Mẹ dẫn 50 người con lên núi sinh cơ lập nghiệp, lập nước VănLang, cai quản đất nước Kể từ đó, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc ViệtNam thường xuyên phải đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước và người phụ
nữ Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp chung ấy Mở đầu truyềnthống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai vị nữ anh hùng dân tộc: bà TrưngTrắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành lạiquyền tự chủ cho đất nước Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chứng minh khảnăng của phụ nữ: không những chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động
Trang 23viên, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng rất tài giỏi Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởinghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dântộc với câu nói hào hùng đầy khí phách: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằngsóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởiách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta"… Đặc biệt, trong thế kỷ
XX, dân tộc ta phải trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, bêncạnh hình ảnh hàng triệu nam thanh niên lên đường đánh giặc, thì cũng có hàngngàn, hàng vạn nữ thanh niên xung phong ra mặt trận hoặc trực tiếp cầm súng nhưnam giới hoặc làm nhiệm vụ tiếp tế, tải lương, tải thương, lấp phá bom mìn… ngườiphụ nữ Việt Nam đã trở thành biểu tượng cao đẹp cho ý chí, sức mạnh và cả những
hy sinh to lớn để đổi lại nền độc lập tự do cho dân tộc
Mặc dù, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có nhữngđóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nướcnhưng với một quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo thì dù muốn dùkhông những tư tưởng ấy cũng tác động đến các mặt của đời sống xã hội, trong đó
có sự tham gia chính trị của phụ nữ
Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ bị hạn chế không được tham gia các côngviệc xã hội, đặc biệt bị hạn chế trong những hoạt động chính trị và khoa học Phụ nữchỉ được học để phục vụ chồng, con và những người thân trong gia đình mà khôngđược thi thố ngoài xã hội Hiện tượng “Gà mái gáy thay gà trống”, “Gái goá lo việctriều đình” là tối kỵ Những phụ nữ là vợ vua chúa khi chồng chết trẻ, được phụ tácho con trai nhưng chỉ được phép “buông rèm chấp chính” nghĩa là ngồi ở đàng sauchiếc rèm để phán quyết việc công mà không công khai trước mặt bá quan Hiệntượng này không chỉ hàm ý khinh miệt sâu sắc nhân cách và trí tuệ của phụ nữ màcòn kìm hãm năng lực của họ trên cương vị điều hành, lãnh đạo công việc phục vụđất nước Lịch sử Việt Nam chỉ ghi lại rất ít những nhân vật nữ tài năng lãnh đạođất nước là bà Dương Vân Nga thời nhà Đinh; bà Ỷ Lan trong hai giai đoạn là vợvua và mẹ vua quản lý đất nước để chồng yên tâm đi đánh giặc, đã đề các chínhsách trị nước đúng đắn và giải phóng cho các cung nữ; nữ tướng tài ba và bất khuất
Trang 24Bùi Thị Xuân trong đội ngũ nghĩa quân Tây Sơn Những tấm gương trên đã chứng
tỏ rằng khi được có cơ hội thì phụ nữ cũng thể hiện tài năng không thua nam giới vàmặc dù bị chịu sự bất công, phân biệt nhưng sự đóng góp của phụ nữ vào công cuộcxây dựng và bảo vệ tổ quốc là vô cùng to lớn
1.2.4 Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về sự tham gia chính trị của phụ nữ
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự tham gia chính trị của phụ nữ
Các nhà kinh điển Mác- Lênin đánh giá rất cao vai trò, vị thế của phụ nữtrong xã hội, coi phụ nữ là nguồn nhân lực chủ yếu trong cách mạng xã hội Theocác ông: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của nhữngngười áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là nhữngngười bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức”[6], chính vì vậy nên họchưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng
Theo Ăngghen, phụ nữ tham gia công việc xã hội chính là điều kiện đầu tiên
để giải phóng phụ nữ Người khẳng định rõ hơn: “Người ta thấy rằng, sự giải phóngphụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có được và mãi mãi khôngthể có được; chừng nào mà người phụ nữ còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của
xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư ở gia đình”[7]
Có thể nói, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, xã hội cần phải giảiphóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc gia đình, phải làm cho phụ nữ và nam giới bìnhđẳng bằng cách lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc xã hội Những quan điểm biệnchứng ấy có được là xuất phát từ sự nghiên cứu công phu và sự chiêm nghiệm trongthực tiễn của C.Mác và Ph.Ănghen để tìm hiểu địa vị của người phụ nữ trong xã hội tưsản C.Mác đi đến kết luận: trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, phụ nữ có vai tròlớn nhưng địa vị lại thấp hèn cả trong gia đình và ngoài xã hội, họ luôn chịu cảnhbất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa Trong các công xưởng tư bản chủnghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải lao động cực nhọc, làmviệc cật lực thậm chí là trong điều kiện ốm đau
Trang 25Tình trạng trong hôn nhân gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa cũng vậy.Trong chế độ tư bản chủ nghĩa có hai loại gia đình là gia đình tư sản và gia đình vôsản, giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp không
có tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong gia đình tư sản, nơi mà ngườiđàn ông nắm giữ địa vị kinh tế thì nắm giữ luôn vị thế thống trị người đàn bà, ngườiđàn bà không có tư liệu sản xuất Với tư cách là đơn vị của tế bào xã hội, gia đìnhcũng chứa đựng tất cả mối quan hệ bất công và bất bình đẳng xã hội Ph.Ăngghenviết: “Trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người vợ đại biểu cho giai cấp vôsản”[10] Như vậy, chế độ tư bản đã làm tăng sự nô dịch từ hai phía xã hội và giađình và chất thêm gánh nặng lên cả hai vai người phụ nữ Cùng một lúc phụ nữ phảivừa tham gia lao động trong nền sản xuất xã hội và vừa phải đảm nhiệm mọi thứcông việc như nô lệ trong gia đình
Nghiên cứu lịch sử loài người, C.Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: trong xã hội
có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giai cấp và sự bấtbình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tìnhtrạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấp không có của, từ đây,trong gia đình người phụ nữ trở nên hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế, phải phục tùngtuyệt đối quyền lực của người chồng Sự bất bình đẳng nam nữ hay sự bất bình đẳng
về giới có nguồn gốc từ sự bất bình đẳng về kinh tế giữa phụ nữ và nam giới Địa vịcủa người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội luôn thấp kém hơn nam giới là bắtnguồn từ địa vị kinh tế của họ
Trên cơ sở phân tích nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của tình cảnhphụ nữ bị áp bức trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị của người phụ nữ theo hướng tiến tới sựbình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đốivới sự giải phóng phụ nữ Vấn đề là làm thế nào để giải phóng được phụ nữ khỏi sự
áp bức bất công trong cả gia đình và ngoài xã hội? C.Mác khẳng định: phải giảiphóng phụ nữ khỏi mọi sự áp bức và bất bình đẳng Điều đó chỉ có thể thực hiệnbằng cuộc cách mạng vô sản- cuộc cách mạng giải phóng cho toàn bộ nhân loại Để
Trang 26phụ nữ được giải phóng và tiến tới bình đẳng nam nữ cần phải thực hiện những điềukiện sau:
Thứ nhất, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ
công hữu nhằm xóa bỏ sự lệ thuộc về mặt kinh tế của người phụ nữ đối với namgiới Giải phóng phụ nữ ra khỏi sự bất công, áp bức, bóc lột và bất bình đẳng trongnền sản xuất xã hội Thực hiện tốt điều này sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng quan
hệ bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính là điều kiện để phát huy tiềm năng củaphụ nữ
Thứ hai, tạo điều kiện cho phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc gia đình, tạo
điều kiện và cơ hội cho họ tham gia vào nền sản xuất xã hội Xã hội cần phải giúpphụ nữ giảm bớt gánh nặng công việc gia đình bằng cách phát triển các hệ thốngdịch vụ công cộng “Điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm cho toàn bộ
nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại đòi hỏi phải làm chogia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa”[11]
Thứ ba, xóa bỏ dần các phong tục tập quán, định kiến giới và tâm lý coi
thường phụ nữ, tuyên truyền giáo dục và vận động mọi thành viên trong xã hội nhậnthức được sâu sắc và ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam nữ là góp phần thúcđẩy xã hội phát triển
Thứ tư, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, hòa thuận, tiến bộ đòi hỏi hôn nhân
phải dựa trên tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối
Theo C.Mác và Ph.Ănghen, sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thể thực hiệnđược một cách triệt để khi lao động gia đình biến thành lao động xã hội: chỉ có thểgiải phóng được người phụ nữ khi người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên mộtquy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà rất ít Nhưng chỉ với nềncông nghiệp hiện đại, là nền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữtrên quy mô lớn, mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động nữ và ngày càng có xu hướnghòa tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng, thì có thể thực hiệnđược điều nói trên [12] Tư tưởng này của Mác- Ăngghen được Lênin kế thừa và pháttriển trong điều kiện mới ở nước Nga Xô viết
Trang 27Lênin đánh giá rất cao tiềm năng, vai trò của phụ nữ trong cách mạng: “Mộtcuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu không có một phần phụ
nữ lao động tham gia rộng rãi”[13], “Không thể nào xây dựng được ngay cả chế độdân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa, nếu phụ nữ không tham gia côngtác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính trị…”[14] Lênin cũng đã xác định tráchnhiệm của Đảng, Nhà nước là phải lôi cuốn, thúc đẩy mọi phụ nữ tham gia chính trị,quản lý nhà nước Xô-viết: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho chính trị trởthành công việc mà mỗi người phụ nữ lao động đều có thể tham dự”[16]
Trong bức thư “Gửi nữ công nhân” viết năm 1920, Lênin tố cáo pháp luật tư
sản giành đặc quyền cho nam giới và đặt phụ nữ vào tình trạng không bình đẳng vớinam giới Do đó, để tiến tới giải phóng phụ nữ thì một trong những bước đầu tiênphải thực hiện là: chính quyền Xô-viết hủy bỏ tất cả pháp luật tư sản và đưa ra luậtpháp tôn trọng bình đẳng nam và nữ Nhưng Lênin cho rằng như thế chưa đủ, cầnphải tạo bình đẳng trên thực tế Lênin viết: “Bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưaphải là bình đẳng trong thực tế đời sống Muốn vậy, phải làm sao cho nữ công nhânngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào công việc quản lý các xí nghiệp công cộng,vào quản lý nhà nước”; “trong khi quản lý, phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổikịp nam giới”[17] Người cũng đề ra nhiệm vụ chủ yếu của phong trào công nhân
nữ là thu hút sự tham gia của đông đảo phụ nữ vào cuộc đấu tranh vì sự bình đẳngnam nữ Lênin yêu cầu: “Đấu tranh cho phụ nữ được quyền bình đẳng về mặt kinh
tế và xã hội, chứ không phải bình đẳng về mặt hình thức Nhiệm vụ chủ yếu là lôicuốn phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất của xã hội, giải phóng chị em ra khỏi địa
vị “nô lệ trong gia đình”, ra khỏi địa vị lệ thuộc (cái địa vị làm cho họ ngu muội đi và
hạ thấp con người họ) vào cảnh suốt đời chỉ có trông nom bếp núc và con cái” “Đó làcuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải cải tạo một cách căn bản cả nền kỹ thuật xã hội lẫntập quán xã hội”[19]
Như vậy, theo quan điểm của Lênin thì không chỉ giải phóng người phụ nữngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong chính gia đình vì chính ở đây gánhnặng công việc đang đè lên vai họ, làm cho họ không có điều kiện phát triển được
Trang 28như nam giới Muốn thực hiện điều này, theo Lênin, Nhà nước Xô-viết cần đưa rachính sách ưu tiên đối với phụ nữ: tất cả phụ nữ lao động có con nhỏ đều được dànhthời gian cho con bú vào các khoảng cách nhau không quá 3 giờ, được nhận một sốtiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờ mỗi ngày, cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm,phụ nữ được nghỉ lao động 8 tuần trước khi sinh và vẫn được hưởng lương nhưthường lệ, không phải trả tiền chữa bệnh và tiền thuốc
Mặt khác, Lênin chỉ ra rằng: phụ nữ chỉ được giải phóng, được phát triển khi
họ nhận thức được vị trí, vai trò và khả năng của mình và có ý chí phấn đấu cho sựnghiệp cao cả ấy: việc giải phóng lao động nữ phải là việc của bản thân phụ nữ Đểthực hiện sự nghiệp giải phóng, chính bản thân phụ nữ phải ra sức học tập, nâng caotrình độ, nhanh chóng đuổi kịp nam giới Chỉ có học tập với trình độ cao thì phụ nữmới thực hiện tốt vai trò và phát huy tốt khả năng của mình trong gia đình và ngoài
nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, giải phóngcon người là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc Thực hiện công cuộc giải phóngphụ nữ, tăng cường sự tham gia của người dân trong đó có phụ nữ vào quản lý nhànước, quản lý xã hội chính là để phát huy vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình
và ngoài xã hội, “… địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình
độ văn minh”[20]
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về sự tham gia chính trị của phụ nữ
Trang 29Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới sự nghiệp giải phóng phụ nữ: “Xem tronglịch sử cách mệnh, chẳng lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” và “AnNam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”[21] Trên thực tế,
tư tưởng, quan điểm của Người về giải phóng phụ nữ được thể chế hóa thành phápluật, thành cơ chế hoạt động của Nhà nước và các tổ chức quần chúng, nổi bật lênlà: giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng sức lao động của chị em, một lựclượng to lớn quan trọng, chiếm nửa xã hội loài người Giải phóng phụ nữ giải quyếtmối quan hệ giữa gia đình và xã hội Thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trên mọilĩnh vực gia đình và xã hội, tiêu diệt tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ
Hồ Chí Minh còn đặt vấn đề về phụ nữ phát huy vai trò và phát triển nănglực sáng tạo của phụ nữ, coi đó là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có sự tựvươn lên của chị em phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực
để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi côngviệc, kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó làmột cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”[22]
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác vận động phụ nữ ở nông thôn,miền núi, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ các dân tộc thiểu số, Người luôn nhắc nhởĐảng và Nhà nước phải quan tâm giáo dục, giúp đỡ chị em phụ nữ là những nạnnhân của chế độ cũ, không thành kiến hẹp hòi, giúp họ tiến bộ Việc giáo dục nhậnthức mới của xã hội về phụ nữ phải đặt thành một nhiệm vụ và nội dung quan trọngcủa cách mạng văn hóa tư tưởng, của chiến lược đào tạo con người mới, lối sốngmới Đối với phụ nữ phải đặc biệt lưu ý từ trong gia đình tới xã hội, trong cơ quanđoàn thể với các chuẩn mực dân chủ, tôn trọng, tin cậy, giúp đỡ thiết thực, chốngchủ nghĩa hình thức và cả chủ nghĩa thành tích, làm cho phụ nữ thực sự trưởngthành, tự khẳng định mình
Xác định vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng xã hộichủ nghĩa, Hồ Chí Minh rất quan tâm, theo dõi hoạt động của phụ nữ và Người rấtphấn khởi với những thành tích mà phụ nữ đạt được Người động viên, khen ngợi:
“Thời kỳ bí mật, nhiều chị em đã giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng rất dũng
Trang 30cảm, mặc dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ Rất nhiều… chị em phụ nữ các dântộc thiểu số không những vượt gian nguy mà còn gạt cả mê tín để bảo vệ cách mạng
và cán bộ hoạt động cách mạng… Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta đã cónhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta có rất nhiều tiếnbộ”[23]
Tin tưởng vào khả năng to lớn của phụ nữ, hiểu và thông cảm, động viên,khuyến khích kịp thời, Người còn nhận thấy cán bộ nữ có nhiều ưu điểm: “ít mắc tệtham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán bộnam”[24] Những ưu điểm này xuất phát từ đặc điểm tâm lý, đức tính tốt đẹp củaphụ nữ là cẩn thận, chu đáo, tiết kiệm trong tiêu dùng, gần gũi và hòa mình vớiphong trào quần chúng
Hồ Chí Minh đã xác định đối với gia đình và xã hội, phụ nữ là một lực lượng
to lớn, giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng tổ quốc Hồ ChíMinh đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ nữ Khi bàn đến công tác của cán bộ nữhoặc lúc đi thăm cơ sở, Người luôn quan tâm đến số lượng, tỷ lệ đại biểu nữ và âncần mời chị em lên hàng ghế đầu, động viên chị em phát biểu ý kiến Thấy cán bộ
nữ trưởng thành người động viên khuyến khích kịp thời Ở địa phương nào, ngànhnào chưa quan tâm chú ý đến chị em phụ nữ, có những tư tưởng hẹp hòi với phụ nữ,không đánh giá đúng khả năng của phụ nữ, Người đã phê phán kịp thời Người nói:
“Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót Các đồng chí phụ trách lớp học chưa quantâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ Đây cũng là thiếu sót chung ở trong Đảng.Nhiều người còn không đánh giá đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹphòi Như vậy là rất sai”[25]
Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ vị trí quan trọng của người phụ nữtrong xã hội Ngay từ năm 1930, khi mới ra đời, Đảng đã đề cao tư tưởng “nam nữbình quyền” và coi việc thực hiện tư tưởng đó là một trong những nhiệm vụ cốt yếucủa cách mạng Việt Nam Đảng nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giảiphóng dân tộc và giải phóng giai cấp; mục tiêu ấy được thể chế hoá trong đường lối
và mục tiêu chiến lược của Đảng cũng như Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước
Trang 31Tại điều 9 của Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1946 khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” Hiến pháp
1959 đã cụ thể hoá thêm một bước, theo đó “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, xãhội, văn hoá và gia đình” (điều 14) Hiến pháp năm 1992, điều 63 nhấn mạnh rõ hơnrằng phụ nữ có quyền bình đẳng và quyền đó được pháp luật công nhận và bảo vệ:
“Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội,văn hoá và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúcphạm nhân phẩm phụ nữ” Sự tôn trọng quyền bình đẳng đó đã được cụ thể hoáthông qua các điều luật liên quan đến phụ nữ như: Luật hôn nhân và gia đình, Luậtlao động, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình
Vị trí và vai trò của phụ nữ được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sựphát triển kinh tế- xã hội của đất nước Đảng ta, một mặt đánh giá cao khả năng và
sự cần thiết tham gia của phụ nữ, coi đó không chỉ là yếu tố quan trọng đảm bảo sựthành công của cách mạng, sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, mà đó còn làđiều kiện để phụ nữ cải thiện được vị thế xã hội của mình Đảng ta luôn coi trọngxây dựng đội ngũ cán bộ nữ, là nhiệm vụ có tính chiến lược trong công tác cán bộ.Trong nhiều hoạt động thực tế và trong các văn bản của Đảng được ban hành đã thểhiện rõ việc phát huy, nâng cao vai trò địa vị của người phụ nữ trong xã hội Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) đã khẳng định: phụ nữ nước ta làmột lực lượng quan trọng trong cách mạng và trong sản xuất, do đó, toàn Đảng vàtoàn dân phải có trách nhiệm lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Nghị quyết
số 152, 153 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã nhấn mạnh đến một
số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận và công tác cán bộ nữ… Qua đó chothấy, vai trò, vị thế của phụ nữ, đặc biệt là vai trò của cán bộ nữ trong xây dựng vàphát triển đất nước ngày càng được củng cố, tăng cường và phát triển
Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 07-06-1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềmột số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ đã khẳng định công lao đóng gópcủa phụ nữ trong ba cuộc cách mạng, sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ đã
Trang 32đánh dấu bước tiến quan trọng của việc thực hiện nam nữ bình đẳng và đề ra mộtphương hướng cho công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ nữ.Trong đó, Đảng chú trọng đổi mới quan điểm và nhận thức đối với vấn đề cán bộnữ:
- Tăng cường cán bộ nữ không phải chỉ để làm công tác vận động phụ nữ màchính là để phát huy khả năng trí tuệ của chị em đóng góp vào sự lãnh đạo toàn diệncủa Đảng và công việc quản lý của Nhà nước
- Tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản
lý kinh tế, quản lý nhà nước là một nội dung quan trọng để phát huy quyền làm chủtập thể của nhân dân lao động, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, tăngcường Nhà nước chuyên chính vô sản
- Công tác cán bộ nữ phải đặt trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạchcán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước; điều cần hết sức chú ý là sau khi đề bạtphải tiếp tục bồi dưỡng, tạo điều kiện giúp chị em hoàn thành nhiệm vụ
- Trong Chỉ thị này, Đảng còn chỉ ra những hạn chế như: tỷ lệ cán bộ nữtham gia lãnh đạo quản lý có xu hướng giảm, nhất là trong các cơ quan quản lý kinh
tế, quản lý nhà nước Phần lớn cán bộ nữ hiện đang giữ các cương vị chủ chốt trongcác cơ quan trung ương và tỉnh, thành đều đã lớn tuổi nhưng số cán bộ nữ trẻ kế cậncòn ít…, tỷ lệ nữ đảng viên ở một số nơi giảm, một số xã miền núi hoặc các tỉnhphía nam chưa có đảng viên nữ Để tăng cường vai trò cán bộ nữ trong thời gian tới,Chỉ thị nêu rõ, vấn đề cán bộ nữ cần phải được đặt trong việc xây dựng và thực hiệnquy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước ta
Nghị quyết số 176a/HĐBT, ngày 24-12-1984, của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) cũng có quan điểm “phát huy vai trò của nữ trong quản lý kinh tế,quản lý xã hội” Đặc biệt, nghị quyết này đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể, ví dụ: Hộiđồng nhân dân các cấp phải có ít nhất 1/3 đại biểu là nữ
Đại hội Đảng lần VI (12-1986) đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong
sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Vì vậy, phải xem giải phóng phụ
nữ là mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây
Trang 33dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[26]; đồng thời xác định mục tiêu giải phóng phụ
nữ là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị em phụ nữ, nâng cao
vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng, xây dựng gia đình no ấm,tiến bộ, hạnh phúc
Nghị quyết số 04/NQ-TW, ngày 12-7-1993, của Bộ Chính trị về đổi mới vàtăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, đã khẳng định quan tâmđến phụ nữ là quan tâm đến giải quyết việc làm, chăm lo đời sống, sức khỏe và bảo
hộ lao động, cùng với việc giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho phụ nữ, làxây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Tiếp tục khẳng định vaitrò, vị trí của phụ nữ trong giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của thời kỳ mới,Đảng ta đặt vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lượctrong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước
Nghị quyết cũng chỉ ra rằng: Trong khó khăn của đất nước, phụ nữ đang phảigánh chịu hậu quả nặng nề Một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủviệc làm, thu nhập thấp Nhiều chị em còn phải làm việc trong các điều kiện nặngnhọc, độc hại… Phụ nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức… là nạn nhâncủa nhiều tệ nạn xã hội đang có chiều hướng phát triển như: mại dâm, nghiện hút,
cờ bạc, mê tín dị đoan; những khó khăn trên đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triểncủa phụ nữ, của thế hệ tương lai
Chỉ thị số 37/CT-TW, ngày 16-5-1994, của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềmột số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, đã đánh giá việc thực hiệnChỉ thị 44, đồng thời nêu lên một số nhiệm vụ nhằm đẩy mạnh công tác phát triểncán bộ nữ trong tình hình tỷ lệ cán bộ nữ đang giảm Chỉ thị nhấn mạnh vấn đề quyhoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ có thể làm việc, phát triển tàinăng và đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên nữ Chỉ thị nêu rõ, “Việc nâng cao
tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế- xã hội là yêu cầu quantrọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để pháthuy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ Chống những biểu hiệnlệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ” Có
Trang 34thể nói, Chỉ thị 37/CT-TW đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về công táccán bộ nữ, là căn cứ để các cấp, các ngành thực hiện công tác cán bộ nữ, tạo điềukiện để cán bộ nữ ngày càng tiến bộ.
Đánh giá công tác cán bộ nữ thời kỳ đổi mới, Hội nghị toàn quốc tổng kết 10
năm thực hiện Chỉ thị 37, đã nghiêm túc kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện Chỉ
thị 37, đồng thời đã thảo luận, xây dựng thống nhất các nội dung mục tiêu của côngtác cán bộ nữ trong thời gian tới Cũng trong Hội nghị này, đồng chí Phan Diễn, Ủyviên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương đã nêu rõ: “Cần nhận thức
rõ việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động trong đời sống
xã hội, đặc biệt là vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý là một tiêu chí quan trọng vềthực hiện bình đẳng nam nữ, một tiêu chí của xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ,văn minh, là nhu cầu của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi của lợi ích công việc, chị
em phụ nữ hoàn toàn có khả năng vươn lên đảm nhận những trách nhiệm lãnh đạotrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” Đồng chí kết luận: “Sau Hội nghị tổng kếtnày, ban chỉ đạo tổng kết Chỉ thị 37/CT-TW phối hợp với các cơ quan, ban ngànhliên quan chuẩn bị đề án trình Bộ Chính trị ra nghị quyết về “Tăng cường sự lãnhđạo của Đảng trong công tác vận động phụ nữ và cán bộ nữ thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước”
Xuyên suốt từ Đại hội I đến nay, Đảng ta đã đề cập đến nhiệm vụ xây dựng
và thực hiện chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Đặc biệt, nghịquyết Đại hội IX của Đảng (2001) đã xác định rõ hơn về cơ chế, chính sách để tăngcường sự tham gia của phụ nữ vào bộ máy quản lý, lãnh đạo “có cơ chế, chính sách
để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp,các ngành”
Những năm gần đây, Đảng đã ban hành một số chính sách về lương, tuổinghỉ hưu, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển… thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảngđối với cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý và cán bộ nữ nói chung: Quy định 51, ngày 3-5-
1999, về tuổi bổ nhiệm: “Cán bộ các cơ quan Trung ương, tuổi bổ nhiệm lần đầukhông quá 50 tuổi đối với nữ” và “Cán bộ các cơ quan huyện, quận và tương
Trang 35đương, tuổi bổ nhiệm lần đầu nói chung không quá 45 tuổi đối với cả nam va nữ”;Chỉ thị 46, ngày 6-12-2004, của Bộ Chính trị quy định tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy viêncác cấp không dưới 15% và về tuổi tham gia cán bộ chủ chốt nữ (Bí thư, Phó bí thư)
ở cấp tỉnh và trung ương thực hiện như nam giới Hướng dẫn số 07/HĐ-TC của Ban
Tổ chức trung ương về công tác nhân sự Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999
- 2004: “Về nhân sự đại biểu Hội đồng nhân dân là nữ tăng khoảng 10% so với hiệnnay và đạt ít nhất không dưới 20%, ở các thành phố, tỷ lệ này không dưới 25%”…
Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thể hiện sự quan tâmlãnh đạo của Ðảng với công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Nghịquyết xác định những mục tiêu quan trọng về công tác phụ nữ nói chung, trong đó
có công tác phụ nữ: Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ,thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là mộttrong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời
kỳ mới “Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huyđược tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất củacác tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để pháttriển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy
đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vaitrò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từnggia đình Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp vàchủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt
là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam” [27]
Nhìn chung, các quan điểm đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về vấn đề phụ nữ nói chung, phụ nữ làm lãnh đạo nói riêng, đã tạo nên một hànhlang pháp lý cho việc thực hiện bình đẳng giới Phong trào giải phóng phụ nữ ở ViệtNam đã có những xuất phát điểm rất tốt, căn bản và thuận lợi Thông qua đó, vị thế,
Trang 36vai trò tham chính của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị không ngừng được cảithiện và nâng cao Sự quan tâm của Đảng về công tác cán bộ nữ được thể hiện rõtrong Báo cáo chính trị Đại hội IX: “Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhấtlãnh đạo công tác cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và ngườiđứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”[28] và “Thựchiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp,nâng cao học vấn, có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vàocác cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xâydựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”[29] Quan điểm này tiếp tụcđược khẳng định trong Đại hội X: “Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt vàđời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thựchiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên củacon người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạtđộng xã hội, các cơ quan lãnh đạo, quản lý ở các cấp”[30]
Như vậy, quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ sát thực tế nên đãnhanh chóng đi vào cuộc sống, khơi dậy truyền thống và bản chất tốt đẹp của ngườiphụ nữ Việt Nam khắc phục khó khăn, vươn lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp đổi mới
Trang 37CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAM GIA CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ CÁC
TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY
2.1 Bối cảnh xã hội Tây Nguyên và những đặc điểm của phụ nữ các tộc người thiểu số ảnh hưởng đến việc tham gia chính trị
2.1.1 Bối cảnh xã hội Tây Nguyên
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên: Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 54.474
km2 (chiếm 16,3% diện tích cả nước), được giới hạn từ 107002 đến 109005 kinh độđông và từ 11013 đến 15015 vĩ độ bắc Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh, phân bố lần lượt
kể từ bắc vào nam là Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Với vịtrí nằm trung tâm miền núi nam Đông Dương, địa thế hiểm yếu, có những hành lang
tự nhiên thông với Nam Lào, Đông bắc Campuchia và duyên hải Nam trung bộ nênTây Nguyên giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh vàmôi trường sinh thái
Đến tháng 4/2009, Tây Nguyên hiện có 61 đơn vị cấp huyện, 702 đơn vị cấp
xã, 6.899 thôn, buôn, làng, tổ dân phố (có 2.497 buôn, làng đồng bào các tộc ngườithiểu số) với hơn 5,11 triệu dân, trong đó các tộc người thiểu số hơn 1,8 triệungười[31] Tây Nguyên là khu vực đa dạng nhất về các thành phần dân tộc, toànvùng hiện có 46 dân tộc anh em sinh sống, chiếm gần 35% tổng dân số
Tây Nguyên có 3 dạng địa hình chính: núi, cao nguyên, thung lũng Rừngnhiệt đới phát triển mạnh, tuy đã bị thu hẹp rất nhiều bởi nạn phá rừng nhưng vẫncòn đáng kể và là một thế mạnh quan trọng về kinh tế Đất đai địa hình, khí hậu TâyNguyên đa dạng, độ cao trung bình của toàn vùng so với mặt nước biển từ 400-1.000m Khí hậu Tây Nguyên gồm nhiều tiểu vùng nhưng phổ biến là khí hậu nhiệtđới gió mùa cao nguyên, chia thành hai mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 11 năm trướcđến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu ẩm và dịu mát, rấtthuận lợi cho các loại cây trồng phát triển Tuy nhiên, những năm gần đây thời tiết
Trang 38diễn biến thất thường, mùa mưa kết thúc sớm hơn, lượng mưa giảm nên thườngxuyên xảy ra khô hạn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Về kinh tế: kinh tế Tây Nguyên hiện nay vẫn là nền kinh tế nông nghiệp,
trong đó nổi bật với một số cây trồng mang tính chủ lực như: cao su, cà phê, hồ tiêu,điều, ngô, sắn, v.v Kể từ khi có Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về pháttriển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên giai đoạn2001-2010 và Quyết định số 168/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việcđịnh hướng dài hạn việc phát triển kinh tế- xã hội vùng Tây Nguyên thì việc đầu tưxây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội, giải quyết đất đai và các nhu cầu thiết yếu phục vụsản xuất và đời sống đối với đồng bào vùng Tây Nguyên được quan tâm hơn, bướcđầu tạo sự chuyển biến rõ nét Các xã đặc biệt khó khăn từng bước đáp ứng vềđường giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế (có 98,6% số xã đã cóđường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã có điện lưới quốc gia, có trạm y tế, có mạnglưới y tế cộng đồng, có trường tiểu học Với Chương trình 135 và một số chươngtrình lồng ghép khác, Chính phủ đã đầu tư vào các xã và hàng trăm thôn, buôn, làngđặc biệt khó khăn, bình quân 2,5 tỷ đồng/xã/năm để giúp các phát triển về giaothông nông thôn, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm xá…) Tốc độphát triển kinh tế khu vực Tây Nguyên trung bình năm 2010 gần 13%, cao hơn mứctrung bình của cả nước; thu nhập bình quân đầu người 15 triệu đồng/năm NgànhNông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấunông nghiệp và cùng với các chính sách khuyến nông, khuyến lâm đã tạo điều kiệncho đồng bào các tộc người thiểu số áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhiều
hộ đã tự túc được lương thực, phát triển chăn nuôi, trồng cây công nghiệp theohướng sản xuất hàng hóa, thu nhập ngày càng tăng, nhiều hộ sắm được tư liệu sảnxuất như máy cày, máy bơm nước, máy xay xát và đồ dùng sinh hoạt đắt tiền như ô
tô, xe máy, ti vi…
Tuy có nhiều chuyển biến nhưng hiện nay Tây Nguyên vẫn là một trongnhững khu vực kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thiếu bền vững.Công nghiệp vừa đơn điệu vừa phân tán, kỹ thuật lạc hậu; sự tác động của công
Trang 39nghiệp đối với nông nghiệp và nền kinh tế còn ít ỏi Thương mại, dịch vụ chủ yếutheo kiểu truyền thống hoạt động nhỏ, lẻ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệpvới nông nghiệp một cách thống nhất Nông nghiệp tập trung phần lớn vào trồngtrọt, nhưng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp còn chậm Những năm gầnđây do tác động của cơ chế thị trường nên có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng tựphát, phá vỡ quy hoạch chung Nhiều nơi đổ xô đi mua đất, phá rừng trồng cao su,
cà phê làm cho rừng bị tàn phá, khai thác cạn kiệt nguồn nước ngầm Kinh tế pháttriển chủ yếu ở vùng đô thị, gần đường giao thông còn ở vùng sâu, vùng xa, vùngtập trung các tộc người thiểu số còn lạc hậu Ở những vùng này sản xuất nôngnghiệp nương rẫy, tự túc, tự cấp, hái lượm phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nênnăng suất, hiệu quả thấp Sự tác động của công nghiệp vào nông nghiệp, nông thônđối với vùng sâu, vùng xa còn ít và mờ nhạt; ngoài ra vẫn còn một bộ phận tộcngười thiểu số định cư nhưng du canh; toàn vùng hiện nay có 350.739 hộ nghèo,trong đó các tộc người thiểu số chiếm trên 80%[32]
Về văn hóa - xã hội: Lịch sử cư trú, cư dân Tây Nguyên có thể chia thành 2
lớp người khác nhau: những người cư trú sau và những người sinh sống lâu được gọi là các tộc người “bản địa” Thuộc vào loại thứ nhất có người Kinh, thêmvào đó là một bộ phận đồng bào các tộc người từ miền bắc di cư vào như: ngườiTày, Thái, Mường, Nùng, Dao, H’mông, Người Kinh bắt đầu lên Tây Nguyên vàokhoảng cuối thế kỷ XVIII, đến nửa đầu thế kỷ XX, các tộc người thiểu số vẫn là cưdân chiếm đa số, người Kinh rất ít chỉ có khoảng 5% Trong cuộc chiến tranh chốngMỹ- Ngụy ở miền Nam, dân số người Kinh ở vùng Tây Nguyên tiếp tục gia tăng,nhanh và nhiều hơn trước Rồi cùng với quá trình mở mang đô thị, phát triển giaothông, ngày càng có nhiều người Kinh lên Tây Nguyên làm ăn, thấy đất đai trù phú,màu mỡ nên nhiều người đã sinh cơ lập nghiệp và trở thành cư dân của vùng đấtnày Hiện tại, người Kinh chiếm đa số ở Tây Nguyên (khoảng 65%), họ cư trú rộngkhắp nhưng tập trung đông nhất ở các khu vực thuận lợi, các thành phố, thị xã vàven các trục đường giao thông lớn Cùng với người Kinh còn có một số tộc ngườithiểu số từ miền Bắc vào, phần đông họ mới chuyển cư trong khoảng 30- 40 năm
Trang 40đời-nay, đặc biệt là khi chiến tranh biên giới Việt- Trung bùng nổ, trong đó người Nùng,người Tày là đông hơn cả và tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Đăk Lăk, Lâm Đồng.
Những người được coi là bản địa ở Tây Nguyên có khoảng 13 tộc người,trong đó một số tộc người lớn như: Bana, Xêđăng, Giẻ- Triêng, J’rai, Êđê, M’nông,
Mạ, K’hor, Churu, v.v được chia thành 2 nhóm ngôn ngữ: Môn- Khme và Pôlinêxia Sau năm 1975, với chủ trương của Đảng và Nhà nước là tổ chức di dân đixây dựng vùng kinh tế mới, đến nay ở Tây Nguyên có khoảng 46 dân tộc anh emcùng làm ăn sinh sống Họ sống chan hoà, đan xen, đoàn kết, các tộc người thiểu sốTây Nguyên đã có sự giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau về phong tục tập quán, sản xuất
Malayô-và sinh hoạt văn hóa Với kết cấu tổ chức xã hội cổ truyền, các tộc người TâyNguyên sống gắn bó với buôn, làng (Plei) một cách chặt chẽ và ổn định Có thể coivăn hóa của các tộc người thiểu số là văn hóa làng, mặc dù đã từ lâu các buôn, làngTây Nguyên được tích hợp vào tổ chức- quản lý chung thống nhất, trở thành đơn vịhành chính cấp cơ sở, hoặc đơn vị kinh tế- sản xuất nhưng nếp sống buôn, làng tiếptục tồn tại Cách cư trú trong làng cũng là một điểm đáng chú ý, các ngôi nhà baogiờ cũng tập trung, rất gần nhau, có khi san sát nhau thuận tiện cho những sinh hoạtchung của cộng đồng, đảm bảo cho mỗi thành viên thường xuyên có mối liên hệ vớicộng đồng và tạo nên sự gắn bó của các tộc người Tây Nguyên với làng, bằng lòngvới cuộc sống ở làng, ngại đi xa làng Đồng thời, tạo nên ý thức cộng đồng rất đậmnét trong tâm thức của người Tây Nguyên[33]
Các tộc người thiểu số rất coi trọng “Già làng” của mình- vị thủ lĩnh công xãxưa Đối với các tộc người thiểu số, bất kể tộc nào, già làng vẫn cần thiết, vẫn có uytín và ảnh hưởng riêng biệt Mặc dù không còn nguyên vị thế của mình nhưng cácgià làng vẫn tiếp tục là chỗ dựa tinh thần tin cậy của mỗi cộng đồng dân cư, đượcmọi thành viên khác nể vì, nghe và làm theo Họ là những người “cầm cân nảymực” trong việc bảo vệ phong tục tập quán và gìn giữ luật tục của cha ông (ở nhiềunơi, luật tục vẫn còn đóng vai trò điều chỉnh hành vi một cách hữu hiệu và được cáctộc người dùng làm cơ sở xét xử theo lề lối tự quản của buôn, làng) Khoa học, kỹthuật đã và đang dần dần thâm nhập vào Tây Nguyên, miền đất này đã hình thành