Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX,Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX để đềra chủ trương và giải pháp căn bản trong xâ
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Chính trị là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp nhưng luôn có vai trò quantrọng trong đời sống xã hội được tổ chức thành nhà nước Từ xưa đến nay vàcho đến khi xã hội vẫn còn giai cấp, Nhà nước thì chính trị vẫn là chủ đề cầnđược đặc biệt quan tâm từ phương diện thực tiễn lẫn phương diện lý luận.Những thành quả mà khoa học chính trị cũng như chính trị thực tiễn đạt được
là đáng trân trọng nhưng cũng chưa bao giờ được xem là đầy đủ và hoànthiện Vì thế, đối với nhân loại, với mọi quốc gia, mọi người, mọi giới, chínhtrị vẫn đang và sẽ được nghiên cứu, giải quyết từ nhiều chiều khía cạnh, cấp
độ khác nhau
Ở Việt Nam, trong hệ thống hành chính 4 cấp, cơ sở là cấp hành chínhcuối cùng, nơi đón nhận và trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đườnglối của Đảng, Nhà nước Chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chínhtrị (HTCT) ở cơ sở luôn là một mắt khâu có ý nghĩa quan trọng, góp phầnthực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủnghĩa Vì thế, xây dựng và hoàn thiện HTCT nói chung và HTCT ở cấp cơ sởnói riêng là đòi hỏi khách quan của chính sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội; là một trong những điều kiện để đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ trong đổi mới và qua đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dần nhậnthức rõ hơn, có nhiều giải pháp để vừa đổi mới, từng bước xây dựng và hoànthiện thể chế chính trị dân chủ XHCN, vừa có những quyết sách cụ thể đểhướng về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sángkiến và tính chủ động từ cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X(9/2006) đặc biệt coi trọng đổi mới HTCT ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn(xã, thị trấn) Đây, cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mớiHTCT Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thốngchính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới HTCT cấp cơ sở và sự đổi mới
Trang 2hệ thống chính trị cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nóichung Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX,Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX để đề
ra chủ trương và giải pháp căn bản trong xây dựng và củng cố HTCT ở cơ sởnhằm đảm bảo phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, củng cốmối quan hệ máu thịt giữa Đảng - chính quyền và nhân dân trực tiếp từ cơ sở.Nhờ đó, trên tổng thể, hệ thống thể chế, luật pháp tiếp tục được đổi mới vàtừng bước hoàn thiện; chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quantrong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn vàbảo đảm ngày càng tốt hơn các yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới,các tổ chức đoàn thể quần chúng đã được củng cố và có những chuyển biếnnhất định trong hoạt động tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân tham giavào công cuộc xây dựng HTCT, xây dựng, quản lý đời sống cộng đồng Tuy vậy, ở làng, xã - nền móng của xã hội Việt Nam vẫn chuyển mìnhkhá chậm chạp so với yêu cầu của quá trình hội nhập đang đặt ra Trong đó,đáng tiếc là cấp cơ sở - nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ chủ chốt, có chức,
có quyền rơi vào quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, ức hiếp nhân dân,thậm chí có nơi còn đặt ra những quy định gây phiền hà, tạo kẽ hở cho sựsách nhiễu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, dẫn đến những phản ứnggay gắt của người dân, tạo thành điểm nóng chính trị - xã hội Điển hình gầnđây là những vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng) và Văn Giang (Bắc Giang) Đối với Thành phố Đà Nẵng, trong những năm qua, nhất là từ sau khitriển khai Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) đến nay, HTCT ở cơ sở đãtừng bước củng cố, kiện toàn; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tạođộng lực và góp phần tạo nên những thành quả đáng kể về phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội…Đà Nẵng đã và đang thể hiện sức sống của một thành phốtrẻ, năng động, sáng tạo, xứng đáng với vai trò là thành phố động lực của khuvực Miền Trung Tây Nguyên nơi tạo dựng nhiều ấn tượng mang tính
Trang 3“thương hiệu” Tuy nhiên, nếu xem xét từ nền móng của cấu trúc xã hội, ĐàNẵng cũng như nhiều vùng, nhiều địa phương trong cả nước, HTCT ở cơ sởhiện vẫn còn những mặt yếu kém, bất cập.
Trước mục tiêu và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, để Thành phố Đà Nẵng tiếp tục phát triển trở thành một đô thị vănminh, hiện đại, việc tiếp tục đổi mới HTCT ở cơ sở nói riêng, thực hiện dânchủ ở cấp cơ sở nói chung vẫn là đòi hỏi bức xúc, cũng là nhiệm vụ lâu dài
Nhận thức được yêu cầu bức thiết và cơ bản trên, dưới góc độ Chính trị
học tác giả chọn đề tài: “Hệ thống chính trị ở cơ sở Thành phố Đà Nẵng hiện nay - thực trạng và giải pháp” làm luận văn cao học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đổi mới và sáng tạo là nét nổi bật trong tư duy của Đảng Cộng sản ViệtNam thời kỳ vừa qua Điều đó có nguồn gốc từ sự hối thúc của thực tiễnnhưng cũng không thể phủ nhận tầm quan trọng của hoạt động lý luận Chính
từ yêu cầu của sự tồn tại và phát triển đất nước trong cơn biến động dữ dộicủa CNXH thế giới những thập niên cuối thế kỷ XX; từ thực trạng tình hìnhkhó khăn, phức tạp của đất nước, khi nhận ra những bất cập, sai lầm, Đảng ta
đã khởi xướng đường lối đổi mới Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu lýluận liên quan đến lĩnh vực chính trị và HTCT là một hướng ưu tiên và trênthực tế đã thu được nhiều thành quả đáng trân trọng, trong đó có thể kể đếnnhững hướng, những nội dung sau:
- Khẳng định lại những giá trị, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn gốc và bản chất của đời sốngchính trị - vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, nhà nước và các vấn đề liênquan đến Nhà nước; góp phần làm rõ mối quan hệ giữa chuyên chính và dânchủ trong thể chế nhà nước nói chung và trong thể chế chính trị ở các nướcTBCN cũng như ở các nước XHCN nói riêng Trong đó có một số công trình
bàì viết tiêu biểu như: “Từ học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin đến đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay” của tác giả Phạm Ngọc
Trang 4Quang, Tạp chí Triết học, số 2-1993; “Dân chủ - di sản văn hoá Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Khắc Mai, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1997; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, tác giả Nguyễn Đình Lộc,
Nxb CTQG, Hà Nội, 1998
- Nghiên cứu dưới góc độ chính trị so sánh để chỉ ra những ưu, nhượcđỉểm của các loại hình thể chế chính trị, các mô hình phát triển trên thế giới,qua đó góp phần chỉ ra bản chất, đặc trưng và xu hướng vận động, biến đổi
của thế giới đương đại có các công trình: “ Dân chủ tư sản và dân chủ XHCN” của tác giả Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo Nxb ST, Hà Nội, 1991;
“Chính trị của CNTB- hiện tại và tương lai”, tác giả Nguyễn Đăng Thành, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002; “Góp phần nhận thức thế giới đương đại” của GS
Nguyễn Đức Bình - GS, TS Lê Hữu Nghĩa - GS,TS Trần Hữu Tiến, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2003; “Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay”, GS Hồ Văn Thông, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998; “Hệ thống XHCN - Chính trị kinh tế học phê phán Tổng quan kinh tế XHCN”, tác giả: Kornaijanos, Nxb VHTT, Hà Nội, 2002 (sách tham khảo); “Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động)” GS,TS Nguyễn Văn
Huyên, Nxb LLCT, Hà Nội, 2007
- Tổng kết thực tiễn trên từng lĩnh vực đến tổng thể công cuộc đổi mớiqua các thời kỳ trong đó hàng loạt đề tài khoa học từ cấp cơ sở đến cấp bộ,cấp Nhà nước về HTCT nói chung và các thành tố cấu thành nói riêng (từ mọicấp độ tồn tại của nó) ở Việt Nam có: Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước
giai đoạn 1991- 1995 mang mã số KX.05 về “Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta” với các đề tài: “Cơ chế thực hiện dân chủ trong HTCT ở nước ta hiện nay”, mã số KX.05.05; “Đặc điểm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong HTCT”, mã số KX.05.06; Ba công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã công bố dưới dạng sách chuyên khảo: “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay”; “Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”; “Thể chế dân chủ và phát triển
Trang 5nông thôn Việt Nam hiện nay” do Nxb CTQG, Hà Nội, lần lượt xuất bản năm
2001, 2003, 2005 được tập thể các nhà khoa học của Học viện Chính trị quốc giaHồ Chí Minh thực hiện (TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông đồng chủbiên) là những công trình khoa học đi sâu nghiên cứu về đời sống cộng đồnglàng xã Việt Nam truyền thống và hiện tại, vấn đề xây dựng chính quyền cấp xã,đưa ra những căn cứ lý luận và thực tế cho việc xây dựng và từng bước hoànthiện HTCT, thể chế dân chủ ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
- Nghiên cứu HTCT theo cấp độ vùng, khu vực địa lý của nước ta, trongnhững năm qua có các công trình của: PGS, TS Tô Huy Rứa - PGS, TS
Nguyễn Cúc - PGS, TS Trần Khắc Việt: “Giải pháp đổi mới hoạt động của HTCT các tỉnh miền núi nước ta hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003; PGS,
TS Phạm Hảo - PGS, TS Trương Minh Dục: “Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003; GS, TS Hoàng Chí Bảo: “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004; PGS, TS Hồ Tấn Sáng: “Hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên- thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng Sản, số 780 (10/2007).
Từ những kết quả đó, đa phần đều đi đến khẳng định về tính tất yếu vàyêu cầu thường xuyên của việc đổi mới HTCT, phát huy dân chủ, xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN gắn với với việc xây dựng, phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Ở tầm mức địa phương, hàng năm các cấp có thẩm quyền ở Đà Nẵngđều trực tiếp hay gián tiếp đề cập nhiều nội dung có liên quan trong các báocáo tổng kết quá trình xây dựng và phát triển của Thành phố, đặc biệt trong Vănkiện Đại hội đại biểu các nhiệm kỳ của Đảng bộ Thành phố đã có những đánh giákhá toàn diện về thành tựu và bất cập của HTCT các cấp trên địa bàn Thành phố
từ khi Đà Nẵng trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương đến nay
Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết đề cập
đến các khía cạnh có liên quan như: đề tài “Nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển kinh tế ở đảng bộ thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”, đề tài khoa học
Trang 6cấp thành phố năm 2006 do PGS, TS Phạm Hảo làm chủ nhiệm; đề tài:“Đảng đổi mới lãnh đạo kinh tế, thành tựu và những vấn đề đặt ra”, đề tài
khoa học cấp thành phố năm 2008 do Hà Đức Hoài, Ủy ban Kiểm tra Thành
ủy Đà Nẵng làm chủ nhiệm; bài viết “Khi Quy chế dân chủ đi vào cuộc sống”
xuyên Đề tài: “Hệ thống chính trị ở cơ sở thành phố Đà Nẵng - thực trạng và giải pháp” là một trong những hướng triển khai theo tinh thần đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp góp phần tiếp tục xâydựng và hoàn thiện HTCT cơ sở ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề có tính lý luận và phương pháp luận làm cơ
sở để nghiên cứu chuyên sâu về HTCT cơ sở ở Việt Nam nói chung và ở ĐàNẵng nói riêng
- Xác định thực trạng - nêu các yếu tố phổ biến và phát hiện các yếu tốđặc thù chi phối tính chất và trạng thái HTCT ở cở sở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động của HTCT ở cơ sở thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
4 Giới hạn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Những vấn đề đặt ra trong quá trình nhận thức và thực hiện đường lốiđổi mới HTCT nói chung và HTCT cơ sở nói riêng ở Việt Nam từ góc độ tiếpcận của chính trị học
Trang 7- Thực trạng HTCT cả nước, trực tiếp là HTCT ở cở sở Thành phố Đà Nẵng
từ khi thành phố được thành lập (thành phố trực thuộc Trung ương) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về chính trị và HTCT
- Tiếp cận từ góc độ chính trị học, luận văn sử dụng các phương phápliên ngành và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháplogíc và lịch sử; hệ thống- cấu trúc, phân tích, tổng hợp, so sánh…và cácphương pháp hỗ trợ như: điều tra xã hội học, trao đổi chuyên gia…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về HTCT,
HTCT ở cơ sở
- Về thực tiễn:
+ Hiểu được thực trạng HTCT ở cơ sở thành phố Đà Nẵng và các giảipháp nêu trong luận văn này có thể tham khảo trong xây dựng HTCT ở cơ sởthành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
+ Có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy khoa học chính trị nóichung và chính trị học nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 08 tiết
Trang 8Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC
1.1.1 Khái niệm
Hệ thống chính trị là một phạm trù quan trọng của khoa học chính trịbởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị, của đời sống chínhtrị Hơn nữa, khi xem chính trị với tư cách là một hệ thống thì chính trị không
còn chỉ là “đơn nhất - thuần túy là nhà nước và công việc của nhà nước ” mà
xem xét chính trị như là một chỉnh thể các bộ phận hợp thành, các mối quan
hệ (về quyền, chức năng), các hoạt động - hành vi của các cấp độ chủ thể cóthẩm quyền tham gia vào đời sống chính trị Chính vì sự phức tạp đó mà đếnnay, quan niệm về HTCT còn có rất nhiều ý kiến khác nhau
Ở phương Tây có hai loại tiếp cận cơ bản và từ hai loại tiếp cận cơ bản
này phát triển thành một số quan điểm khác nhau về HTCT Cách tiếp cận thể chế: coi HTCT là tập hợp các thể chế chính trị (gồm các tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị) và những mối quan hệ qua lại giữa chúng; cách tiếp cận về hệ thống: lại xem HTCT không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa
chúng mà còn là những chuẩn mực chính trị, vai trò chính trị, hành vi chính trị…
Nhà chính trị học Mỹ D.Istons, trong tác phẩm: “Hệ thống chính trị”
(1953), và “Giới hạn sự phân tích chính trị” (1965) cho rằng, HTCT giống
như một (bộ máy) tự phát triển, tự điều tiết và phản ứng với những tác động
từ bên ngoài Hệ thống đó có “đầu vào và đầu ra” Đầu vào, đó là nơi thunhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ của môi trường xã hội và văn hóa xãhội quanh nó; đầu ra, là những quyết định chính trị và hành động chính trị đểthực hiện các quyết định đó
Một cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ G.Almold cho rằng,
HTCT đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của các tổ chức nhà
Trang 9nước cũng như phi nhà nước Các kiểu hành vi đó được chia ra hai cấp độ thể
chế và định hướng Almold khẳng định rằng, khác với các hệ thống xã hội
khác, HTCT được xác định bởi quyền cưỡng chế hợp pháp đối với ngườicông dân Đó là sức mạnh pháp lý, thâm nhập vào các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” làm nên tính chất đặc biệt, tính bền vững của của HTCT
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong sách báo trước đây, khi đề cập đến cácthiết chế chính trị chủ yếu là đề cập đến nhà nước và rộng hơn là hệ thống chuyênchính Trong thời kỳ cải cách, đổi mới khái niệm HTCT mới được sử dụng Tuyvậy thời kỳ đầu vẫn tồn tại quan niệm rằng, HTCT chỉ bao gồm những tổ chứcchính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyềnlực chính trị của giai cấp đó Cách tiếp cận này thực chất là đồng nhất phạm trù
“hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầmquyền” Theo đó, HTCT trong xã hội tư bản chính là hệ thống chuyên chính tưsản, còn HTCT trong xã hội xã hội chủ nghĩa là hệ thống chuyên chính vô sản
Có thể nói, sự đồng nhất hai phạm trù HTCT và hệ thống chuyên chínhcủa giai cấp cầm quyền vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quan điểm tậptrung nhấn mạnh cái giai cấp trong chính trị Trong bối cảnh cuộc đấu tranhgiai cấp giải quyết vấn đề “ai thắng ai” đầy cam go của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội - như cách tiếp cận của các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin thì việc làm đó là cần thiết Tuy nhiên, trong thực tiễn của côngcuộc kiến tạo chế độ chính trị mới, do nhấn mạnh đến mức “tuyệt đối hóa”mặt chuyên chính, vô hình trung dẫn những người Cộng sản cầm quyền phạmphải sai lầm phiến diện, “tả khuynh” trong quản lý và điều hành đất nước.Trong đó, biểu hiện rõ nhất là chưa thấy hết diện mạo của cái dân tộc, cái thờiđại đang chi phối toàn bộ đời sống chính trị thế giới hiện đại, đặc biệt là cáchình thức biểu hiện của thể chế chính trị dân chủ (cho dù có tính từ) đang chiphối đời sống chính trị đương đại
Ở Việt Nam, phải đến Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3/1989),Đảng ta mới chính thức sử dụng khái niệm HTCT thay cho khái niệm hệthống chuyên chính Sau đó, trong sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính
Trang 10trị ở nước ta phạm trù HTCT, HTCT xã hội chủ nghĩa và HTCT ở các nước tưbản đã được sử dụng rộng rãi Phân tích, lý giải cho sự thay đổi, phát triển nhậnthức mới này về chính trị và đời sống chính trị hiện đại của Đảng ta có lẽ cũng làcách thức để luận về thực chất - nội hàm của khái niệm cơ bản này.
Trên nền tảng lý luận chính trị mácxít - lêninít, kết hợp với nhữngthành tựu của khoa học chính trị đương đại, có thể nói rằng, ngày nay muốnxem xét bản chất hay tính chất, trạng thái chính trị của một quốc gia, một vùnglãnh thổ nào đó dù có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng rút cục vẫncần phải quy về trả lời các câu hỏi liên quan đến việc xác định sự hình thành, bảnchất, đặc trưng và chất lượng, hiệu quả của HTCT ở mỗi quốc gia
Các khái niệm phạm trù khoa học thực ra là những nấc thang nhận thứccủa con người, xã hội loài người về hiện thực khách quan Chính vì vậy cóthể nói, các khái niệm đảng chính trị, các nhóm lợi ích hợp pháp, các tổ chứcđại diện nhóm lợi ích, hay HTCT… là những phạm trù, khái niệm của khoa
học chính trị đương đại Đó là những khái niệm phản ánh đặc trưng những quan hệ quyền lực chính trị cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ Tư sản và dân chủ XHCN) Mặc dù cho đến nay vẫn tồn tại nhiều
định nghĩa khác nhau về HTCT, nhưng điều đó không hề làm mất đi ý nghĩaquan trọng của việc nghiên cứu khoa học cũng như tìm kiếm các giải pháp đểhoàn thiện nó trong thực tế Trái lại, trên một ý nghĩa nhất định, điều đó chothấy tính phong phú, phức tạp cũng như tính cấp thiết của chủ đề này trongđời sống chính trị của xã hội đương đại
Trên cơ sở quan điểm biện chứng mácxít, phải chăng có thể tiếp cận đểxác định nội hàm và ngoại diên của phạm trù HTCT theo hướng sau:
Nếu trong chế độ quân chủ, chế độ độc tài trị của một ông vua, mọiquyết định chính trị đều xuất phát từ ý chí của một người, để bảo vệ quyền lựctối thượng của nhà vua, vì lợi ích của lực lượng chính trị cầm quyền thì chínhquyền là bộ máy duy nhất toàn quyền quyết định các quá trình chính trị - sản
Trang 11xuất thể chế và hành sử quyền lực nhà nước Nhu cầu phát triển sản xuất, sựbiến đổi cơ cấu giai cấp xã hội tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏcác đặc quyền phong kiến để hình thành nên một thể chế chính trị hợp lý hơn,hiệu quả hơn Trong tính hiện thực của nó, đó chính là cuộc đấu tranh xã hội,đấu tranh giai cấp mà giai cấp tư sản là lực lượng có sứ mệnh khởi xướng, lôikéo các tầng lớp bên dưới cùng thực hiện Thắng lợi của các cuộc cách mạngchính trị tư sản đã đưa đến sự xác lập nền chính trị mới - nền chính trị dân chủ(dân chủ tư sản) Với tư cách là thành quả của cuộc đấu tranh chống lại thầnquyền và thế quyền, trở thành lực lượng cầm quyền, giai cấp tư sản công khaituyên bố pháp lý về các quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân,thừa nhận sự tồn tại khách quan của các nhóm lợi ích, kể cả những nhóm cólợi ích đối lập với lợi ích của lực lượng, giai cấp cầm quyền Đương nhiêntrong hệ thống các quyền pháp lý đó có quyền tham gia chính trị, đấu tranhnhằm giành quyền kiểm soát, nắm giữ bộ máy nhà nước bằng con đường nghịtrường - tranh phiếu bầu - hay ít nhất cũng là gây ảnh hưởng đối với quá trìnhhình thành các quyết sách nhà nước và thực thi các quyết sách đó.
Như vậy, dẫu rằng buổi đầu mới chỉ là những tuyên bố pháp lý, nhưng sựxuất hiện thể chế chính trị dân chủ tư sản cho thấy từ đây các quá trình chính trịkhông còn thuần tuý là ý chí của cá nhân hay ý chí của riêng nhà nước mà phải
là sản phẩm của cả hệ thống (nhà nước của lực lượng cầm quyền và các nhóm,các tổ chức đại diện nhóm lợi ích đối lập hoặc không đối lập - đương nhiên đềuhợp pháp) dựa trên nguyên tắc đa số (trực tiếp hoặc gián tiếp); các hoạt độngchính trị, hành vi chính trị của mọi tổ chức, mọi cá nhân đều phải tuân thủ phápluật, mang tính thể chế, có tính quy trình Trong tình hình ấy, để phản hiện thựcchính trị tất yếu phải sử dụng những khái niệm phạm trù mới Hệ thống chính trị,thể chế chính trị dân chủ, là những khái niệm xuất hiện từ lôgíc hiện thực đó
Xét theo ý nghĩa lịch sử tiến hoá chính trị, nền chính trị dân chủ tư sản làmột tiến bộ lịch sử Về điều này, chính V.I Lênin đã khách quan nhận xét: "Chế
độ dân chủ tư sản là một tiến bộ lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ" [19, tr 305]
Trang 12Tất nhiên trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế phongkiến, thoạt đầu giai cấp những người vô sản chỉ là một lực lượng ủng hộ giaicấp tư sản, nhưng rồi chính trong quá trình đó, dần dần họ đã nhận thức đượcmột sự thật rằng: đằng sau những lời hoa mỹ “tự do, bình đẳng, bác ái” củagiai cấp tư sản, chủ nghĩa tự do tư sản, nền dân chủ tư sản thực ra chỉ là côngcụ, phương tiện biện hộ, bảo vệ quyền lực, lợi ích, ích kỷ của giai cấp tư sản.Chủ nghĩa tự do tư sản là mục tiêu chính trị của giai cấp tư sản, còn giai cấpcông nhân chống lại chế độ phong kiến là nhằm đạt tới sự bình đẳng, sự tự docho tất cả nhân loại cần lao Trong quá khứ cũng như hiện tại và cả trongtương lai, chế độ chính trị dân chủ tư sản không bao giờ có thể thực hiện đầy
đủ, triệt để những điều mà nhà nước tư sản tuyên bố
Giỏi lắm thì nền cộng hoà dân chủ tư sản - Lênin viết, cũng chỉ thừa nhận
tổ chức quần chúng bị bóc lột là một tổ chức tự do Trên thực tế, lúc nào
nó cũng đưa ra muôn ngàn trở ngại cho những tổ chức ấy, những trở ngạitất nhiên gắn liền với chế độ tư hữu về TLSX [20, tr 112]
Chính vì lẽ đó, các nhà kinh điển mác xít đã luận chứng rằng: dân chủchỉ có thể thực hiện đầy đủ và triệt để trong cuộc đấu tranh cách mạng củagiai cấp công nhân nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản Trong họcthuyết chính trị Mác - Lênin, mặc dù khái niệm HTCT chưa được sử dụng với
tư cách là khái niệm khoa học như hiện nay vẫn dùng, nhưng những nội dung
có tính nguyên tắc để phân biệt bản chất của nhà nước, của chế độ chính trị tưsản với nhà nước, chế độ chính trị kiểu mới của giai cấp công nhân và nhândân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đã được các ông giải quyếtthấu đáo Đặc biệt với tư cách là lãnh tụ, nhà tổ chức, lãnh đạo công cuộc xâydựng CNXH và xây dựng nền chính trị dân chủ XHCN đầu tiên trên thế giới,V.I Lênin đã tổng kết, nêu lên khá phong phú các nội dung cốt lõi của côngcuộc xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chínhquyền Xô viết; cũng như quá trình xây dựng và từng bước củng cố chế độchính trị mới - chế độ dân chủ XHCN Lý luận về Đảng kiểu mới cầm quyền,
Trang 13về nhà nước chuyên chính vô sản, về vai trò của các đoàn thể quần chúng(công đoàn, thanh niên, phụ nữ ) là những di sản lý luận liên quan trực tiếpđến việc xây dựng và củng cố HTCT mà chúng ta đã đề cập hiện nay Mộttrong những tiêu chí cơ bản nói lên mức độ cao hay thấp, nhiều hay ít của cácnền dân chủ khác nhau, theo Lênin, là mức độ tham gia của quần chúng nhândân lao động vào công việc của nhà nước, vào các hoạt động chung của xãhội Vì vậy, Người cho rằng: “Phát triển dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa làlàm sao cho toàn thể quần chúng nhân dân lao động tham gia thật sự bìnhđẳng và thật rộng rãi vào mọi hoạt động của nhà nước” [18, tr 98] Xét từphương diện ấy, nhà nước vô sản, nhà nước XHCN mới có khả năng pháttriển dân chủ một cách đầy đủ nhất Tất nhiên, để xây dựng và thực hiện dânchủ, nhà nước một mặt phải thể chế hoá đầy đủ những quyền chính trị củacông dân; mặt khác nhà nước, xã hội phải tạo ra các điều kiện kinh tế, chínhtrị, văn hoá, xã hội để mọi người dân, mọi công dân có đủ năng lực tham gia
và tham gia ngày một hiệu quả vào các quá trình đó
Nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước, xã hội có thể bằnghình thức trực tiếp (bầu cử các cơ quan nhà nước bằng đầu phiếu phổ thông;hoặc thảo luận, đóng góp vào các quyết sách chính trị, các giải pháp để tổchức thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá xã hội củaquốc gia đất nước ); hoặc hình thức gián tiếp (thông qua những đại diện củamình trong các tổ chức chính trị - xã hội, hoặc các đại biểu được trao quyền,
uỷ quyền trong bộ máy nhà nước để đề ra các quyết sách và tổ chức thực hiệncác quyết sách đó) Vì lẽ đó, trong đời sống chính trị của chế độ xã hội mới,vai trò của quần chúng nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội khôngngừng được củng cố, nâng cao Khi hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếpđược củng cố, mở rộng tăng cường, đó sẽ là điều kiện, động lực nhằm thúcđẩy nhanh quá trình chuyển giao các chức năng xã hội của nhà nước sang các
tổ chức chính trị - xã hội nói riêng, các tổ chức xã hội tự quản nói chung, và
đó cũng chính là quá trình “tự tiêu vong” của nhà nước
Trang 14Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mặc dù phải tập trungchủ yếu vào công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã để lại rất nhiều di sản quan trọng về dânchủ, về xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng ởnước ta Công tác nghiên cứu về HTCT nói chung và HTCT ở Việt Nam trongthời kỳ đổi mới đã có nhiều kết quả khả quan Hàng loạt các công trình nghiêncứu cơ bản cấp Quốc gia, từ góc độ chính trị so sánh, đến công tác tổng kếtthực tiễn trong nước đã cung cấp, bổ sung cho các chủ thể nghiên cứu lý luận
và hoạt động chính trị thực tiễn những cơ sở lý luận và nhiều dữ liệu quý đểtiếp tục bổ sung nhận thức, từng bước hoàn thiện các quyết sách có liên quan
Như vậy, có thể thấy rằng việc xác định nội hàm của HTCT phải đáp
ứng hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục đích nhận thức về hệ thống các tổ
chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc thực hiệnquyền lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường xuyên
Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị từ
một quốc gia riêng biệt mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiềuquốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trong thể chế chính trị dân chủ(tất nhiên có tính từ)
Theo tinh thần đó, việc nghiên cứu HTCT thực chất là nghiên cứu hệthống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vàoquyền lực chính trị, phải chăng có thể tham khảo các cách hiểu sau:
- “HTCT xã hội - hệ thống các thể chế (các cơ quan nhà nước, cácchính đảng, các tổ chức xã hội) và các tiêu chuẩn trong đó diễn ra toàn bộ đờisống chính trị của xã hội và việc thực hiện quyền lực nhà nước” [39, tr 157]
- HTCT là một phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể các đảng phái,các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại trong khuôn khổcủa pháp luật với một nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền để tácđộng vào các quá trình kinh tế - xã hội nhằm duy trì và phát triểnchế độ xã hội đó [13, tr 221]
Trang 15- Tập thể tác giả của Viện Chính trị học - Học viện Chính trị quốc giaHồ Chí Minh đưa ra định nghĩa:
HTCT là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quanquyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổchức chính trị - xã hội …) được xây dựng trên các quyền và cácchuẩn mực xã hội, phân bổ theo một kết cấu chức năng nhất định,vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằmthực thi quyền lực chính trị [16, tr 37]
Kế thừa những giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn chính trị học có
thể hiểu: HTCT là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm nhà nuớc, các đảng chính trị và các tổ chức đại diện các nhóm lợi ích hợp pháp, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm tham gia vào các quá trình chính trị, thực thi các quyết sách nhà nước, bảo đảm quyền thống trị của giai cấp cầm quyền đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
Từ khái niệm trên, ta thấy sự tồn tại, vận động, biến đổi của HTCT diễn
ra trên thực tế rất đa dạng, tính đa dạng đó tùy thuộc vào các nhân tố kháchquan và chủ quan tác động đến HTCT
* Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến HTCT quốc
gia như: vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử, đặc điểm và truyềnthống của mỗi quốc gia, dân tộc Các nước khác nhau ở các khu vực khácnhau có những sự khác biệt nhất định trong quá trình hình thành và tác độngcủa các HTCT Chính những điều kiện khác nhau này hình thành nên cácquyền và các chuẩn mực xã hội khác nhau Các quyền và các chuẩn mực xãhội đó phân biệt HTCT của các nước, phân biệt HTCT của các thời đại Trình
độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện
HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh
tế - xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước Kết cấuHTCT không phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điềukiện kinh tế - chính trị - xã hội quy định Trình độ phát triển kinh tế quốc gia
Trang 16quy định kết cấu xã hội - giai cấp, quy định thành phần tham gia HTCT theodòng chảy chủ đạo (xu hướng chính) của nền kinh tế quốc gia đang vận hành.Bởi lẽ, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, hơn nữa, sự tồn tại củacác giai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội củacác lực lượng chính trị tương ứng Sự hiện diện của các lực lượng chính trị vàmối tương quan giữa các lực lượng đó là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiếtlập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảng trên thực tế Ngoài ra, sựtrưởng thành của ý thức công dân cùng với các yếu tố truyền thống, thói quen,lịch sử văn hoá chính trị của dân tộc quốc gia và các xu thế của thời đại…cũng là những yếu tố khách quan chi phối và ảnh hưởng đến diện mạo bản sắccủa HTCT mỗi quốc gia.
sẽ phát huy tốt và nhờ nó mà việc thiết lập, củng cố vững chắc nền tảng chính trị
- xã hội của đảng chính trị Điều này hoàn toàn từ xuất phát điểm, cũng như là hệquả của sự nỗ lực, trưởng thành nhân tố chủ quan của đảng chính trị mà có
- Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm
và tạo dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trịcàng lớn thì dễ dàng chấp nhận nhau, cùng chia sẽ quyền lực chính trị Ngượclại, nếu các đảng chính trị đối nghịch nhau về hệ tư tưởng chính trị, về lậptrường giai cấp thì dễ dẫn đến xung đột về chính trị, khủng hoảng chính trị cóthể diễn ra Những đảng chính trị như thế trong tình huống có lợi cho mình,thường sẵn sàng độc chiếm nhà nước mà không chấp nhận sự chia sẻ quyềnlực và đặt các lực lượng đối lập ngoài vòng pháp luật
Trang 17Có thể nói, các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên tác độngđến quá trình hình thành và biến đổi của HTCT, cũng như quyết định hìnhthái tồn tại của HTCT ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia, dân tộc Việc nghiên cứu
kỹ lưỡng các nhân tố tác động đến HTCT như đã nêu có ý nghĩa hết sức quantrọng, mang giá trị thực tiễn sâu sắc trong quá trình xây dựng HTCT nóichung và HTCT cấp cơ sở nói riêng
1.1.2 Cấu trúc hệ thống chính trị
Theo cách tiếp cận hệ thống, HTCT có thể được tiếp cận theo nhiều látcắt khác nhau từ tiểu hệ thống thể chế, tiểu hệ thống các mối quan hệ, tiểu hệthống cơ chế đến tiểu hệ thống các nguyên tắc vận hành
1.1.2.1 Tiểu hệ thống thể chế
Trong HTCT, có các chủ thể quan trọng: Nhà nước, Đảng chính trị, cácphong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, hệ thống bầu cử…Có thể nóitiểu hệ thống này là cốt lõi của HTCT, trong đó:
- Nhà nước là trung tâm của HTCT, có vị trí độc quyền kiểm soát lãnh
thổ, thay mặt toàn xã hội thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại, làm luật, cáchoạt động điều tiết cần thiết cho toàn xã hội, quyền kiểm soát việc chấp hànhpháp luật và các chuẩn mực pháp lý khác, quyền sử dụng cưỡng bức thể chất vàcác hình phạt khác Nhà nước là trung tâm của HTCT, do đó mọi lợi ích của cácgiai cấp, các lực lượng xã hội muốn hiện thực hóa đều phải thông qua nhà nước
Trong HTCT, nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năngchính trị (giai cấp) và chức năng xã hội (công quyền) Nhà nước (ở cấp trungương), được tổ chức bởi ba cơ quan quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và
hệ thống chính quyền địa phương Phương thức tổ chức nhà nước có thể thay đổitùy thuộc vào đặc trưng của chế độ kinh tế, đặc điểm truyền thống văn hóa chínhtrị cũng như đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử và từng khu vực
- Các đảng phái chính trị
Đảng chính trị (ĐCT) là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp trongtiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Sự tồn tại của ĐCT gắn liền với sự
Trang 18phân chia xã hội thành giai cấp và sự không đồng nhất của giai cấp đó; gắnliền với sự khác nhau về lợi ích của giai cấp và của các tầng lớp hợp thànhgiai cấp ĐCT là một trong những công cụ quan trọng mà nhờ đó giai cấp đấutranh cho quyền lợi của mình.
V.I.Lênin cho rằng, ĐCT là tập hợp những người có tổ chức nhất củamột giai cấp, có ý thức nhất về quyền lợi của giai cấp mình, có quyết tâmchiến đấu vì lợi ích của giai cấp Đảng của giai cấp công nhân là đảng tiênphong, chiến đấu vì sứ mệnh của giai cấp vô sản, giải phóng giai cấp và giảiphóng nhân loại Trên quan điểm này đã hình thành nhiều đảng cộng sản vàcông nhân trên thế giới
Ngày nay, trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau và các kiểuĐCT khác nhau Ở Mỹ và phương Tây nhiều ý kiến cho rằng, ĐCT là mộtnhóm cá nhân, được tổ chức lại nhằm giành chiến thắng trong các cuộc bầucử, để điều hành chính phủ và quyết định chính sách công cộng Các đảngnhư vậy gọi là đảng bầu cử Mục tiêu là giành ghế trong nghị viện và các vịtrí quyền lực
Việc ra đời của các ĐCT, gắn liền với sự phát triển, biến đổi cơ cấu kinh
tế - xã hội Mỗi một ĐCT thường đại diện cho một lực lượng xã hội nhất định
Sự tồn tại của các đảng, tạo nên nét đặc trưng của cơ cấu xã hội chính trị củaHTCT Vì vậy người ta còn dùng số lượng các đảng để gọi tên các chế độ chínhtrị hoặc gắn với HTCT nhằm phản ánh đặc trưng HTCT: Chế độ một đảng, chế
độ hai đảng, chế độ đa đảng… hoặc HTCT một đảng, HTCT đa đảng…
Các ĐCT khác nhau, các phong trào chính trị - xã hội khác nhau sẽ
đóng vai trò khác nhau trong đời sống chính trị của mỗi nước Có đảng trởthành đảng cầm quyền, thành lập chính phủ từ đội ngũ đảng viên của mình,giữ vị trí chủ đạo trong các cơ quan lập pháp, có ảnh hưởng và uy tín lớn ở tất
cả các tầng lớp khác nhau của xã hội Một số đảng khác ở vị trí đối lập, chiếmgiữ ít ghế trong cơ quan lập pháp hoặc có thể không có ghế nào, không có ảnhhưởng đảng kể đến đời sống chính trị, xã hội đất nước
Trang 19- Các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội
Các phong trào xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội khác với các
ĐCT ở mục tiêu định hướng, phương thức hoạt động và hình thức tổ chức.
Trong xã hội hiện đại vai trò của các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị
-xã hội rất lớn và không ngừng tăng lên, có nhiều phong trào và tổ chức có vaitrò và chức năng quan trọng trong HTCT Đây là một bộ phận quan trọng của
xã hội công dân, đang tích cực cùng nhà nước và HTCT hiện thực hóa các lợiích và nhân cách cá nhân cũng như của cộng đồng, cân bằng mối quan hệgiữa nhà nước và xã hội Các tổ chức này là cơ sở xã hội của các ĐCT, có ảnhhưởng mạnh mẽ và quan trọng trong việc hoạch định chính sách của Nhànước và khuynh hướng chính trị của các đảng
- Hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng (còn gọi là hệ thống các phương tiện truyền thông)
Các phượng tiện thông tin đại chúng hoạt động chủ yếu với hai tư cách:(1) một hệ thống độc lập, hoạt động theo luật pháp mang tính nghề nghiệp (2)các cơ quan phát ngôn, thông tin tuyên truyền của Nhà nước, các đảng và các
tổ chức chính trị - xã hội Với tư cách thứ nhất, các phương tiện thông tin đạichúng được coi là một bộ phận độc lập của HTCT; với tư cách thứ hai, cácphương tiện thông tin đại chúng được coi là bộ phận cấu thành các tổ chức màchúng trực thuộc Dù với tư cách nào các phương tiện thông tin đại chúngcũng giữ vai trò quan trọng trong HTCT
Phương tiện thông tin đại chúng có nhiều khả năng trong việc thông tin
dư luận xã hội, những sự kiện chính trị quan trọng trong và ngoài nước, vềhoạt động, quan điểm và hành động của các cơ quan nhà nước, các đảng cầmquyền hay đối lập, của các phong trào xã hội Ngày nay, phương tiện thôngtin đại chúng có vai trò rất lớn trong việc hình thành các hình ảnh chính trị,các biểu tượng mang các giá trị văn hóa, hình thành các nguồn lực xã hội vànguồn lực con người là những yếu tố cơ bản tạo nên các “quyền lực mềm”trong đời sống chính trị, xã hội Phương tiện thông tin đại chúng tác động vào
Trang 20đời sống chính trị như một kênh quan trọng hình thành và biểu thị ý kiến xãhội, tính công khai và kiểm soát quyền lực chính trị.
- Các thể chế tôn giáo
Sự tác động của tôn giáo đến đời sống chính trị trước hết thông qua nhữngcông dân theo tôn giáo Chỉ có những thể chế tôn giáo mới được coi là một bộphận của HTCT Trong lịch sử chính trị đã từng có xung đột giữa tôn giáo vànhà nước dẫn đến phân chia quyền lực (thế quyền và thần quyền) Quan hệ giữatôn giáo và nhà nước đang có những biểu hiện rất đa dạng và phức tạp
Ở các nước, đặc biệt là Trung Cận Đông, Ảrập, châu Phi, Mỹ Latinh,các tôn giáo đóng vai trò rất lớn, trong đời sống chính trị, nhất là các quốc gia
Hồi giáo Ngược lại ở khá nhiều nước, các tổ chức tôn giáo được hoạt động
nhưng không phải là một bộ phận cấu thành của HTCT
- Hệ thống bầu cử
Trong điều kiện một nhà nước dân chủ, bầu cử là con đường cơ bản để
tổ chức ra các cơ quan quyền lực nhà nước, chính đáng hóa quyền lực chínhtrị, để nhân dân chọn ra người xứng đáng, thay mặt mình thực thi quyền lựcnhà nước và cũng là phương thức tốt nhất để các ĐCT tuyển chọn những nhàchính trị tiềm năng
1.1.2.2 Tiểu hệ thống quan hệ
Vai trò đặc biệt của các quan hệ chính trị là ở chỗ nó biểu đạt cân bằnglợi ích, sự trung lập, trạng thái thực tế chấp nhận được giữa các lợi ích, cácgiai cấp, các dân tộc, các nhóm trong một hệ thống quyền lực công cộng vànhân danh quyền lực công cộng để bảo vệ, duy trì sự cân bằng ấy
Trong HTCT có nhiều loại quan hệ, những quan hệ này rất đa dạng,đan xen, nhiều tầng, nhiều chiều, trực tiếp và gián tiếp Những quan hệ nàythực chất là nền tảng xã hội và môi trường văn hóa của hoạt động chính trị.Những quan hệ chính trị cấu thành hệ thống khi chúng có vai trò trực tiếpduy trì sự tồn tại và hoạt động của HTCT Các quan hệ đó có thể được xếpnhư sau:
Trang 21- Quan hệ các chủ thể quyền lực và người được ủy quyền
Đó là quan hệ giữa công dân và nhà nước, giữa đảng viên của một đảngchính trị với tổ chức đảng của họ, giữa hội viên, thành viên của các tổ chứcchính trị - xã hội với tổ chức của mình Trong quan hệ này, người được ủyquyền, thực chất không có quyền lực mà nhận quyền lực từ các chủ thể quyềnlực và thực thi quyền lực đó Trong quan hệ này, các chủ thể quyền lực, kháchquan mà nói, quyết định hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạtđộng của các Cơ quan được ủy quyền
- Quan hệ theo chiều ngang của hệ thống
Là mối quan hệ cùng cấp, giữa các thể chế cấp Trung ương với cấp Trungương, Ví dụ giữa các cơ quan lập pháp tối cao (Quốc hội) hành chính tối cao(Chỉnh phủ) và tư pháp tối cao (Tòa án tối cao), quan hệ giữa các chủ thể chính trịtrong hệ thống, Đây là mối quan hệ vừa quy định vai trò chức năng của các thể chếchính trị vừa thống nhất, phối hợp hành động, vừa ràng buộc, kiềm chế lẫn nhau
- Quan hệ theo chiều dọc của hệ thống
Quan hệ giữa các cơ quan quyền lực Trung ương với các cơ quanquyền lực địa phương và cơ sở (theo chiều dọc) Bản chất của quan hệ này làphân cấp và phân quyền trong thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhànước sao cho đảm bảo sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc giavừa tạo điều kiện cho sự năng động chủ động của các địa phương và cơ sở
- Quan hệ bên trong và bên ngoài
Quan hệ HTCT của một quốc gia với các HTCT bên ngoài Có thể có nhữngquan hệ khác nhau giữa các thể chế độc lập của HTCT Nhưng quan trọng nhất,trong mối quan hệ này là quan hệ giữa các nhà nước quốc gia dân tộc với nhau
Trang 22hành đúng nguyên tắc Khi đó quá trình thực thi quyền lực chính trị vàquyền lực nhà nước diễn ra như một quá trình tự nhiên, HTCT tự hoạt động,
tự điều chỉnh và tự hoàn thiện; (2) cơ chế mệnh lệnh hành chính (đi kèm làmột hệ thống công cụ cưỡng bức, trừng phạt) để thực thi quyền lực nhà nước(3) cơ chế tư vấn là tổng hợp các phương thức làm thay đổi nhận thức của cácđối tượng thực thi quyền lực để thay đổi hành vi của họ; (4) cơ chế kiểm soátquyền lực (đảm bảo cho các cơ quan quyền lực thực thi đúng thẩm quyền)
Bốn cơ chế này có thể được vận hành đồng thời, có thể riêng biệt tùytheo các quan hệ giữa chủ thể chính trị và đối tượng chịu tác động của quyềnlực chính trị, các cơ chế thể hiện được trình độ thuần thục của hệ thống và sựtrưởng thành về văn hóa chính trị
1.1.2.4 Tiểu hệ thống các nguyên tắc vận hành
Mỗi HTCT có những nguyên tắc và cơ chế vận hành riêng Dựa trênnhững nguyên tắc này mà các quan hệ, hành vi chính trị được định hướng vàtạo thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống; giữa “nguyên tắc” và “cơ chế”không có những bức tường thành ngăn cách, giới hạn giữa các khái niệm đóchỉ là tương đối
Ngày nay, chỉ trừ một số rất ít nước dưới chế độ quân chủ thế tập, hầuhết ở các nước đểu phổ biến một số nguyên tắc sau:
- Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân
Nguyên tắc này khẳng định tính khách quan quyền lực của nhân dânvới tư cách là chủ thể của quá trình lao động sản xuất xã hội, là những ngườisáng tạo ra các giá trị xã hội (nguồn gốc của quyền lực), ủy một phần quyềncủa mình thông qua những người đại diện để tổ chức và thực thi quyền lựcchính trị quyền lực nhà nước Từ nguyên tắc này, phát sinh một loạt cácnguyên tắc sinh hoạt và ứng xử chính trị khác liên quan đến việc đảm bảoquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Ủy quyền có điều kiệu và có thời hạn
Nguyên tắc này xác định ai là người có thể được ủy quyền và ủy quyền
trong bao lâu Để đảm bảo nguyên tắc này phải xây dựng thể chế bầu cử baogồm lựa chọn các ứng viên, thể thức bầu cử và thủ tục truất quyền khi cần thiết
Trang 23- Nguyên tắc dân chủ
Nguyên tắc này thực chất là tạo các điều kiện kinh tế-xã hội và pháp lýđể dân tham gia ngày càng nhiều và thực chất vào công việc của Nhà nước và
xã hội, tự quyết định vận mệnh của mình thông qua nhà nước, bằng nhà nước
- Nguyên tắc tập trung - phân quyền (phân quyền hợp lý)
Nguyên tắc này nói lên tính hai mặt của một vấn đề trong đời sốngchính trị nếu không có tập trung quyền lực đủ mức thì không có quyền lựcchính trị cũng như quyền lực nhà nước Mặt khác, không thực hiện sự phânquyền (phân lập, phân công, phân cấp, ủy quyền, tản quyền ) thì cũng khôngthể thực hiện được quyền lực chính trị hoặc quyền lực nhà nước Tính thốngnhất đó được thể hiện:
Lãnh thổ quốc gia dân tộc thống nhất; xã hội công dân thống nhất, trên
đó xây dựng nhà nước; ý chí nhân dân được tổng hợp lại thành những văn bản(khế ước) có tính pháp lý hợp pháp (hiến pháp và pháp luật ) từ đây xâydựng những thể chế quyền lực thống nhất (cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quanhành chính cao nhất, cơ quan xét xử cao nhất ); thống nhất bởi đảng cầm
quyền Đảng cầm quyền chí phối HTCT bằng các phương thức chính trị thông qua cương lĩnh, đường lối, nêu gương, tổ chức, vận động giáo dục.
Trên cơ sở những thống nhất trên đây, mà biểu hiện ra là tính đồngthuận tính thỏa hiệp xã hội, sẽ thực hiện sự phân quyền như “phân chia”,
“phân công”, “phân quyền”, “phân cấp”, “tản quyền”
1.2 HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
1.2.1 Sự hình thành và một số đặc điểm của hệ thống chính trị ở Việt Nam
1.2.1.1 Sự hình thành và biến động của hệ thống chính trị ở nước ta
Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hoà ra đời đánh dấu sự hình thành ở nước ta một HTCT mới - HTCTdân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên
Trang 24nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc hết sức rộng rãi - không phân biệt giốngnòi, giai cấp, tôn giáo, ý thức hệ; đặt lợi ích của dân tộc là cao nhất Với nhiệmvụ “Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự chodân tộc, xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày
có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”.Trải qua nhiều biến động của tiến trình cách mạng, HTCT của nước ta đã cónhững sự thay đổi nhất định về hình thức tổ chức và phương thức vận hành
Trong giai đoạn đầu (1945-1954), vai trò lãnh đạo của Đảng trongHTCT được ẩn trong vai trò của Quốc hội và Chính phủ, trong vai trò của cánhân Hồ Chí Minh và các đảng viên trong Chính phủ Có một Mặt trận (LiênViệt) và nhiều tổ chức quần chúng rộng rãi, làm việc tự nguyện, không hưởnglương và không nhận kinh phí hoạt động từ nguồn ngân sách Nhà nước, do đókhông có điều kiện công chức hóa, quan liêu hoá Cơ sở kinh tế chủ yếu củaHTCT dân chủ nhân dân là nền sản xuất tư nhân hàng hoá nhỏ, phân tán, tựcấp, tự túc; bị kinh tế thực dân và chiến tranh kìm hãm, chưa có viện trợ Đãxuất hiện (ở một mức độ nhất định) sự giám sát và sự phản biện của hai đảngkhác (Đảng Dân chủ và Đảng xã hội) đối với Đảng Cộng sản Việt Nam; mặtkhác do nhu cầu lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên nhìnchung trong hệ thống tổ chức quyền lực thời kỳ này ít có các “bệnh” phátsinh Giai đoạn 1955 - 1975 và 1975 – 1985 - sau thắng lợi của hai cuộckháng chiến chống Pháp và Mỹ Ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai tròlãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dâncũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳthực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản Bước ngoặt lịch sử này
đã diễn ra trên miền Bắc sau 1954 và từ sau ngày 30-4-1975 diễn ra trongphạm vi cả nước Từ tháng 4-1975 cách mạng Việt Nam chuyển sang giaiđoạn mới, giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước Do
đó HTCT của nước ta cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyênchính dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản trong
Trang 25phạm vi nửa nước (giai đoạn 1955-1975) sang hệ thống chuyên chính vô sảnhoạt động trong phạm vi cả nước.
Giai đoạn từ 1986 đến nay: đứng trước yêu cầu và đòi hỏi mới của cáchmạng Việt Nam Đảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổimới kinh tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mớiHTCT Tập trung đổi mới kinh tế vì có đổi mới thành công về kinh tế mới tạođược điều kiện để tiến hành đổi mới HTCT Mặt khác, nếu không đổi mớiHTCT, thì đổi mới kinh tế sẽ gặp trở ngại HTCT được đổi mới kịp thời, phùhợp đến lượt nó sẽ thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế
Như vậy, đổi mới HTCT là đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Theo tinh thần đó, toàn bộ tổ chức và hoạt độngcủa HTCT nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoànthiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (năm 1991) nhấn mạnh: thực chất củaviệc đổi mới và kiện toàn HTCT nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủnghĩa Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới TạiĐại hội này, lần đầu tiên Đảng ta đã xác định cơ cấu và cơ chế vận hành củaHTCT Theo đó, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”;Đảng vừa là một bộ phận của HTCT, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy,hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Không chấp nhận đa nguyênchính trị, đa đảng đối lập Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có chứcnăng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong
sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi íchcủa các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh;tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng,quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng,
Trang 26Nhà nước Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước vàcác cơ quan đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua các quy định củaluật pháp.
Thực hiện Cương lĩnh năm 1991, hơn 20 năm qua, HTCT ở nước ta đã
có những chuyển biến căn bản theo hướng: vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệulực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm vàtừng bước nâng cao; thể chế chính trị dân chủ XHCN mà nòng cốt là nhànước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân từng bước hoàn thiện;HTCT các cấp hoạt động năng động hơn, có hiệu quả hơn, góp phần quantrọng trong việc đưa nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1.2 Một số đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta
Từ góc độ tiểu hệ thống thể chế, HTCT nước ta bao gồm: Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổquốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội Các bộ phận này đượckết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hànhnhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù Chính vì vậyHTCT của nước ta có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Là hình thức quá độ từ HTCT dân chủ nhân dân tiến lên
HTCT xã hội chủ nghĩa Sự quá độ này không chỉ do những điều kiện lịch sửcụ thể và yếu tố “địa chính trị” quy định, hơn nữa còn trực tiếp bị quy địnhbởi tính quá độ chính trị của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Chính vìvậy, HTCT Việt Nam vừa mang những đặc trưng của HTCT dân chủ nhândân vừa mang những đặc trưng của HTCT XHCN Từ đặc điểm này để nhậnthấy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện HTCT phải tính đến việc sửdụng những giải pháp, hình thức, những bước đi quá độ phù hợp
Trong suốt 26 năm đổi mới, về cơ bản HTCT Việt Nam đã từng bướctương thích với một nền kinh tế đang chuyển đổi Nhiệm vụ cơ bản của HTCTtrong nền kinh tế này là giữ vững ổn định chính trị một cách tích cực để tiếnhành các cải cách, chuyển hóa nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp
Trang 27sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đồng thời, từng bước thực hiệndân chủ hóa xã hội, tạo động lực cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, HTCT Việt Nam là HTCT nhất nguyên, dưới sự lãnh đạo duy
nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Tính nhất nguyên của HTCT Việt Namđược quy định bởi, trước hết, nó được xây dựng và hoạt động trên nền tảngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu của nó khôngngoài việc xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm toàn bộ quyềnlực thuộc về nhân dân; thứ đến, còn được quy định bởi chính việc Đảng Cộngsản Việt Nam đã khẳng định vị thế của mình thông qua hoạt động cách mạng vìnước, vì dân
Về mặt lịch sử, trước và sau năm 30 của thế kỷ XX, ở Việt Nam đãtừng tồn tại nhiều tổ chức đảng đối lập: Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu,Nguyễn Phan Long (1926); Đảng Thanh niên lao vọng ở Nam Kỳ (1926); ĐảngViệt Nam quốc dân do Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp(1927) Sau năm 1940 có Đảng Đại Việt thân Nhật của Nguyễn Trường Tam,Việt Nam Quốc dân đảng của Vũ Hồng Khanh (Việt quốc), Việt Nam cáchmạng đồng minh (Việt cách) của Nguyễn Hải Thần , Cách mạng tháng Támthành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập Trong bộmáy nhà nước, ngoài Đảng cộng sản còn hai đảng khác là đảng Việt quốc vàViệt cách Tuy nhiên, khi bước vào thực hiện sứ mệnh của dân tộc là toàn quốckháng chiến (12/1946), hai đảng Việt quốc và Việt cách đã xét thấy không làmđược sứ mệnh này nên tự giải tán, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản, với bảnlĩnh, năng lực và phẩm chất riêng của mình đã trụ vững trong lòng dân tộc vàđược nhân dân thừa nhận, suy tôn là người lãnh đạo duy nhất
Ngày nay, với thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, lần nữa khẳng định sựthừa nhận của dân tộc đối với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản ViệtNam, một Đảng độc quyền lãnh đạo một cách chính đáng, hợp hiến, hợp
Trang 28pháp Thật ra, khi thực hành chế độ một Đảng lãnh đạo, cũng không ít nhữngluận điệu xuyên tạc đầy tính ác ý: “độc đảng” thì “độc tài”, “độc đoán”, “độcquyền”, mất dân chủ Đành rằng, không phải tất cả đã hoàn thiện, nhưng cả
về hình thức pháp lý và cả trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã từng bướcchứng tỏ điều ngược lại…
Hiến pháp 1992, điều 4 đã ghi rõ: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Trong thực tiễn, Đảng lãnh đạocách mạng bằng cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết thể hiện ý chí, nguyệnvọng của toàn dân, đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết Nhân dânthực hiện quyền làm chủ thông qua nhà nước của dân, do dân, vì dân và các tổchức đại diện của mình… Trong đó, Quốc hội do dân bầu ra, là cơ quanquyền lực cao nhất Quốc hội bầu chính phủ điều hành mọi công việc của đấtnước trên cơ sở hiến pháp, pháp luật
Thứ ba, HTCT mang tính nhân dân rộng rãi Hiến pháp 1992 (bổ sung
và sửa đổi năm 2001) của nước ta ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liênminh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức
Tính nhân dân rộng rãi của HTCT thể hiện chủ yếu ở mục tiêu, phươngthức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTCT
- Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội Tổ chức của Nhànước do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước làđầy tớ của dân chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân
- HTCT bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức mọi ngườidân thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…ở trong vàngoài nước để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ tư, HTCT nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổchức cũng như của cả hệ thống
Trang 29HTCT ở Việt Nam được tổ chức chặt chẽ, các mối quan hệ giữa cácthành tố trong hệ thống ngày càng được xác định rõ ràng hơn Trong phạm vihoạt động của mình, dựa trên sự phân định thẩm quyền, chức năng, cùng mộtlúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có tính chất khác nhau:quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết…Tất cả tạo thành một mạng quan hệ phức hợp - vừa thể hiện tính độc lậptương đối vừa gắn kết chặt chẽ trong một chỉnh thể.
Thứ năm, thuộc tính bản chất của HTCT nước ta là sự thống nhất giữa
tính giai cấp và tính dân tộc Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôngắn bó, quyện chặt lẫn nhau Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chínhtrị của nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịchsử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trộicủa tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quanniệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tínhgiai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và cácmối quan hệ vừa quy định tính thống nhất của HTCT trong cả nước Các kháiniệm trung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những định ngữ để chỉ những cấp
độ khác nhau của HTCT nói chung
Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thựctiễn Với cách hiểu HTCT nói chung có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhấtnhư vậy sẽ là tiền đề, cơ sở để hiểu đúng vai trò, vị trí của HTCT ở cơ
sở - cấp cơ sở của HTCT nói chung
1.2.2 Cấu trúc và sự phân định chức năng, thẩm quyền trong các nhân tố cấu thành hệ thống chính trị nước ta
Trên cở sở lý thuyết hệ thống, chúng ta nhận thức rằng, trong lĩnh vựcchính trị ở nước ta hiện nay, các tổ chức bộ máy quyền lực chính trị trong xãhội đã được xác lập vị thế nhất định trong một chỉnh thể, một hệ thống Hệthống theo nghĩa đó là sự xác lập một trật tự các mối quan hệ ngang - dọc, kể
cả quan hệ lồng ghép, đan xen
Trang 30Theo chiều ngang, mỗi tổ chức tồn tại và hoạt động độc lập theo quyđịnh của pháp luật, nhưng không phải dàn đều mà trong HTCT mỗi cấp, tổchức đảng (thường xuyên và trực tiếp là cấp uỷ ) có vai trò lãnh đạo, đồngthời chịu trách nhiệm cao nhất.
Theo trật tự chiều dọc, cao nhất là cấp trung ương và thấp nhất là cơ sở,cấp càng cao thẩm quyền càng lớn, nhưng xét theo ý nghĩa vai trò thì ở mọicấp độ tồn tại của nó, HTCT và các bộ phận hợp thành luôn là nơi thể hiện tậptrung sức mạnh, khả năng thực thi ý chí, lợi ích của Đảng ta, Nhà nước ta,nhân dân ta Vai trò đó một mặt được thể hiện và thực hiện trên cơ sở thẩmquyền và chức năng của cả hệ thống, mặt khác được triển khai cụ thể thôngqua chức năng, thẩm quyền của các bộ phận hợp thành hệ thống (đảng, chínhquyền, các tổ chức chính trị - xã hội) và được chứng thực bằng chính chấtlượng, hiệu quả hoạt động của mỗi tổ chức, bộ máy và của cả hệ thống
HTCT ở nước ta hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơbao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, tổchức xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và củadân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nêntảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyêntắc cơ bản, Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyếtphục, vận động tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảngviên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vàohoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể Đảng khônglàm thay công việc của các tổ chức khác trong HTCT
Trang 31Đảng lãnh đạo HTCT đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảngliên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trongkhuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân Đặc điểm của Nhà nước ta là tổ chứcthể hiện, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, lấy liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Nhà nước định ra luật pháp, tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật,không ngừng hoàn thiện hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hànhchính để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước
Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện quyền dân chủ củanhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát củanhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyêntắc tập trung dân chủ Quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phâncông, phân cấp, và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là trụ cộtcủa HTCT - bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp(Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương
Ở nước ta, quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội (cơ quan đạibiểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất) Các định chế khác nhưChủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát đều được Quốchội cử ra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốchội Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, đồng thời còn là cơquan chấp hành của Quốc hội
Mặc dù quyền lực Nhà nước là thống nhất không thể phân chia, nhưng
có phân công, phân nhiệm nhằm tạo cho các cấp độ chủ thể quyền lực chủđộng sáng tạo trong thực thi quyền lực Nhà nước
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổchức xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên
Trang 32hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc,các tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, là cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa làngười lãnh đạo Mặt trận Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thươngdân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên
Các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tùy theo tính chất,tôn chỉ và mục đích đã xác định, vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp nhauchăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực, vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặtcho đoàn viên, hội viên, vừa tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Tổ chức của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (nòngcốt là Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiếnbinh, Hội nông dân), các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội khác tùytheo tính chất, đặc điểm mà có quy mô tổ chức phù hợp
Từ những nội dung đã đề cập cho thấy rõ kết cấu, phương thức vậnhành của HTCT, những mối quan hệ chủ yếu cần được nhận thức và xử lýtrong quá trình đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay
1.2.3 Hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc điểm, vị trí, vai trò của nó trong thể chế chính trị Việt Nam hiện nay
1.2.3.1 Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở
Trong ngôn từ tiếng Việt, thuật ngữ cơ sở được sử dụng trong khánhiều trường hợp khác nhau, và trong mỗi trường hợp cụ thể đó không phảibao giờ ngữ nghĩa của nó cũng hoàn toàn giống nhau Cơ sở - đối tượngnghiên cứu trong luận văn này không phải là một đơn vị cơ sở bất kỳ như (giađình, cơ quan, trường học, bệnh viện…) mà là cấp thấp nhất trong hệ thốngquản lý hành chính nhà nước bốn cấp ở nước ta hiện nay
Theo quy định tại điều 118 Hiến pháp năm 1992, các cấp hành chínhnước ta được phân định như sau:
- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Trang 33- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; thành phố thuộctỉnh chia thành quận, huyện và thị xã;
- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thànhphường; quận chia thành phường (cấp cơ sở - nhấn mạnh của người dẫn).Trong đó:
+ Xã là loại hình cơ sở có quá trình hình thành phát triển lâu đời, có địagiới hành chính, và thành phần dân cư ổn định
+ Thị trấn là trung tâm của huyện hoặc trung tâm của một cụm xã vừa
có tính chất nông thôn, vừa có tính chất đô thị Thị trấn hình thành qua cácthời kỳ lịch sử khác nhau, thành phần dân cư biến động hơn xã, có dân cư sảnxuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
+ Phường nằm trong đô thị, là nơi tập trung dân cư cao, tham gia vàocác hoạt động kinh tế, chính trị, hành chính, khoa học, nghệ thuật của cáctrung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của vùng hoặc của toàn quốc Kết cấu
hạ tầng, kỹ thuật của phường thường được đảm bảo tốt hơn thị trấn hoặc xã.Địa giới hành chính của phường chỉ có giá trị quản lý, không giới hạn địa bàn
cư trú và các hoạt động khác của dân cư
Tuy có những nét khác biệt khá lớn về đặc điểm kinh tế - xã hội, songxét về mặt tổ chức và hoạt động của HTCT của ba loại hình này đều tươngđối giống nhau, tạo ra những đặc điểm chung của HTCT ở cơ sở nước ta
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về HTCT ở cơ sở
Trước hết xem xét HTCT ở cơ sở như là một hệ thống về mặt tổ chức của các
bộ phận hợp thành, đó là: tổ chức đảng, chính quyền (HĐND và UBND), Mặttrận Tổ quốc và các ĐTND ở xã, phường, thị trấn Mỗi bộ phận hợp thànhtrong HTCT ở cơ sở có vị trí, vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiếtvới nhau tạo thành hệ thống Trong HTCT thống nhất ấy Đảng là hạt nhân giữvai trò lãnh đạo hệ thống, chính quyền là trụ cột của HTCT ở cơ sở với vai tròquản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội… trên phạm
vi địa bàn Mặt trận Tổ quốc và các ĐTND (thanh niên, phụ nữ, nông dân, hội
Trang 34cựu chiến binh ) thực hiện chức năng vận động quần chúng ở cơ sở Cách tiếp cận thứ hai, không chỉ về mặt tổ chức pháp lý mà còn bao gồm các yếu tố
thể hiện bản chất của HTCT nói chung, những điều kiện bảo đảm cho các bộphận của hệ thống đó vận hành thông suốt, có hiệu quả, trong đó có việc thựchiện dân chủ ở cơ sở, thể hiện quyền lực của nhân dân tại cơ sở
Qua phân tích những cách tiếp cận trên có thể hiểu: HTCT ở cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như: tổ chức đảng, chính quyền, các ĐTND được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ với nhau, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
1.2.3.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở
Với tư cách là bộ phận cấu thành của HTCT Việt Nam - nhìn theo kếtcấu tuyến dọc, vì thế ngoài những đặc điểm chung (của HTCT cả nước),HTCT cơ sở ở Việt Nam còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, là cấp gắn với cộng đồng dân cư, do vậy tổ chức và hoạt
động mang tính tự quản cao Đây là nét đặc trưng của nước ta, do đặc điểm vàtruyền thống lịch sử nên tính cố kết cộng đồng thể hiện rõ nét ở cơ sở Tínhchất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện mối quan hệ giữa phường, xãvới tổ dân phố, thôn Mặt khác, cơ sở là nơi cộng đồng dân cư sinh sống dovậy thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, thậm chí có những xung đột nảysinh trong đời sống dân cư Vì vậy tổ chức và hoạt động của HTCT ở cơ sởmang tính tự quản cao
Thứ hai, Cơ sở là cấp gần nhất và trực tiếp nhất với cuộc sống của dân,
nơi có thể hiểu biết rõ nhất những bức xúc mà cuộc sống của dân đang đặt ra,hiểu những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; cơ sở cũng là nơi triển khaithực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến vớidân, là nơi thẩm đinh, đánh giá và từ đó có căn cứ để điều chỉnh chủ trương,chính sách ngày càng phù hợp hơn với nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn
Trang 35Thứ ba, HTCT cơ sở là cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ cán bộ
biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất Đặc điểm này là do một thời gian dàitrong thể chế của chúng ta cán bộ HTCT ở cơ sở không được xem là côngchức nhà nuớc và hiện nay cũng chỉ mới công chức hóa một phần Trong lúc
đó chế độ, chính sách còn nhiều bất cập nên khó thu hút được người có trình
độ chuyên môn cao Ngay những người đang làm việc trong HTCT ở cơ sởcũng chưa thật sự an tâm làm việc và gắn bó lâu dài với cơ sở; cũng có một
bộ phận an phận, ngại khó…nên thiếu quyết tâm trong việc học tập để nângcao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở chịu sự chi phối trực tiếp và thường xuyên của nhân dân.
Là cấp gắn bó trực tiếp với các tầng lớp nhân dân nên mọi đường lốichính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân đều qua cấp
cơ sở Là cấp gần dân nhất nên HTCT ở cơ sở thể hiện tính nhân dân mộtcách rõ ràng, trực tiếp nhất Mặt khác, là cấp đầu tiên đối mặt với những yêucầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung độtnảy sinh trong đời sống dân cư, vì thế chịu sự chi phối trực tiếp và thườngxuyên của nhân dân
Thứ năm, Cơ sở là nơi quan hệ dòng họ, văn hóa làng, xã có thể tác
động mạnh nhất Những quan hệ này trên thực tế ảnh hưởng đến trạng thái tổchức và hiệu quả hoạt động của HTCT không nhỏ Trong quan hệ với dân, cán
bộ cơ sở dễ bị chi phối, ràng buộc bởi những yếu tố thân tộc, “tình làng, nghĩaxóm, thôn”…Vì thế, cán bộ trong HTCT ơ cơ sở thường dễ mắc nhiễm tư tưởngdòng tộc, cục bộ địa phương, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một nguời làmquan, cả họ được nhờ” Ngoài sự chi phối của pháp luật, trong quan hệ cộngđồng dân cư còn có thể được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chế khácnhau, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định, hương uớc
và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra
Trang 361.2.3.3 Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
HTCT ở cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn Nước ta hiện nay có11.121 đơn vị cơ sở (số liệu thống kê đến 12/2011), trong đó 1.448 phường,
623 thị trấn và 9.050 xã Cấp cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấpcủa quản lý hành chính của nước ta hiện nay
HTCT cơ sở có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc tổchức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo vàgiữ vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Tuy vậy, có một thời, trong quan niệm của chúng ta dường như đã thiên
về nhấn mạnh tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của cấp vĩ mô, vô hìnhtrung ít chú ý quan tâm đến cơ sở… và hệ quả là tạo nên sự thiếu bền vững từnền móng Quả thực, trong thể chế quan liêu - cách biệt với cơ sở thì dẫn đến
xa dân, không thấu hiểu cuộc sống của dân, tâm tư, nguyện vọng của dân vớibiết bao lợi ích và nhu cầu chính đáng hàng ngày của họ
Chỉ có trong thể chế dân chủ, cán bộ, công chức mới là “công bộc củadân”, gần dân, hiểu dân, học dân, lãnh đạo và tận tụy phục vụ dân trong sựgiúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tra giám sát của dân Dân chủ mới lúc
đó mới không biến thành “quan chủ”, “quan cách mạng” theo cách nói củaHồ Chí Minh Trọng dân, tin dân và vì dân đă làm thay đổi cách nhìn nhận,đánh giá về vị trí, vai trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa làđiểm xuất phát, vừa là mục tiêu của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, củaviệc đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT Bởi vậy từ đổi mới, Đảng ta
đã dần nhận thức và xử lý hợp lý hơn mối quan hệ và vai trò của các cấptrong hệ thống quản lý 4 cấp hiện nay Theo đó, cấp vĩ mô - toàn quốc vàtrung ương lẽ dĩ nhiên là hết sức quan trọng, bởi đó là cấp hoạch định đườnglối, chiến lược phát triển quốc gia, ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển của đất
Trang 37nước, của xă hội Nhưng cấp cơ sở cũng có tầm quan trọng của riêng nó Mỗilàng, xã, phường, thị trấn như là mỗi tế bào góp thành cái vĩ mô- toàn xă hội.Ở Việt Nam, kết cấu nhà - làng - nước là một kết cấu bền vững, định hình từlâu trong lịch sử tạo thành sức sống của dân tộc, truyền thống, bản sắc củamột nền văn hoá dân tộc Việt Nam đều có hằng số “Làng” Hơn nữa, mỗi mộtlàng xã là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn bộ hoạt độngcủa đời sống xă hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tới cuộc sống của ngườidân Làng, xã Việt Nam thực sự là một thực thể kinh tế - xă hội, chính trị vàvăn hóa đóng vai tṛò nền móng của cả xă hội, là động lực trực tiếp của pháttriển xã hội Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm nhuần và nhất quánquan điểm dân là gốc của nước thì cơ sở thực sự mang tầm ảnh hưởng vĩ mô.Chăm lo xây dựng HTCT cơ sở vững mạnh là làm cho HTCT cơ sở thật sự làHTCT của dân, do dân, vì dân, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân,nếu có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả Điều này không mới và đã được
minh chứng từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta: “Đẩy thuyền
đi là dân mà lật thuyền cũng là dân” (Nguyễn Trãi), hay “Dễ trăm lần không
dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” (Hồ Chí Minh) Khẳng định vị
trí, vai trò của cơ sở cũng chính là khẳng định nguyên lý về vai trò quyết địnhcủa quần chúng nhân dân trong hoạt động sáng tạo lịch sử
Cơ sở vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của HTCT,nhưng nó là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dânchủ của toàn bộ HTCT của nước ta Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động vàcuộc sống của nhân dân, nơi chính quyền gần dân nhất Nơi tổ chức và triểnkhai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọiđường lối, chủ trương có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chấtlượng hoạt động của HTCT cơ sở, mà nhất là phụ thuộc vào phẩm chất, nănglực của đội ngũ cán bộ đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền và cácĐTND ở cơ sở Chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở có ảnhhưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân Những phản ứng
Trang 38bất bình của người dân, tình trạng khiếu kiện kéo dài, đông nguời vượt cấptrong thời gian gần đây ở một số địa phương gây nên những điểm nóng chínhtrị phức tạp và các điểm nóng này nếu không xử lý sẽ có sức lan tỏa làm mất
ổn định chính trị và có thể dẫn đến mất chế độ
Ổn định chính trị và làm lành mạnh xã hội bắt đầu từ sự ổn định vàlành mạnh cơ sở với một HTCT cơ sở đựợc lòng dân Cơ sở là nền tảng củachế độ, nếu cơ sở rệu rã, suy yếu là khởi đầu cho những suy yếu và sụp đổ củachế độ
Tóm lại, cơ sở là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng nhìn theo cấp độ quản
lý từ trên xuống hoặc từ dưới lên Là cấp thấp nhất nhưng cơ sở lại là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ mô phải hướng đến, tác động đến Cơ sở là địa chỉ quan trọng nhất, xét đến cùng mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải tìm đến Lòng dân, ý dân, trí tuệ sáng tạo của dân hay sự đoàn kết, thống nhất giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân đều xuất phát và được kiểm chứng từ cơ sở Là cấp quản lý hành chính thấp nhất nhưng cơ sở lại là cấp sâu sát nhất Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn đi vào cuộc sống phải thông qua cơ sở, phải được thực hiện ở cơ sở để tạo thành phong trào hành động của nhân dân.
Trang 39Chương 2
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA 2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ TRẠNG THÁI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15o55' đến 16o14' vĩ Bắc, 107o18' đến
108o20' kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, Tây và Nam giáp tỉnhQuảng Nam, Đông giáp Biển Đông Nằm ở vào trung độ của đất nước, trêntrục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đườnghàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764 km về phía Bắc, cách thành phố HồChí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4
di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa MỹSơn và rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửangõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, TháiLan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tếĐông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trongnhững tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, Đà Nẵng có một vị tríđịa chính trị đặc biệt trong chiến lược quốc phòng và phát triển kinh tế của cảnước và khu vực miền Trung Tây Nguyên
Đà Nẵng là một thành phố biển Biển Đà Nẵng kéo dài gần 60 km vớinhiều bãi tắm liên hoàn tuyệt đẹp từ chân Đèo Hải Vân đến Non nuớc (NgũHành Sơn), bãi biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes - Mỹ bình chọn là 1 trong 6bãi biển quyến rũ nhất hành tinh Là thương cảng lớn nhất Miền Trung, là cửa
Trang 40gõ thông thương thương thuận lợi ra quốc tế với khoản cách ngắn nhất, giữ vịtrí quan trọng trên tuyến hàng hải Đông Nam Á và Đông Bắc Á
Thành phố bao gồm 6 quận nội thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyệnđảo gồm 56 xã, phường (11 xã), với tổng diện tích 1.255,53km2, dân số887.070 người (số liệu tháng 12 năm 2011); gồm: Quận Hải Châu là quậntrung tâm về chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của Thành phố; QuậnThanh Khê là quận có diện tích nhỏ nhất của thành phố; Quận Sơn Trà, với vịtrí khá đặc biệt, phía Đông là bờ biển dài, đẹp với nhiều bãi san hô lớn; QuậnNgũ Hành Sơn, với danh thắng Ngũ Hành Sơn và các bãi biển tuyệt đẹp;Quận Liên Chiểu, ngăn cách với tỉnh Thừa Thiên Huế bởi Đèo Hải Vân nơiđược mệnh danh là Thiên hạ Đệ nhất hùng quan; Quận Cẩm Lệ là một quậnmới trên địa bàn thành phố, được thành lập vào ngày 29/8/2005; Huyện HòaVang, là huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng; Huyện đảoHoàng Sa, là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý(khoảng 315 km), bao gồm các đảo: Hoàng Sa, Đá Bắc, Hữu Nhật, Đá Lồi,Bạch Quy, Tri Tôn, Phú Lâm, Linh Côn, Quang Hòa …và cồn Bông Bay, cồnQuan Sát, cồn Cát Tây, bãi Đá Chim Yến, Đá Tháp
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tuớng Chính phủ đã ký quyết địnhthành lập Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm năm tỉnh và thành phố:Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằmphát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng, từng bướcphát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thành một trong những vùngphát triển năng động của cả nước Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thànhphố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cảkhu vực miền Trung và Tây Nguyên
Trong những năm gần đây, Chính phủ đang tập trung nguồn lực đầu tưcho Vùng kinh tế trọng điểm Miền trung Nhiều dự án lớn về kết cấu hạ tầng
đã và đang được triển khai như đường hầm xuyên đèo Hải Vân nối Huế với