Các cơ quan chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước, các tổ chứcvà cá nhân trong xã, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực thiquyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cấp xã là cấp gần dân nhất, sát dân nhất, là nơi trực tiếp triển khai cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống ở cơ sở Hoạtđộng của chính quyến cấp xã có chất lượng và hiệu quả, thì các mặt công tác,các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh ở cơ sởđược giải quyết tốt và phát triển Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh, nền tảng của mọi công tác là cấp xã và cấp xã là gần gũi dân nhất, là nềntảng của hành chính - cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi Thực tiễn lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cho thấy, tình hìnhchính trị - xã hội Việt Nam ở mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển ổn địnhhay không, tuỳ thuộc một phần không nhỏ vào sự ổn định của cấp xã
Trong những năm gần đây, chính quyền cấp xã cả nước đã có những tiến
bộ rõ nét, có sự chuyển biến tích cực về tổ chức và hoạt động; về nhận thức,
tư duy; về phong cách, phương pháp lãnh đạo và quản lý Tuy vậy, so với yêucầu về cải cách hành chính thì hoạt động của chính quyền cấp xã còn bộc lộnhiều yếu kém, khiếm khuyết, thậm chí có khuyết điểm nghiêm trọng Mặtkhác, so với tiến trình đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị, đổimới bộ máy nhà nước, thì quá trình đổi mới ở chính quyền cấp xã còn chậm Trong hoạt động của chính quyền địa phương, vấn đề nổi lên bức xúchiện nay là hoạt động của chính quyền cấp xã Hiện nay, hoạt động của chínhquyền cấp xã nhiều nơi còn kém hiệu quả, chất lượng chưa đáp ứng tốt yêucầu nhiệm vụ; một bộ phận không nhỏ cán bộ chính quyền cấp xã đã thoáihoá biến chất, có tư tưởng đặc quyền, trục lợi, quan liêu, tham nhũng, lãngphí, suy thoái về đạo đức, lối sống Tình trạng khiếu kiện của nhân dân đốivới chính quyền cấp xã có xu hướng gia tăng trong thời gian qua; chủ yếu liênquan đến các vấn đề dân chủ, công bằng trong việc phân chia ruộng đất, thu,chi tài chính, những đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
Trang 2thuật nông thôn Hoạt động của chính quyền cấp xã ở nhiều nơi kém hiệu quả,chất lượng thấp; phẩm chất, năng lực và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán
bộ cấp xã còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu Đây là vấn đề đángquan tâm hiện nay, cần phải được nhìn nhận thấu đáo và có giải pháp giảiquyết tốt
Huyện Gia Lâm hiện nay có 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thịtrấn và 20 xã Là khu vực phát triển đô thị ở phía Đông Bắc của Thủ đô HàNội, Gia Lâm là nơi tập trung các công trình đầu mối giao thông và hạ tầng
kỹ thuật quan trọng của quốc gia và của thành phố, là khu vực nông nghiệp,nông thôn ngoại thành Hà Nội Bên cạnh đó, Gia Lâm cũng là huyện pháttriển các cơ sở công nghiệp quy mô, các trung tâm dịch vụ, thương mại, cáclàng nghề lớn Vị trí, tầm quan trọng của huyện Gia Lâm đã khách quan quyđịnh tầm quan trọng của cấp xã và chính quyền cấp xã trên địa bàn; đồng thờiđặt ra vấn đề phải nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của chính quyềncấp xã để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trên địa bàn trong tình hình mới
Vì vậy, việc lựa chọn vấn đề " Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội hiện nay" làm đề tài
luận văn là cấp thiết về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã từ năm 1991 đếnnay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt độngchính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau và có một số đề tài đãđược công bố như:
- Học viện Hành chính quốc gia năm 1991, công bố bộ 3 cuốn sách về:+ Cải cách bộ máy nhà nước
+ Cải cách bộ máy quản lý hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũcông chức nhà nước
+ Cải cách cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế
Trang 3Tiếp đó năm 1993 xuất bản kỷ yếu hội thảo đề tài KX 05-08 về phươngthức tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước.
Những cuốn sách trên có một số bài của một số tác giả viết về tổ chức,hoạt động của các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa pưhơng, trong đó cóchính quyền cấp xã
- Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta của giáo sư Hồ Văn
Thông được in trong cuốn sách "Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày
nay", tập II, Nxb Tư tưởng Văn hoá, Hà Nội, 1991.
- Tác giả Lê Đình Chếch, Về Nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán
bộ chính quyền cấp xã ở Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 1994.
- "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" của Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh do tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và giáo sư Hồ Thông chủ biên,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam" của Học viện
Hành chính quốc gia do tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2001
- "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã" của Ban Tổ chức
Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nớc do tiến sĩ Chu Văn Thànhchủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- “Một số vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong giai đoạn hiện nay” do phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Tiến Quý chủ biên.
- “55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- “Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, ý nghĩa lý luận và thực tiễn”, Tạp
chí Cộng sản và Tỉnh uỷ Hà Nam xuất bản, 2001
Ngoài ra, một số người làm công tác quản lý giữ cương vị chủ chốt ở địaphương cũng bàn về tổ chức bộ máy của chính quyền từ thực tế hoạt động củađịa phương mình thông qua các bài viết đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước,Tạp chí Nhà nước pháp luật
Trang 4Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tổ chức,hoạt động của chính quyền cấp xã đã đề cập, hoặc là ở dạng chung nhất, hoặc
ở một vài khía cạnh đến việc tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã, mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp Chưa có công trình nào nghiên cứu sâu, có hệthống dưới góc độ một luận văn khoa học về chính quyền cấp xã ở một tỉnh,một địa phương cụ thể như huyện Gia Lâm Tuy nhiên, trong quá trình sưutầm và nghiên cứu, tác giả có tham khảo, chọn lọc và sử dụng, kế thừa các tưliệu có liên quan, như: những quan niệm, khái niệm, luận điểm, số liệu…trong các công trình, các văn bản, tài liệu đã được công bố có liên quan đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã, trong đó trọng tâm baogồm: chất lượng đội ngũ cán bộ, các nội dung được quy định về mặt pháp lý
Trang 5đối với hoạt động của chính quyền cấp xã; các mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội và mức độ hài lòng của người dân.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn khảo sát thực trạng chất lượng hoạt động chính quyền cấp xãtrên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
- Thời gian khảo sát thực trạng từ 2005-2010 và đề xuất giải pháp đến 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về lý luận Nhà nước - pháp luật nói chung và chính quyền xã, thị trấn nói riêng
- Trong từng nội dung cụ thể sẽ, tác giả luận văn sử dụng phương phápphân tích tổng hợp, khái quát so sánh, điều tra xã hội học, thống kê và sửdụng số liệu để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn về cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức,hoạt động của chính quyền cấp xã Đặc biệt làm rõ chất lượng hoạt động củachính quyền cấp xã ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội hiện nay
- Nêu rõ các nhân tố tác động tới chất lượng hoạt động của chính quyềncấp xã và đề xuất một số tiêu chí để đánh giá chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã, luận văn nêu ra phương hướng và giải pháp giải quyết nhằmđổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã, phù hợp vớiquá trình phát triển hiện nay
- Luận văn làm tư liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhànghiên cứu và những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 6Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ
Hiện nay, trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta thì đơn
vị xã chiếm số đông nhất và tính cộng đồng của những người dân ở đócũng cao hơn, do cấp xã gắn liền với nền văn hoá làng xã lâu đời của ngườiViệt Trong phạm vi xã, thường có các cộng đồng dân cư nhỏ hơn nhưlàng, xóm, thôn, bản Đây hầu hết là những cộng đồng dân cư tồn tại đãlâu đời, có sự gắn bó chặt chẽ với nhau về nhiều phương diện như kinh tế,văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục, tập quán, ngành nghề và nhiềunhững sinh hoạt chung khác
Đơn vị hành chính xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, các xã thuộcvùng núi, hải đảo thường có tính tự quản, tính độc lập cao hơn so với cácđơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn và các cấp lớn hơnnhư cấp huyện, quận Trong phạm vi mỗi xã, phường, các mối quan hệ trongcộng đồng dân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chếkhác nhau, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định vàthiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phongphú, đa dạng
Do các mối quan hệ cộng đồng gắn bó chằng chịt, cuộc sống “tối lửa, tắtđèn” có nhau nên những người làm việc trong các cơ quan chính quyền cấp
Trang 7xã được xem là ít quan liêu nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máynhà nước ta, song lại dễ bị tác động bởi những yếu tố phi chính thức nhất Các cơ quan chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước, các tổ chức
và cá nhân trong xã, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực thiquyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chínhsách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở xã nên vừa phải đủ mạnh, phải thểhiện uy quyền của mình mới có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ màNhà nước giao phó; đồng thời, cũng vừa phải mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp xúc,làm việc với dân (những người cùng sinh sống, với những mối quan hệ cộngđồng gắn bó khăng khít, bền chặt chi phối), phải đáp ứng những nhu cầu, đòihỏi đa dạng của mỗi người dân sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp vớitruyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗi địa phương Do vậy, việc
tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền cấp xã ở nước ta rất phức tạp,
dễ dẫn đến tình trạng hình thức, kém hiệu lực, hiệu quả hoặc lạm quyền, tùytiện, cát cứ
Cấp xã gồm xã, phường, thị trấn (thường gọi chung là đơn vị hành chính
cơ sở), là thực thể nhỏ nhất, cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị 4 cấp ởnước ta hiện nay Cấp xã là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nênđược gọi là cấp cơ sở Vì vậy, chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếpquan hệ với nhân dân trong hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính nhànước; là nền tảng của hệ thống chính trị, là cơ sở thực tiễn thực hiện chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Là cấp chính quyền sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân,hiểu dân, am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phươnghơn cả, nên những người đại diện nhà nước ở cấp xã - chính quyền cấp xãphải giải quyết các công việc đa dạng, phức tạp của dân, không trái pháp luật,
và phải có hiệu quả cao nhất Cán bộ xã trong công việc, đòi hỏi phải thực sự
vì dân, lấy dân làm gốc, không thể vì cái toàn cục mà quên đi hoàn cảnh điều
Trang 8kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi người dân cụ thể mà làmtrái pháp luật, trái đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các quy định, quyếtđịnh của Nhà nước, giải quyết những yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của dân.Đồng thời cũng là những người trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếp thu các ýkiến, những đề xuất, kiến nghị của nhân dân Do vậy, họ cũng là cấp phảiphản ánh một cách trung thực những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu củangười dân lên các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc giảiquyết những vướng mắc, thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dânnói chung và của mỗi người dân nói riêng
Nếu chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả thì đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực
tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng vàNhà nước; đồng thời tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa Đảng, Nhànước và nhân dân Ngược lại, nếu chính quyền cấp xã không giải quyết mộtcách thấu đáo những thắc mắc, vướng mắc của nhân dân, các cán bộ, côngchức xã làm việc không tốt có thể sẽ làm bùng phát nhiều phản ứng tiêu cựccủa nhân dân đối với chính quyền nhà nước, lòng tin đối với Đảng, thậm chí
có thể gây mất đoàn kết giữa các dòng họ, thôn, bản trong xã, ảnh hưởngxấu đến sự phát triển và ổn định của xã
Vị trí, vai trò của cấp xã nêu trên đã cho thấy tính chất đặc thù của chínhquyền cấp xã Đồng thời, nhiều công việc được giải quyết ở địa bàn xã mangtính chất tự quản Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan chính quyền cấp xã khi giảiquyết các công việc ở địa bàn xã phải luôn chủ động, năng động với năng lựcđiều hành và trách nhiệm rất cao
Chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, trong đó HĐND là cơ quanquyền lực ở xã do dân cử ra, bầu ra Uỷ ban nhân dân và UBND chịu tráchnhiệm trước HĐND; các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếpcủa UBND
Trang 9Vị trí, vai trò quan trọng của cấp xã (xã, phường, thị trấn) đã khách quanquy định vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cấp xã:
Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân.
Cán bộ cấp xã hàng ngày sinh hoạt với dân trong mối quan hệ không chỉ làgiữa chính quyền với dân mà còn là quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời với
cả những tập quán tốt đẹp cơ bản cũng như một số tập quán lạc hậu; là ngườigiải quyết trực tiếp hàng ngày không qua chính quyền trung gian nào khác vềnhững vấn đề dân quyền, dân sinh, dân trí, dân tâm, làm sao một mặt phảitheo đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mặt khác phải sáthợp với tình hình thực tế trong xã hội và thấu tình, đạt lý trong quan hệ xómlàng Sự đổi mới từng ngày của nông thôn về các mặt đòi hỏi cán bộ chínhquyền cấp xã phải có tư duy mới, trình độ và kiến thức mới về chính trị, kinh
tế, khoa học - kỹ thuật, quản lý
Hai là, tổ chức bộ máy ở xã không giống như ở các đơn vị hành chính
cấp trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương Vìthế, chính quyền cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế - xãhội, an ninh trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền do pháp luật quy định Nó
có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền nhà nước, nối liền trựctiếp chính quyền với quảng đại quần chúng nhân dân Cho nên, HĐND xãphải thực sự là đại biểu cho nhân dân ở cơ sở; UBND là cơ quan chấp hànhcủa HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, xử lý kịp thờinhững yêu cầu hàng ngày của nhân dân
Ba là, chính quyền cấp xã trực tiếp quán triệt, triển khai thực hiện các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bànxã; làm cho chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của chính quyền cấphuyện, tỉnh được cụ thể và hiện thực hóa ở cơ sở Chính quyền cấp xã thựchiện việc quản lý địa phương về tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hộitheo quy định của pháp luật
Trang 10Vì vậy, chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đất nướcphụ thuộc rất quan trọng vào sự đóng góp từ chất lượng và hoạt động củachính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã vững mạnh, hoạt động có chất lượng
sẽ góp phần quan trọng làm cho chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,của chính quyền cấp huyện, tỉnh, sát hợp với cơ sở, với dân, hiện thực hóatrong thực tiễn ở cơ sở
Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã thể hiện cụ thể ở vị trí, vai trò củaHĐND và UBND cấp xã Tuy có chức năng và quyền hạn khác nhau, nhưngHĐND và UBND cấp xã có mối quan hệ mật thiết về mặt tổ chức cũng nhưtrong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Do đó việc phát huy và thực hiện tốtvai trò của UBND xã, phường, thị trấn là góp phần nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động của HĐND cùng cấp và ngược lại: không ngừng cải tiến đổi mớinội dung phương pháp làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động là biện phápthiết thực để củng cố vai trò vị trí của chính quyền cấp xã, tăng cường hiệulực và hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay, động viên các tầnglớp nhân dân ở địa phương tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý nhànước ở địa phương, và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với đảng uỷ cơ sở
Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với đảng uỷ cơ sở là mối quan hệ cơbản ở cơ sở, là sự thể hiện cụ thể về mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền ở
cơ sở Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnhđạo Nhà nước và xã hội Do đó, trong mọi hoạt động của chính quyền cáccấp, trong đó có chính quyền cấp xã phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đểthực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng trong thực tiễn
Ở cơ sở, HĐND, UBND cấp xã phải chấp hành đường lối, chủ trươngcủa Đảng và chịu sự lãnh đạo của đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn Banchấp hành đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND, UBND xãbằng chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc bố trí cán bộ
Trang 11thực hiện quyền kiểm tra việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách,chỉ thị, nghị quyết của Đảng Sự lãnh đạo của cấp uỷ cơ sở còn được thựchiện thông qua những đảng viên phụ trách và các đồng chí đảng viên công táctrong HĐND, UBND.
Căn cứ vào nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp xã, chính quyền cấp xã,
cụ thể là HĐND và UBND theo chức năng, nhiệm vụ của mình, xây dựng kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội, các mặt hoạt động của xã, dự toán ngân sáchhàng năm của địa phương, báo cáo để đảng uỷ xã thông qua trước khi đưa trìnhHĐND xem xét quyết định Định kỳ 6 tháng 1 lần, UBND xã báo cáo với banchấp hành đảng bộ cơ sở về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội và việc tổ chức thực hiện những chủ trương mà đảng bộ xã đề ra
Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng.
Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểquần chúng là mối quan hệ quan trọng giữa các tổ chức trong hệ thống chính trịnước ta ở cơ sở Mối quan hệ này được giải quyết tốt sẽ góp phần rất quan trọngthúc đẩy các phong trào của xã phát triển Đại hội XI của Đảng xác định:
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọngtrong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổquốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng củanhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dânchủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhànước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụcông dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhànước [24, tr.86]
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, căn cứ vào Luật tổ chức HĐND,UBND, mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã với Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể quần chúng thể hiện cụ thể là:
Trang 12Quan hệ HĐND với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân
Trong mối quan hệ này, HĐND các cấp phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổquốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác ở địa phương xây dựng mốiquan hệ làm việc để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Ở cấp xã, mỗinăm 2 lần vào giữa năm, cuối năm, chủ tịch HĐND cấp xã thông báo bằng vănbản đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp về tình hình hoạt động của HĐNDcấp mình và nêu những kiến nghị của HĐND với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc.Trong kỳ họp thường lệ của HĐND, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấpbáo cáo về hoạt động của Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền, về những
ý kiến, kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đối với HĐND, UBND và đạibiểu HĐND cùng cấp
Chủ tịch HĐND phối hợp với ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân cùng cấp theo dõi hoạt động và giúp đỡ đại biểuHĐND làm nhiệm vụ đại biểu, tổ chức cho đại biểu tiếp xúc cử tri, thu thập ýkiến nguyện vọng của nhân dân để báo cáo với HĐND
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thường xuyên giámsát việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND, đề nghị khen thưởng nhữngđại biểu có thành tích xuất sắc, đề nghị bãi miễn những đại biểu không cònxứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân theo quy định của pháp luật
Chủ tịch HĐND tổ chức để đại biểu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấptham gia các hoạt động giám sát, kiểm tra và phối hợp với ban thường trực Uỷban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các
dự thảo văn bản pháp luật và những vấn đề quan trọng ở cơ sở
Quan hệ UBND với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Trong mối quan hệ này, UBND tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng
Trang 13và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước,đại biểu dân cư, cán bộ công chức nhà nước.
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đoàn thể nhândân ở cơ sở được mời dự các phiên họp của UBND khi bàn về các vấn đề cóliên quan
Ủy ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của cơ sởcho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân UBND và các thành viên củaUBND có trách nhiệm giải quyết và trả lời các kiến nghị của Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể nhân dân
Như vậy, chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) có mối quan hệ mật
thiết về mặt tổ chức với hệ thống chính trị cấp cơ sở cũng như trong việc thựchiện nhiệm vụ được giao
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã
Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm chínhquyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ quan làHĐND và UBND Theo đó, phân tích chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp
xã đòi hỏi phải làm rõ chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND cấp xã
1.1.2.1 Tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của hội đồng nhân dân cấp xã
Tổ chức hội đồng nhân dân cấp xã.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đạidiện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địaphương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhànước cấp trên Hội đồng nhân dân cấp xã được tổ chức theo luật định Luậtbầu cử đại biểu HĐND (sửa đổi) quy định: số lượng đại biểu HĐND cấp xãđược bầu cụ thể là:
Trang 14Xã, thị trấn miền xuôi có từ 3.000 người trở xuống được bầu 19 đại biểu,
có trên 3.000 người thì cứ thêm 1.500 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưngtổng số không quá 25 đại biểu Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 2.000người trở xuống được bầu 19 đại biểu, nếu có trên 2.000 người thì cứ thêm
500 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không quá 25 đại biểu
Xã có từ 1.000 người trở xuống được bầu 15 đại biểu;
Phường có từ 5.000 người trở xuống được bầu 19 đại biểu, có trên 5.000người thì cứ thêm 3.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng sốkhông quá 25 đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã không có các ban và thường trực HĐND nhưHĐND cấp huyện và cấp tỉnh, mà chỉ có: chủ tịch HĐND, phó chủ tịch HĐND,các đại biểu HĐND Nhiệm kỳ mỗi khoá của HĐND các cấp là 5 năm
Chức năng, nhiệm vụ của HĐND cấp xã.
Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực ở địa phương, vừa là một
bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực nhà nước thống nhấttrong cả nước, với quyền làm chủ của nhân dân, vừa đại diện cho ý chí,nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân địa phương.HĐND vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, vừa chịu tráchnhiệm trước chính quyền cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, bảo đảm thựchiện pháp lụât, các quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên Điều 119Hiến pháp 1992, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) quy định: HĐND là
cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu tráchnhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên
Trong tổ chức và hoạt động của mình, vai trò HĐND được biểu hiện:
Một mặt, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND
được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực nhà nước, quyết địnhnhững vấn đề quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và
Trang 15phát triển kinh tế - xã hội; biến ý chí của nhân dân địa phương trở thành bắtbuộc đối với dân cư trên lãnh thổ địa phương, giám sát hoạt động của UBNDcùng cấp; giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương Mặt khác, với
tư cách là cơ quan đại diện, HĐND là cơ quan do cử tri bầu ra theo nguyêntắc phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín, HĐND là đại diện tiêu biểu cho tiếngnói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể
- Hội đồng nhân dân cấp xã có chức năng:
Chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộcquyền của địa phương, cơ sở HĐND cấp xã có chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn quyết định về các vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhoá, giáo dục, xã hội và đời sống; các vấn đề về quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội; thi hành pháp lụât; xây dựng chính quyền địa phương và quản
lý địa giới hành chính
Chức năng giám sát: HĐND giám sát hoạt động của chủ tịch, phó chủtịch HĐND, UBND cấp xã; giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND,việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địaphương Xem xét báo cáo của chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; xem xét việctrả lời chất vấn của người bị chất vấn theo quy định tại điều 24 Luật tổ chứcHĐND và UBND (sửa đổi) Trong trường hợp cần thiết, giao cho chủ tịchHĐND và đại biểu HĐND giúp HĐND giám sát việc thi hành pháp luật, Nghịquyết của HĐND và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất
Trong quá trình thực hiện giám sát, chủ tịch HĐND, đại biểu HĐND có quyềnyêu cầu các cơ quan Nhà nước liên quan, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổchức kinh tế cung cấp tài liệu thông tin cần thiết; khi phát hiện có sai phạm thì cóquyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó xem xét, xử lý theo thẩm quyền
- Hoạt động của HĐND cấp xã được thể hiện qua 3 hình thức:
Trang 16Hoạt động tập thể của HĐND: kỳ họp HĐND là hình thức hoạt động củayếu của HĐND HĐND cấp xã họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ Trong trườnghợp cần thiết, theo yêu cầu của UBND hoặc ít nhất 1/3 số đại biểu HĐND yêucầu thì chủ tịch HĐND quyết định triệu tập kỳ họp bất thường.
Hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch HĐND cấp xã
Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã
1.1.2.2 Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của ủy ban nhân dân cấp xã
Tổ chức của UBND cấp xã
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành củaHội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu tráchnhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên
Theo Nghị định 174/CP ngày 29-9-1994 của Chính phủ, thành viên củaUBND cấp xã gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên Chủ tịch là đại biểuHĐND; các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND KhiHĐND bầu xong, danh sách thành viên UBND phải được cơ quan hành chínhnhà nước cấp trên trực tiếp phê chuẩn Theo luật định, số thành viên củaUBND cấp xã là 7 người, trong đó có 1 chủ tịch và 1 phó chủ tịch UBND và
5 uỷ viên
Chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã.
Điều 123 Hiến pháp 1992, Điều 2 luật tổ chức HĐND và UBND sửa đổiquy định: "UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành củaHĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấphành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghịquyết của HĐND cùng cấp
- Ủy ban nhân dân cấp xã có 2 tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND,
là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND cấp xã có vai tròquan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên
Trang 17các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp lụât; tổchức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, nghị quyết của HĐND cùng cấp.Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND có vaitrò trong việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội ở địa phương mình.
- Hình thức hoạt động của UBND cấp xã được thể hiện ở phiên họp củaUBND và hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên UBND.Phiên họp của UBND là hình thức hoạt động tập thể của UBND cấp xã.UBND cấp xã họp chính thức mỗi tháng 1 lần
Hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên UBND cấp xã làviệc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Trên cơ sở làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND cấp xã, cóthể thấy nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND được xác định là một cấpchính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội,
an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở Về nội dung, nhiệm vụ, quyền hạn củaHĐND và UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ HĐND quyếtđịnh biện pháp còn UBND tổ chức thực hiện
1.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.2.1 Quan niệm chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
* Quan niệm về chất lượng
Chất lượng là khái niệm mang tính tương đối vì luôn được nhìn nhận ở
hai khía cạnh: Thứ nhất, chất lượng liên quan đến người sử dụng nên nó tùy
thuộc vào yêu cầu của người sử dụng Chẳng hạn, cùng một sản phẩm haydịch vụ nhưng hai người sử dụng khác nhau sẽ có đánh giá khác nhau Từ đó
nảy sinh câu hỏi "chất lượng của ai"? Thứ hai, chất lượng phải dựa vào khảo
sát thực tế Theo quan niệm này thì chất lượng mang tính tuyệt đối hơn Chấtlượng là một ngưỡng tuyệt đối để đánh giá, xếp loại chất lượng có thể được
Trang 18xem như là một sự vượt trội, sự phù hợp với mục tiêu, có giá trị được đo bằngnhững tiêu chí nhất định.
Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của
sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tínhkhách quan của sự vật
Chất lượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau,mỗi một khoa học có cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu vấn đề chấtlượng Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất,giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc” Chất lượng của mỗi sựvật, hiện tượng là tổng thể thống nhất chất lượng của các bộ phận cấu thành
sự vật, hiện tượng ấy, làm cho sự vật ấy là nó, khác với sự vật, hiện tượngkhác Tổng thể các yếu tố cấu thành chất lượng làm cho chất lượng của sựvật, hiện tượng có giá trị, tác dụng đối với đời sống thực tiễn, đặc biệt là chấtlượng của các sự vật, hiện tượng trong xã hội
Khi xem xét chất lượng một con người, chất lượng một đội ngũ, chấtlượng hoạt động của một đơn vị, một tổ chức phải có cái nhìn tổng thể, toàndiện các yếu tố, các bộ phận hợp thành chất lượng của con người, đội ngũ,hoạt động của tổ chức, đơn vị đó Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp
xã được hiểu là hệ thống các yếu tố cấu thành chất lượng hoạt động của chính
quyền cấp xã
Với cách tiếp cận trên, luận văn đưa ra quan niệm:
Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã là tổng hợp chất lượng
toàn diện từng nội dung, từng mặt hoạt động của chính quyền cấp xã, biểu hiện cụ thể ở mức độ hoàn thành tổ chức thực hiện, quản lý các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn cấp xã trong từng giai đoạn cụ thể.
Trước hết, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã được đo bởi các
nội dung hoạt động của chính quyền cấp xã theo chức năng, quyền hạn, bởi
Trang 19các dịch vụ của chính quyền phục vụ nhân dân, bởi các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của cấp cơ sở Các nội dung hoạt động của chính quyền cấp
xã theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn: quán triệt, xây dựng các chủ trương,
kế hoạch; tổ chức thực hiện, động viên các lực lượng, các tầng lớp nhân dânthực hiện chủ trương, kế hoạch; giám sát, kiểm tra việc thực hiện chủ trương,
kế hoạch trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, anninh, xây dựng chính quyền… được thực hiện hiệu quả, có chất lượng, thìchất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã là tốt; và ngược lại
Thứ hai, hoạt động của chính quyền cấp xã có chất lượng phải được biểu
hiện cụ thể ở mức độ hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn cấp xã, bảo đảm ổn định chính trị - xãhội, vững mạnh về quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, văn hóa, nâng caođời sống của các tầng lớp nhân dân, xây dựng xã giàu mạnh Mức độ hoànthành các nhiệm vụ đó được cấp trên và nhân dân đánh giá đúng, bản thânchính quyền cũng hài lòng đối với hoạt động của mình trong thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ ở địa phương
Như vậy có thể thấy: thực chất chất lượng hoạt động của chính quyềncấp xã được biểu hiện cụ thể ở kết quả, hiệu quả hoàn thành các nhiệm vụtheo chức năng, quyền hạn của chính quyền cấp xã; biểu hiện cụ thể ở sự ổnđịnh, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, sự bảo đảm về quốc phòng, ạnninh, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; ở đời sống vật chất và tinh thần của cáctầng lớp dân cư ở cấp xã, ở các thôn, xóm, ở trình độ thực hiện dân chủ ở cơ
sở, mức độ phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện
các nhiệm vụ của địa phương và xây dựng đời sống ở cơ sở Không thể nói
chính quyền cấp xã hoạt động có chất lượng, nếu các nhiệm vụ theo chứcnăng, quyền hạn của chính quyền cấp xã không được thực hiện tốt, kinh tếkém phát triển, có nhiều điểm nóng gây bức xúc, đời sống vật chất và tinhthần của các tầng lớp dân cư ở cấp xã còn nhiều khó khăn, tình hình vi phạm
Trang 20quyền làm chủ của nhân dân còn diễn ra và phát triển; đội ngũ cán bộ chínhquyền suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và lối sống.
1.2.2 Các nhân tố tác động đến chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã hiện nay chịu sự tác động,chi phối của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, vừa trực tiếp vừa giántiếp Có thể nêu lên và phân tích một số nhân tố tác động chính sau:
Một là, các nhân tố tác động từ hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm: + Sự lãnh đạo của đảng uỷ cấp cơ sở
Trong các nhân tố tác động từ hệ thống chính trị cấp cơ sở, thì sự lãnhđạo của đảng uỷ cấp cơ sở là nhân tố tác động cơ bản nhất Hoạt động củachính quyền cấp xã, của HĐND, cũng như UBND cấp xã đặt dưới sự lãnh đạotrực tiếp của đảng uỷ cấp cơ sở; nhằm thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chủtrương lãnh đạo của đảng bộ, của đảng ủy cấp xã trong thực tiễn đời sống ở
cơ sở Vì thế, sự trong sạch, vững mạnh của đảng uỷ cấp cơ sở, sự trong sạch
và gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong đảng bộ xã là nhân tố cơ bản đầutiên bảo đảm chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã Nếu đảng uỷ cấp
cơ sở lãnh đạo không tốt, nội bộ mất đoàn kết, không thực hiện nghiêmnguyên tắc tập trung dân chủ…, có nhiều sai phạm, thì chất lượng hoạt độngcủa chính quyền cấp xã không thể đáp ứng yêu cầu
Sự phối hợp hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở có vai trò quantrọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết ở địa phương, “vận động, giáodục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệcác quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúpđoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sốngmới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội” [24, tr.87] Vì thế, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phối hợp hoạt động hiệu quả với
Trang 21UBND, HĐND xã thì sẽ là nhân tố rất quan trọng nâng cao chất lượng hoạtđộng của chính quyền cấp xã.
Hai là, cCác nhân tố thuộc bản thân tổ chức của chính quyền cấp xã + Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của chính quyền cấp xã
Cán bộ bao giờ cũng là “gốc” của công việc Có thể nói, tổ chức vàhoạt động của chính quyền cấp xã thể hiện cụ thể ở năng lực, trình độ,phẩm chất đạo đức của cán bộ cấp xã Nếu chỉ cần một bộ phận cán bộ lãnhđạo, quản lý của chính quyền cấp xã bị suy thoái về phẩm chất chính trị,đạo đức, phẩm chất, có hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền,
ức hiếp, sách nhiễu nhân dân thì sẽ làm cho chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã bị suy giảm nghiêm trọng, chính quyền cấp xã không hoànthành nhiệm vụ của mình
+ Tổ chức phối hợp hoạt động trong bộ máy lãnh đạo, quản lý cấp xã
Đó là sự phối hợp hoạt động của các bộ phận trong bộ máy chính quyềncấp xã: UBND, HĐND; sự phối hợp hoạt động của chủ tích, phó chủ tịchUBND, HĐND, cũng như các bộ phận chức năng khác trong tổ chức chínhquyền cấp xã Tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm giữa các bộ phận;
sự phối hợp không nhịp nhàng; tình trạng “mạnh ai nấy làm” của các bộ phậntrong tổ chức chính quyền cấp xã… còn diễn ra, và sự chia rẽ, mất đoàn kếtnội bộ thì sẽ ảnh hưởng rất tiêu cực đến chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã Vì thế, sự tác động của nhân tố này đòi hỏi phải luôn được chútrọng, phát hiện ra các vấn đề nảy sinh để tập trung xử lý kịp thời mới nângcao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
Cơ sở vật chất, tài chính, đãi ngộ.
Cơ sở vật chất, tài chính, các quy định về chức năng, quyền hạn và đãingộ đối với từng bộ phận và cá nhân trong bộ máy chính quyền cấp xã cũng lànhân tố quan trọng trực tiếp tác động đến chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã Cơ sở vật chất, tài chính là điều kiện cho chính quyền cấp xã
Trang 22thực hiện nhiệm vụ Trong tình hình hiện nay, ở nhiều xã còn rất nhiều khókhăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, tài chính; chính sách đãi ngộ cho cán bộ,công chức cấp xã rất hạn chế Tuy không phải là quyết định tất cả, nhưngnhân tố này tác động trực tiếp và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt độngcủa chính quyền cấp xã.
Ba là, các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí ở cơ sở.
+ Các điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương
Đây là nhân tố điều kiện có tính dài lâu, nó có thể tạo thuận lợi hoặc gâykhó khăn cho hoạt động của chính quyền cấp xã Điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của địa phương là các nhân tố về địa lý, đất đai, diện tích, dân số, câytrồng, vật nuôi, nghề, mức sống, đô thị hay nông thôn, miền xuôi hay miềnnúi…, nếu thuận lợi sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi và ít khó khăn cho hoạtđộng của chính quyền cấp xã
+ Trình độ, dân trí và các quan hệ truyền thống ở địa phương
Đó là các vấn đề về: trình độ văn hóa, dân trí của các tầng lớp nhân dân;tình trạng dân cư, dân tộc, tôn giáo; truyền thống lịch sử, văn hóa, phong tục,tập quán của địa phương; các mối quan hệ tình làng nghĩa xóm đã hình thànhlâu đời, các quan hệ dòng tộc ở địa phương có nhiều tính đặc thù… Đây lànhân tố tác động không nhỏ, nếu biết khơi dậy và phát huy tốt sẽ là động lựcquan trọng trong xây dựng và phát triển các mặt của đời sống ở địa phương,nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
Tóm lại, các nhân tố tác động một cách tổng hợp, nhiều chiều đến chất
lượng hoạt động của chính quyền cấp xã; tùy theo tình hình cụ thể từng xã,phường, thị trấn trong từng giai đoạn mà sự tác động của các nhân tố có sựkhác nhau, đặt ra yêu cầu và thách thức, cũng như gây nên những khó khăn,phức tạp đối với hoạt động của chính quyền cấp xã Cần thấy rõ sự tác độngcủa các nhân tố để phát huy mặt tích cực, thuận lợi, hạn chế những tác động
Trang 23khó khăn, tiêu cực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp
xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
1.3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
Tiêu chí, hiểu theo nghĩa chung nhất là dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết,xếp loại, đánh giá một sự vật, hiện tượng, một khái niệm, một hoạt động nào
đó Đánh giá theo tiêu chí là sự đối chiếu với những tiêu chí đã được đề ratheo yêu cầu của nội dung đánh giá để xác định sự vật, hiện tượng đó đạt đếnyêu cầu nào, có những điểm mạnh và hạn chế gì; trên cơ sở đó có thể rút rabài học kinh nghiệm gì để vận dụng thực hiện tốt hơn, có chất lượng hơntrong thời gian tới Mỗi một sự vật, hiện tượng cụ thể đều có hệ tiêu chí đánhgiá chất lượng riêng Không thể lấy tiêu chí chất lượng của sự vật, hiện tượngnày để đo và đánh giá chất lượng của sự vật, hiện tượng khác Tuy nhiên, việcxác định hệ tiêu chí để đánh giá chất lượng của một hoạt động nào đó, trênmột lĩnh vực nào đó cũng đều phải dựa trên cơ sở phương pháp luận chungnhất định
Xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã sẽ giúp chúng ta “đong”, “đo” được chất lượng, mặt mạnh vàhạn chế về chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã hiện nay như thế nàovới khoảng thời gian xác định, trong sự đối chiếu, so sánh trên các dấu hiệu
cơ bản của tiêu chí
Từ cách đặt vấn đề và phương pháp luận nêu trên, căn cứ vào đặc điểm,vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, luận văn xây dựng cáctiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã hiện nay trêncác nội dung chính sau:
1.3.1 Mức độ thực hiện các nội dung hoạt động và hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền cấp xã trong việc tổ chức và quản lý các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn
Trang 24Tiêu chí này thực chất là dựa trên kết quả hoàn thành các nhiệm vụ chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của chính quyền cấp xã đểđánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã Dùng kết quả hoànthành nhiệm vụ để đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã làmột phương pháp đánh giá có hiệu quả, có ý nghĩa thực tiễn cao Tiêu chí nàyxét đến cùng, phản ánh một cách khách quan nhất, đầy đủ nhất, là thước đochủ yếu đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã trên thực tế.Kết quả hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ vừa là sản phẩm chủyếu, vừa là sự phản ánh trực tiếp nhất trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ
và chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã Không thể nói hoạt độngcủa chính quyền cấp xã có chất lượng cao, nếu kết quả hoàn thành các nhiệm
vụ ở địa phương của chính quyền cấp xã đó ở mức thấp
Đánh giá chất lượng theo tiêu chí này cần phải nắm chắc đặc điểm, tìnhhình nhiệm vụ ở từng xã, thị trấn, phường đã xác định trong giai đoạn cáchmạng mới; cũng như những yếu tố chi phối đến quá trình hoạt động của chínhquyền cấp xã Đánh giá theo tiêu chí này đòi hỏi cần phải tính đến đầy đủđiều kiện đặc thù của các xã; phải đi vào từng nội dung, từng vấn đề cụ thểcủa nhiệm vụ ở cơ sở: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, antoàn xã hội, quốc phòng
* Tiêu chí này được đánh giá bằng các thông số trên các mặt:
- Sự ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn
- Mức độ phát triển kinh tế ở địa phương
- Việc thực hiện nhiệm vụ văn hoá, xã hội của xã
- Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn
- Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở xã
- Vấn đề xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân
- Các phong trào quần chúng trên địa bàn
Trang 25- Việc thực hiện và duy trì pháp luật; quản lý hành chính nhà nước.
- Phát huy dân chủ ở cơ sở…
Toàn bộ các thông số trên các nội dung đánh giá sẽ hợp thành mức độ,kết quả hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, qua đó phản ánh mộtcách cụ thể và sinh động chất lượng hoạt động, thấy được thực chất chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp xã Đồng thời xem xét, đánh giá chấtlượng đó trong sự so sánh với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chínhquyền cấp xã và sự so sánh đối chiếu với thời gian trước, để thấy được mức
độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã ở giaiđoạn này so với giai đoạn trước
1.3.2 Sự đánh giá của cấp trên, sự hài lòng của người dân và chính quyền cấp xã
* Đánh giá của cấp trên về chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
Đánh giá của cấp trên về chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã làdựa trên cơ sở mức độ hoàn thành các nhiệm vụ trên địa bàn xã của chínhquyền cấp xã được đề cập ở tiêu chí trên Ở đây cần chú ý thêm:
Về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã: Căn cứ vào Luật cán bộ, côngchức và Luật tổ chức HĐND, UBND để xác định tiêu chí về đội ngũ cán bộchính quyền cấp xã Ở đây, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã không phải làyếu tố trực tiếp nói lên chất lượng hoạt động của chính quyền, nhưng đó làyếu tố cơ bản, là điều kiện đảm bảo cho chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã Đánh giá trực tiếp là của cấp huyện đối với chính quyền cấp xãcần chú ý đến tiêu chí về đội ngũ cán bộ, làm cơ sở cho việc đánh giá chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp xã Cần bảo đảm tính khách quan, khoahọc, dân chủ, công khai; tránh quy chụp, định kiến, mang nặng chủ nghĩa cánhân trong quá trình xem xét, đánh giá
Về thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, như đãtrình bày, là sự thể hiện rõ ràng chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã
Trang 26Khi đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
xã đã được xác định, thông qua và tổ chức thực hiện, đánh giá mức độ thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đó như thế nào, thể hiện cụ thể ở các chỉ sốphát triển, tăng trưởng, thu nhập đầu người; về học hành, y tế, sức khỏe củadân cư; về điện, đường, trường, trạm… trên địa bàn
Về thực hiện nội dung hoạt động của chính quyền cấp xã Đó là chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp xã trên các nội dung theo chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn, thể hiện trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lýnhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theopháp luật; chất lượng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực củađời sống kinh tế - xã hội ở địa phương, cấp xã
Đánh giá theo nội dung tiêu chí này, cần triển khai trên các nhóm vấn đềtheo nội dung hoạt động bao gồm:
+ Hoạt động của chính quyền cấp xã trong việc tạo điều kiện và môitrường thuận lợi để người dân tự do làm ăn và tổ chức cuộc sống cộng đồngtheo pháp luật
+ Hoạt động của chính quyền cấp xã trong bảo đảm tổ chức cung ứngdịch vụ công
+ Hoạt động của chính quyền cấp xã trong tăng nguồn thu ngân sách, chiđúng và hiệu quả tài chính công
+ Hoạt động của chính quyền cấp xã trong xây dựng chính quyền và phốihợp hoạt động giữa các tổ chức và các đoàn thể nhân dân trong hệ thốngchính trị cấp xã
+ Công khai, minh bạch, tôn trọng và phát huy dân chủ ở cơ sở tronghoạt động của chính quyền cấp xã [29, tr.114-121]
Các nội dung đánh giá trên lại cần được triển khai thành các nội dung cụthể, bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở và các mặt hoạtđộng của chính quyền cấp xã
* Sự hài lòng của người dân và chính quyền cấp xã tự đánh giá
Trang 27Nội dung tiêu chí này thực chất phản ánh kết quả thực hiện các nhiệm vụkinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh trên địa bàn của chính quyềncấp xã Kết quả đó mang lại cho các tầng lớp nhân dân về đời sống vật chất vàtinh thần được cải thiện và nâng cao, sự gia tăng sự gắn bó giữa người dân vớichính quyền xã Nội dung hoạt động của chính quyền cấp xã, chất lượng củađội ngũ cán bộ trong bộ máy chính quyền; các mục tiêu kinh tế - xã hội màchính quyền cấp xã thực hiện được là những vấn đề chính, mà người dân địaphương và chính quyền cấp xã tự xem xét, nhìn nhận về mình, trên cơ sở đóđánh giá được một cách rõ ràng thực chất chất lượng hoạt động của chínhquyền cấp xã Không thể nói hoạt động của chính quyền cấp xã là có chấtlượng tốt, nếu như mức độ hài lòng của người dân đối với chính quyền cấp
xã, đối với các hoạt động của UBND, HĐND, cũng như của đội ngũ cán bộ,công chức chính quyền xã lại ở mức thấp
Thực hiện việc xem xét đánh giá theo tiêu chí này cần lập phiếu trưngcầu ý kiến của người dân theo định kỳ Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến củanhân dân và cán bộ địa phương cần toàn diện về việc đáp ứng của chínhquyền cấp xã đối với các dịch vụ hành chính phục vụ người dân; về việc chăm
lo đời sống, ổn định chính trị, xã hội; về phát triển kinh tế; về bảo đảm quốcphòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội Những nội dung đó biểu hiện cụ thể ởlòng tin, thái độ của các tầng lớp dân cư, của đội ngũ cán bộ thôn, xóm trênđịa bàn xã đối với chính quyền xã nói chung, đối với từng lĩnh vực và nộidung hoạt động của UBND, HĐND, của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộmáy chính quyền xã nói riêng
Các tiêu chí trên là các tiêu chí chủ yếu hợp thành hệ tiêu chí đánh giáchất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã trong giai đoạn hiện nay Đểđánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã một cách kháchquan cần phải gắn với việc phân tích mức độ hoàn thành nhiệm vụ từngmặt, từng nội dung hoạt động của chính quyền cấp xã; thấy rõ mối quan hệ
Trang 28hữu cơ giữa chất lượng của đội ngũ cán bộ với chất lượng nội dung hoạtđộng của chính quyền cấp xã, trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả hoànthành các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninhtrên dịa bàn xã.
Từ các tiêu chí trên cho thấy: cần phải có cái nhìn vừa toàn diện, tổng thểvừa phải chi tiết, cụ thể khi dựa vào tiêu chí đánh giá, thì mới bảo đảm sựđánh giá được khách quan, chính xác; tránh những biểu hiện chủ quan, duy ýchí, áp đặt khi đánh giá Các tiêu chí đánh giá quan hệ chặt chẽ với nhau, là
cơ sở để đánh giá, phân tích thực trạng chất lượng hoạt động của chính quyềncấp xã hiện nay nói chung, đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyềncấp xã trên địa bàn huyện Gia lâm nói riêng Các tiêu chí cần được vận dụngtốt và cụ thể cho phù hợp để mang lại hiệu quả tốt nhất, chính xác và kháchquan nhất trong đánh giá
Trang 29Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẤP XÃ HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
2.1.1 Đặc điểm địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội
Về địa lý, dân cư.
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông Bắc Thủ đô Hà Nội; phía Đông vàĐông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh; phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên;phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai, Phía Tây giáp sông Hồng;phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đông Anh, có sông Hồng, sông Đuống, sôngCầu Bây, sông Bắc Hưng Hải, sông Thiên Đức chảy qua
Trước tháng 11 năm 2003 khi quận Long Biên chưa được thành lập thìdiện tích của huyện Gia Lâm là 172,9 km², dân số 340.200 người Năm 2003khi quận Long Biên được thành lập thì diện tích huyện Gia Lâm chỉ còn là108,446 km² với dân số 190.194 người Năm 2009, huyện Gia Lâm có diệntích 114,79 km2; dân số khoảng 227.600 người
Trong 3 năm trở lại đây, đời sống của người dân các xã huyện Gia Lâmđược nâng lên một cách rõ rệt Năm 2008 đã có hơn 10.000 lao động củahuyện được tạo việc làm và có thu nhập ổn định; số hộ nghèo giảm còn 2,3%;xóa xong nhà dột nát; 100% xã, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn; 22 trường họcđạt chuẩn quốc gia; 100% các đường liên thôn, liên xã được bê tông hóa
Về truyền thống.
Gia Lâm là huyện cửa ngõ Đông Bắc của Hà Nội, nằm trong vùng giaothoa của văn hóa Thăng Long và văn hóa Kinh Bắc, nên nơi đây có nhiều ditích lịch sử - văn hóa có giá trị Gia Lâm còn là quê hương của nhiều danh
Trang 30nhân, nhân vật lịch sử nổi tiếng như Nguyên phi Ỷ Lan, Nguyễn Chế Nghĩa,Cao Bá Quát Dưới thời phong kiến, huyện Gia Lâm có nhiều nhà khoa bảnglừng danh mà tên tuổi của họ được nhiều người trong cả nước biết tới, như:
Hà Giáp Hải (làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm), Cao Bá Quát(xã Phú Thị, huyện Gia Lâm)
Huyện Gia Lâm cũng là quê hương của Chử Đồng Tử, Thánh Gióng hai nhân vật trong Tứ bất tử của Phật giáo Việt Nam Chử Đồng Tử là người
-xã Văn Đức, huyện Gia Lâm ngày nay, Thánh Gióng người -xã Phù Đổng,huyện Gia Lâm; Nguyên phi Ỷ Lan hay còn gọi là Bà Tấm (người xã Dương
Xá, huyện Gia Lâm); Công chúa Lê Ngọc Hân còn gọi là Ngọc Hân côngchúa hay Bắc Cung Hoàng hậu vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ), làngười xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm ngày nay Dân gian còn lưu truyền têngọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên
Ở huyện Gia Lâm đã phát hiện nhiều di tích khảo cổ quan trọng nói lên truyềnthống văn hóa lịch sử lâu đời của địa phương Thôn Đình Vỹ - xã YênThường có lễ hội truyền thống hàng năm vào ngày 20 tháng 8 (âm lịch) vàđình làng thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc
Mỹ, Gia Lâm là nơi có truyền thống đấu tranh anh dũng và là một trong hàngtrăm huyện - hậu phương vững chắc cho các kháng chiến của nhân dân tatrong cả nước Ngoài ra, người dân các xã huyện Gia Lâm còn có truyềnthống hiếu học, tôn sư trọng đạo luôn được giữ gìn và phát huy, có rất nhiềucon em trong các thôn, làng, xã của huyện Gia Lâm đỗ vào các trường đại họctrong cả nước Gia Lâm còn là một huyện nổi tiếng của cả nước với nhữnglàng nghề truyền thống đặc sắc
Về kinh tế - xã hội.
Trong những năm đổi mới đất nước, huyện Gia Lâm là khu vực pháttriển đô thị ở phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, là nơi tập trung các công
Trang 31trình đầu mối giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của quốc gia và củathành phố Hà Nội Bên cạnh đó, Gia Lâm cũng là khu vực phát triển các cơ sởcông nghiệp quy mô, các trung tâm dịch vụ, thương mại lớn Đến năm 2009,toàn huyện Gia Lâm có 3 siêu thị lớn, 17 chợ, trong đó có 13 chợ quy mô bánkiên cố; có 890 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, với số vốn hang nghìn tỷđồng, thu hút hơn 13.000 lao động.
Là khu vực nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội, nền nongnghiệp của Gia Lâm có giá trị sản xuất nông, thủy sản năm sau cao hơn nămtrước Trồng trọt tăng bình quân 1,5%, chăn nuôi bình quân tăng 5,6%, thủysản bình quân tăng 10,2%; diện tích rau an toàn đạt 60% Một số cây trồnghiệu quả kinh tế thấp có xu hướng giảm dần, được thay thế bằng các diện tíchtrồng cây ăn quả, rau hoa, cây cảnh có hiệu quả kinh tế cao hơn Gia Lâmcũng đã hình thành các vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại các xã VănĐắc, Lệ Chi, Đặng Xá, Đông Dư Huyện Gia Lâm, 100% diện tích rau trênđịa bàn đều được sản xuất theo quy trình rau an toàn
Huyện Gia Lâm là một huyện tập trung nhiều làng nghề truyền thống nổitiếng như Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng,
đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc Bắc, buôn bán vải vóc)… Mộtđiển hình kinh tế hiện nay ở Gia Lâm như thôn Đình Vỹ, xã Yên Thườngđang nổi lên với tư cách là một điểm đầu tư hấp dẫn của các doanh nhân.Khái quát tình hình kinh tế - xã hội trên cho thấy, những cố gắng củachính quyền cấp xã, thị trấn của huyện Gia Lâm trong việc tổ chức, điều hành
và quản lý các công việc của mình ở cơ sở, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn của chính quyền cấp xã trên địa bàn Đồng thời điều kiện kinh tế,văn hóa, xã hội trên tạo những cơ sở thuận lợi để nâng cao chất lượng hoạtđộng của chính quyền các xã, phường, thị trấn của huyện
2.1.2 Đăc điểm về các đơn vị hành chính huyện Gia Lâm
Trang 32Huyện Gia Lâm là một huyện có nhiều biển đổi về địa giới hành chính,
về thuộc tỉnh, về quy mô diện tích, dân cư, về các đơn vị hành chính, số xã,thị trấn Hệ thống chính trị của huyện Gia Lâm cũng có những thay đổi, biếnđộng theo
Trước kia, vùng đất huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An, rồi phủ ThuậnThành tỉnh Bắc Ninh Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng đất huyệnGia Lâm vẫn thuộc tỉnh Bắc Ninh
Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, hệ thống chính trị,
số lượng các xã, chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) trên địa bàn huyện
có nhiều biến động, khi nhập vào, khi tách ra
Ngày 13/12/1954, một bộ phận của Gia Lâm sát nhập vào Hà Nội, vớiviệc sáp nhập khu vực phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm,sân bay Gia Lâm và 4 xã Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy) củatỉnh Bắc Ninh vào Hà Nội
Ngày 20/4/1961, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa II, Quốc hội đã thôngqua Nghị quyết phê chuẩn mở rộng thành phố Hà Nội Theo đó, toàn bộhuyện Gia Lâm, 10 xã và 1 trấn của huyện Từ Sơn, 2 xã của huyện Tiên Du, 2
xã của huyện Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh và 1 xã thuộc huyện VănGiang, tỉnh Hưng Yên được sáp nhập vào Hà Nội
Ngày 31/5/1961, huyện Gia Lâm lại một lần nữa biến động về địa giớihành chính và số xã trên địa bàn, bằng việc Thủ tướng Chính phủ ký Quyếtđịnh số 78-CP chia các khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội Theo đó,huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội gồm 2 trấn và 31 xã
Đến năm 1982, số xã lại tiếp tục có sự biến động Ngày 13/10/1982, Hộiđồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 173-HĐBT về việc phân vạch địagiới một số phường và thị trấn của thành phố Hà Nội Theo đó, thành lập thịtrấn Đức Giang trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của thị trấn YênViên, thị trấn Gia Lâm, xã Thượng Thanh và xã Việt Hưng (huyện Gia Lâm);
Trang 33thành lập thị trấn Sài Đồng trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của xãThạch Bàn, Gia Thụy và Hội Xá (huyện Gia Lâm).
Sau khi điều chỉnh, huyện Gia Lâm có 35 đơn vị hành chính trực thuộcgồm 4 thị trấn: Đức Giang, Yên Viên, Sài Đồng, Gia Lâm và 31 xã gồmThạch Bàn, Bát Tràng, Lệ Chi, Đình Xuyên, Ninh Hiệp, Phù Đổng, TrungMầu, Dương Hà, Yên Thường, Yên Viên, Giang Biên, Thượng Thanh, KimLan, Việt Hưng, Ngọc Thụy, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Hội Xá, Cổ Bi,Trâu Quỳ, Đa Tốn, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Văn Đức, Đông Dư, Cự Khối,Dương Quang, Phú Thị, Đặng Xá, Kim Sơn
Ngày 6/11/2003, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 132/2003/NĐ-CP
về việc chuyển 10 xã gồm: Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, ViệtHưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối và 3 thịtrấn: Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng thuộc huyện Gia Lâm để thành lập quậnLong Biên
Sau khi thực hiện điều chỉnh theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP, huyệnGia Lâm còn lại 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Lệ Chi, Kiêu
Kỵ, Đình Xuyên, Dương Hà, Ninh Hiệp, Bát Tràng, Kim Sơn, Cổ Bi, Dương
Xá, Dương Quang, Đa Tốn, Phú Thị, Trâu Quỳ, Đặng Xá, Kim Lan, VănĐức, Yên Viên, Đông Dư, Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu và thị trấnYên Viên
Ngày 05/01/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 02/2005/NĐ-CPthành lập thị trấn Trâu Quỳ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của
xã Trâu Quỳ Sau khi điều chỉnh theo Nghị định 02/2005/NĐ-CP của Thủtướng Chính phủ, huyện Gia Lâm có 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2thị trấn Yên Viên và Trâu Quỳ; 20 xã: Lệ Chi, Đình Xuyên, Ninh Hiệp, PhùĐổng, Trung Màu, Dương Hà, Yên Thường, Yên Viên, Kim Lan, Cổ Bi, BátTràng, Đa Tốn, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Văn Đức, Đông Dư, Dương Quang, PhúThị, Đặng Xá, Kim Sơn
Trang 34Như vậy, các đơn vị hành chính của huyện Gia Lâm luôn có sự biếnđộng do sự quy định của yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ.
2.1.3 Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện nay
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện nay khá
đa dạng Việc hình thành các xã của huyện là cả một quá trình lịch sử dài lâugắn với quá trình phát triển của dân tộc, của cách mạng nước ta và của lịch sửThủ đô Hà Nội Cho đến nay, các đơn vị hành chính của huyện Gia Lâm có
22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm:
Thị trấn, có 2 thị trấn: Yên Viên và Trâu Quỳ
Xã, có 20 xã: Lệ Chi, Đình Xuyên, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Trung Màu,Dương Hà, Yên Thường, Yên Viên, Kim Lan, Cổ Bi, Bát Tràng, Đa Tốn,Dương Xá, Kiêu Kỵ, Văn Đức, Đông Dư, Dương Quang, Phú Thị, Đặng Xá,Kim Sơn
Trụ sở ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm: được đặt tại thị trấn Trâu Quỳ
Tổ chức cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm là khá đa dạng và phongphú, với 2 thị trấn và 20 xã Tính chất đa dạng, phong phú biểu hiện cụ thể ởtính chất đa dạng, phong phú về điều kiện địa lý - tự nhiên, về đặc điểm kinh
tế - xã hội của các xã, thị trấn trên địa bàn Có xã chuyên làm nghề truyềnthống; có xã mang tính chất thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chính; có xã,thị trấn lại mang tính chất đô thị, phát triển dịch vụ, thương mại và sản xuấthàng hóa, như xã Cổ Bi có 3 thôn là thôn Vàng, thôn Hội, thôn Cam và cáckhu tập thể: tập thể Cầu 12, tập thể Hồng Hà, tập thể Cơ khí và khu 230
Sự đa dạng và phong phú đó của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện làmcho bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện Gia Lâm có nhiều màu sắc Tính chất
đa dạng, phong phú về điều kiện địa lý - tự nhiên, về đặc điểm kinh tế - xã hộicủa các xã, phường, thị trấn trên địa bàn là “mảnh đất” hiện thực cho hoạtđộng của chính quyền cấp xã, vừa tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi vừa gây khókhăn, phức tạp đối với chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã huyện
Trang 35Gia Lâm Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xãthuộc huyện Gia Lâm cần dựa trên những cơ sở, điều kiện đó.
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
2.2.1 Những kết quả đạt được về chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã và nguyên nhân
2.2.1.1 Từ khảo sát thực trạng theo các tiêu chí để đánh giá kết quả theo các nội dung sau:
Chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm thực hiện khá tốt các nội dung hoạt động, hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở cơ sở
Khảo sát trong 5 năm gần đây, chính quyền các xã của huyện Gia Lâm
đã xác định rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng nông thônmới là then chốt, khai thác hiệu quả các nguồn lực, nỗ lực vươn lên trong xâydựng nông thôn mới thể hiện ở các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng
cố quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn thuộc huyện Gia Lâm đều đạt kếtquả và phát triển tốt Kinh tế của tất cả các xã trên địa bàn huyện đều pháttriển khá Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn huyện đều đạtkhá, kể cả các xã thuần nông và làng nghề truyền thống Kinh tế các xã củahuyện liên tục phát triển và tăng trưởng khá, bình quân đạt 13,58%/năm Cơcấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng công nghiệp - tiểu thủ công - xây dựng
cơ bản chiếm 54,3%; thương mại dịch vụ chiếm 26,3%; nông lâm thuỷ sảnchiếm 19,4% Theo số liệu thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốcdoanh năm 2008 của Gia Lâm đạt gần 603 triệu đồng Hết quý I/2009, giá trịsản xuất các ngành kinh tế tăng 10,96% so với quý I năm 2008, trong đóthương mại dịch vụ 16,7%, công nghiệp xây dựng tăng 12,2% Là khu vựcnông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội, Gia Lâm có giá trị sản xuấtnông, thủy sản ngày càng tăng trưởng Trồng trọt tăng bình quân 1,5%, chăn
Trang 36nuôi tăng 5,6%, thủy sản tăng 10,2%; diện tích rau an toàn đạt 60% Một sốcây trồng hiệu quả kinh tế thấp có xu hướng giảm dần, được thay thế bằng cácdiện tích cây ăn quả, rau hoa, cây cảnh có hiệu quả kinh tế cao hơn Gia Lâmcũng đã hình thành các vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại các xã VănĐắc, Lệ Chi, Đặng Xá, Đông Dư Huyện Gia Lâm phấn đấu đến năm 2010,100% diện tích rau trên địa bàn đều được sản xuất theo quy trình rau an toàn Huyện Gia lâm cũng là địa phương tập trung nhiều làng nghề truyềnthống như Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng,
đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc Bắc, buôn bán vải vóc)… Đó lànhững làng nghề nổi tiếng của cả nước, với nghề truyền thống lâu đời và hiệuquả sản xuất kinh doanh cao
Hiện nay, huyện Gia Lâm và chính quyền cấp xã đã và đang triển khai đề
án xây dựng nông thôn mới Đã xây dựng đề án với nỗ lực cao, với mục tiêu
là 65% số xã (13 xã, bao gồm cả xã điểm Đa Tốn) đạt các tiêu chí nông thônmới vào năm 2015 và 100% số xã đạt các tiêu chí nông thôn mới năm 2020.Năm 2011, huyện chỉ đạo hoàn thành đề án nông thôn mới tại 100% số xã.Đặc biệt, để nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân theo tiêu chí nôngthôn mới, từ nay đến năm 2015, Gia Lâm đã ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầngtại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất
Chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm đã đẩy mạnh phát vănhoá, giáo dục, xã hội, đạt được nhiều kết quả tích cực, tiến bộ
Ngành giáo dục của huyện Gia Lâm 5 năm liền là đơn vị dẫn đầu khốihuyện ngoại thành Hà Nội, có 34/70 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt 40%.Chính quyền cấp xã chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, các xã, thị trấncũng như huyện Gia Lâm chủ trương giữ vững quy mô, số lượng trường lớp
để tập trung nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học Năm
Trang 372007 - 2008, đã có 15 giáo viên và 119 học sinh đạt danh hiệu giáo viên giỏi,học sinh giỏi trong các hội thi cấp thành phố.
Chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm rất chú trọng đến việcxây dựng đời sống văn hoá tinh thần cho người dân, đã tích cực, chủ động tậptrung đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động lớn như: “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hoá mới” Trên cơ sở đó, chính quyền cấp xã giáo dục,động viên các tầng lớp nhân dân địa phương sống theo pháp luật, ra sức xâydựng quê hương, xây dựng thôn, xã giàu mạnh Phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hoá” ngày càng đi vào chiều sâu trên địa bàn toànhuyện, 100% thôn làng truyền thống được đầu tư xây dựng nhà văn hoá Đặcbiệt, lễ hội Thánh Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vậtthể đại diện của nhân loại
Trong những năm gần đây, đời sống của người dân các xã ở huyện GiaLâm đã được nâng lên một cách rõ rệt Năm 2008, toàn huyện đã có hơn10.000 lao động của huyện được tạo việc làm và có thu nhập ổn định; số hộnghèo giảm còn 2,3%; xóa xong nhà dột nát; 100% xã, thị trấn có trạm y tếđạt chuẩn; 22 trường học đạt chuẩn quốc gia; 100% các đường liên thôn, xãđược bê tông hóa Các xã trên địa bàn huyện luôn giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội, lực lượng công an - quân sự liên tục đạt danh hiệu đơn
vị quyết thắng
* Tổ chức bộ máy của chính quyền vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã huyện Gia Lâm phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ
Đảng bộ Gia Lâm hiện có 7.850 đảng viên sinh hoạt ở 47 chi bộ đảngtrực thuộc 22 xã, thị trấn, 5 chi bộ ở đơn vị hành chính sự nghiệp, 4 chi bộ ởkhối doanh nghiệp (có chi bộ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanhnghiệp tư nhân), 2 chi bộ ở lực lượng vũ trang và 14 chi bộ cơ sở trực thuộc
Trang 38huyện ủy Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ huyện GiaLâm và Chương trình số 08-CTr/HU ngày 28-8-2006 của huyện ủy về “Nângcao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng giai đoạn 2006
- 2010”, Ban chủ nhiệm Chương trình số 08-CTr/HU đã xây dựng Đề án về
“Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã, thị trấn giai đoạn 2007 - 2015” Công tác kiện toàn đội ngũ cán bộ được chú trọng, cán bộ được bố trí,sắp xếp theo hướng đúng người, đúng việc, phát huy được năng lực của từngcán bộ Nhiều cán bộ nữ, cán bộ trẻ có trình độ được bổ nhiệm, đề bạt vào cácchức vụ lãnh đạo, quản lý Đến nay đã chọn lựa được 23 đồng chí bí thư, phó
bí thư đảng ủy, 16 đồng chí lãnh đạo HĐND, UBND xã, thị trấn; tuyển dụng
108 công chức xã, thị trấn góp phần ổn định tổ chức bộ máy, hoàn thành tốtnhiệm vụ chính trị ở cơ sở Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 44,45% số cán
bộ được hỏi, 56,29% người dân được hỏi cho rằng chất lượng hoạt độngchính quyền cấp xã của huyện Gia Lâm về quản lý nhà nước là tốt; chỉ sốtương ứng đối với chất lượng hoạt động kiểm tra giám sát của chính quyềncấp xã là 49,81% và 52,01% đánh giá là tốt Chỉ số tương ứng về chất lượnghoạt động xây dựng các tổ chức và đoàn thể của chính quyền cấp xã đượcđánh giá tốt là: 61,05% và 46,28% (Biểu tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiếncủa luận văn) Như vậy, các nội dung hoạt động của chính quyền cấp xã trênđịa bàn huyện Gia Lâm đều được thực hiện và đạt được yêu cầu đối với chínhquyền cấp xã, có chất lượng và hiệu quả cụ thể
Công tác quy hoạch cán bộ dần đi vào nền nếp, thực hiện một cách chủđộng, nghiêm túc theo nguyên tắc dân chủ, công khai Có 361 lượt đồng chíđược quy hoạch vào Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015 và cácchức danh chủ chốt của tổ chức đảng, HĐND, UBND, trưởng các đoàn thểchính trị Tại đại hội đảng bộ cơ sở nhiệm kỳ 2010 - 2015, có trên 98% số cấp ủyviên trúng cử nằm trong diện quy hoạch; 97,5% số cán bộ trong quy hoạch trúng
cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2011 - 2016 và được bầu giữ các chức danh chủ
Trang 39chốt của xã, thị trấn Đối với đội ngũ cán bộ trẻ, huyện đã quy hoạch 163 đồngchí dưới 40 tuổi, 27 đồng chí dưới 30 tuổi Qua khảo sát cho thấy, có đến48,25% số cán bộ được hỏi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã là tốt;66,91% người dân được hỏi đánh giá tốt về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã(Biểu tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến của luận văn) Điều đó cho thấy đội ngũcán bộ chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm cơ bản đã đáp ứng đượcyêu cầu nhiệm vụ, hoàn thành khá tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
* Đại đa số người dân tin tưởng và hài lòng cao đối với các hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm
Kết quả hoàn thành nhiệm vụ và các mặt, các nội dung hoạt động củachính quyền cấp xã, cũng như phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộchính quyền cấp xã đã làm cho đại đa số người dân ở các xã, thôn, xóm tintưởng và hài lòng cao đối với các hoạt động của chính quyền cấp xã trên địabàn huyện Gia Lâm Đây là thành tựu quan trọng, phản ánh sâu sắc chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn Hiện nay, nông thôntoàn huyện Gia Lâm đã và đang hình thành theo hướng mỗi làng, mỗi xã gắnvới một sản phẩm nông sản, hàng hóa điển hình; đời sống kinh tế của ngườidân ngày càng được nâng cao, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc Vì thế,người dân càng thêm tin tưởng vào tổ chức đảng và chính quyền cơ sở, cũngnhư đội ngũ cán bộ, đảng viện ở cơ sở Điều đó đã tạo nên sự gắn bó giữangười dân và chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ chính quyến cấp xã càngtrở nên mật thiết, tạo động lực quan trọng cho các xã, thị trấn, các thôn, xóm
và cả huyện Gia Lâm tiếp tục phát triển vững chắc
2.2.1.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Một là, chính quyền cấp xã huyện Gia Lâm hoạt động trên địa bàn thuộc thành phố Hà Nội có nhiều thuận lợi, có sự quan tâm tạo điều kiện của huyện, thành phố Hà Nội về nhiều mặt.
Trang 40Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ
và nhân dân huyện Gia Lâm đã và đang quyết tâm thực hiện phát triển kinh tế
là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh là nhiệm
vụ then chốt, từng bước vươn lên đạt được những thành tựu quan trọng trêncác lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, xâydựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã gắn chặt với công tác quy hoạchcán bộ Từ năm 2007 đến 2010, huyện đã hỗ trợ kinh phí bảo đảm cho 328lượt cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn tham gia học tập nâng cao trình độ mọimặt Hiện nay, đội ngũ bí thư chi bộ của huyện có 23,4% đạt trình độ caođẳng, đại học Huyện ủy đã phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ Lê HồngPhong mở 2 lớp trung cấp lý luận cho 232 học viên trong đó có 97 học viên làcán bộ xã, thị trấn; mở 153 lớp cho 5.563 lượt cán bộ đảng, chính quyền, đoànthể của cơ sở tham gia học tập, bồi dưỡng Phối hợp mở 1 lớp Đại học Luậttại Trung tâm dạy nghề của huyện cho 70 học viên, trong đó có 32 học viên làcán bộ, công chức các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
Công tác đánh giá cán bộ được thực hiện nghiêm túc, khách quan, lấyhiệu quả công tác làm thước đo Công tác bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, điềuđộng, luân chuyển được thực hiện đúng quy trình Huyện đã điều động 5 đồngchí cán bộ cơ sở trong đó có 2 chủ tịch UBND, 1 bí thư đảng ủy, 2 phó bí thưđảng ủy xã lên công tác, bổ nhiệm giữ các chức vụ trưởng, phó một số phòng,ban của huyện; tăng cường 3 đồng chí cán bộ của huyện về giữ chức danh bíthư đảng ủy cơ sở; luân chuyển 22 công chức cấp xã Qua bổ nhiệm, điềuđộng, luân chuyển, đội ngũ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện chocán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch rèn luyện trong thực tiễn,tạo nguồn cán bộ lâu dài