Những năm gần đây ở Việt Nam, trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giátrị di sản văn hóa truyền thống, bên cạnh hoạt động của các đơn vị, tổ chứcchuyên nghiệp nhà nước đã xuất hiện nhiều m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
- -BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
MÔ HÌNH BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở XÃ NGŨ THÁI, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MÔ HÌNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đề tài: “Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống ở
xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Nghiên cứu trường hợp môhình Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành) làcông trình nghiên cứu của chúng tôi tự viết, không sao chép của bất cứ ai Các sốliệu và tư liệu trong bài nghiên cứu là trung thực và chính xác
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, nhóm tác giả xinchân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Quản lý xã hội và thầy Nghiêm XuânMừng - Giảng viên hướng dẫn, đã quan tâm, chỉ bảo và tận tình hướng dẫnnhóm tác giả hoàn thành đề tài
Nhóm tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các ông bà lãnh đạo Đảng ủy,HĐND, UBND xã Ngũ Thái, các đồng chí cán bộ, trưởng thôn, các nghệ nhân
và bà con nhân dân thôn Đồng Ngư, đặc biệt là ông Nguyễn Thành Lai - Giámđốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Rối nước Thuận Thành, đãnhiệt tình tạo điều kiện, cung cấp tư liệu để nhóm tác giả hoàn thành đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những saisót, nhóm tác giảrất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giảngviên và các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2021
Thay mặt nhóm tác giả
Đỗ Tuấn Anh
Trang 46 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
8 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
9 VH - TT&DL Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của đề tài 8
8 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓAVÀ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH 10
1.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Mô hình 10
1.1.2 Bảo tồn 10
1.1.3 Văn hóa truyền thống 11
1.1.4 Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống 11
1.2 Tiền đề và cơ sở pháp lý của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống 12
1.2.1.Tiền đề của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa 12
1.2.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống.16 1.2.2.1 Chủ trương của Đảng 16
1.2.2.2 Chính sách, pháp luật của Nhà nước 18
1.3 Tiêu chí đánh giá mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống 20
Trang 61.3.2 Tiêu chí đánh giá cơ sở nghiên cứu và đào tạo về bảo tồn di sản văn
hóa 21
1.4 Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành và Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu 22
1.4.1 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành 22
1.4.2 Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu 25
TIỂU KẾT 26
Chương 2THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH TẠI KHU BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN GIAN LUY LÂU 26
2.1 Hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa vật chất 27
2.1.1 Sưu tầm các hiện vật 27
2.1.2 Trưng bày hiện vật và tổ chức trải nghiệm 28
2.2 Hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa tinh thần 30
2.2.1 Bảo tồn nghệ thuật rối nước truyền thống 30
2.2.1.1 Sưu tầm và cải tiến con rối 31
2.2.1.2 Đào tạo diễn viên 35
2.2.1.3.Tổ chức biểu diễn 38
2.2.2 Bảo tồn các trò chơi dân gian 41
2.2.3 Bảo tồn các loại hình dân ca cổ truyền 44
2.3 Hoạt động bảo tồn thông qua tổ chức sự kiện và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất 48
2.3.1 Tổ chức sự kiện 48
2.3.2 Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất 49
2.3.3 Tăng cường hoạt động tuyên truyền quảng bá 51
Trang 7Chương 3 BÀN LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MÔ HÌNH BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI
NƯỚC THUẬN THÀNH 53
3.1 Đánh giá những thành công và hạn chế của mô hình 53
3.1.1 Những thành công 53
3.1.2 Những hạn chế 55
3.2 Những bài học rút ra từ việc nghiên cứu mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành 57
3.2.1 Sự đam mê nhiệt huyết và năng động sáng tạo của người sáng lập mô hình 57
3.2.2 Khai thác tiềm năng và thế mạnh di sản văn hóa của địa phương 58 3.2.3 Sự quan tâm của chính quyền và cơ quan quản lý 60
3.2.4 Sự hưởng ứng của cộng đồng xã hội 61
3.2.5 Bài học về giải quyết bài toán kinh tế, tạo nguồn thu phục vụ hoạt động bảo tồn 63
3.3 Một số giải pháp phát huy mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống 64
3.3.1 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di sản văn hóa trong mọi tầng lớp nhân dân 64
3.3.2.Tăng cường cơ chế chính sách 65
3.3.3 Quan tâm hỗ trợ về cơ sở vật chất và chuyên môn cho mô hình 68
TIỂU KẾT 71
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
1 PHỎNG VẤN 76
2 PHỤ LỤC ẢNH 78
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa truyền thống là những di sản mà ông cha ta đã sáng tạo từ ngànđời xưavà trao truyền cho đến ngày hôm nay, góp phần tạo nên diện mạo, cốtcách tâm hồn con người và bản sắc của nền văn hóa Việt Nam Chính vì vậy bảotồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệmcủa các cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
và toàn thể cộng đồng
Những năm gần đây ở Việt Nam, trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giátrị di sản văn hóa truyền thống, bên cạnh hoạt động của các đơn vị, tổ chứcchuyên nghiệp nhà nước đã xuất hiện nhiều mô hình câu lạc bộ, nhóm, hội và cánhân quan tâm tìm hiểu, đầu tư nghiên cứu, bảo tồn các di sản văn hóa cổ truyềncủa dân tộc với hoạt động khá đa dạng và phong phú như: tổ chức diễn đàn traođổi kiến thức, tọa đàm khoa học, phục dựng một số giá trị truyền thống, thựchiện công trình nghiên cứu chuyên sâu Những hoạt động này đã tạo ra hiệuquả cao trong việc lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc,đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu thấu đáo
để có thể đưa ra những giải pháp khoa học nhằm mục đích khơi dòng, thúc đẩy
sự phát triển của nền văn hóa, đồng thời góp phần định hướng, điều chỉnh cáchoạt động bảo tồn đó đi đúng hướng
Từ nhiều năm nay, tại thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành,tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện một mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống do tưnhân thực hiện rất tích cực hiệu quả, tạo nên tiếng vang không chỉ trong tronghuyện trong tỉnh mà còn nổi tiếng với nhiều tỉnh thành lân cận Xuất phát từniềm đam mê cá nhân, từ nhu cầu thực tế của cuộc sống, chủ nhân của mô hình -ông Nguyễn Thành Lai, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên(TNHH MTV) Rối nước Thuận Thành, đã dày công xây dựng nên Khu bảo tồn
Trang 9hiệu quả trên cả hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, được chínhquyền, các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa và nhân dân địa phương đồngtình ủng hộ, ghi nhận.
Là sinh viên ngành Quản lý văn hóa, qua nắm bắt thông tin về mô hìnhKhu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu do ông Nguyễn Thành Lai xây dựng,nhận thấy mô hình này không chỉ góp phần tích cực trong việc giữ lại các giá trịvăn hóa cổ truyền của dân tộc mà còn phát huy được vai trò của các giá trị ấytrong bối cảnh hiện đại hóa hiện nay.Từ cách làm hiệu quả của mô hình này, cóthể tìm hiểu, nghiên cứu và nhân rộng ra xã hội, góp phần xây dựng và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết của Banchấp hành Trung ương 5 khóa VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra.Chính vìvậy nhóm tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Mô hình bảo tồn văn hóa truyềnthống ở xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Nghiên cứu trườnghợp mô hình Công ty Trách nhiêm hữu hạn Một thành viên Rối nước ThuậnThành) làm công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội năm 2021
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là đề tài được các nhà nghiêncứu quan tâm từ rất sớm với nhiều công trình, bài viết, bài nghiên cứu…chỉ ranhững cơ sở khoa học cho việc giữ gìn di sản văn hóa dân tộc và làm cho nó cótác dụng đối với xã hội hiện nay
Cuốn Quản lý di sản văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (2012) [8]
là giáo trình đề cập một cách toàn diện và hệ thống các vấn đề liên quan đến disản văn hóa dân tộc như: hệ thống di sản văn hóa Việt Nam; Vai trò của di sảnvăn hóa trong đời sống xã hội đương đại; Nội dung chính của quản lý Nhà nước
về di sản văn hóa dân tộc; Các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của người làm công tácquản lý di sản
Cuốn sách Di sản văn hóa Việt Nam trong xã hội đương đại (2014) [11] là
Trang 10phi vật thể của người Việt và các tộc người thiểu số trên cả ba miền Bắc, Trung,Nam Công trình là sự hợp tác có hiệu quả của nhiều nhà nghiên cứu để có thểkhảo sát được nhiều di sản văn hóa trên nhiều địa bàn khác nhau của cả nướcđồng thời nhìn ra các vấn đề có tính chất chung và bao quát cho các di sản vănhóa của Việt Nam hiện nay.
Bài viết“Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta”của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đăng trên Tạp chí di sản văn hóa
số 9 (2004) trình bày về sự phong phú và đa dạng của tài sản văn hóa Việt Nam,những nguy cơ hiện hữu, đẩy di sản văn hóa và thiên nhiên của nước ta đứngtrước những cơ hội và thử thách lớn lao và các khuynh hướng phát triển của môitrường di sản trong tương lai.Từ kinh nghiệm thực tế trong công tác quản lý disản văn hóa ở nước ta, tác giả chỉ rõ: “Về mặt tình trạng bảo tồn, di sản văn hóavật thể không chỉ chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố tự nhiên và xã hội từbên ngoài, mà bản thân nó ngay sau khi ra đời/tu bổ đã bắt đầu một quá trìnhxuống cấp Di sản văn hóa phi vật thể còn mong manh hơn vì bản chất của nó làluôn luôn thay đổi và phát triển Do vậy, chúng ta phải có những cơ chế thíchhợp cho việc bảo dưỡng thườngxuyên, định kỳ các di sản vật thể và việc ghichép lưu trữ di sản văn hóa phi vật thể cũng phải được làm thường xuyên, địnhkỳ” [7, tr.10]
Bài “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững” của tác giả LưuTrần Tiêu trên trang Thông tin điện tử của Hội đồng lý
luận Trung ương (20/12/2018) đề cập đến những thành tựu nổi bật trong bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta; Nhận thức về giá trị di sản văn hóatrong phát triển bền vững và đề xuất phương hướng giải quyết hài hòa mối quan
hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Tác giả cho rằng
“Hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và phát triển kinh tế - xã hộikhông phải là hai mặt đối lập mà là một thể thống nhất, đều hướng tới mục tiêu
Trang 11văn hoá là một loại tài nguyên không thể tái sinh, không thể thay thế, nên về mặtnguyên tắc, không được huỷ hoại, không được làm ảnh hưởng đến giá trị, tínhxác thực, yếu tố gốc cấu thành di tích, tính toàn vẹn của di sản; cần thực hiệnnghiêm túc quy định của Luật Di sản văn hoá về các khu vực bảo vệ của di tích.Đối với di tích còn nằm trong lòng đất (di tích khảo cổ học) được phát hiện khixây dựng các công trình kinh tế - xã hội thì phải báo cho cơ quan quản lý di sản
để phối hợp tìm các giải pháp giải quyết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển” Tácgiả cũng đã đề ra 6 biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cường việc thốngnhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích: 1.Thể chế hóa bằng phápluật các chính sách, cơ chế của nhà nước; 2.Quy hoạch toàn bộ các di tích đượccông nhận; 3.Phân cấp quản lý; 4.Xã hội hóa hoạt động bảo tồn; 5.Ưu tiên đầu
tư ngân sách; 6.Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũcán bộ [18]
Giáo sư Hà Văn Tấn trong bài viết “Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước” trên Tạp chí di sản số 2 (2003)
đã chỉ rõ: Các di tích lịch sử - văn hóa đang trong tình trạng SOS khẩn cấp Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá
ấy cũng sẽ bị mất đi Tác giả phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng ditích bị hủy hoại trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình đô thịhóa dồn dập với yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di tích Điều này do chúng ta bịđộng trước quá trình đô thị hóa, không nắm được các quy hoạch đô thị [16]
Tác giả Phạm Mai Hùng trong bài “Bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Xưa và nay (2013) đưa ra những văn bản pháp quy của Nhà nước, di sản văn hóa phi vật
thể, xếp hạng di tích và đầu tư bảo tồn di tích, phát huy vai trò bảo tàng, hợp tácquốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa và một số nội dung khác
Đề cập đến vấn đề tồn tại trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản,tác giả cho rằng ở nước ta, sự phá hoại di tích của thiên nhiên còn thua xa sự phá
Trang 12thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình đô thị hóa dồn dập với yêu cầu bảo vệnguyên trạng di tích lịch sử văn hóa/ Mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tiễn củangành bảo tồn bảo tàng với khả năng đầu tư ngân sách hạn hẹp của Nhà nước/Mâu thuẫn giữa nhu cầu khoa học ngày càng cao của công tác bảo tồn di tích vớikhả năng của cán bộ bảo tồn bảo tàng còn hạn chế” [5, tr.19].
Ngoài các công trình nghiên cứu, bài viết về bảo tồn di sản văn hóa nóichung là các bài viết đề cập đến hoạt động xã hội hóa bảo tồn giá trị di sản vănhóa truyền thống trên các báo, tạp chí
Bài “Xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Bích Liên trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 29/6/2018 đề cập
đến ý nghĩa, vai trò của xã hội hóa bảo tồn di sản văn hóa, những kết quả đạtđược trong công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa ở nước tanhững năm gần đây, những hạn chế cần khắc phục và một số giải pháp chủ yếu
để tăng cường hiệu quả xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Bài báo chỉrõ: “Để bảo tồn di sản văn hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, cần giảiquyết đồng bộ, kịp thời, chất lượng, hiệu quả nhiều nhiệm vụ và giải pháp trướcmắt cũng như lâu dài; đặc biệt là cần có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽgiữa các bộ, ngành, các cấp chính quyền, các tổ chức, đoàn thể để huy động sứcmạnh tổng hợp của toàn xã hội cho hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, đưa sựnghiệp này thiết thực góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, di sản văn hóa phải luôn gắn với conngười và cộng đồng cư dân địa phương nơi nó được sáng tạo ra và hiện đangđược thực hành, truyền dạy Mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa luôn phải hướngvào việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của công chúng trong xãhội Dù có sự quản lý của Nhà nước nhưng việc tham gia của cộng đồng vào quátrình bảo tồn vẫn là điều kiện tiên quyết để các di sản văn hóa còn tồn tại chođến ngày nay” [9]
Trang 13thống” của tác giả Đặng Nam trên Website Nhân dân điện tử ngày 16 tháng 2 và
19 tháng 2 năm 2021 nêu rõ: “Mặc dù đã có những đóng góp thiết thực góp phầnkhôi phục giá trị văn hóa truyền thống, nhất là sức lan tỏa trong cộng đồng, songphần lớn hoạt động của các hội, nhóm đều tự phát, bắt nguồn từ đam mê, tìnhyêu của người tham gia Bởi thế, các hoạt động này gặp không ít khó khăn; hạnchế trong nghiên cứu, thẩm định chuyên môn một cách bài bản, khoa học vàchuyên nghiệp, có thể dẫn tới nguy cơ sai lạc trong phổ cập kiến thức Mặt khác,
do tổ chức, hoạt động mang tính tự phát cho nên dễ nảy sinh hiện tượng tiêu cựctrong nghiên cứu, tranh luận Vì thế, trào lưu khôi phục văn hóa truyền thống rấtcần sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn” [10]
Nhìn chung các công trình và bài viết đều đề cập đến những vấn đề cótính lý luận và khái quát về hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vàvấn đề xã hội hóa văn hóa ở Việt Nam Đây là những tư liệu quan trọng đểnhóm tác giả kế thừa, vận dụng vào thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Và cóthể khẳng định cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể, chuyênsâu nào về mô hình xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa dưới góc độquản lý văn hóa Vì vậy đề tài “Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống ở xã NgũThái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Nghiên cứu trường hợp mô hình Công
ty TNHHMTV Rối nước Thuận Thành)”của nhóm tác giả được thực hiện, hi vọng
sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và khảo sát mô hình bảo tồn di sản văn hóa (qua trường hợp
mô hình công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành) nhằm tìm hiểu hoạt độngcủa mô hình xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa do
tư nhân thực hiện, nhìn nhận những thành công, hạn chế của mô hình, những bàihọc kinh nghiệm rút ra từ việc xây dựng mô hình, đồng thời đưa ra một sốkhuyến nghị để xây dựng, phát triển và khuyến khích nhân rộng mô hình nàytrong xã hội, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Việt Nam
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo tồn văn hóa truyềnthống của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành tại Khu Bảo tồn vănhóa dân gian Luy Lâu với tư cách là mô hình xã hội hóa bảo tồn văn hóa do tưnhân thực hiện, bao gồm các lĩnh vực và các hình thức, cách thức bảo tồn, pháthuy giá trị các di sản văn hóa truyền thống
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống của Công ty TNHH MTV Rối nước ThuậnThành tại thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 đến nay (2021), thời điểm
Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành ra đời và đi vào hoạt động
- Phạm vi thời gian khảo sát: Từ năm 2020 đến năm 2021, nhóm tác giả
đã tiến hành điền dã, khảo sát trực tiếp mô hình Khu Bảo tồn văn hóa dân gianLuy Lâu (tại thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) doCông ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành xây dựng, để thu thập dữ liệu, phục
vụ cho việc hoàn thành đề tài
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu văn bản viết về hoạt động xã hội hóa bảo tồn pháthuy giá trị di sản văn hóa, các bài viết về mô hình hoạt động của Công ty TNHHMTV Rối nước Thuận Thành và Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu
- Tìm hiểu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa củaCông ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành tại Khu Bảo tồn văn hóa dân gianLuy Lâu
- Thông qua hoạt động của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thànhtại Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu, chỉ ra những cơ sở khoa học của mô
Trang 15các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của mô hình và việc nhânrộng mô hình, góp phần bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã: Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế tại
Công ty THHH MTV Rối nước Thuận Thành Địa chỉ: Thôn Đồng Ngư, xã NgũThái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Phương pháp phỏng vấn: Nhóm tác giả đã phỏng vấn cán bộ, nhân viên,
nghệ nhân của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành, cán bộ,nghệ nhân
và người dân thôn Đồng Ngư (xã Ngũ Thái) để làm rõ các hoạt động bảo tồnvăn hóa truyền thống của Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhóm tác giả đã tiến hành tổng hợp
các tài liệu viết về các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống nói chung và bảotồn văn hóa truyền thống của tư nhân thực hiện nói riêng
- Phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích,… để làm rõ thực trạng hoạt
động của Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu, từ đó đưa ra các khuyến nghị
từ hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống do tư nhân thực hiện
7 Đóng góp của đề tài
-Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài được thực hiện góp phần làm rõ quan
điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về việc khuyến khíchhoạt động xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; cơ sởkhoa học của xã hội hóa bảo tồn di sản văn hóa
-Đóng góp về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần đề ra các giải pháp nhằm đẩy
mạnh hoạt động của Công ty THHH MTV Rối nước Thuận Thành, đồng thờithông qua đó đề xuất kiến nghị nhằm phát triển, nhân rộng mô hình xã hội hóabảo tồn giá trị di sản văn hóa tại các địa phương
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài bao gồm 3 chương:
Trang 16Chương 1 Các vấn đề bảo tồn di sản văn hóa, mô hình xã hội hóa bảo tồn
di sản văn hóa và khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rốinước Thuận Thành
Chương 2.Thực trạng hoạt động bảo tồn di sản văn hóa của Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành tại Khu Bảo tồnvăn hóa dân gian Luy Lâu
Chương 3 Bàn luận và khuyến nghị từ việc nghiên cứu trường hợp mô
hình bảo tồn văn hóa truyền thống của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thànhviên Rối nước Thuận Thành
Trang 17Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Mô hình
Theo Từ điển mở Wiktionary, danh từ mô hình có hai nghĩa:
“1 Vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo vàhoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu Ví dụ: mô hình máy bay,triển lãm mô hình nhà ở kiểu mới
2 Hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủyếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy Ví dụ: Mô hình câu đơn” [4]
Còn theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Long - Quang Hùng biên soạn,
Nxb Hồng Đức, Hà Nội (2012): “Mô hình (danh từ) là kiểu mẫu làm thử để coi
Trang 181.1.3 Văn hóa truyền thống
Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa truyền thống (Traditional culture)
“Là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hộithì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế
hệ và có một tầm quan trong đặc biệt (ngay cả trong trường hợp các tập quán vàbiểu tượng được hình thành trong khoảng thời gian không lâu) [18, tr.5] Theocách định nghĩa này thì khái niệm văn hóa truyền thống được hiểu là những giátrị văn hóa được truyền từ đời nọ sang đời kia, mang tính ổn định Nói đến “Vănhóa truyền thống” là nói đến những yếu tố văn hóa được hình thành trong quákhứ, được trao truyền, kế thừa từ đời nọ sang đời kia mang tính ổn định, đặctrưng cho một tộc người, một vùng miền, một địa phương nào đó
1.1.4 Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống
Theo cách giải nghĩa danh từ mô hình trong các cuốn Từ điển đã trình bày ởtrên, nhóm tác giả đề tài đưa ra khái niệm về mô hình bảo văn hóa truyền thốngnhư sau:
Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống là một kiểu mẫu của việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyền thống do các tổ chức và các cá nhân thực hiện nhằm lưu giữ những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị của người xưa để lại Từ kiểu mẫu này có thể nhân rộng ra xã hội nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc.
Như vậy ở đây mô hình có nghĩa là một kiểu dạng, một cách thức làm mà
từ đó có thể đem nhân rộng ra xã hội Hiện nay, mô hình bảo tồn văn hóa truyềnthống do tư nhân thực hiện, nói một cách khác là mô hình xã hội hóa văn hóađang ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta Nó thể hiện ở việc lập các bảo tàng
tư nhân, các viện nghiên cứu, các trung tâm thực hành văn hóa…do tư nhân tựđứng ra thành lập có sự cho phép của Nhà nước, mà mô hình của Công ty
Trang 191.2 Tiền đề và cơ sở pháp lý của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống
1.2.1.Tiền đề của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa
Xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống do các cá nhân đứng rađảm nhiệm thực chất là quá trình xã hội hóa việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa
truyền thống PGS.TS Trương Quốc Bình trong bài viết “Xã hội hóa các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”,Tạp chí Di sản số
4 (năm 2008), đã nêu ra bảy tiền đề cơ bản của xã hội hóa bảo tồn giá trị di sản vănhóa ở Việt Nam như sau:
“1 Xã hội là một trong những thuộc tính cơ bản của các di sản văn hóa vàthiên nhiên Các di sản thiên nhiên là những bằng cớ vật chất của quá trình chinhphục, cải tạo và sử dụng thiên nhiên vì mục đích tồn tại và phát triển của conngười Đây cũng đồng thời là quá trình con người đã gắn kết với nhau, tập hợpnhau từ tự phát đến tự giác - thành xã hội Do đó, việc xác định trách nhiệm bảo
vệ và phát huy di sản này như một công việc có tính xã hội là hoàn toàn hợp lý.Các di sản văn hóa vật thể (là động sản hay bất động sản) và các di sản phi vậtthể - đều là sản phẩm chung, là kết quả sáng tạo chung thành, tồn tại và pháttriển Và chính vì thế, xã hội đã trở thành một trong những thuộc tính cơ bản vốn
có của các di sản văn hóa
2 Nước ta ở vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa nhiều, nắng gắt, thườngxuyên bị bão lũ và luôn luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm và sự tàn hủycủa những cuộc chiến tranh khốc liệt Vì thế, các di sản văn hóa vật thể ở nước
ta thường xuyên chịu những tác động của thiên nhiên và con người Nếu nhưtrong sự nghiệp dựng nước, nhân dân ta đã chung sức sáng tạo nên một nền vănhóa phong phú, đa dạng thì trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập dântộc, vấn đề bảo vệ quốc gia dân tộc nói chung và các di sản văn hóa dân tộc nóiriêng - bảo vệ và sửa sang “tôn miếu và xã tắc” - bao giờ cũng là mục tiêu quantrọng hàng đầu Chính vì vậy, việc tu sửa, phục hồi các di tích lịch sử và văn hóa
Trang 203 Do những đặc điểm về địa - kinh tế, địa - nhân văn và địa - chính trị,trong quá trình tồn tại và phát triển, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã tạo lập vàvun đắp những giá trị tinh thần cao đẹp, tiền đề và cội nguồn của sức mạnh dựngnước và giữ nước, mà đoàn kết dân tộc là một trong những giá trị đã trở thànhtruyền thống Xuất phát từ nhu cầu đoàn kết để dựng nước và giữ nước, đồngthời xuất phát từ những đặc điểm và dạng thức của đời sống tâm linh, từ tập tụcthờ phụng tổ tiên trong mỗi gia đình, nhân dân ta đã cùng nhau thừa nhận mộtđối tượng thờ phụng chung và cùng nhau xây dựng một nơi thờ phụng chungcho cả làng, và thậm chí cao hơn nữa còn tự coi là có chung một nguồn gốc “BốRồng, Mẹ Tiên” để rồi lập nên một ngôi mộ chung, đặt ra một ngày giỗ Tổchung cho cả quốc gia/ dân tộc Chính vì lẽ đó, việc bảo tồn những di sản vănhóa mà cho ông ta đã chung sức vun đắp, sáng tạo, bảo vệ và truyền lưu trongquá trình dựng nước và giữ nước mà thế hệ chúng ta đang thừa hưởng còn cónhững ý nghĩa quan trọng không chỉ xuất phát từ trách nhiệm và nghĩa vụ màcòn có ý nghĩa về tinh thần và tình cảm triết lý “uống nước nhớ nguồn” đối vớitiền nhân.
4 Dưới góc độ lịch sử văn hóa, từ thực tiễn địa hình, tồn tại và phát triểncủa văn hóa truyền thống Việt Nam mà hạt nhân cơ bản của nó là làng xã, chúng
ta có thể xem xét và đánh giá các loại hình tổ chức hoạt động của cộng đồnglàng xã trước đây mà trong đó trung tâm là con người và các mối quan hệ cơ bản
là huyết thống và phi huyết thống để xem xét bình diện của quan hệ cộng đồng.Trong những quan hệ này, một trong những cốt lõi để cố kết các cộng đồng làhình thái thờ phụng thổ thần của các xóm, ngõ, cao hơn là việc thờ thành hoàngchung ở đình xuất phát từ nhu cầu đoàn kết như đã nói ở trên Và chính bản thannhững hoạt động chung này đã xảy nảy sinh nhu cầu đóp góp nhân tài vật lực đểxây dựng những công trình công cộng chung của làng xã
Từ những kết quả nghiên cứu về cộng đồng và phong tục, chúng ta có thể
Trang 21tự nhiên Tinh thần ấy thể hiện trong việc góp giỗ chung của làng, trong việc xâydựng và thực hiện các hương ước, quy tắc chung, trong đó có những quy định vềbảo vệ tập tục, bảo vệ tài sản và di sản văn hóa chung, bảo vệ môi trường cảnhquan.
5 Mặt khác, những biểu hiện nói trên còn được nâng thành mối quan hệgiữa làng - nước Các tổ chức xã hội trong xã hội Việt Nam cổ truyền như phe(phe tư văn, phe tư võ) hay Hội và đặc biệt là Giáp - một tổ chức dành riêng củanhững người đàn ông mà nền tảng tập hợp chủ yếu là tuổi tác gắn với tập tụctrọng xỉ, một dấu nối giữa cộng đồng làng xã với cộng đồng nhà nước hóa có vaitrò không thể phủ nhận trong việc xây dựng các công trình công cộng của làng
xã, đặc biệt là đình làng Nhìn chung, phương thức tổ chức và nội dụng hoạtđộng của các tổ chức xã hội trong xã hội Việt Nam truyền thống, dù dựa trên cơ
sở huyết thống hay phi huyết thống, đều thể hiện tinh thần xã hội hóa Về mặthình thức, các tổ chức nói trên đều có những hoạt động mang tính văn hóa bởinhững hoạt động này tạo nên những mối liên kết chung, mà qua đó nhữngnguyện vọng chung của mỗi cá nhân được phổ cập Với tư cách là những đơn vị
xã hội - trước khi là những đơn vị văn hóa, những tổ chức nói trên cũng đồngthời là môi trường nuôi dưỡng và hình thành nhân cách văn hóa thông qua giapháp, lệ tộc, lệ làng và cuối cùng là “phép nước” Người Việt truyền thống đượcgiáo dục trước hết và trên hết bởi những triết lý cộng đồng chứ không phải lànhân cách cá thể với việc những giá trị chuẩn mực chung được phổ biến và quyđịnh đến từng người dân Do đó, khai thác những đặc tính truyền thống về vấn
đề này, chúng ta cần thấy rõ vai trò quan trọng của việc kết hợp giáo dục giađình, tổ chức xã hội ở cơ sở, nhà trường với các hình thức giáo dục xã hội khác,trong đó có hoạt động giáo dục truyền thống trên cơ sở các di sản văn hóa
6 Trong thời kỳ phong kiến, bên cạnh việc tôn trọng và khuyến khích cáchình thức và biện pháp xã hội hóa vốn có trong nhân dân, nhà nước phong kiếnViệt Nam không đảm nhận việc bao cấp cho các hoạt động bảo vệ và phát huy
Trang 22các hoạt động này thông qua việc tổ chức ban sắc phong cho các đối tượng đượcthờ phụng Và đồng thời tạo những điều kiện vật chất với việc cấp một phần
“đất vua” nhằm khuyến khích các hoạt động này Cho đến trước cách mạngtháng Tám năm 1945, các hình thức xã hội hóa việc bảo tồn di sản văn hóa vẫndựa vào những tổ chức tự quản của cộng đồng làng xã với phương thức hoạtđộng chủ yếu dựa theo cách đóng góp theo đầu người và đóng góp tự nguyện.Nhờ đó, các đình, đền chùa, miếu… tiếp tục được bảo vệ với tư cách là nhữngtrung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa dân gian
7 Do những đặc thù của nội dung, giá trị của các di sản văn hóa và nhữngbản chất đồng thời là tiềm năng của việc xã hội hóa nên ngay trong thời kỳ baocấp, việc xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa đãđược thực hiện ở những mức độ và hình thức khác nhau Nhiều khu di tích vẫnđược nhân dân địa phương cử người trông nom bảo vệ và được hưởng hoa lợithu được trong khu vực di tích Nhiều cá nhân vẫn say sưa tự mình xây dựng các
bộ sưu tập cổ vật hoặc các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là hội họa Nhiều cơquan, trường học vẫn tổ chức những chuyến thăm quan học tập tại các di tíchlịch sử và danh lam thắng cảnh
Đến thời kỳ đổi mới, những hoạt động này, đặc biệt là việc tu bổ phát huycác di tích lịch sử và văn hóa đã diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một hiện tượngkhông chỉ đối với ngành văn hóa mà còn trở thành một hiện tượng xã hội Chính
vì thế, các hoạt động xã hội hóa một cách tự phát trong những năm qua cùngnhững kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn hoạt động đã tạo ra một trong những tiền
đề quan trọng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo vệ vàphát huy di sản văn hóa hiện nay” [1, tr 9 -12]
Các tiền đề cơ bản nêu trên cũng cho thấy, vấn đề xã hội hóa đã nảy sinh
và tồn tại ngay trong quá trình sáng tạo và trao truyền văn hóa qua các hình thứcbảo tồn và phát huy khác nhau Nhà nghiên cứu Trương Quốc Bình cho rằng:
Trang 23gán ghép mà nó là những sự tham gia tự nguyện của các cá nhân và cộng đồngtrên cơ sở nhận thức vấn đề tự mình và cho mình” [1, tr 12].
Và như vậy có thể thấy rằng mô hình xã hội hóa bảo tồn văn hóa ra đời là
do sở thích của các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu cá nhân và từ yêu cầu đòi hỏi
từ thực tiễn của cuộc sống Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đangđứng trước bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nhiều giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc đang có nguy cơ hủy hoại, biến dạng và mất đi Có thể thấycác hoạt động xã hội hóa một cách tự phát trong những năm qua cùng nhữngkinh nghiệm rút ra từ thực tiễn hoạt động, đã tạo ra một trong những điều kiệnquan trọng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo vệ vàphát huy di sản văn hóa ở nước ta hiện nay
1.2.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống
1.2.2.1 Chủ trương của Đảng
Như đã trình bày, xã hội hóa các hoạt động bảo tồn di sản nói riêng và xãhội hóa các hoạt động văn hóa nói chung xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong xãhội Tuy nhiên khi các mô hình ra đời và đi vào hoạt động, bản thân nó lại chịu
sự định hướng, quản lý và chi phối bởi các cơ sở pháp lý Trong thời đại củachúng ta, với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và đất nước Việt Nam, từkhi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong các nghị quyết và cương lĩnh củaĐảng đều nhất quán chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc
Cụ thể ngày 3/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và công bố Sắc lệnh
số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Sau Sắc lệnh số 65/SL, ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ ban hành đã tạo điều kiện cho ngành văn hóa thể
thao tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắngcảnh ở các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quan
trọng nhất của đất nước Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh
Trang 24quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dântộc Những nghị định, pháp lệnh này thể hiện tư duy lý luận của Đảng ta đối vớiviệc bảo tồn các di sản văn hóa ở những thời điểm, hoàn cảnh, những giai đoạnlịch sử cụ thể của đất nước.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và giao lưu hội nhập quốc tế, Đảng
và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương đường lối và chính sách bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân,góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tư duy lý luận của Đảng ta vềbảo tồn và phát huy các di sản văn hóa ngày càng được hoàn thiện thông qua cácvăn kiện, nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước Tại Đạihội VI, lần đầu tiên Đảng ta nêu lên chủ trương xã hội hóa các hoạt động vănhóa: “Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật cầnthiết cho văn hoá và nghệ thuật, giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử, vănhoá” [2, tr 92]
Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội VII,Điều 30, Hiến pháp năm 1992 quy định rõ rằng: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, pháttriển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy nhữnggiá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân…” [13, tr 24].
Theo quan điểm Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, bản sắc văn hóa dântộc “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của các cộng đồng các dântộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước” [3, tr 56] Theo đó, bảo vệ bản sắc văn hóa, giá trị di sản văn hóadân tộc là bảo vệ những tinh hoa của dân tộc được hình thành và lưu giữ quahàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc phảigắn với giao lưu quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu và phong
Trang 25lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắcdân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời, trong phong tục tập quán, lề thóicũ” [3, tr 57].
Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt vấn đề và yêu cầu bảo vệ di sản văn hóabao gồm cả văn hóa truyền thống và văn hóa cách mạng, văn hóa vật thể và vănhóa phi vật thể Nghị quyết viết: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộngđồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới
và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trịvăn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả vănhóa vật thể và phi vật thể” [3, tr 56]
Trên phương diện quan điểm của Đảng đối với sự nghiệp phát triển vănhóa, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng là văn kiện toàn diện nhất, đềcập cụ thể đến những vấn đề chung cũng như những phương hướng phát triểnnền văn hóa Việt Nam, vì vậy, nó tác động sâu sắc không chỉ đến quá trình pháttriển nền văn hóa Việt Nam nói chung mà còn định hướng cho công việc quản lývăn hóa của ngành văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng
Như vậy có thể nói các văn kiện của Đảng, đặc biệt là nghị quyết Trungương 5 khóa VIII vừa nhấn mạnh đến vai trò, mục tiêu xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhấn mạnh việc bảo tồn và phát huygiá trị di sản văn hóa, vừa nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển văn hóa là
sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Đây chính là cơ sở để
khuyến khích, tạo điều kiện cho các mô hình xã hội hóa bảo tồn di sản văn hóa
ra đời và đi vào hoạt động
1.2.2.2 Chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, hàng loạt các giảipháp xây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân
đã ra đời Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị việc thực hiệnnếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Chỉ thị số 14/1998/TC-TTg
Trang 26trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội đã dẫn đến việc ra đời Thông tư số04/1998/TTg-BVHTT ngày 11/7/1998 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫnthực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội (Sau đó là Thôngtưsố: 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/ 2011 của Bộ VH - TT&DL thay thếThông tư số 04/1998/TTg - BVHTT).
Hệ thống pháp luật có liên quan đến di sản văn hóa truyền thống, như
những văn bản được cụ thể hóa bằng các luật như Luật Di sản văn hóa, bằng các quy chế như Quy chế tổ chức lễ hội Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã tiến hành
đầu tư qua Chương trình Quốc gia có mục tiêu về văn hóa cho việc nghiên cứu,sưu tầm, phục hồi các giá trị di sản văn hóa, nhờ đó, huy động được sự quan tâmcủa cộng đồng đối với các di sản văn hóa
Ngày 19/01/1993, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 25/TTg Về một
số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, trong đó
xác định việc phát triển văn hóa thể thao mang bản sắc dân tộc Việt Nam làtrách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân, Nhà nước tạo điều kiện, xây dựng cơ sở hạtầng và trang bị phương tiện cho việc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bảnsắc dân tộc Quyết định cũng chỉ ra những chính sách cụ thể như đầu tư cho việcsưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phổ biến văn học dân gian, cácđiệu múa, các làn điện âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ côngtruyền thống, các loại nhạc dân tộc, xây dựng các tiết mục dân tộc như tuồng,chèo, dân ca, cải lương, múa rối, đồng thời khen thưởng những người có côngtrong việc sưu tầm và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Để triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và các quyết định củaChính phủ trong lĩnh vực di sản văn hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành:Công văn số 4432/VHTT-BTBT ngày 20/10/1998 hướng dẫn tăng cường quản
lý cổ vật; Công văn số 488/2/VHTT-BTBT ngày 18/11/1988 hướng dẫn việcđăng ký kiểm kê bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; Chỉ thị
Trang 27hội khóaX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 14/6/2001, có hiệu lực từ ngày01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa ở Việt Nam Trong Luật Di sản văn hóa, ngoài tính hệ thống và tầm bao quát của nó thì lần đầu tiên chúng ta đã đưa các di sản văn hóa phi vật thể vào
nội dung quản lý và điều chỉnh của bộ luật này
Ngày 10 tháng 10 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết địnhSố: 1466/QĐ-TTg quy định Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêuchuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế,văn hoá, thể thao, môi trường Đây chính là cơ sở, là tiêu chí để xác định tiêuchuẩn của các mô hình xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, thểthao, môi trường…trong đó có mô hình xã hội hóa các hoạt động văn hóa [14]
Nhìn một cách tổng quát, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách củaNhà nước trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là sự phát triển tưduy lý luận của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộckhông chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có tác dụng to lớn trong việc bảotồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, ngăn chặn tình trạng xuống cấp vàlạm dụng, lợi dụng các di tích lịch sử, di sản văn hóa của dân tộc Đồng thời,khuyến khích các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia vào quá trình bảo tồn,phát huy giá trị di sản văn hóa Từ đó tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến sựnghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.3 Tiêu chí đánh giá mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống
Như đã trình bày, ngày 10 tháng 10 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ raQuyết định Số: 1466/QĐ-TTg quy định Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chíquy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục,dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường Theo đó đối với lĩnh vực văn hóa,
có một số cơ sở trình diễn/diễn xướng dân gian (nằm trong các mô hình, hoạtđộng bảo tồn văn hóa truyền thống) được quy định cụ thể như sau
1.3.1 Tiêu chí đánh giá cơ sở trình diễn/ diễn xướng dân gian
Trang 28+ Có đội ngũ những người thực hành diễn xướng dân gian theo quy địnhcủa loại hình nghệ thuật trình diễn trong đó ít nhất có 1 nghệ nhân và 5 ngườithường xuyên tham gia trình diễn.
+ Có chương trình biểu diễn phục vụ công chúng với thời lượng chươngtrình ít nhất là 45 phút
+ Có số người học nghề từ 5 người trở lên
+ Nơi luyện tập và trình diễn cho công chúng có diện tích tối thiểu là 100 m2
+ Có địa điểm để luyện tập, truyền đạt và trình diễn cho công chúng [14]
1.3.2 Tiêu chí đánh giá cơ sở nghiên cứu và đào tạo về bảo tồn di sản văn hóa
- Về quy mô:
+ Có số lượng học viên tham gia mỗi chương trình đào tạo tối thiểu là 45 họcviên
+ Diện tích phòng học lý thuyết tối thiểu đạt 1,3m2/học viên Diện tích cơ
sở thực hành bảo tồn tối thiểu đạt 2,5 m2/học viên
+ Có tối thiểu 5 nghiên cứu viên là 10 giảng viên và cộng tác viên bảo tồn
di sản văn hóa
- Về chất lượng:
+ Được thành lập và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định củapháp luật
Trang 29+ Người đứng đầu cơ sở phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn, cónăng lực quản lý và tổ chức điều hành hoạt động của cơ sở theo quy định củapháp luật.
+ Cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp với việc nghiên cứu và đào tạo
1.4 Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành và Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu
1.4.1 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành
Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành được thành lập và đi vàohoạt động vào tháng 3 năm 2010, có trụ sở tại thôn Đồng Ngư, xã Ngũ Thái,huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Theo đăng ký, Công ty kinh doanh đangành kết hợp, như: Biểu diễn rối nước và các loại hình nghệ thuật dân gian;Đào tạo truyền nghề; Sản xuất, mua bán hàng thủ công mĩ nghệ; Dịch vụ dàndựng, thiết kế sân khấu; Cho thuê con rối,
Sự ra đời của Công ty gắn liền với người sáng lập, đồng thời là Giám đốc,ông Nguyễn Thành Lai, sinh năm 1971, người làng Đồng Ngư, (xã Ngũ Thái,huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) (Phụ lục ảnh 1, tr.79) Tâm huyết với nghệthuật rối nước quê hương, ông tham gia phường rối ngay từ năm 1989 khi làngkhôi phục nghề truyền thống Do tuổi trẻ còn phải lo làm ăn phát triển kinh tếgia đình, năm 1995 ông ra Hà Nội mở xưởng cơ khí và sửa chữa xe máy Nhưng
do yêu nghề nên đến năm 2000, ông quyết định về quê sinh sống để được cùngphường biểu diễn rối nước
Trang 30Mặc dù tuổi còn trẻ, Nguyễn Thành Lai vẫn được tin cậy bầu làm Trùm phó.Khi cụ Nguyễn Thanh Trãi, Trùm trưởng của phường qua đời, ông được bầu làmTrùm trưởng thay thế cụ Lúc này tiếng vang phường rối nước Đồng Ngư đã đượcnhiều cơ sở kinh doanh du lịch biết tiếng, muốn liên kết hoạt động Nhưng cơ cấu
tổ chức của phường không mang tính chuyên nghiệp biểu diễn nên khó có thể tổchức đi hoạt động lâu dài xa làng quê được Mặt khác, yêu cầu bảo tồn nghệ thuậtgốc lại cần hình thức hoạt động của phường theo lối cũ đang duy trì Vì vậyNguyễn Thành Lai đã nảy ra ý định một mặt ông vẫn duy trì phường hoạt độngtheo mô hình cũ nhằm bảo tồn nghệ thuật gốc, một mặt ông mở công ty biểu diễnchuyên nghiệp để phát triển nghệ thuật truyền thống
Đầu tháng 3/2010 ông đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhvới tên “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Rối nước Thuận Thành”
Kể từ đó Công ty đi vào hoạt động, với sự dẫn dắt của ông, Công ty đã khôngngừng phát triển Công ty kinh doanh đa ngành kết hợp, như: Biểu diễn rối nước
và các loại hình nghệ thuật dân gian; Đào tạo truyền nghề; Sản xuất, mua bánhàng thủ công mĩ nghệ; Dịch vụ dàn dựng, thiết kế sân khấu; Cho thuê con rối,
Để đoàn hoạt động chuyên nghiệp, có hiệu quả, ông Nguyễn Thành Laicòn thành lập “Phường rối nước Luy Lâu” hoạt động độc lập với “Phường rốinước dân gian Đồng Ngư” do các nghệ nhân làng Đồng Ngư xã Ngũ Thái duytrì hoạt động theo hướng bảo tồn làng nghề truyền thống.Phường có 31 thànhviên (7 nữ) và đội ngũ cộng tác viên gắn bó trên 30 người
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thànhnhư sau:
Trang 31Phường có mặt bằng 5000m2, trong đó 1000 m2 là diện tích của gia đình,
4000 m2 là diện tích thuê của xã Ngũ Thái Để phù hợp với hoạt động biểu diễn
cơ động, Phường rối nước Luy Lâu lập 3 Đoàn biểu diễn, mỗi đoàn 12 người:Đoàn 1 do nghệ nhân Nguyễn Đình Hiệp là Phó phường kiêm Trưởng đoàn.Đoàn 2 do nghệ nhân Nguyễn Văn Huy phụ trách Đoàn 3 do nghệ nhân NguyễnVăn Đoàn phụ trách Từ năm 2016, Đoàn 2 liên tục biểu diễn cố định ở Khu dulịch Tuần Châu (Quảng Ninh) để phục vụ khách du lịch
Bên cạnh đó, các đoàn Rối nước của Phường Rối Luy Lâu còn tham giabiểu diễn các tiết mục Rối nước truyền thống, tổ chức các trò chơi dân gian, tổchức đêm hội trăng Rằm cho các em thiếu nhi tại khu đô thị Ecopack Hưng Yên,tham gia biểu diễn, giới thiệu và trưng bày con Rối, nghệ thuật tạo hình, điềukhiển con Rối tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành với Phường Rối nước LuyLâu còn tham gia các chương trình biểu diễn giao lưu với một số phường Rốitrong cả nước như: Đào Thục (Huyện Đông Anh - Hà Nội), Chàng Sơn (HuyệnThạch Thất - Hà Nội); ba phường rối nước của tỉnh Hải Dương: Bồ Dươngthuộc xã Hồng Phong (Huyện Ninh Giang), An Liệt thuộc xã Thanh Hải (HuyệnThanh Hà) và Bùi Thượng thuộc xã Lê Lợi (Huyện Gia Lộc)
Trang 321.4.2 Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu
Trên cơ sở của việc hoạt động kinh doanh có hiệu quả, với dự định đã ấp
ủ từ lâu nhằm bảo tồn giá trị các di sản văn hóa của vùng Kinh Bắc nói riêng vàcủa dân tộc nói chung, ông Nguyễn Thành Lai đã quyết định đầu tư xây dựng cơ
sở Phường theo hướng thành “Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu” vừaphục vụ sinh hoạt cộng đồng, vừa phát triển thành điểm du lịch văn hóa quantrọng của địa phương
Hiện nay ông Lai đã phân chia toàn bộ Khu Bảo tồn thành 3 khu vực: Khu
ao nhà người Việt và Thủy đình biểu diễn; Khu tạo hình; Khu trưng bày, hội tụtất cả các nét văn hoá truyền thống của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ như trìnhdiễn múa rối nước dân gian, biểu diễn các làn điệu Quan họ và nghệ thuật hát catrù tại nhà chứa Quan họ, dạy cách làm tranh dân gian Đông Hồ (Phụ lục ảnh 36,tr.96), làm giấy Đống Cao, chạm khắc Phù Khê, đúc đồng Đại Bái, tơ tằm VọngNguyệt, làm đậu Trà Lâm, gốm Phù lãng, Bên cạnh đó, tại Khu Bảo tồn vănhóa dân gia Luy Lâu còn tổ chức các trò chơi dân gian như: Bịt mắt bắt dê, kéo
co, leo cột hái quà, ô ăn quan, đi cầu khỉ, bắt chạch trong chum, nhảy sạp, đi càkheo, ném còn, đội bình gốm, bịt mắt đập niêu,…
Ngoài ra ông Nguyễn Thành Lai còn xây dựng khu trưng bày hiện vật giadụng truyền thống, khu trải nghiệm nông trại, khu bảo tồn các giống gia cầmquý Đặc biệt là việc tổ chức làm các món ẩm thực dân dã, các món bánh truyềnthống của dân tộc như: Bánh đúc,bánh chưng, bánh giày, bánh nếp, bánh tẻ,bánh trôi, bánh chay (Phụ lục ảnh 39, tr.98); một số thức quà dân gian như:Bánh đa, kẹo lạc, kẹo dồi, kẹo kéo hay món xôi ngũ sắc độc đáo Mục đíchnhằm bảo tồn những nét văn hóa truyền thống của làng quê Việt đang ngày càng
bị mai một trước bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ
Trang 33TIỂU KẾT
Trong chương 1, nhóm tác giả đã làm rõ một số vấn đề có tính chất lýluận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài như: các khái niệm cơ bản, bao gồm: Kháiniệm mô hình, bảo tồn, khái niệm văn hóa truyền thống và mô hình bảo tồn văn hóatruyền thống
Đồng thời nhóm tác giả cũng làm rõ những tiền đề và cơ sở pháp lý củaviệc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống do cá nhân đứng ra tổ chức,thực hiện Đó là tiền đề xã hội hóa việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyềnthống, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc khuyếnkhích các tổ chức, cá nhân đứng ra thành lập các mô hình bảo tồn văn hóa truyềnthống của dân tộc
Nhóm tác giả cũng đã trích dẫn các tiêu chí quy định mô hình xã hội hóacác hoạt động văn hóa, làm cơ sở đánh giá mô hình được tiến hành nghiên cứutrong đề tài và giới thiệu khái quát về đối tượng nghiên cứu của đề tài là Công tyTNHH MTV Rối nước Thuận Thành và Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu.Nội dung chi tiết các hoạt động của Công ty và của Khu Bảo tồn sẽ được nhóm tácgiả làm rõ trong chương 2
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH TẠI KHU BẢO TỒN
VĂN HÓA DÂN GIAN LUY LÂU
Như chúng tôi đã trình bày tại chương 1, Công ty TNHH MTV Rối nướcThuận Thành được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2009 Sau 10 năm, đếnnăm 2019 mới khánh thành giai đoạn 1 lấy tên là Khu Bảo tồn văn hóa dân gianLuy Lâu Tuy nhiên, những hoạt động của Khu Bảo tồn được tiến hành khá đadạng, phong phú với nhiều kết quả đáng ghi nhận trên cả hai lĩnh vực: Bảo tồncác giá trị văn hóa vật chất và bảo tồn các giá trị văn hóa tinh thần
2.1 Hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa vật chất
2.1.1 Sưu tầm các hiện vật
Văn hóa vật chất được hiểu là những yếu tố văn hóa tồn tại dưới dạng vậtchất như đồ ăn, thức đựng, nhà cửa kiến trúc và các vật dụng sinh hoạt gắn bó từlâu đời đối với mỗi người dân trong quá trình sinh sống
Một vài chục năm sau đổi mới, do quá trình hiện đại hóa, nhiều vật dụngvốn quen thuộc với người dân từ bao đời giờ đã trở nên không còn tác dụng.Chúng được thay thế bởi những dụng cụ, phương tiện hiện đại hơn Nếu nhưkhông được giữ lại, chúng sẽ bị lãng quên và trở nên xa lạ với lớp trẻ Chính vìvậy ông chủ của Khu Bảo tồn Nguyễn Thành Lai luôn trăn trở, đam mê sưu tầm,phục dựng lại những giá trị ấy
Ngay từ năm 1990, ông Nguyễn Thành Lai đã bắt đầu tiến hành tự đi đếncác gia đình trong làng, trong vùng và đến nhiều nơi để sưu tầm, mua lại các vậtdụng tưởng như rất đỗi đơn giản của người nhà quê như: nồi đồng, cối đá, mâmđồng, mâm gỗ, bát sành, chum đất, ổng nhổ, cối giả trầu, cơi trầu, thau đồng, nồiđồng, tích đồng, ấm đồng, đồ trưng cất nấu rượu (nồi đồng, thau đồng, nồi đất,
Trang 35cối giã gạo và cả những chiếc cầu đá, mô hình giếng làng, bể nước mưa và cảchiếc…“cầu tõm” một thời Những món đồ “nhà quê” này được đưa về gia đình
và được cất giữ xung quanh nhà Khi Khu Bảo tồn được xây dựng, các vật dụngnày được phân loại, bố trí thành các ô khác nhau trong khu bảo tồn.Không chỉsưu tập các hiện vật văn hóa của người Việt, ông Nguyễn Thành Lai còn mởrộng sưu tập cả bộ cồng chiêng của người Mường ở tỉnh Hòa Bình (Phụ lục ảnh
24, tr.90)
Cho đến nay những vật dụng của người nông dân càng ngày càng đượcsưu tập nhiều thêm Để có những hiện vật này, ông Lai đã dày công đi đến cácgia đình trong làng, trong xã và đi nhiều nơi, bắt nhiều mối khác nhau để sư tầm,xin và mua lại Ông cho biết: có những món đồ phải mất tiền để mua, nhưngcũng có những món đồ ông xin được hoặc được tặng, được cho không Ví dụ nhưnhững chiếc cối đá, những chiếc thúng, mủng, dần, sàng nong nia mà có gia đình
đã toan vứt đi vì không dùng đến nó nữa
Nhìn chung những hiện vật được trưng bày và bảo quản tại Khu Bảo tồnvăn hóa dân gian Luy Lâu khá đa dạng, phong phú Mỗi hiện vật gắn với mộthoạt động trong sinh hoạt văn hóa của người dân ở nông thôn xưa kia Nếukhông có những bảo tang và những người có long đam mê nhiệt huyết như ôngLai sưu tập lại thì chúng sẽ vĩnh viễn mất đi Và quan trọng hơn, lớp trẻ sẽkhông có tư liệu để tìm hiểu về văn hóa truyền thống của ông cha Nhìn ở khíacạnh giáo dục truyền thống thì đây là một hoạt động bảo tồn rất có giá trị
2.1.2 Trưng bày hiện vật và tổ chức trải nghiệm
Khác với nhiều bảo tàng, các hiện vật được sưu tập về và được trưng bàytrong trạng thái tĩnh Ở Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu, nhiều hiện vật
là các vật dụng sinh hoạt của người nông dân xưa được sưu tậm về, được chế táclại và được đưa vào trưng bày ở trạng thái động, tức là phục vụ khách tham quanđến trải nghiệm, làm thử
Hiện nay Khu Bảo tồn đã sưu tầm được hàng trăm hiện vật đá: cối đá,
Trang 36xay bột…gắn liền với đời sống nông dân (Phụ lục ảnh 13, tr.85) Riêng chiếc cốixay ngô hiếm gặp hơn (Phụ lục ảnh 14, tr.85) Đồ gỗ gia dụng nhiều hơn nhưmâm gỗ, chạn bát, âu xới cơm, đấu đong gạo, đong thóc…trưng bày vào nhữngdịp đón các đoàn khách Với các nông cụ của nhà nông như: Cày bừa, cuốc xẻng,mai,dụng cụ bắt tôm cá, gầu tát nước…được trưng bày trải nghiệm trong KhuBảo tồn, nghĩa là được dùng để làm thật cho khách đến tham quan trải nghiệm.
Những dụng cụ này được bố trí tại một khu vườn, ao và ruộng riêng trongkhu bảo tồn Mỗi khi có đoàn đến tham quan đích thân ông chủ Khu Bảo tồn sẽtiến hành thao tác thử một vài dụng cụ cho khách xem Hoặc du khách có thểdùng để trải nghiệm Tóm lại ý tưởng của ông chủ Khu Bảo tồn đây chính là một
“không gian sống” để cho du khách và các bạn trẻ trải nghiệm thực tế Cối xayphải xay được, cối giã phải có gạo để giã v.v… Đến với Khu Bảo tồn, du khách
có thể trải nghiệm như một người nông dân thực thụ tại khu nông trại sạch hữu
cơ với các hoạt động: Trồng rau, cấy lúa, tát nước, làm đất, nhổ cỏ, tưới hoa,chăm gà, nhặt trứng gà, bắt cá…
Để phục vụ cho sự trải nghiệm của du khách, Khu Bảo tồn còn tiến hànhsưu tầm các giống gia cầm quý như: Gà Đông Tảo, gà Hồ, gà ác, gà tre, gà ri,chim bồ câu, chim trĩ, vịt trời Những loại gia cầm này đều được cho ăn thức ănsạch, không dùng thức ăn công nghiệp Nếu có nhu cầu, du khách đến thamquan Khu Bảo tồn có thể trực tiếp chế biến các nông sản sạch do tự tay mình thuhoạch để thưởng thức cùng người thân mà hoàn toàn yên tâm về chất lượng.Trong năm 2020, Khu Bảo tồn đã đón được tất cả hơn 30 đoàn khách về thamquan, tìm hiểu và trải nghiệm các hoạt động văn hóa, thưởng thức ẩm thực tạiKhu Bảo tồn
Nhìn chung, những giá trị văn hóa vật chất được bảo tồn tại Khu Bảo tồnvăn hóa dân gian Luy Lâu rất đa dạng, từ những vật dụng gắn liền với sinh hoạtcủa người nông dân ở thôn quê truyền thống cho đến cả một số loại cây trồng,
Trang 37Đây cũng chính là nét độc đáo của Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu sovới một số mô hình bảo tàng tư nhân khác Chẳng hạn như mô hình bảo tàng
“Đồ nhà quê” của ông Nguyễn Quang Mạnh, chủ hiệu ảnh Vinh Hoa ở phường
Lê Lợi thành phố Bắc Giang
Ở đây có rất nhiều dụng cụ sinh hoạt, sản xuất của người nông dân xưađược ông Mạnh sưu tầm trong nhiều năm Những năm qua, bảo tàng này đã đónrất nhiều đoàn khách trong tỉnh và trong nước cũng như các phóng viên báo chíđến tham quan, viết bài, làm phóng sự Hoặc có thể kể đến bảo tàng Đồng quê ởhuyện Giao Thủy tỉnh Nam Định do bà Ngô Thị Khiếu, một giáo viên về hưusáng lập, trưng bày hơn 1.000 hiện vật đồ dùng của người nông dân Việt truyềnthống khắp ba miền Bắc - Trung - Nam
Tuy nhiên, mặt hạn chế của các bảo tàng này là phần lớn các vật dụngđược bảo quản và trưng bày trong trạng thái tĩnh Khách tham quan, nhất là thế
hệ trẻ và khách nước ngoài sẽ không hình dung được người nông dân xưa đã sửdụng các vật dụng đó như thế nào Ở Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu,hiện vật vừa được bảo quản, vừa được phục chế, nhiều hiện vật được đưa vàohoạt động trải nghiệm,giúp cho khách tham quan hiểu được tính năng, tác dụngcủa chúng, đồng thời thấy được sự sáng tạo của người nông dân xưa thông quacác vật dụng ấy, khiến họ rất thích thú Với các đạo cụ biểu diễn nghệ thuật thìcàng rõ Tiêu biểu như các quân rối nước (mục 2.2), chúng không chỉ được sưutầm, phục chế mà còn được cải tiến và đưa vào hoạt động biểu diễn thườngxuyên Chính cách làm này đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu văn hóa học, dântộc học, sử học…những tư liệu sống động, quý giá về di sản văn hóa truyền thốngcủa người Việt Nam
2.2 Hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa tinh thần
2.2.1 Bảo tồn nghệ thuật rối nước truyền thống
Rối là loại hình văn hóa truyền thống, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống tinhthần từ lâu đời của nhân dân Việt Nam Rối là một nghệ thuật sân khấu “biến
Trang 38đóng kịch trên sân khấu, cơ sở vật chất và kỹ thuật của nó là quân rối, sản phẩmcủa nghệ thuật tạo hình dân tộc Đối với Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu,rối nước là loại hình chủ đạo được tiến hành bảo tồn trên nhiều phương diện.
2.2.1.1 Sưu tầm và cải tiến con rối
Để bảo tồn nghệ thuật múa rối nước, việc đầu tiên là sưu tầm và bảo tồncon rối Từ năm 2007, Bảo tàng Bắc Ninh đã sưu tầm nhiều dụng cụ, quân tròcủa phường Rối nước Đồng Ngư (xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành) như: Tễu,quân cầm cờ, quân đóng đường, tích mời trầu, múa rồng, mục đồng chăn trâuthổi sáo, chọi trâu, rước kiệu, đánh đu, đấu vật bơi lội, cày bừa cấy lúa, đánh cá,câu ếch đánh rắn, sư tử vờn cầu, đám cưới chuột, bố con ông chài, giã bạn, nhàovòng, rùa
Những quân trò này đều được chế tác từ năm 1982, 1992, 1995 để bảo tồnnét văn hóa đặc sắc của miền Kinh Bắc Những hiện vật này hiện đang đượctrưng bày và bảo quản rất tốt tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, giới thiệu với kháchtham quan một nét văn hóa độc đáo của Bắc Ninh nói riêng và của dân tộc nóichung Tuy nhiên đây mới chỉ là việc bảo tồn hiện vật ở dạng tĩnh Cần phải hảotồn và phát huy nó trong trạng thái động như đã trình bày, để các hiện vật đó vẫnđược dùng biểu diễn cho khán giả hôm nay, nhất là thế hệ trẻ Cùng với đó làviệc quảng bá một nghệ thuật độc đáo của Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.Chính việc bảo tồn này đang được thực hiện rất hiệu quả ở Khu Bảo tồn văn hóadân gian Luy Lâu dưới sự chỉ đạo của nghệ nhân Nguyễn Thành Lai
Ðể làm được một con rối hoàn chỉnh, phải trải qua rất nhiều công đoạn từđục cốt đến trang trí hóa trang và rất nhiều công đoạn mà người nghệ nhânkhông thể bỏ qua Quân rối càng hoàn hảo, càng giúp cho kỹ xảo điều khiểnnâng cao, khả năng diễn đạt phong phú Quân rối nước làm bằng gỗ tốt sẽ nặng
và chìm, trên thực tế, gỗ sung là chất liệu thông dụng để tạc con rối, vì loại gỗnày nhẹ lại dai, chịu được nước, và rất dễ điều khiển trong khi biểu diễn dưới
Trang 39Sau khi con rối được tạc với những đường nét cách điệu riêng, chúngđược đầu óc tinh tế của các nghệ nhân thổi vào luồng sức sống mới bằng cáchgọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêmđường nét tính cách cho từng nhân vật, làm cho nhân vật được đặc sắc hơn,trong sáng hơn trước người xem Quân rối nước chính là sản phẩm của nghệthuật điêu khắc gỗ dân gian, nó vừa giàu tính hiện thực, vừa mộc mạc, đằm thắm,trữ tình.
Trong kho tàng quân rối nước cổ truyền ta còn thấy những người đi cày,chú tễu, người đánh cá, dàn nhạc, cô tiên (Phụ lục ảnh 21, tr.89).Ở đây tài năngcủa nghệ nhân đã đem lại cho ta cái tươi mát, đôn hậu, hiền dịu, niềm lạc quanyêu đời, yêu thiên nhiên, con người qua cái bình dị đơn sơ được cách điệu vànghệ thuật hóa Quân rối nước dù tạc liền một khối gỗ hay chắp lại đều có haiphần gắn liền nhau đó là phần thân và phần đế Phần thân là phần nổi lên mặtnước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổibên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động
Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển trong múa rối nước rất được coitrọng, nó tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấuchốt của nghệ thuật múa rối Quân rối đẹp mới chỉ có giá trị về mặt điêu khắc
Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình,hành động làm trò đóng kịch của nó Các nghệ nhân dân gian đã dựa vào kinhnghiệm, lần mò trong thực tế, tìm tòi, sáng tạo và để lại cho đời nay nhiều kiểumáy rối nước phong phú và đa dạng
Tại Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu, khách tham quan có thể gặp
ở đây khá nhiều đồ dùng thường ngày của nghề lúa nước mà người nông dân tựlàm ra như thừng, sào, vọt để làm máy điều khiển quân rối Máy điều khiển rốinước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụlàm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật Máy điều khiển đượcgiấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, đem đến cho
Trang 40Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối Họthao tác từng cây xào hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoàihoặc dưới nước Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một côngviệc bình thường thích thú với mọi người Nếu không phải là người sống ân tìnhvới nước tới mức “Sống ngâm da, chết ngâm xương” như cư dân trồng lúa nước,thì khó có được sự truyền cảm nồng nhiệt vào hành động của nhân vật rối nước.
Nếu như trước kia việc tạo hình con rối được tiến hành hoàn toàn thủcông thì ngày nay tại Khu Bảo tồn, công nghệ tạo hình con rối đã được cải tiếnbằng máy móc Cụ thể cải tiến bằng cách dùng máy tiện, máy chà, máy bào,máy “quật” cho nhẵn con rối Bên cạnh đó các nghệ nhân xưa dùng sơn ta đểsơn con rối thì nay các nghệ nhân ở đây đã dùng thếp bạc, vàng, sơn hóa học tạocho con rối có màu sắc phong phú, sống động hơn Mặt khác xưa con rối lắpbằng sắt, đinh, nhanh bị hỏng và khó điều khiển linh hoạt Nay đã được các nghệnhân của phường cải tiến dùng vật liệu mới như cao su, dây cước, vừa bền hơn,vừa mềm dẻo hơn trong cử động, điều khiển
Kỹ nghệ chế tác các con rối cho các tiết mục biểu diễn của các nghệ nhânlàng Đồng Ngư cũng rất đa dạng, tinh xảo và hoàn hảo So với các phường múarối khác, nghệ thuật múa rối nước Đồng Ngư và phường rối nước Luy Lâu cónhiều nét độc đáo riêng có Vốn nổi tiếng với nghề sơn mài và tạc tượng chođình chùa, nên các nghệ nhân ở Đồng Ngư, bằng tay nghề tài hoa của mình đãchế tác ra những con rối rất đa dạng, tinh xảo Gỗ để làm các con rối là các loại
gỗ nhẹ, thớ mịn và không có mấu như gỗ xoan, gỗ duối hay gỗ sung
Qua các thế hệ, nghệ nhân nơi đây đã sáng tạo, chế tác được hơn 200 loạicon rối để biểu diễn Khi biểu diễn, các phường múa rối nước khác thường điềukhiển con rối bằng gậy, bằng sào nhưng múa rối nước Đồng Ngư lại điều khiểncon rối bằng sào và dây Để điều khiển được kỹ thuật này, đòi hỏi người biểudiễn phải trải qua quá trình tập luyện rất vất vả, có tay nghề cao, đôi bàn tay dẻo