Văn hóa vật chất - Văn hóa tinh thần
Trang 1Trả Lời Câu 1: (5,0 điểm)
Anh (chị) hãy trình bày khái niệm “văn hoá", “văn hoá vật chất", “văn hoá tinh thần" So sánh 2 khái niệm “văn hoá" và “văn minh”
Văn hoá là những hoạt động đã có từ rất xa xưa, ra đời cùng với con người và đồng hành với con người Khái niệm văn hóa, Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào cuối thế kỷ XIX, khái niệm này đã được diễn giải rất khác nhau và đã biến đổi
ý nghĩa nhiều lần Từ ý nghĩa ban đầu là “giáo hóa”, “văn hoá” đã biển đổi nghĩa
để chỉ các năng lực tinh thần, tiếp đó mở rộng nghĩa để chỉ các hiện tượng nhân tạo hình thành trong xã hội loài người Và đến cuối thế kỷ XX thì nó được thu hẹp nghĩa để gắn liền với dân tộc, tộc người: “Văn hóa là tất cả những hoạt động, sản phẩm và giá trị vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo và được các thế hệ con người chấp nhận, tuân thủ, phổ biển, truyền lưu, giúp phân biệt con người với tự nhiên, và phân biệt tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác”
Ngày nay,Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.Và cũng có Một vài định nghĩa về văn hóa như sau:
Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo
trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
Còn Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
Mặc dù văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp, với nhiều đặc trưng, ta vẫn có thể thấy ở văn hóa nổi lên bốn đặc trưng
cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử –
đây là những đặc trưng cần và đủ cho phép phân biệt văn hóa với những khái niệm có liên quan
Trang 2Trên cơ sở bốn đặc trưng này, chúng ta có thể định nghĩa văn hóa như
sau: VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [Trần Ngọc Thêm 1991]
Cách định nghĩa này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa – từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử…
Ví dụ như: Ở việt nam, các đồng bào dân tộc, cũng có những nét văn hóa cũng vô cùng độc đáo như, khi nói đến dân tộc Mông bạn
sẽ nghĩ ngay đến nét văn hóa trong phong tục bắt vợ của người
dân tộc, văn hóa này Thể hiện sự tự do hôn nhân, lối thoát cho những hoàn cảnh nghèo, không đủ tiền lo việc cưới Theo tục lệ, những đôi trai gái phải lòng
nhau hẹn hò ở trên rừng, hay phiên chợ rồi đến xế chiều chàng trai nhờ một
vài người bạn đến kéo cô gái về nhà làm vợ
Thông thường thì con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, trong đó, ngoài vật chất là tầng đáy để con người có thể tồn tại thì nhu cầu tinh thần chiếm phần lớn, với mức độ ngày càng nâng cao, tiến tới mong muốn khẳng định vai trò, giá trị bản thân trong đời sống cộng đồng
Từ nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, con người cũng sẽ có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Và, theo đó, văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di tích lịch sử - văn hóa: Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Danh lam thắng cảnh: Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Di vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Cổ vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên Bảo vật quốc gia: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Trang 3Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một hệ thống Hệ thống
đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá trị bản chất Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năng tiến hóa nội tại của nó Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương, Và sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian khác….Các quan niệm về con người và quan niệm về vũ trụ
Sự phân chia này mới nhìn tưởng như khá rõ ràng và hiển nhiên, song nhìn kĩ sẽ thấy xuất hiện hàng loạt trường hợp phức tạp Ví dụ: các dạng hoạt động, các quan hệ sản xuất… xếp vào dạng văn hoá vật chất hay tinh thần? Không ít các vật dụng sinh hoạt hàng ngày (= vật chất) lại có giá trị nghệ thuật rất cao (= tinh thần), ví dụ như cái muôi múc canh thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu; ngược lại, các sản phẩm tinh thần thường tồn tại dưới dạng đã được vật chất hoá, ví dụ như pho tượng, quyển sách
Trong thực tế, văn hoá vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hoá cho nhau: không phải ngẫu nhiên mà K.Marx nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ” Bởi vậy mà tuỳ theo những mục đích khác nhau, việc phân biệt văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau
Với mục đích thực tế là phân loại các đối tượng văn hoá thì việc phân biệt văn hoá vật chất và tinh thần chỉ có thể thực hiện một cách tương đối căn
cứ vào “mức độ” vật chất / tinh thần của đối tượng văn hoá Trong trường hợp này, có thể dùng khái niệm “mục đích sử dụng” làm tiêu chí bổ trợ: những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu vật chất thì, dù
có giá trị nghệ thuật cao đến mấy (như cái muôi thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn dùng để múc canh, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu dùng cho vua ngồi thiết triều) vẫn thuộc dạng văn hoá vật chất; còn
Trang 4những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu tinh thần thì,
dù được vật chất hoá (như pho tượng, quyển sách mua về để trưng, để đọc), chúng vẫn thuộc dạng văn hoá tinh thần
Còn với mục đích phân loại các giá trị, làm rõ bản chất của chúng, đưa ra một bức tranh khoa học về văn hoá vật chất và tinh thần thì có thể dựa hẳn vào chất liệu để phân biệt: theo đó, văn hoá vật chất liên quan đến sự biến đổi mang tính sáng tạo thiên nhiên quanh mình thành những sản phẩm có dạng chất liệu vật thể; còn văn hoá tinh thần thì chỉ liên quan đến sự biến đổi thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con người, sản phẩm của nó là tư tưởng thuần tuý, “phi vật thể” Với cách này, cùng một đối tượng có thể vừa
có phần giá trị vật chất, vừa có phần giá trị tinh thần của nó
Riêng về các hoạt động thì, thông thường, người ta xếp hoạt động sản xuất vật chất vào dạng văn hoá vật chất (vì loại hoạt động này phải sử dụng nhiều năng lực cơ bắp, mồ hôi…), còn hoạt động sản xuất tinh thần được xếp vào văn hóa tinh thần (vì loại hoạt động này chủ yếu sử dụng năng lực trí tuệ)
So sánh 2 khái niệm “văn hoá” và “văn minh”.
Nếu ví von văn hóa và văn minh với cấu trúc con người, văn minh ví như thể xác, văn hoá ví như tâm hồn, điểm chung là trí tuệ Muốn sống khoẻ thì hồn và xác không tách rời, sống tử tế cần có trí tuệ Biểu hiện đầu tiên của văn minh là sạch sẽ, sau đó là ngăn nắp, tiện lợi, thích ứng Biểu hiện đầu tiên của văn hoá là lối ứng
xử sau đó là tinh thần, tư tưởng, đạo đức
Văn hóa, một khái niệm xuất hiện trong thế kỷ 20, là một khái niệm trung tâm trong nhân học đề cập đến các hiện tượng khác nhau của con người không thể quy trực tiếp vào di truyền học của một người Mặc dù văn hóa thường được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, định nghĩa được chấp nhận nhất của thuật ngữ sẽ là những cách riêng biệt mà mọi người thể hiện một cách sáng tạo và phân loại các cách khác nhau mà họ sống trong mỗi cộng đồng Nó là một hệ thống tích hợp các
mô hình hành vi đã học không có nguồn gốc sinh học và là đặc trưng của các thành viên trong một xã hội, dân tộc hoặc nhóm xã hội nhất định
Văn hóa có thể được định nghĩa đơn giản là tổng số cách sống được xây dựng bởi một nhóm người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhà nhân chủng học văn hóa E.B Taylor định nghĩa văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ khả
Trang 5năng và thói quen nào khác mà con người có được như một thành viên của xã hội tôn giáo, thói quen xã hội, tín ngưỡng, ẩm thực, âm nhạc và nghệ thuật, v.v được đưa vào khái niệm văn hóa Hầu như tất cả các thành viên của một nền văn hóa cụ thể đều có chung những đặc điểm văn hóa này Điều cũng quan trọng cần lưu ý là văn hóa có được, không được kế thừa Do đó, hành vi của một cá nhân được định hình bởi văn hóa
Văn hóa có thể tồn tại ở dạng vật lý hoặc vô hình Các tạo tác vật lý của văn hóa sẽ bao gồm bất kỳ tài liệu vật chất nào được vật chất hóa thành sản phẩm của tín ngưỡng, truyền thống và phong tục của một nhóm người nhất định có văn hóa xác định Các khía cạnh vô hình của một nền văn hóa sẽ là phong tục, truyền thống, tín ngưỡng, ngôn ngữ và hành vi của một nhóm người nhất định thuộc về một nền văn hóa xác định Văn hóa thường đề cập đến một khía cạnh bên trong của con người, đại diện cho cảm xúc, suy nghĩ, lý tưởng, nghệ thuật, văn học và các giá trị của một người
Thuật ngữ văn minh có định nghĩa và giải thích khác nhau Nó có thể được
mô tả chung như là một nhà nước tiên tiến của xã hội loài người, trong đó đã đạt đến trình độ cao về văn hóa, khoa học, công nghiệp và chính phủ Nói cách khác,
đó là một lối sống phức tạp xuất hiện khi mọi người bắt đầu phát triển các khu định
cư đô thị Một nền văn minh thường gắn liền với một số đặc điểm kinh tế chính trị
-xã hội như phát triển đô thị, phân tầng -xã hội, nghệ thuật và kiến trúc độc đáo, một hình thức viết chi tiết, phân công lao động phức tạp, luật pháp và quản trị, v.v.Văn minh là một loại cộng đồng cụ thể của con người, được tạo thành từ các xã hội rộng lớn, phức tạp dựa trên việc thuần hóa động vật, thực vật, con người, kiến thức, tín ngưỡng và thực hành
Hai thuật ngữ văn hóa và văn minh thường được sử dụng thay thế cho nhau trong sử dụng chung Tuy nhiên, nền văn minh đề cập đến một lối sống phức tạp xuất hiện khi mọi người bắt đầu phát triển các khu định cư đô thị Văn hóa là tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, luật pháp, truyền thống, nghệ thuật và âm nhạc, v.v Một nền văn minh được tạo thành từ nhiều yếu
tố phức tạp và văn hóa là một trong những yếu tố này Đây là sự khác biệt chính
giữa văn hóa và văn minh
Trang 6Theo các nhà nhân chủng học của thế kỷ 19, văn hóa phát triển sớm hơn và nền văn minh được tạo ra sau đó Văn minh là một nhà nước phát triển văn hóa rất tiên tiến
Về định nghĩa,Văn hóa là tổng số cách sống được xây dựng bởi một
nhóm người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nền văn minh là một nhà nước tiên tiến của xã hội loài người, trong đó đã đạt đến trình độ cao
về văn hóa, khoa học, công nghiệp và chính phủ Văn hóa có thể được học và truyền qua phương tiện nói và giao tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Do
đó, nền văn minh không thể được chuyển giao dễ dàng vì sự phức tạp và cường độ của nó
Về mức độ rộng,Văn hóa là một phần của nền văn minh, Văn hóa tồn
tại trong một nền văn minh Một nền văn minh có thể được tạo thành từ một
số nền văn hóa Nền văn minh là một thực thể phức tạp được tạo thành từ các yếu tố khác nhau Nền văn minh lớn hơn nhiều so với một nền văn hóa Nó
là một tập hợp phức tạp được tạo thành từ nhiều thứ trong đó một khía cạnh
là văn hóa
Về đặc điểm, Văn hóa được tạo thành từ phong tục, tín ngưỡng, tôn
giáo, nghệ thuật, thực phẩm, luật pháp,…Nền văn minh được đặc trưng bởi
sự phân tầng xã hội, luật pháp và quản trị, phát triển đô thị,…Văn hóa có thể
tự tồn tại Một nền văn minh không thể được xác định là một nền văn minh nếu nó không có một nền văn hóa nhất định Văn hóa tồn tại ở cả hai dạng hữu hình và vô hình Một nền văn minh ít nhiều hữu hình Văn hóa không thể nói là tiến bộ Nền văn minh luôn trong tình trạng tiến bộ
Câu 2: (5,0 điểm)
Anh (chị) hãy trình bày những nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc Thái vùng Tây Bắc
Tây Bắc chủ yếu bao gồm các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái , điều kiện tự nhiên của Tây Bắc vừa có đặc điểm chung của các tỉnh vùng núi phía Bắc, lại vừa có đặc thù riêng so với các địa phương trong cả nước
Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam
Những lợi thế về vị trí địa lý, cùng sự đa dạng, phong phú của điều kiện
tự nhiên đã tạo cho Tây Bắc có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh
tế, chính trị , an ninh quốc phòng ở khu vực Tây Bắc và trong phạm vi cả
Trang 7nước Tây Bắc không chỉ trù phú với đồng ruộng phì nhiêu, thảm rừng nhiệt đới xanh tốt, trong lòng đất tiềm ẩn nhiều khoáng sản quý và hiếm… mà còn trở thành chiếc cầu nối cho sự giao lưu trao đổi giữa miền xuôi với miền ngược, Đông Bắc với Thượng Lào và miền Nam của Trung Quốc Từ Sơn La trung tâm của Tây Bắc, theo quốc lộ 6 hoặc sông Đà đều có thể ngược lên Lai Châu, xuôi xuống Hoà Bình, sang Nghĩa Lộ một cách dễ dàng, đặc biệt
từ Sơn La có thể giao lưu thuận lợi với tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào qua 2 cửa khẩu : Pa Háng (Mộc Châu) và Chiềng Khương (Sông Mã)…
Có thể nói, trong lịch sử cũng như hiện nay, Tây Bắc được coi là vùng đất “ Tam Mãnh” , có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, qua Lào và Vân Nam và Hưng Hoá
Tuy nông nghiệp không phải là một khía cạnh văn hóa phổ biến trong mỗi tiểu vùng nhưng riêng với vùng văn hóa Tây Bắc, đây có thể coi là một yếu tố làm nên nét văn hóa độc đáo của vùng
Dân tộc Thái có trên 1 triệu người sinh sống tập trung chủ yếu tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và sinh sống rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do di cư Dân tộc Thái còn có những tên gọi khác là Tay và có các nhóm Tay lằm, Tay lón,… Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái
Đã từ lâu, văn hóa dân tộc Thái luôn được đánh giá cao về sự đa dạng, phong
những nét đặc trưng tiêu biểu từ hoạt động canh tác, định cư đến trang phục dân tộc, văn học nghệ thuật, ẩm thực…
Trải qua các cuộc di cư trong lịch sử, dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ hàng trăm năm trước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phài, đào mương, bắc máng lấy nước làm ruộng nên trong dân gian thường truyền câu ca “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước” Canh tác lúa nước là hoạt động sản xuất chính của người Thái, lúa gạo
là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Tuy nhiên người Thái cũng làm nương để trồng lúa, ngô, lạc, vừng… và nhiều thứ cây trồng khác Trong từng gia đình còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông, nuôi tằm để dệt vải, một
số nơi còn làm đồ gốm… Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm với những nét hoa văn độc đáo sắc màu rực rỡ, bền đẹp
Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được gói gọn trong 4 từ văn vần: " Mường - Phai - Lái –Lịn", lợi dụng độ dốc của dòng chảy dốc của, người ta lấy đá ngăn suối làm nước dâng cao, đó là cái "phai" Phía trên "phai" xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng, đó là "mương" Từ "mương"
xẻ những rãnh chảy vào ruộng, đó là "lái" Còn "lịn" là cách lấy nước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà, bằng các cây tre đục rừng đục mấu, nối tiếp nhau, có
Trang 8khi dài hàng cây số Người Kinh vùng núi Phú Thọ (cũ) học theo cách làm này và gọi chệch đi là "lần nước" Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng lúa Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa Cho nên, món dâng cúng trong
lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng Và món cá là biểu hiện lòng hiếu khách :
“Đi ăn cá, về nhà uống rượu
ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm”
Để tạo ra một bộ y phục Thái, không chỉ là công sức trồng bông, chăn tằm, dệt vải, nhuộm màu, cắt may, thêu, người Thái còn phải giỏi nghề kim hoàn tạo ra các đồ trang sức đeo trên người như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm, xà tích, cúc bạc
Trong trang phục truyền thống, Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì (mak may) ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo
Cũng như nhiều dân tộc khác, trang phục của phụ nữ Thái thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa dân tộc Một bộ trang phục nữ Thái gồm: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích
Xửa cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau Chính hàng khuy bạc hay kim loại đã làm cho xửa cỏm thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái Theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo xửa cỏm là tượng trưng cho sự kết hợp nam với nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống
Phụ nữ Thái còn mặc hai loại áo dài là xửa chái và xửa luổng Xửa chái may bằng vải chàm đen, kiểu áo 5 thân, cài cúc phía bên tay trái, cổ đứng, gấu áo phủ quá đầu gối Theo tục lệ, phụ nữ có chồng mới mặc xửa chải vào dịp cưới xin, hội hè Xửa luổng là áo khoác ngoài, may dài, rộng, chui đầu, có tay hoặc không có tay Phụ nữ Thái từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một dành cho bản thân khi về già và một dành biếu mẹ chồng khi về làm dâu Các cụ già mặc áo xửa luổng lộn trái vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải
Thái Đen: Thường nhật phụ nữ Thái Đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối (chàm hoặc đen), cổ áo khác Thái Trắng là loại cổ tròn, đứng Đầu đội khăn gọi là "piêu" thêu hoa văn nhiều mô-típ trang trí mang phong cách từng mường Váy là loại giống phụ nữ Thái Trắng đã nói ở trên Lối để tóc khi có
Trang 9chồng búi lên đỉnh đầu gọi là "Tằng cẩu";khi chồng chết có thể búi tóc thấp xuống sau gáy ; chưa chồng không búi tóc Trong lễ, tết áo dài Thái Đen đa dạng với các loại xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và mô-típ hơn Thái Trắng
Nói về bộ trang phục nữ Thái không thể thiếu chiếc khăn piêu Chiếc khăn piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kỳ, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái Piêu tết 3 sừng là piêu thường dùng, piêu tết 5 hay 7 sừng là piêu sang, dùng làm quà biếu, đội lúc bản mường có hội hè, cưới xin Khăn Piêu là đặc trưng của người dân tộc Thái với đường nét tinh xảo và hoa văn mang đậm chất núi rừng hoang sơ cùng màu sắc sặc sỡ, nó thể hiện tình yêu, sức mạnh nữ tính thật quyến rũ
Trang phục Thái phản ánh rõ nét đặc điểm của cư dân nông nghiệp trồng trọt, sự chinh phục, tìm tòi các nguyên liệu trong thiên nhiên để tạo ra trang phục đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống Trang phục vượt qua cả giá trị vật chất thuần túy của nó thể hiện lối sống, quan niệm thẩm mỹ, đạo đức, tư tưởng xã hội, tín
ngưỡng Trang phục là sự phát triển rất cao của trình độ thẩm mỹ dân gian, các hoa văn được tạo hình độc đáo, xử lý màu sắc tinh tế, hài hòa mang đặc trưng tộc người khiến trang phục người Thái ở bất cứ nơi đâu cũng có vẻ đẹp riêng Nó phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên, đồng bào Thái nơi đây đã đưa vào trang phục của mình những hoa văn là cả một thế giới động, thực vật phong phú Do xen kẽ của các nhóm Thái khác nhau mà trang phục của họ phần nào cũng thể hiện ảnh hưởng của nhau Nhưng tất cả họ đều rất tự hào về bản sắc riêng của mình và không ngừng bảo tồn, phát huy, phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tộc người
Trải qua các thế hệ xây dựng bản, mường với sức sáng tạo của mình, người Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định
Nhà sàn của người Thái - “hươn hạn phả tay” là một công trình kiến trúc tài hoa, hòa đồng với thiên nhiên, đất trời cùng vạn vật Từ kiến trúc xây dựng đến nghệ thuật trang trí đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống khách quan được cách điệu hóa đạt tới trình độ thẩm mỹ cao
Một điều đặc biệt là nhà của người Thái hầu hết là họ đều dựng nhà ở chân núi, ven suối, nhìn ra thung lũng Bởi hoạt động kinh tế truyền thống của họ là canh tác lúa nước
Bên cạnh đó, nhà sàn của người Thái nằm ở thung lũng giúp tránh độ
ẩm cao, côn trùng hay thủ dữ Nhà của người Thái bao giờ cũng dựng theo hình thái của núi, sông suối, cánh đồng nơi mình sinh sống, thường là lưng tựa núi, hướng nhìn ra thung lũng Sở dĩ như vậy vì gió thường thổi dọc thung lũng, cho nên áp lực của gió lên ngôi nhà sẽ là bé nhất
Người Thái có câu: “Khửn song phái/ cái song lày” - tức là mở hai cửa/ đi hai đường Nhà người Thái cổ bao giờ cũng có hai cầu thang: “Tang chan” và “Tang quản” “Tang chan” ở cuối nhà, bên trái dành cho phụ nữ lên xuống “Chan” là phần sàn nhà được nối dài ra ngoài trời Đây là nơi các mẹ,
Trang 10các chị, các em thường ngồi chơi lúc nhàn rỗi, thêu thùa cầu thang này bao giờ cũng mang số lẻ, thường là 9 bậc, ứng với 9 vía Cầu thang dành riêng cho nam giới - “tang quản” ở đầu nhà, thường có 7 bậc ứng với 7 vía Tuy cùng là dân tộc Thái, thế nhưng ngôi nhà sàn của người Thái Đen và Thái Trắng có những điểm khác nhau Nếu nhà sàn của người Thái Đen có mái hình mai rùa, cấu trúc lợp liền hai mái với hai trái thành một liên kết thì người Thái Trắng làm nhà giống với nhà người Mường, người Tày, tức là nguyên tắc 4 mái Đặc biệt, điểm dễ nhận biết nhất đó chính là ‘khau cút’ (khau là cái sừng, cút là cái cụt, khau cút tức là cái đôi sừng cụt của con trâu) được trang trí trên nóc nhà chỉ có
ở nhà người Thái Đen Đối với người Thái Đen, khau cút là một vật linh thiêng của ngôi nhà Họ rất kính trọng vật thiêng nên nhà nào cũng để ở nơi dễ thấy nhất, là hai đầu hồi
Đối với nhà của người Thái Đen, hai đầu hồi có hình mai rùa Điều này bắt nguồn từ truyền thuyết của đồng bào Thái rằng rùa đã dạy con người làm nhà, tránh thú dữ Theo những người Thái Đen cao niên kể lại, ngôi nhà sàn của người Thái Đen ngày xưa gọi là nhà hình mai rùa, cấu trúc không có
4 mái, người ta lợp liền hai mái chính với hai trái thành một liên kết và mang hình mai rùa Cái đầu, cái miệng là cái lối cầu thang chính, còn cái đuôi là lối cầu thang phụ
Số gian nhà nhiều hay ít tùy từng gia đình, nhưng bắt buộc phải là số
lẻ Người Thái thích con số lẻ bởi họ quan niệm số chẵn là số “chết”, số lẻ mới là số của sự phát triển
Kỹ thuật làm nhà của người Thái cũng thật kỳ công, tỉ mỉ Ngôi nhà sàn truyền thống được làm bằng gỗ rừng và các loại cây tre, vầu, nứa
Chính vì thế trước khi làm nhà, việc tiên quyết là chọn và tích trữ gỗ Việc chọn gỗ đối với người Thái có những quy tắc bất di bất dịch Họ kiêng, không lấy những cây gỗ cụt ngọn, bởi ngoài ý nghĩa không trọn vẹn, không đầy đủ, cây gỗ cụt ngọn rất dễ có mối mọt, như thế sẽ gây tổn hại đến độ bền của ngôi nhà Ngoài ra, gỗ tốt mà bị sét đánh thì cũng không lấy bởi người Thái cho rằng cái cây đó có ma, nó có cái gì đấy không lành Thường những cây mọc một gốc hai ngọn lên họ cũng kiêng, ít dùng Những cây có dây leo gọi là xà leo, giống như con rắn bám quanh thì họ cho rằng đó là điềm không lành Về việc chọn chất liệu gỗ, bà con thường dùng gỗ nghiến, sau đến trò chỉ, những loại gỗ tốt, nhất là những loại gỗ mọc trên núi đá Sau khi mang
về phải ngâm từ 2 - 3 năm để không mối, không một thì mới làm nhà được Như vậy, thông thường để làm nhà, người Thái phải chuẩn bị từ 2 đến 3 năm
Dù nhà được dựng bởi các loại cây thân gỗ, tre, nữa nhưng điều độc đáo là trong quá trình thi công, người Thái không phải tốn bất cứ một chiếc định, mẩu sắt nào.Thay vào đó là cả hệ thống dây chằng, buộc thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt giang và mây Khi làm nhà, người Kinh thường lắp mộng thắt, còn nhà sàn người Thái sử dụng những đòn dầm xuyên suốt qua các lỗ đục của các cột Cách làm tưởng như đơn giản này lại rất chắc chắn Thậm chí có những nếp nhà sàn tồn tại tới hàng trăm năm