Khi bắt đầu hành trình đến với đại học, chúng ta đều thường gặp phải một thách thức lớn đó là tài liệu học tập. Những cuốn sách, bài giảng và các tài liệu khác là những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đạt được kết quả tốt trong học tập. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm những tài liệu thích hợp và đầy đủ. Tôi hiểu rõ những khó khăn này và chính vì vậy, tôi muốn giúp các bạn bằng cách cung cấp tài liệu học tập chất lượng nhất với giá cả phải chăng. Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc tìm kiếm tài liệu học tập và cung cấp chúng cho sinh viên, tôi cam đoan sẽ không làm bạn thất vọng. Sự khác biệt của tài liệu học tập là độ đầy đủ của nó. Tại sao phải lật qua nhiều cuốn sách để tìm kiếm những thông tin cần thiết? Tài liệu học tập của tôi được sơ đồ hoá chi tiết, giúp bạn tiết kiệm thời gian và tập trung vào học tập. Không chỉ đó, tài liệu học tập của tôi còn được cập nhật thường xuyên để đảm bảo bạn nhận được những thông tin mới nhất và chính xác nhất. Và đặc biệt, tài liệu học tập của tôi có mức giá vô cùng hấp dẫn. Tôi hiểu rằng sinh viên chúng ta không có nhiều tiền để chi tiêu, vì vậy tôi cam kết sẽ mang đến cho các bạn mức giá phù hợp nhất. Bạn sẽ được sở hữu tài liệu học tập chất lượng với giá cả phải chăng. Từ bây giờ, hãy quên đi những phiền toái khi tìm kiếm tài liệu học tập và tin tưởng vào tài liệu của tôi. Chúng tôi đảm bảo rằng bạn sẽ không chỉ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, mà còn đạt được kết quả tốt trong học tập.
Trang 1Đề Tài: Tìm hiểu về nhà ở của một số dân tộc thiểu vùng Tây Bắc Việt Nam.
Bài Làm
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có một nét kiến trúc đặc trưng riêng, thể hiện tinh thần, văn hóa và cuộc sống của mình
kiến trúc nhà ở của dân tộc Tày:
Người tày thường cư trú và sinh sống tại Nhà Sàn với đặc điểm thường thấy là nhà đất mái lợp cỏ gianh Ở một số vùng giáp biên giới thì sử dụng loại nhà phòng thủ Trong nhà thường được phân biệt phòng nam ở ngoài, phòng của nữ giới ở trong Phổ biến nhất thường là loại nhà ở 3 gian, 2 mái Họ thường chọn những loại gỗ quý để làm nhà, xung quanh nhà thường che bằng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Người tày sống tập trung thành bản, thường ở ven các thung lũng, triền núi thấp trên một miền thượng du Mỗi bản có từ khoảng 20 đến 25 nhà hoặc, những bản lớn thì có số lượng dân cư trú và số lượng nhà ở nhiều hơn
- Những kiểu nhà ở của dân tộc Tày tồn tại 4 kiểu nhà ở khác nhau bao gồm:
+ Nhà Quan Ma: Loại nhà sàn thường có 4 gian có đặc điểm là cột được chôn sâu xuống đất, được biến thể từ kiểu nhà lều để nhằm bảo vệ con người và vật nuôi khỏi thú dữ
+ Nhà Lều: Là loại nhà có kết cấu đơn giản và sơ khai nhất của người Tày
+ Nhà Cai Tư: là kiểu nhà biến thể tiếp của nhà Quan Ma thường có đặc điểm là 5 gian ( 3 gian chính và 2 gian trái) Cột nhà Cai tư được kê bằng đá tảng
+ Nhà Con Thong: Là loại nhà sàn được người Tày dùng để ở, phổ biến nhất hiện nay Nhà Con Thong có tính năng vượt trội so với những kiểu nhà còn lại Bởi không phải sử dụng nhiều cột gỗ to mà chỉ dùng 8 cột gỗ chính và 16 cột quân, diện tích sử dụng của nhà rộng rãi hơn nhà Cai tư rất nhiều Về kiểu dáng thì nhà Con Thong có thêm một hành lang chạy dọc theo sàn nhà, làm cho ngôi nhà bên cạnh thêm sự vững chãi song vẫn có vóc dáng và tính thẩm mỹ cao
- Độc đáo với nguyên vật liệu làm nhà ở của dân tộc Tày :
Vật liệu làm nhà sử dụng phổ biến trong kiến trúc nhà ở của dân tộc Tày được lựa chọn rất kỹ lưỡng Từ cột, ván, sàn, cọ, Người tày phải có quá trình tìm kiếm kỹ càng, vào tận rừng sâu, núi cao, để tìm kiếm cho mình loại vật liệu gỗ tốt lâu năm Thời gian chuẩn bị nguyên liệu để làm nhà có thể là vài ba tháng, nhưng
Trang 2cũng có thể là thời gian kéo dài tới vài 3 năm, chính vì thế mà tập quán du canh du
cư hiện nay của người Tày cũng dần ổn định Họ thường có xu hướng sống tập trung và ổn định tại bản, làng
Để làm nhà, nguyên liệu chủ yếu của người Tày được xử lý theo kỹ thuật truyền thống Họ ngâm gỗ, tre, nửa tươi dưới nước và bùn trong khoảng thoài gian
từ 3 đến 6 tháng trở nên để chống mối mọt Kết cấu nhà ở của người Tày có sàn cao trung bình khoảng từ 1.8m và độ rộng hơn 100m2 Đối với nhà diện tích như vậy thì mái lợp hết khoảng 6.000 tàu lá cọ Vách mặt tiền và cửa sổ thường được tạo hoa văn bằng cách đan cải các nan tự nhiên với vác nạn nhuộm màu đen Màu nhuộm cho nhà được tạo từ nhọ nồi trộn với củ nâu giã nát Những họa tiết hình hoa và hình thoi thường thấy trong kiến trúc nhà ở của người Tày là những motip trang trí phổ biến trên đồ vải và đồ đan của họ Cũng chính điều này đã tạo ra sự thống nhất từ kiến trúc cho đến phong tục văn hóa ăn mặc của người dân tộc nơi đây Điều này cũng lại càng chứng tỏ được, vị trí và sức ảnh hưởng thống nhất giữa kiến trúc với những yếu tố văn hóa, phong tục sống của từng nhóm dân tộc
kiến trúc nhà ở của dân tộc Mường :
Có hai yếu tố quan trọng của nhà sàn dân tộc Mường truyền thống, đó là nơi
thờ cúng và nơi đặt bếp Nhà ở của người Mường có một cái cột gọi là “cột chồ” ở
góc phía cầu thang nơi đầu thang liền với sàn Cột này được coi là “cột thiêng”, không được buộc trâu, bò vào chân cột, bàn thờ gia tiên được làm ở cạnh cột này
Nhà sàn có 4 gian thì có 5 cột Gian đầu là gian có “cột chồ” được gọi là
“gian gốc”, chỉ đàn ông trong nhà được nằm, đàn bà không được nằm vì có bàn thờ gia tiên Trong các việc như lễ tang, hôn lễ, chỉ có người có vai về trong họ được ăn
ở gian này, trải chiếu sát với cửa sổ Ở gian này có một cột cái đối diện với “cột chồ” ở chỗ để các ống nước chân cầu thang Bên chân cột này là chỗ để chơi và phải cột vài cọng lúa đã rũ hết thóc Cột được đội một cái giỏ thủng và treo một đoạn tre hay gỗ tước sơ ra ở đoạn đầu, đoạn tre này là biểu tượng dương tính gọi là
“nõ” và cái giỏ thủng là biểu tượng âm tính gọi là ‘‘nường’’
Gian thứ hai là nơi đàn ông và khách nam ngủ Gian thứ ba có bếp và buồng cho phụ nữ Trong nhà được ngăn ra, Phía trên gác bếp đặt bàn thờ Táo quân Gian thứ tư là nhà ở trong Nơi đàn bà trong nhà ngủ có ‘chạn bát’, đồ dùng gia đình và
là nơi sửa soạn cơm nước
Trang 3Nhà Mường có hai hàng cột cái ở trong và hai hàng cột con ở ngoài, đầu hai cột đỡ lấy ‘quá giang’ và bộ ‘vì kèo’ úp lên ‘quá giang’ theo hình tam giác cân ở đỉnh trên, chân ‘vì kèo’ đặt lên hai cột con Gần nắp ‘vì kèo’, phía trên ‘quá giang’ có một thanh gỗ hay tre họi là “quét đồ” giữ cho hai bên kèo được ổn định, chắc chắn Đòn tay (tôn thảy) đặt dọc mái, đòn tay cái (tôn thảy cái) có miếng tre kẹp chặt đòn tay cái vào đầu cột cái gọi là cái khoá kèo (pà hoạc) ‘Đè mè’ úp lên đòn tay để lợp mái trên kèo có đóng đinh tre (tăng kéo) để giữ lấy các đòn tay, các ‘rui mè’ như xương sườn của các mái chạy từ nóc kèo đến chân kèo Trước đây người Mường dựng nhà chỉ có hai hàng cột, chưa biết kết cấu ‘vì kèo’, chưa biết làm ‘ruổi’, chỉ có cây
‘ruông’ chạy dọc nhà, chéo mái buộc chứ không có ‘mộng’, không có ‘con sỏ’, chưa phân gian Sau này, nhà có kết cấu ‘vì kèo’, đục lỗ cột để găm ‘con sỏ’ vào nhau, có bốn hàng cột, thậm chí sáu hàng cột
kiến trúc nhà ở của dân tộc Dao :
Nhà truyền thống của dân tộc Dao là nhà nửa sàn, nửa đất, tiếng Dao gọi là
“gắng pằng gẳng thin” Nhà được làm trên nền đất dốc, phổ biến là nhà ngoãm nên
vì kèo đơn giản
Khi xưa còn khó khăn về kinh tế và do tập quán sống du canh du cư, phần lớn nhà ở của người Dao ‘Quần Chẹt’ ở đây đều thuộc dạng nhà cột ‘ngoãm’, 3 gian nhưng cũng đạt tới trình độ ‘vì ngoãm’ hay còn gọi là ‘vì kèo’ Nhà có 12 cột,
4 vì ngoãm, 2 mái Mỗi vì ngoãm có 3 cột (1 cột cái ở giữa, 2 cột quân ở 2 bên), 1 quá giang và 1 bộ kèo đơn Loại nhà cột ngoãm có đặc điểm là tất cả các cột đều chôn sâu xuống đất Trong mỗi ‘vì ngoãm’ 2 đầu ‘quá giang’ được gác lên ngoãm ở đầu của 2 cột quân rồi buộc chắc chắn bằng dây rừng, tiếp theo tại chỗ ngoãm của cột quân người ta buộc kèo Riêng cột nóc còn được buộc chặt với ‘quá giang’ tại điểm giao giữa cột đó với ‘quá giang’ Tuy nhiên cũng có trường hợp người ta gác
2 chiếc xà dọc bằng đoạn cây lên 2 đầu của tất cả quá giang tại chỗ ngoãm của hai hàng cột con, sau đó mới đặt kèo lên xà ngang tại chỗ ngoãm của cột quân
Với loại nhà cột ngoãm, toàn bộ khung nhà gồm các cột, quá giang, kèo và
xà ngang thường làm bằng gỗ Bộ xương mái thường có sự kết hợp giữa tre và gỗ hoặc hoàn toàn bằng tre Xung quanh nhà cũng như phần cần được ngăn cách ở trong nhà được ‘thưng’ bằng những tấm ‘phên mai’ hoặc ‘phên nứa’ Nhà truyền thống của người Dao hầu như không có cửa sổ, có ngôi nhà toàn bộ từ cột, quá giang, kèo cho đến tấm lợp đều làm bằng tre Thuộc loại này chủ yếu là những ngôi
Trang 4nhà tạm ở trên nương để cư trú trong mùa sản xuất Nhà cột ngoãm chỉ cho phép sinh sống được vài ba năm lại phải thay cột, lợp lại mái Đối với những tấm phên thưng xung quanh chỉ sau một năm đều phải thay hoặc làm lại
Về mặt bằng sinh hoạt, Nhà nửa sàn, nửa đất chia theo chiều dọc nửa sau là nền đất, nửa trước là sàn Nền đất người Dao: gian bên phải có chạn bát, đặt bếp, cối xay, cối giã và bàn thờ Kề với gian này ở phía ngoài còn có chuồng gà, gian bên trái đặt bàn thờ nhìn ra cửa giữa Mùa rét gian này còn có bếp khách Nửa nhà trước là nền sàn, phần này dùng làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình nó được chia thành các buồng nhỏ Có gian bên phải là buồng ngủ, kề với gian này là mảng nước và cũng là buồng tắm, gian bên trái là buồng ngủ của khách và có vách ngăn với lối xuống sàn Phần sàn có một cửa lớn đối diện với bàn thờ đặt ở phần nền đất, cửa này gọi là cửa ma Lợn để cúng Bàn vương được nuôi ở gầm sàn dưới cửa này Nhà nửa sàn nửa đất do cấu tạo của sàn thấp nên gầm sàn chỉ nhốt lợn, gà, còn trâu, bò có chuồng riêng Trong ngôi nhà có một gian đặc biệt, gian này có vách ngăn đôi theo chiều dọc và một đoạn vách ngăn ngắn với gian bên hai đoạn vách này được ráp vào nhau tạo thành một góc nhỏ Góc này chính là nơi đặt bàn thờ Người Dao ở đây đã biết lợi dụng nền đất làm nền bếp bảo đảm an toàn hơn,
sử dụng phần sàn để nằm khỏi phải làm giường Vì cuộc sống du canh du cư mỗi lần di chuyển người ta không mang giường, phản theo
Nhà ở truyền thống người Dao là một yếu tố văn hóa cổ truyền Nhà ở phản ánh quá trình lịch sử cư trú của người Dao trước kia Ngôi nhà nửa sàn, nửa đất chính là kết quả của sự thích ứng tự nhiên của người Dao Thông qua nhà ở chúng
ta thấy được những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu của tộc người qua các nghi lễ và kiêng kỵ trong việc làm nhà và trong quá trình cư trú
kiến trúc nhà ở của dân tộc H’Mông :
Cấu trúc chung của ngôi nhà dân tộc H’Mông là nhà nền đất, thường là cột
kê, có ba gian, hai chái, mái chảy Những gia đình làm từ một đến hai gian là những gia đình mới tách ra ở riêng, có khó khăn về kinh tế, bố mẹ còn sống, chưa phải làm nhiệm vụ thờ cúng tổ tiên Nhà khả giả thì làm nhiều gian hơn với vật liệu tốt
và cấu trúc kiên cố hơn
Đồng bào H’ Mông ở vùng núi, nhà ở thường được xây dựng ở nơi gần nguồn nước, gần nương, đi lại thuận tiện Ở những địa thể hiểm trở, khi làm nhà, đồng bào phải tính đến những thay đổi của thời tiết như mưa to, gió lớn làm sạt lở
Trang 5đất đai gây hư hỏng nhà cửa Nguyên liệu làm nhà chủ yếu là gỗ, tre, cỏ tranh và đất Gỗ dùng để làm cột, tre làm đòn tay, cỏ tranh để lợp mái, dùng đất để ‘trình tường’ Cũng có nhà dùng gỗ cây làm đòn tay, xẻ gỗ lợp mái và thưng vách Đồng bào thường đun nấu ở trong nhà nên nhà ấm và tăng thêm độ bền
Ngoài nhà ‘trình tường’ truyền thống, ở nhiều nơi thuộc vùng thấp như Hàm Yên, Yên Sơn, phần lớn đồng bào H’Mông làm nhà nền đất, cột gỗ giống như nhà người Kinh Tuy nhiên, về kiểu nhà, bố trí nội thất, cách trưng bày thờ cúng tổ tiên thì có những nét riêng
Quan niệm về ngôi nhà của người H’Mông là: Nhà làm ba gian gồm gian bếp là gian giữ lửa, có một bếp lửa và là buồng ngủ của chủ nhà Gian giữa là gian
to rộng hơn, có cửa chính nhìn về phía trước nhà Đây là gian thờ cúng tổ tiền, là gian chung của cả nhà, chuyên để làm những việc lớn của gia đình như hiếu, hỷ, tiếp khách Gian thứ ba là gian bên cạnh có bếp nấu ăn, buồng ngủ của các con Gian này có một cửa phụ mở phía đầu đốc của ngôi nhà để người nhà đi lại Hàng ngày đi làm về, người trong gia đình chủ yếu đi lại bằng cửa này Hầu hết các ngôi nhà thường có gác nhỏ để chứa lương thực, đồ đạc hoặc thực phẩm khô
Ngôi nhà của dân tộc Mông có một số kiêng kỵ: Nếu có cành lá xanh cắm ở cổng hoặc cạnh cửa nhà, đấy là dấu hiệu cắm người ngoài vào nhà Bởi vì đồng bào quan niệm con ma có thể núp dưới bóng người theo vào làm cho người trong nhà
ốm Khi bước vào nhà không được giẫm lên ngưỡng cửa, khách cũng như chủ chỉ được bước qua ngưỡng cửa đi vào Có dòng họ, phụ nữ (con dâu và con gái) không được trèo lên gác Con dâu không được vào buồng ngủ của bố mẹ chồng và ngược lại, bố mẹ chồng không được vào buồng con dâu Đặc biệt, không ai được nằm ngủ nơi thờ cúng vì đồng bào quan niệm nơi đó chỉ dành riêng cho những người đã khuất
Điều ấn tượng nhất trong kiến trúc nhà của người Mông, là đồng bào luôn trồng những cây đào, cây mận, cây mơ Khi mùa xuân đến, những ngôi nhà được tô điểm bởi màu đỏ của hoa đào, màu trắng muốt của hoa mơ, hoa mận, hoa lê tất cả như hòa quyện tạo thành một bức tranh thiên nhiên độc đáo giữa điệp trùng núi non
ngôi nhà sàn của dân tộc Thái :
Trải qua các thế hệ xây dựng bản, mường với sức sáng tạo của mình, người Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định Một điều đặc biệt là nhà của người Thái
Trang 6hầu hết là họ đều dựng nhà ở chân núi, ven suối, nhìn ra thung lũng Bởi hoạt động kinh tế truyền thống của họ là canh tác lúa nước
Bên cạnh đó, nhà sàn của người Thái nằm ở thung lũng giúp tránh độ ẩm cao, côn trùng hay thủ dữ Nhà của người Thái bao giờ cũng dựng theo hình thái của núi, sông suối, cánh đồng nơi mình sinh sống, thường là lưng tựa núi, hướng nhìn ra thung lũng Sở dĩ như vậy vì gió thường thổi dọc thung lũng, cho nên áp lực của gió lên ngôi nhà sẽ là bé nhất
Tuy cùng là dân tộc Thái, thế nhưng ngôi nhà sàn của người Thái Đen và Thái Trắng có những điểm khác nhau Nếu nhà sàn của người Thái Đen có mái hình mai rùa, cấu trúc lợp liền hai mái với hai trái thành một liên kết thì người Thái Trắng (ở vùng Quỳnh Nhai, Sơn La) làm nhà giống với nhà người Mường, người Tày, tức là nguyên tắc 4 mái Hai mái chính và hai trái khu biệt rõ ràng Đặc biệt, điểm dễ nhận biết nhất đó chính là ‘khau cút’ (khau là cái sừng, cút là cái cụt, khau cút tức là cái đôi sừng cụt của con trâu) được trang trí trên nóc nhà chỉ có ở nhà người Thái Đen Đối với người Thái Đen, khau cút là một vật linh thiêng của ngôi nhà Họ rất kính trọng vật thiêng nên nhà nào cũng để ở nơi dễ thấy nhất, là hai đầu hồi Thậm chí, gia đình nào khó khăn, nghèo nhất cũng dùng hai thanh tre dài hoặc hai thanh gỗ bắt chéo lại, cũng được gọi là khau cút
Đối với nhà của người Thái Đen, hai đầu hồi có hình mai rùa Điều này bắt nguồn từ truyền thuyết của đồng bào Thái rằng rùa đã dạy con người làm nhà, tránh thú dữ Theo những người Thái Đen cao niên kể lại, ngôi nhà sàn của người Thái Đen ngày xưa gọi là nhà hình mai rùa, cấu trúc không có 4 mái, người ta lợp liền hai mái chính với hai trái thành một liên kết và mang hình mai rùa Cái đầu, cái miệng là cái lối cầu thang chính, còn cái đuôi là lối cầu thang phụ
Tuy có những sự khác biệt trong kết cấu thiết kế, nhà sàn của người Thái luôn có hai cầu thang: một dành cho nữ, một dành cho nam Số gian nhà nhiều hay
ít tùy từng gia đình, nhưng bắt buộc phải là số lẻ Người Thái thích con số lẻ bởi họ quan niệm số chẵn là số “chết”, số lẻ mới là số của sự phát triển
Kỹ thuật làm nhà của người Thái cũng thật kỳ công, tỉ mỉ Ngôi nhà sàn truyền thống được làm bằng gỗ rừng và các loại cây tre, vầu, nứa Chính vì thế trước khi làm nhà, việc tiên quyết là chọn và tích trữ gỗ Việc chọn gỗ đối với người Thái có những quy tắc bất di bất dịch Họ kiêng, không lấy những cây gỗ cụt ngọn, bởi ngoài ý nghĩa không trọn vẹn, không đầy đủ, cây gỗ cụt ngọn rất dễ có
Trang 7mối mọt, như thế sẽ gây tổn hại đến độ bền của ngôi nhà Ngoài ra, gỗ tốt mà bị sét đánh thì cũng không lấy bởi người Thái cho rằng cái cây đó có ma, nó có cái gì đấy không lành Thường những cây mọc một gốc hai ngọn lên họ cũng kiêng, ít dùng Những cây có dây leo gọi là xà leo, giống như con rắn bám quanh thì họ cho rằng
đó là điềm không lành Về việc chọn chất liệu gỗ, bà con thường dùng gỗ nghiến, sau đến trò chỉ, những loại gỗ tốt, nhất là những loại gỗ mọc trên núi đá Sau khi mang về phải ngâm từ 2 - 3 năm để không mối, không một thì mới làm nhà được Như vậy, thông thường để làm nhà, người Thái phải chuẩn bị từ 2 đến 3 năm
Dù nhà được dựng bởi các loại cây thân gỗ, tre, nữa nhưng điều độc đáo là trong quá trình thi công, người Thái không phải tốn bất cứ một chiếc định, mẩu sắt nào.Thay vào đó là cả hệ thống dây chằng, buộc thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt giang và mây Khi làm nhà, người Kinh thường lắp mộng thắt, còn nhà sàn người Thái sử dụng những đòn dầm xuyên suốt qua các lỗ đục của các cột Cách làm tưởng như đơn giản này lại rất chắc chắn Thậm chí có những nếp nhà sàn tồn tại tới hàng trăm năm
Dựng nhà xong thì tới phần lợp mái Trước đây, người Thái thường dùng cỏ tranh, cắt về phơi khô, đánh thành tranh rồi lợp mái Ưu điểm của nhà mái tranh bao giờ cũng mát Xưa nhà sàn người Thái thường có hai bếp, bếp trong và bếp ngoài Khi nấu nướng thì khỏi xông lên càng làm tăng độ bền của mái
Ngày nay, bên cạnh sự giao lưu các vùng miền với việc nguồn gỗ ngày càng khan hiếm, nhà sàn Thái đã có những biến đổi, cột gỗ thay bằng bê tông, mái lợp lá thành mái ngói hoặc pro-ximăng Hiện nay, người Thái đã sử dụng kỹ thuật mộng của người Kinh để làm nhà Những ngôi nhà sàn nguyên bản đang ít dần, nhưng không vì thế mà chúng ta không ngừng thêm khâm phục quá trình chuẩn bị công phu cũng như những hiểu biết, kỹ thuật cao trong xây dựng nhà sàn của dân tộc Thái
Chính những ngôi nhà này đã làm nên một phần văn hóa Việt Nam, làm nên một phần đặc trưng, một phần đơn sơ giản dị của các vùng núi, cao nguyên nước ta