1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2

162 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Mã Biểu Tượng Lanh Trong Dân Ca Dân Tộc H'Mông
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 21,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2 là phần phụ lục, nghiên cứu những trường hợp cụ thể. Ở phần này, tác giả sử dụng một số kết quả nghiên cứu văn học dân gian của các thạc sĩ, nghiên cứu sinh do tác giả phần nghiên cứu lí thuyết hướng dẫn, đi theo hướng nghiên cứu thể nghiệm lí thuyết trên. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Phần thứ hai

PHỤ LỤC: NGHIÊN CỨU NHỮNG TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

Ở phần thứ nhất, chúng tôi đã trình bày dẻ tài từ góc độ lí thuyết Những vấn để về quan niệm văn hoá, quan niệm biểu tượng văn hoá, những minh định

thuật ngữ, những con đường và xu hướng hình thành, biến đổi của một số biểu

tượng văn hoá như các mã tín ngưỡng, mã phong tục tập quán Đồng thời trình bày một quy trình tìm và giải mã các biểu tượng văn hoá trong văn học

dân gian

Ở phần thứ hai, chúng tôi lựa chọn một số nghiên cứu của các thạc sĩ do

chúng tôi hướng dẫn theo phương pháp giải mã biểu tượng và đã thành công,

để khẳng định ý nghĩa khoa học của hướng nghiên cứu mình đưa ra Cũng là

“giải mã biểu tượng”, nhưng những để tài khác nhau, những thể loại văn học dân gian khác nhau, những điểm nhìn văn hoá khác nhau sẽ dẫn đến cách khai thác và giải mã các yếu tố văn hoá khác nhau trong từng đẻ tài Điều đó chứng minh rằng, từ lí thuyết giải mã văn học dân gian đến việc áp dụng nó vào giải

mã những biểu tượng văn hoá cụ thể của văn học đân gian có khoảng cách và

những gấp khúc Tính đa dạng, tính linh hoạt là những đặc trưng của nghiên cứu văn hoá chỉ được bộc lộ trong quá trình nghiên cứu những để tài cụ thé

Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số nghiên cứu trường hợp cụ thể cùng, bạn đọc với mục đích minh hoạ cho những lí thuyết đã được trình bày ở phần trên

I GIẢI MÃ BIỂU TƯỢNG LANH TRONG DÂN CA DÂN TỘC H'MÔNG

Lanh là một biểu tượng đặc biệt trong văn hoá, văn học dan tộc H'mông

Nói đến văn hoá, văn học dân tộc H'mông không thể không nhắc tới biểu tượng này Với người H'mông, cây lanh và các sản phẩm từ lanh không chỉ đáp ứng

như cẩu may mặc (nhu cầu vật chất), mà còn đồng vai trò quan trọng trong đời

sống tỉnh thần của họ

Trong kho tầng văn học dân gian của dân tộc H"mông, dân ca chiếm một số lượng đáng kể Có thể nói, đó là kho tàng văn hoá phi vật thể vô cùng quý báu của dân tộc này Cuộc đời của mỗi người H'mông từ khi sinh ra, lớn lên và chết đi đều dam mình trong dòng suối dân ca ngọt ngào, trong mát, bất tận Trong đòng suốt dan ca ấy, biểu tượng lanh nổi lên như lên tượng văn học đặc biệt, biểu trưng cho tâm hồn, tính cách người H'mông, biểu trưng cho bản sắc văn hoa

Trang 2

của dân tộc này Giải mã biểu tượng lanh trong dân ca H'mông, chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới tâm tư sâu thắm trong tâm hồn, tính cách dân tộc H "mông

Đồng thời muốn nhận thức các giá trị văn học nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng,

lịch sử, cũng như toàn bộ bức tranh kinh tế - xã hội của dân tộc H"mông

1 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng lanh

Là một biểu tượng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người H mông

ở Việt Nam nói riêng, một số dân tộc trên thể giới nói chung, biểu tượng lanh

sớm đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

1.1 Trong lĩnh vực văn hoá

Biểu tượng lanh được dé cập tới trong một số cuốn sách viết về dân tộc H'mông: cuốn Thue vat học - tập II (Vũ Văn Chuyên, NXB Y học, 1971); Dân tộc mông tà thế giới thực tật (Diệp Dình Hoa, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1988); Đân tộc H mông ở Việt Nam (Cư Hoà Vẫn, Hoàng Nam, NX Văn hoá Dân tộc,

Hà Nội, 1994); Văn hoá H?mông (Trằn Hữu Sơn, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1996); công trình nghiên cứu Trang pluục H'mông (Trần Hữu Sơn, tải liệu đánh máy lưu tại Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam năm 2000) có những trang viết khá

sâu sắc về cây lanh Tác giả đã dể cập một cách chỉ tiết vai trò của cây lanh trong

phong tục tập quán may mặc trang phục của người H'mông (trong đám cưới, đám ma, trong các nghỉ lễ kh: Từ việc chí ra mối quan hệ mật thiết và thiêng liêng của người H'mông với cây lanh, tác giá đã khẳng dịnh cây lanh là

cây phản ánh đâm nét nhất bản sắc văn hoá của đân tộc H"mông

Trong một số khoá luận tốt nghiệp, luật

Bạ ~ Hà Giang năm 2002; Trần Thị Thu Thuỷ với luận án Trang phúc cổ truyền của người Hnông hoa ở tính Yên Bái, năm 2004 Trong những công trình này, bên cạnh việc di sâu miêu tả nghề trồng lanh đệt vải của dân tộc H"mông, các tác giả đều khẳng dịnh lanh và các vật dụng từ lanh là những vật dụng có tính chất đặc trưng cho văn hoá dân tộc H'mông,

ác chương trình hội nghị: Quách Thị Oanh, Tạ Đức

Trang 3

với bài viết: Sự đối mới nghẻ dệt may cổ truyền của người H'méng (Tap chi Dan

tộc học số 1/2/1998); Lê Ngọc Quyển với bài viết Trang phục truyền thống của

người Hmông ở một số địa phương miễn múi phía Bac (Tap chí Dân tộc học số

4/1995); Giảng Seo Phử với bài viết Việc truyền nghề uà phát triển nghề truyền thống phụ nữ các dân tộc tỉnh Lào Cai (Tạp chí Dân tộc học số 4/1995) Những

công trình này cũng ít nhiều để cập tới vai trò biểu tượng của vái lanh, trang phục lanh trong đời sống vật chất cũng như đời sống tỉnh thân của người H"mông

1.2 Trong lĩnh vực văn học

Việc nghiên cứu biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc H"mông có phần

khiêm tốn hơn so với biếu tượng lanh trong văn hoá Cho tới nay, chưa có một

chuyên luận nào nghiên cứu sâu về biểu tượng lanh trong văn học dân gian

H“mông cũng như trong dân ca ñ'mông Biểu tượng lanh thường chỉ được đẻ cập tới trong một vài dòng hoặc trong một vài trang viết trong các công trình

nghiên cứu về dan ca H'méng:

Luận văn thạc sĩ văn học dân gian - Trường ĐHSP Hà Nội, 2003 của Bùi Xuân Tiệp: Dân ca giao duyên uà lễ hội Gẫu tào cúa dân tộc Mông đã có một số

trang viết về biếu tượng mảnh vải lanh trong lễ hội Gầu Tào Tác giả cho rằng,

lanh vừa là dấu hiệu mời ma nhà, vừa là dấu hiệu tập trung dân tộc, cố kết cộng đồng của người Mông; Trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian: Khảo sát nghỉ lễ cúng ma dân tộc Hmông của Hoàng 'Thị Thuỷ ~ Trường DHSP

a 2004, tác giả đã để cập tới manh vải lanh như là một biếu tượng độc đáo

trong văn hoá, văn học H'mông; Trong bài viết Một số biếu tượng van hod

dan gian H'méng dang trên Tạp chí Văn học Nghệ thuật Lào Cai tháng 1/2006,

“Trần Hữu Sơn đã vận dụng phong tục tập quán, tín ngưởng và thơ ca dân gian

dan toc H'mong dé gidi ma một số biểu tượng đặc thù có tẳn số xuất hiện cao

trong vân hoá, vain học H'mông như: biểu tượng cây tre, cây lanh, cây thuốc phién, con ga, cay khen, cai ô Trong đó, tác giả cho rằng, cây lanh là biếu tượng thiêng trong tín ngưỡng Hi mông, cây lanh là vũ khí trừ tả, là vật bảo vệ

người H mông và là biểu tượng của niềm khát vọng hạ

Qua việc tìm hiểu lịch sứ sưu tảm nghiên cứu biểu tượng lanh, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình hay cuốn sách nào di sâu nghiên cứu biểu tượng,

lanh, đặc biệt là trong dân ca dân tộc H"mông, Vì thế, chúng tôi sẽ giải mã biểu tượng lanh trong đân ca dân tộc H "mông để nhằm chỉ ra và khắc sâu thêm các

giá trị vân hoá, văn học của đân tộc Hmông mà biếu tượng lanh chứa dựng,

Trang 4

2 Cơ sở hình thành biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học dân gian dân tộc H'mông

Vai trò của lanh trong đời sống cũa dân tộc H"mông chính là cơ sở để hình

thành biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học dân gian dân tộc H'möng Muốn hiểu được các ý nghĩa mà biểu tượng lanh biểu trưng trong dân ca H'mông, chúng ta phải hiểu vẻ vai trò của cây lanh trong đời sống của họ

Cây lanh tiếng H'mông gọi là Chaozmăngx, tên khoa học là Cannbis satival,

ngoài ra tuỳ theo cách gọi cúa mỗi nước, mỗi dãn tộc mà cây này có nhiều tên

gọi khác nhau: cây á ma, cây gai dẫu Là một cây công nghiệp ôn đới, cây lanh

6 chiều cao từ 1= 3m, thân thắng, thon nhỏ, hơi vuông, lá có cuống, mọc so le,

sốc Theo các nhà thực vật học, cây lanh có nguồn gốc thực

ý lân Trung Quốc được gọi là những người khai thác và

truyền bá cây lanh sớm nhất trên thế giới Hiện nay, cây lanh được trồng ớ

ú nơi, từ những nước có vĩ độ thấp sát xích đạo, Mêxicỏ, Colombi đến

những vùng có vĩ độ cao như Canađa, Hà Lan, Phần Lan Ở nước ta, cây lanh

được trồng chú yếu ở những vùng rẻo cao phía Bắc nơi người H'mông cư trú

Theo các nhà khoa học, cây lanh có rất nhiều công dụng Hạt lanh là hạt ăn

cao cấp chứa lượng bột và dầu đạm cao, có nhiều khoáng chất cần thiết cho sức

khoẻ con người Dâu từ cây lanh còn dùng trong công nghiệp mĩ phẩm và là dẫu bôi trơn cho cơ khí tinh vi Sợi lanh có độ dai và năng suất cao dùng để dệt

vải tốt, ngoài ra người ta còn dùng loại sợi này để làm dây buộc, làm lưới đánh

bắt cá và sử dụng trong công nghệ chế tạo bột giấy cao cấp hoặc phối hợp với

công nghệ hoá Pôlime để tạo những vật liệu cúng nhẹ, có độ bên cao, dùng, trong chế tạo vỏ các thiết bị cao cấp như sản xuất ấm nên cho công nghiệp

vi điện tử, máy bay, tâu hoả Mặt khác, một số chế phẩm từ lanh có thể dùng

làm thuốc để chữa một số bệnh như: 'ác vấn đề về da cũng

như tăng cường thể lực,

nốt sin tống hợp dược đạm tự nhiên như rễ cây họ đậu, tán lá lanh dày dùng

lâm phân xanh, th

v lanh phơi khô đốt lấy tro hoà cùng với một số chất

súng kip

Trang 5

'Vượt lên những công dụng trong đời sống vật chất, cây lanh đã đi vào tam Tỉnh, vào tín ngưỡng tôn giáo cũng như các phong tục, tập quán cúa các dan toc

đã trồng và sứ dụng nó Chẳng hạn như các phong tục, tập quán gieo trồng và

may mặc y phục bằng vải lanh của người Miêu ở Trung Quốc, người H'mông ở Lào, Thái Lan, ở Mĩ Đặc biệt là tín ngưỡng về cây lanh của người Nhật Bản, Theo John W Roulac va Hemptech trong cuén Hemp hori Zous The come back

of the Worlds Most Pormising Plant thi trong tín ngưỡng Shin to = tôn giáo bắn địa của người Nhật (giống như tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của người Việu), cây lanh tượng trưng cho sự tỉnh khiết, trong sạch và sự phì nhiêu mâu me

(khả năng sinh sản) Ngôi đền cổ ở Taimdo (theo nghĩa rộng là đến gai) gằn Ôsaka cũng thờ loại cảy này Trong các ngôi đến thờ thắn đạo có những hiện Vật mang tính biểu trưng như dây chuông, gậy trừ tà, màn che và áo của thay tu đều được lâm bằng gai Các nhà thiển học (Zen) và các võ sĩ đạo (Samurai)

thường nhấn mạnh vào nguồn gốc cảm húng của cây lanh trong võ thuật và trong các loại hình nghệ thuật khác Đặc biệt, cây lanh trở thành mot mé tip

phổ biến trong nghệ thuật trang trí trên nẻn vãi của người Nhật Bản (trên các

Đối với dân tộc I†'mông, cây lanh giữ một vị trí đặc biệt trong văn hoá tỉnh

thần của người H'mông ở Việt Nam Nó có vai trò quan trọng trong rất nhiều

các phong tục tập quản vòng đời, trong các tín ngưỡng, lễ hội của dân tộc

H'mong No là một trong những biểu tượng biểu trưng cho nguồn gốc lịch sử dân tộc H"mông; nó như là một vật thiêng - có quyền năng siêu nhiên, thản bí

trong tín ngưỡng, tôn giáo dân tộc H'mông; nó là biểu tượng của người phụ nữ

HH mông va là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm trong tâm hồn H'mông

Vĩ thế, biểu tượng lanh trở thành một trong những biểu tượng đặc biệt thể hiện

đậm đà bản sắc văn hoá của dân tộc H'mông

Dan ca II'méng là một trong những thành tố văn hoá tỉnh thắn của dân tộc

mông Đó là những bài hát do nhân dân tự sáng tác và lưu truyền trong dân gian Các bài ca này có phản lời ca, âm nhạc và cả nghệ thuật diễn xướng Biểu

tượng lanh trong dân ca dân tộc H"mông là biểu tượng ngôn từ Nó là sự tín hiệu hoá các hình thức vật chất cụ thế: cây lanh, sợi lanh, mảnh vải lanh, trang phục lanh, các vat dụng khác từ lanh và các ý niệm trừu tượng trong đời sống tỉnh thẳn

của người H mông qua hệ thống âm thanh ngôn ngữ Sự chuyến hoá này được biểu hiện qua sự thống nhất giữa mật tạo hình (miêu tả) và mặt biểu hiện

(ý nghĩa)

Trang 6

3 Khảo sát biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc H'mông

3.1 Xác định các hinh thức biểu hiện và các hướng nghĩa của biểu tượng lanh

E Hegel đã nhân định: “Sự phức hợp của biểu tượng lä do một nội dung có

thể có nhiều hình thức biểu hiện, và ngược lại, một hình thúc lại có thể biểu đạt thành nhiều nội dung khác nhau, Mỗi ý nghĩa biểu tượng lại nói lên một mặt biểu hiện của đời sống xã hội, có bao nhiêu biểu hiện của đời sống xã hội là có

bấy nhiêu ý nghĩa tương ứng có trong từng biểu tượng” Qua tìm hiểu biếu

tượng lanh trong van hoa dan gian H'mông, chúng tôi thấy đây là một biểu tượng ngôn từ, nó tồn tại đưới dạng một hệ thống bao gồm nhiều hình thúc biểu hiện khác nhau: cây lanh, sợi lanh, trang phục lanh Mỗi hình thức biểu

hiện này có khả năng biểu trưng nhiều ý nghĩa và có khả nâng liên thông với

nhau để biểu trưng cùng một hướng nghĩa Muốn thống kê được tấn số xuất

hiện của các hình thức biểu hiện và các hướng nghĩa, ta phi xác định các hình thức biếu hiện, đồng thời phái tam quy các ý nghĩa của chúng thành một số hướng nghĩa cơ bản

“Từ các dạng thức tổn tại của lanh trong đời sống dan tộc Hmông, chúng tôi

tạm xác định các hình thức biếu hiện của các biểu tương lanh trong đân ca

H mông như sau:

Các hình thức biểu hiên của biểu tượng lanh

* Nguyễn Văn Hậu, Về biểu tượng trong lễ hội dân gian truyền thống, Luận án Tiến sĩ =

Viện Văn hoá, Hà Nói, 2001

Trang 7

Đẫu hiệu phân biệt nhận dang tộc người II"mông dấu hiệu,

ni "môi nguôn gốc dân

Phan ảnh đậc điểm địa hình cư trú tộc người II "mông te tần Mã

Biểu tượng chữ viết người II mông,

“Tín hiệu để ông bả tổ tiên nhận dạng con châu

`Vật báo đảm chuyên gino tôi si giữa người sống vỗi nguôi chết : : a cho những sức Biểu trưng

thông hành của người chết trong thế giới siêu nhiền mạnh thần kì,

Soi to hing nối buộc nhãn duyên trai gái

Khát vọng tỉnh yêu chân thành tha thiết Biểu tượng

Dấu hiệu gia định đầm âm thuận hoả

Để cho kết quả thống kê có độ tin cậy cao, chúng tôi lựa chọn một số tác

phẩm dân ca H'mông đã được các nhà xuất bản ấn hành và được lưu truyền

rộng rãi, phổ biến trong dân gian, trong giới nghiên cứu ẩm Những tải liệu được lựa chọn, khảo sát là:

Trang 8

„ Dân ca Mèo, Dỗn Thanh (sưu tâm, biên dịch), NXB Văn học, 1967 (357 tr)

„ Dân ca Mèo Lao Cai, Dộn Thanh (sưu tắm, biên dịch), Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai xuất bản, 1974 (94 tr~ phần đã dịch ra tiếng Việt)

„ Dân ca H mơng Hà Giang (Tập I, II, II, Hùng Đình Quý (sưu tâm), Sở Văn hố Thơng tin Hà Giang xuất bản, 1995, 2000, 2003 (311 tr~ phản đã địch ra

ý ViêU

„ Những bài Khên của người H'mỏng ở Hà Giang, Hùng Đình Quý

dich), NXB Khoa học Xã hội, 2005 (119 tr~ phản đã dịch ra ting Vie

Trang 9

'Từ những số liệu trong bảng thống kê trên, chúng tôi đi đến mô tả tỉ lệ % của các hình thức biếu hiện và các hướng ý nghĩa của biểu tượng lanh trong dân

4,70%

10.508

Cây tanh Sei tanh Vai lank rang phe tant Cie vat dung khác làm tử lanh

Nguồn gốc dẫu hiệu lộc người vuông,

“Biểu trưng cho những sức mạnh thẫn ki

Điều tượng của người phụ nữ ÏÍ mông

‘MBigu trưng cho tỉnh yêu của người "mông

Ø Các hướng nghĩa khác

3.4 Nhận xét

Qua các số liệu thống kê ta thấy, trong các hình thức biểu hiện của biểu tượng

lanh, sợi lanh có tắn số xuất hiện cao nhất, cây lanh đứng thứ hai, trang phục lanh dứng thứ ba, vải lanh đứng thứ tư, các vật dụng từ lanh đứng thứ năm

Các hướng nghĩa biểu trưng của biểu tượng lanh trong dân ca của dân tộc

1I'mông đều bắt nguồn từ thực tế và có mối quan hệ mật thiết, logic với thực tế

Trang 10

Mối quan hị

giữa các hình thức biểu hiện cúa biểu tượng lanh với các

hướng ngữ nghĩa mã nó biểu trưng là mối quan hệ mang tinh lí do, nội tại, tính

thống nhất và là quan hệ bản chất Mối quan hệ này tôn tại ớ tất cả các hình thức biểu hiện và các hướng nghĩa cúa biếu tượng lanh, tạo nên một sự thấm thấu liên thông giữa hình thức và nội dung ý nghĩa của biểu tượng này,

Hơn nữa, khi nghiên cứu biểu tượng lanh trong dan ca H'mong ta thấy, biểu tượng này bao gồm nhiều hình thức biểu hiện và mang tính đa nghĩa Tính da nghĩa này tổn tại ở cá bình diện hệ thống trừu tượng và bình diện cụ thé Cai được biểu trưng của biểu tương này không phải là một ý nghĩa ốn định mà là một tiểm năng, một khả năng sẽ hiện thực hoá ớ những mức đô khác nhau, tuỳ thuộc vào các dạng biển th

ớ bình diện chủ thể Chang hạn sợi lanh trong tín

ngưỡng tang ma là vật bảo đảm chuyến giao tài sản giữa người còn sống và người đã chết, nhưng trong tình yêu của nam nữ H'mông, nó lại là sợi dây tơ hồng nối buộc nhân duyên đôi lứa, hoặc mảnh vải lanh treo trên cây nêu trong,

lễ hội Gầu tảo vừa là tín hiệu cầu con cảu phúc, vừa là dấu hiệu tấp hợp lực

lượng cố kết cộng đông Như vậy, giữa các ý nghĩa biểu trưng trong một hình

thức biểu hiện hay giữa các ý nghĩa biểu trưng trong các hình thức biểu hiện

của biểu tượng lanh không tổn tại độc lập ở những đối cực mã luôn có sự trung, chuyển, liên thông, điều biến đa dạng và linh hoạt

Mối quan hệ giữa các hình thức biểu hiện của biểu tượng lanh là mối quan

hệ phát sinh và quan hệ phân hoá Mối quan hệ phát sinh là mối quan hệ từ một hình thức biểu hiện ban đầu, qua quá trình sáng tạo của con người đã phát

sinh ra các hình thức biểu hiện tiếp theo, trong đó cái hình thức biểu hiện sau

kế thừa hay bắt nguồn từ các hình thức biếu hiện trước

Cây lanh ——> Sợi lanh ——> Vải lanh ——> Trang phục lanh

Mối quan hệ phân hoá 1a từ yếu tổ trung tâm có thể triển khai thành một hệ

thống các yếu tố của cùng mức độ nhưng có các hướng nghĩa không hoàn toàn

Trang 11

Trong Từ điển Biếu tượng Văn hoá thế giới, ] Chevalier, A Lain Gheer Bran

cho rằng: "Ý nghĩa của một biểu tượng không phải là một cấu trúc khép kín mà là

một khả năng gọi ra các chiều liên tướng trong thực tại tỉnh than của con người,

những chiều hướng này có thể rất khác nhau, trái ngược nhau Mỗi người có thể

những sự trái nghiệm tỉnh thắn mang tính cá nhân nhưng vẫn không tách rời bản chất xã hội, cái chung tỉnh thắn chỉ phối toàn bộ sự vận động của chúng” Tử nhận xét này, tìm hiếu ý nghĩa của biểu tượng lanh ta thấy, ý nghĩa

của biểu tượng này không phải là hằng số mà là biến số, đồng thời luôn có sự liên thông giữa các biến số đó và liên thông giữa cá nhân (các tác giả dân gian) với

công đồng dân tộc H'mông trong quá trình chuyển hoá cúa các biến số đó Vì thế, mối quan hệ giữa các hướng ý nghĩa là mối quan hệ giao thoa, kế cận, kế thừa và phát triển Những mối quan hệ này được mô hình hoá như sau:

Nếu gọi ngôi sao trên là biểu tượng lanh và gọi

năm tam giác lớn EMC; AND; BOE; CPA; DQB là các

hướng ngữ nghĩa của biểu tượng lanh, ta thấy: các

tam giác (hướng ngữ nghĩa) này tuy có diện tích, chu

vi (tẩn số biểu trưng) là khác nhau, nhưng chúng

đều có một phản nằm trong nhau (Ngũ giác

MNOPQ), phan này thuộc tâm điểm của mỗi tam

giác (các hướng ngữ nghĩa) Đây chính là phan giao

thoa giữa các hướng ngữ nghĩa cúa biểu tượng lanh với nhau, và là nguồn gốc

của mọi mối quan hệ khác giữa các hướng ngữ nghĩa nãy

* Lanh - Biểu trưng cho nguồn gốc, đấu hiệu tộc người H'mông

* Lanh - Biểu trưng cho những sức mạnh thần kì, là vật giao tiếp trong thé

tụ nhiền,

* Lanh ~ Biểu tượng cho người phụ nữ H'mông

* Lanh - Biểu tượng cho tình yêu

thrant, Tí điển Biểu tương Văn hoá thể giới NXIY Dã Nãt

Trang 12

của dân toc H’mong Bai Keude Ke (tang ca) ctia ngudi H’mong ké rang: Troi dat,

vii try, ké ca ngudi H'mong va gidng lanh đều đo ông Chay va ba Chay sinh ra (Ba Chay, Ong Chay trong than thoai H"mông là những người lâm ra trí

Mat trang Uê mọc tám cái công nhan

Chiếu cdi trẫn gian loài lanh thối hết rễ Chiết cõi thế gian giống lanh thui hết mẫm Loài lanh cái gì để cho có

Giống lanh cái gì dé cho ati

Ba Chay moi dé co

Ba Meo moi dé aii!

Quan niệm này cũng được thể hiện trong nhiều thể loại văn học dân gian Hmong Than thoại H'mông kể rằng, öng Thắn Nông không chỉ cho người mông giống lúa, kê để có cái ăn mà còn cho họ giống lanh, dạy họ cách làm Janh để có cái mặc Truyền thuyết người H"mông trắng kế rằng: Con chó của giai

đình người H'mông bị mất tích ba ngày trở vẻ đã mang cho chủ hạt lanh, người

chủ lấy hạt đem trồng, tước vỏ cây se thành sợi dệt vải mặc!

Cây lanh là loại thực vật cỏ vai trò đặc biệt trong đời sống người H'mông

Nó là loại cây có thể biểu hiện rõ nhất đặc trưng văn hoá của người H"mông, nó

có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của dân tộc này Trong 54 dân tộc

sống trên đất nước ta, chỉ có dân tộc H'mông có nghề trồng lanh đệt vải và có

tín ngưỡng vẻ cây lanh Hay nói cách khác, cây lanh không có mat trong văn hoá các dân tộc anh em, mã nó chỉ có mật và đóng vai trò quan trọng trong văn hoá, văn học dân tộc II'mông Nhận xét về những loại thực vật đặc trưng của dân tộc mông, tác giả Diệp Dình Hoa trong cuốn Dan toe H'mong va thế giới thực tải

Trang 13

n quan đến đặc trưng cơ bán của bản sác gai mèo, đậu mèo là những loại cây chỉ có ớ vùng cúa người

H mông cư trú, hoặc phân lớn chỉ có người H"mông trồng trọt, sử dụng, họ cho

biết day là loại cây có tính tộc người, có từ vua huyền thoại cúa người Miều vào thời T:

Người H“mông rất tự hào vẻ cây lanh và nghề trồng lanh đệt vái của dân tộ:

mình Họ thường nói: *Ở đâu có cây lanh, ở đó có người H"mông”, hoặc họ gọi

sợi lanh là sợi Hmông "Xú Mống r những quan niệm về nguồn gốc thân

thiết và vai trỏ của lanh đối với người H'mông, cây lanh đã trở thành biểu tượng

biểu trưng niễm tự hào vẻ bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc H'mông:

Gầu Á đrâu trồng cây lanh, cây lanh lớn thắng

Gieo cay thông cây thông lớn cao"

Người Hmông ở nước ta, đù thuộc bất cứ ngành nào (H'mông đen, H'mông,

trắng, H'mông xanh, H'mông hoa), dù là nam hay nữ, già hay tré, đều rất tự hào

vẻ truyền thống trồng lanh đệt vái và may mặc trang phục bằng vải lanh của dân tộc mình Việc cư trú trên những vùng núi cao đã dẫn đến giao thông khó

khăn, đặc điểm cư trú tương đối biệt lập, khép kín, ít có sự giao lưu, trao đối

thông thương của dân tộc H"mông với các dân tộc khác trong vùng Dể đáp ứng, nhu cầu may mặc hàng ngày, người H'mông phải trỏng lanh lấy sợi dệt vai may

trang phục Vải lanh không chỉ là loại vải để tạo ra những bộ trang phục đẹp đề, tiện lợi, phù hợp với điều kiện môi trường sống của người H"mông, mà xưa kia

nó còn là loại vái duy nhất để may mặc của họ Vì thế, những trang phục bing vải lanh đã trở thành những nét bản sắc riêng biệt đế phân biệt, nhận diện dãn

tộc H'mông với các dân tộc khác trong vùng:

ANữ người Hán biết kéo soi, kéo ra soi nhung sợi lụa

Nữ người Hân biết dệt thành uái lụa bái nhìn)

Nữ người Hìmông chỉ kéo ra sợi lanh sợi day

Nữ người IImông dệt thành uái lanh uái đây!

ˆ Diệp Dinh Hoa, ân tộc Jfmáng rã thế giới thực rất, NXIB Văn hoá Dân tộc, Hã Nội, (980, Quách Thị Oanh, Tạ Đức, Sự đối mới nghề dột may của người H[ mông = Tạp) chí Đân tộc học:

$6 1, 2/1998, 1, 52 56

ˆ Hùng Đình Quý, Aluing bài Khôn cúc người HEinôngrð Hà (lang, NXIP Khoa học Xã hội, 20095, 19

* Giảng Seo Gà, Tang Ca = (KruôzcÊ) cúa người mông Lễnh & Sapa, NXB Văn hoá Dân tộc,

2001, 183,

Trang 14

Hoặc: Nữ người Sử lấy chồng, nữ mặc áo nung

Nữ người H mông lấy chồng, nữ mạc nấy lanh

Hay: Nang lon lên ra ngoài

Mạc ba bộ lanh sảnh cùng ba bộ áo Hán”

Hơn nữa, trang phục nói chung, trang phục lanh nói riêng đêu có tính đặc hiểu biết vẻ văn hoá trang phục, nhìn vào trang phục, người ta có thể

dễ dàng nhận ra giới tính, tuổi tác, vị thế, các giai cấp, tẳng lớp trong xã hội

‘Tinh dac trưng của trang phục biểu hiện đặc trưng tộc nguời, mỗi dân tộc có

những nét đặc thủ riêng về trang phục (kể cả chất liệu và kiểu dáng) chi co 0

dân tộc này mà không có ở dân tộc khác Đặc thù trang phục của dân tộc nào

thể hiện mot phan bản sắc văn hoá cúa dân tộc đó

Gốc cây neu dat ba chai regu Ngon cay neu treo ba tẩm lanh"

Người H'mông ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam

theo ba đợt, Một số tải liệu cho biết, vào thời nhà Minh, Trung Quốc thực hiện chính sách “Cải tổ quy lưu”, tức là bãi bó quan thổ tỉ của người H mông, lập tho

tỉ của người Hán để cai trị Những người H"mông không chấp nhận chính sách nay da 6 ạt dí cư sang Việt Nam (tạo nên đợt di cư thứ nhấu Dưới thời vua Càn

Long và vua Gia Khánh, người H'mông tổ chức chống lại triều đình Trung ương nhưng không thành công, bị đân áp đẫm máu phải chạy trốn sang Việt Nam

(tao nên đợt di cư thứ hai); Giữa thế kí thứ XIX, ở Trung Quốc có phong trào

“Thai Bình thiên quốc” chống nhà Thanh, người H"mông hưởng ứng phong trảo này, nhưng phong trào không giành được thắng lợi cuối cùng, người H'mông

Trang 15

phải di cư sang Việt Nam để tránh sự đàn áp (tạo nên đợt di cư thứ ba) ! Trong

ba đợt thiên di đẩy máu và nước mất này, người II'möng đã phải chịu biết bao

đau thương khổ cực, vợ chồng con cái lí tan, họ hàng thất lạc, dân tộc xé lẻ phân

tán Truyền thuyết I'mông kế rằng, để tập hợp mọi người, thủ lĩnh người H’mong da treo cờ là mảnh vải lanh đen trên ngọn cây cao để người H"mông ở khắp nơi thấy dấu hiệu đó mã tập hợp lại Vì thế, mảnh vái lanh đen treo trên cây nêu trong lễ hội Gầu Tào, ngoài những ý nghĩa khác (do cách giải thích khác nhau của người H'mông ở từng vùng), còn là biểu tượng (dấu hiệu) kêu gọi, tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc của người H'mông

biểu tượng lanh trong dân ca H'mông sẽ giúp ta hiểu rõ hơn vẻ xã hội H'mông,

về đặc điểm tâm lí, tính cách của người H'mông Đồng thời ta cũng thấy được

nét độc đáo, sự khác biệt trong cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm của dân ca mông so với dân ca của các dân tộc khác

4.2 Lanh ~ biểu trưng cho những sức mạnh thần ki, là vật giao tiếp trong thế giới

siêu nhiên

4.2.1 Lanh ~ biểu trưng cho nguồn gốc cái chết và sự sống của dân tộc H'mõng

Ra đời, phát triển gắn liễn với sự sinh tổn của dân tộc H"mông, cây lanh có

ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất cũng như đời sống tỉnh thần của người

Hmông, nó đã ăn sâu vào máu thịt của họ Người H"mông quan niệm cây lanh

là cây sự sống, là bộ xương trong cơ thế của con người Vì thế, trong bài Kzuốc kẽ (tang ca), họ đã giải thích sự gãy vụn, tan rữa cúa xương trên cơ thể người khí chết cũng như sự gãy vụn, tan vỡ cũa xương cây lanh:

Ngày xửa ngày xua Thịt người là thịt đất ving Xương người là xương bằng đá

Trang 16

Xương ma là xương cây lanh Ngay xứa ngày xua

Loài ma loài người đổi xuong cho nhau Nôn bây giờ thịt người mới như thịt cừu Xương người mới như xương cây lanh

khi thối thi thối ho‹

Thịt khi không thối là không thối,

Xương khi không gẫy là không gây, khi gẫy thì gẫy tan"

Tìm hiểu quan niệm trên ta thấy, sống giữa tự nhiên, người xưa nói chung,

người H"mông xưa nói riêng luôn có khát vọng khám phá mình và khám phá tự nhiên Hơn nữa, người II'mông ở một số vùng có phong tục để người chết nhiều ngày trong nhà nên họ đã trực tiếp chứng kiến sự tan rữa của xương thịt trên thi thể con người Từ đó nảy sinh nhu cầu khám phá giải thích hiện tượng

nay Nhung trong xã hội xưa, khoa học kĩ thuật vẻ mọi mặt còn thấp kém, họ

chưa giải thích được các hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quanh mình bằng khoa học, mà mọi cách lí giải của họ đều xuất phát từ trí tưởng tượng Với trí

tưởng tượng kì diệu, người xưa đã đồng nhất cơ thể người với vạn vật xung

quanh họ, với tự nhiên, cây cối (cây lanh)

Quan niệm đồng nhất cây cối với con người có ở nhiều dân tộc trên thế giới

Các tộc người ở vùng Altai tin rằng, người phải hoá cây trước khi thành hình hay trước khi xuống đất, hỏn người ở trên trời, hoặc đậu trên các ngọn cây vũ trụ

như chim Thổ dân Ôxtrâylia quan niêm bổn của trẻ em từ cây thai vào: bụng người mẹ Nhiều tộc người ở Việt Nam có các truyền thuyết kế người r4

đời từ cây Trong huyền thoại Để đất đế nước của người Mường, cây sỉ hoá thành bà Dạ Dẫn - người mẹ khởi nguyên Theo người Srẻ (một nhóm Cơ ho), xương của người khới nguyên được tạo từ vỏ cứng như thép của cây đa, mạch

máu người được hình thành từ những thớ dai của cây đa, dòng sữa nuôi nấng người chảy ra từ nhựa đa Bước đầu tìm hiểu chúng tôi thấy, những quan niệm này có thể xuất phát từ nhiều cơ sở khác nhau nhưng chúng đêu có chung một điểm, đó là mối quan hệ giữa con người với cây cối Người H'mông cũng như các dân tộc khác, ngay từ xa xưa họ đã coi cây cối là biểu hiện cụ thể của sự sống tự nhiên trên mặt đất, cao hơn cả con người Cây cối là hình ảnh của cuộc

sống bất diệt trên mật đất, khi con người còn thưa thớt thì cây cối đả xum xuế,

Trang 17

Cây cối là sự gợi ý, là hình ảnh gần gủi thường xuyên về sự sống đối với họ Từ điển Biểu tượng Văn hoá thế giới cho rằng: "Cây là biểu tượng của sự sống trong, tiến hoá liên tục, nó cũng được dùng để biểu thị tính tuần hoàn cứa biến hoá vụ trụ: sự chết và sự tái sinh”!

Tuy nhiên, quan niệm đồng nhất cây với người ở mỗi đân tộc được thế hiện

bằng những cách khác nhau, cũng như cách giải thích về sự sống, vẻ cái chết, vẻ

sự tuần hoàn của biến hoá vũ trụ ở mỗi dân tộc là khác nhau Mỗi quan niệm và cách thức giải thích khác nhau ấy đều biểu hiện phong tục tập quán, tín

ngưỡng, biểu hiện bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc Vì ta có thể nói: việc

các tác giá dân ca H"mông đã thể hiện rò nét độc đáo trong tôn giáo, tín ngưỡng nói riêng, bản sắc văn hoá nói chung của đân tộc mình

Một đôi giấy lanh một đôi xà ca

Người Hmông có phong tục phải mặc cho người chết những bộ trang phục

Đằng lanh (quấn lanh, váy lanh, áo lanh, giấy lanh, khăn lanh, thất lưng lanh ),

kế cả những dỗ khâm liệm, những vật dụng tuỳ tầng chôn theo người chết cũng, đều phải bện bằng lanh Bởi người H'mông quan niệm, những trang phục và vật dụng làm từ vải lanh này là những tín hiệu để khi sang thế giới bên kia người

chết mới được ông bà tổ tiên người H'mông nhận làm con cháu Nếu không có

* Jean Chavel Alain Gheerbrant, 7# điển Biếu tượng Vân hoá thế giới, NXIY Dà Nẵng -

Trường Viết văn Nguyễn Du, 97

* Duân Thanh, Dãn ea Mềo, NNN Văn học, 967, tr, 331-381

Trang 18

những vật dụng làm bằng lanh này tổ tiên sẽ không nhận ra con cháu, hỏn

người chết sẽ bơ vơ không nơi nương tựa Vì vậy đối với người H'mông dù chết

bình thường hay chết bất thường, dù giàu hay nghèo khi chết đều bắt buộc phái

được mặc trang phục bằng lanh Tục ngữ H°mông có câu:

Đói đến mấy cũng không được ăn thóc giống

Rách đến mấy cũng phải có uái lanh mạc khi chết!

Tìm hiểu những quy định và quan niệm về trang phục lanh trong tang ma

của người H'mông, chúng tôi thấy những quy định và quan niệm này bắt nguồn từ quan niệm của người H"mông vẻ cái chết và bắt nguồn từ phong tục tập quán mậc trang phục lanh trong đời sống của họ Trắn sao thì âm vậy, nếu như khi sống, vải lanh và trang phục lanh là dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt người H"mông với các dan tộc khác trong vùng, thì khi chết đi trong, thế giới siêu nhiên, lanh cũng trở thành dấu hiệu để phân biệt nhận dạng ma

người H'mông với ma các dân tộc khác, và là dấu hiệu dé ma ông bà tổ tiên

người H"mông nhận dạng con cháu của mình Trong trường hợp này, lanh trở thành biểu tượng để giao tiếp, nhận dạng người thân của những hồn ma trong cõi siều nh

4.2.3 Lanh ~ biểu trưng cho những súc mạnh thần kì, có thể chế ngự mọi thế lực

ma quỷ; bảo vệ người H'mông

Trong dân ca dám ma của người H'mông, cây lanh và các vật dụng từ lanh không chỉ là tín hiệu giao tiếp để ma ông bà tổ tiên nhận đạng con cháu mà nó còn là vật có phép mâu diệu kĩ có thể chế ngự được nhiều thế lực ma quỷ trong, thế giới siêu nhiên bảo vệ linh hỗn người chết; giúp linh hôn người chết vượt qua những khó khăn thử thách;hiểm nguy để đến với thế gi

đi đầu thai ở kiếp khác:

Mình cùng ma ông bà đến Ngọc Hoàng đất lưng trời

Mình sẽ đến nơi đá con rồng, đá con rồng lá miệng rộng như hang động .Ma ông bà lấy xâu sợi lanh nhét luôn uào mỗm đá con rằng,

Ma ông bà mời đ

Thì mình cũng lấy xâu sợi lanh của mình mà nhét nào mỗm đá con rồng

' Trấn Thị Minh Tâm, Alghẻ dệt ái lanh cố truyền của người HŸ mồng xã Lùng Tảm, huyện (Quảng Ba, tính Hé Giang, Luận vàn thạc si Van hoá học = Viện Dãn tộc hoc, I1 2002, tr 58,

Trang 19

Khi thấy đá con rông ngâm môn rồi, mình mới cùng nưa ông bà mình để

Mình sẽ đến nơi đá con hố, đá con hổ há miệng rộng như hang đá

.Ma ông bà tố tiên lấy xâu sợi lanlt nhét luôn uào môm đá con hố

Ma ông bà mới dị

Thì mình cũng lấy xâu sợi lanh nhét luôn bào miệng đá con hố

Khi thấy đá con hổ ngâm miệng rồi mình mới cùng ma ông bà đi"

Theo bài Kzuốc kẻ (tang ca) của người H'mông lễnh (Mông hoa) ở Sa Pa thị con đường mà người chết di gap tổ tiên có rất nhiễu sâu ma xù xì kinh khiếp,

Trong quan niệm của người I'mông, những con sâu ma này là biểu tượng biểu trưng cho những thế lực ma quỷ độc ác trong thế giới siêu nhiên, linh

hồn người chết nhờ có đôi giấy bằng lanh mới vượt qua được đoạn đường này

mà đi gặp tổ tiên:

Người đi gập tố tiên

"Người sẽ gập rất nhiễu con sâtt

Sâu to nhucchay gid gao

Sâu bù xù lông như đầu dê

Người Hán c6 vai lua làm giây cho người đỉ

Dam phải con sâu mà đí

Người Hmông không có vai lua

"Người H mông lấy sợi lanh đan thành đôi giảy

Nguoi ddim lên đâu sâu

Vượt mi sâu rôm mà tẻ voi tổ tiên,

Ngoài việc thờ cúng tố tiên, người H'mông còn thờ cúng rất nhiều loại ma

nhà Trong các loại ma nhà mà người H"mông thờ cúng (ma cột chính, ma buông, ma cửa, ma bếp ) thì ma cứa là loại ma thường ngự ở miếng vải lanh

đồ dân trước cửa chính Điều này cũng được dẻ cập đến ở nhiều bài dan ca nghi

Trang 20

Cửa chính treo ái đó

Bân thờ dành đàn giấy"

Người H"mông có phong tục treo mảnh vải lanh đỏ trước cửa nhà để ma cửa trú ngụ trong đó Theo quan niệm của người II'mông, ma cứa có nhiệm vụ như người lính gác, ngăn giữ không cho ma ác vào nhà, báo vệ hồn của các thành viên trong gia đình, bảo vệ của cái tài sản trong nhà Vì vậy trong tín ngưỡng của người H'mông, vuông vải lanh đỏ treo trước cửa nhà là đấu hiệu

ma ctk

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, quan niệm này của dân tộc H'mông bắt nguồn

từ vai trò của cây lanh và các vật dụng từ lanh trong đời sống của họ Cây lanh không chỉ cung cấp vải mặc mà nó còn có rất nhiều tác dụng khác giúp người

H'mông thích nghỉ với môi trường sống khắc nghiệt trên núi cao, khi ma khoa

học kĩ thuật chưa phát triển Từ đỏ người H'mông đã thản thánh hoá những công dụng của cây lanh, khiến lanh trở thành vật thiêng có sức mạnh kì diệu, siêu phàm trong tin ngưỡng dân tộc lÝ'mông,

Quan niệm về vai trò,

không phải là điều hiểm thấy trong tín ngưỡng các

truyền thuyết trong kinh Vệ Đà: “Nếu cây cô có hiệu lực chữa bệnh thì chính là vì

ban than chúng là của trời cho và l ổng"” Trong Tuyển tập La Prop Chương V - Tực thờ thực rật có nêu sức mạnh của một số loài cây mang tỉnh

biểu tượng trong văn hoá dân gian Nga như: cây thông, cây liêu, cây bạch dương Chắng hạn: cây liễu và các chùm hoa của nó được cho là có sức mạnh

đặc biệt, ví dụ người ta ấn chín chùm hoa của cây liễu vì nó là phương tiện

phòng ngừa các cơn sốt; những người vô sinh ãn các mắm, chỏi cây liễu đã

được lâm phép thánh, kết quả họ lại đẻ được như thường hoặc họ cất kĩ cảnh liễu ở những chỗ khác nhau trong nhà và tin tưởng cành liễu có sức mạnh làm cho kinh tế khỏi bị suy giảm” Cây bạch đương là cây sớm khoác trên mình màu xanh tươi mơn mớn trong khi các loại cây khác chưa nảy lộc, đâm chỏi Từ dó xuất hiện quan niệm là cây bạch dương mang một sức mạnh sinh trưởng kì diệu, cây bạch dương non được mang vào nhà thờ làm phép thánh, dược coi

1g Dinh Quy Dan ea 1 mang He Giang, Tập 3, Sở Văn hoá Thing tin Ha Gi

* Jean Chavelier, Alain Gheerbrant, Ti điển Biểu wang Van hod the giéi, NXB Da

Trưởng Viết văn Nguyễn Du, 1997

` Tuyển tập V.la Propp tap 1, NXB Van boa Dain tí

Trang 21

như sức mạnh của cây thuốc có thế chữa được bệnh tật Người Thái ở Tây.Bặc

Việt Nam coi lá cả gai (một loại lá thuốc) có thể xua đuổi được tà ma, nên họ

thường lấy lá này cài ở chân cu thang mỗi khi trong nhà có người ổm, người mới sinh Dân tộc Máng coi lá "Pa" (một loại lá thuốc trong rừng) là loại lá có thể xua đuổi được tà ma bảo vệ sức khoẻ cho họ Theo chúng tồi, tất cả những

quan niệm mang tính chất siêu nhiên, thần kì về các loại thực vật ở trên đều bát

nguồn từ tín ngưỡng thục vật của mỗi dân tộc, từ việc họ cắm nhận được sực

mạnh của thực vật từ công dụng của chúng Thực vật là cấp bậc dẫu tiên của sự sinh sôi nảy nở liên tục, là nguồn nâng lượng bất t sự sống, Cây cỏ tượng trung cho năng lượng mật trời được kết lại và biếu lộ ra Cây có hút những lực cợ bắn có tính lửa ở trong dất và tiếp nhận năng lượng mặt trời nên nó tích lug được trong mình những sức mạnh kì diệu"

4.3.4 Lanh - Giấy thông hành trong thể giới siêu nhiên

VIlà vật có sức mạnh thần kì có thể trấn áp mọi loại ma quỷ trong thé gigi Siêu nhiên nên lanh và trang phục lanh còn có vai trò như là một loại giấy thông hành đặc biệt để linh bồn người chết có thể dĩ qua cửa nhà trời (Ngọc Hoàng) đến nơi đầu thai thành người ở kiếp sau:

“hi Ngọc Hoàng sai người lính gác cổng trời thu xong phí thì hỏi mình rằng

Vậy thì mình uề trời đây mình muốn quay trở lại đâu thai xuống trần gian

Vậy mình uề mình được mấy thứ đỗ cẩm vé

Mình đáp rằng mình dễ trâu mình cũng không được đắt, lợn không được mang

Minh tê chí được mang theo hai edi do, một khău đội đâu, một cái thất lưng,

"một đối xả cạp, một đôi giấy lanh

“Mình nên nói nh tậy uối Ngọc Hoàng, hai lính gác cổng trời mới mở đường: dẫn lối đế mình đi đâu thai,

Trong quan niệm của người H'mông, cây lanh và vải lanh thường tượng trưng cho vẻ đẹp trong văn hoá cũa dân tộc H "mông; tượng trưng cho tính cách ngay thẳng, chân thành, mộc mạc của người í†"mống, Mặc trang phục lanh, người LI mông đã chứng tô mình là người HI"möng chân chính, một người tốt cả khi côn sống hay khi đã chết di Vì vậy, trong tin ngưỡng tạng ma cửa người HI"mông,

‘Jean Chavelier, Alain Gheerbrant, Tị điển Biểu tượng Vân hod thế giới, NXM Dã Nẵng ~ rưởng Viết văn Nguyễn Du, 1997,

Trang 22

những trang phục bằng lanh có giá trị như thế căn cước chứng nhận nhân cách của hỗn ma Có th căn cước này, những bồn ma mới qua được cửa nhà trời để

đi đâu thai ở kiếp khác

Với vai trò là "giấy thông hành” cúa người chết trong thế giới siêu nhiên, trang phục lanh, mảnh vải lanh, sợi dây lanh luôn là những vật dụng cản

thiết, không thể thiếu trong các lễ cúng rước các linh hỏn từ côi siêu nhiên

sang cõi thực và ngược lại Những sợi dây lanh thường là vật dẫn đường cho

các hồn ma từ thể giới siêu nhiên về ngự ở bàn thờ Đồng thời khi xuất hỏn

sang thế giới bên kia để đi tìm các hỏn ma, hỗn của các thấy cúng cũng di theo các sợi đây này Ngoài ra, khí cầu cúng, các thảy cúng còn phú một tấm vải lanh mâu đen hay màu đỏ (tuỳ từng dòng họ) lên mật Họ cho rằng làm như vậy thì họ mới nhìn được mọi vật ở thể giới bên kia Vì vây, có thể nói, lanh như một chiếc cảu võ hình nối giữa thế giới thực tại với thế giới siêu

nhiên Chiếc cầu này chí có những người có phép lực siêu nhiên va hén ma mới có thể đi lại trên đó Các hỗn ma từ cõi chết trở về thăm người thân và nhận đỏ cúng tế đều được người thân mang trang phục lanh và các vật dụng

Géu pli, đrâu phi

Ong cam ma géu pli, drau pli

Hay dem dé lanh cho géu pli, drau pli

Mac vé xem nha.xem ctia

Ong cém ma géu pli, drau pli

Tay trái cẩm kiếm nó từ trà

Đi đón được gân phí, đrâu đậy từ lòng đất."

Hoặc:

Ông cẳm ma đất tay

Méi dem duoc gdu pli, đrâu phí rễ

Géu pli, dréiu pli đã chết lâu rồi

Géu pli, dréiu pli vé den

' ling Dinh Quy, Những bài Khên của người ITnông 6 Ha Giang: NXB Khoa hoc

Trang 23

Gắn ph, đrâu phí đem áo lanh trùm lên hình nhân

Géu pli, drau pli mac ao lanh so cing khách đình

Quan niệm trên cũng xuất phát từ sự quan sát thực tế của người H'móng

nói riêng, các dân tộc trên thế giới nói chung vẻ thế giới thực Cây cối giao tiếp,

với cá ba cấp của vũ trụ: dưới đất, nơi rễ của nó cắm sâu và giấu mình; mật đất ~

nơi thân cây với những cảnh mọc ra, và không gian trên cao - nơi những cành bên trên và ngọn cây hút ánh mật trời Cây liên lạc với thế giới âm ti, với thiên gian Nó tập hợp tất cả các nguyên tố: nước lưu thông trong nhựa của nó, đất hoà nhập vào thân thể nó qua rễ, không khí nuôi dưỡng lá nó, lửa toé ra từ sự cọ

la nóŸ, Vì thế, cây nói chung, cây lanh nói riêng trở thành câu nối giữa ân,

tí, trần gian và trời, nó trở thành giấy thông hành, trở thành con đường thăng thượng của những sinh linh di từ côi hữu hình sang cõi vô hình Tuy nhiên, lựa chọn cây nào để làm chiếc cầu nối vô hình nảy là tuỷ thuộc vào quan niệm cũng như đòi sống của từng đân tộc

Ông cằm ma gdu pli, drdu pli

Da dem đến giao con uật ấy cho gâu pli, dréu pli

Géu pli, đrâu pli đừng khóc đừng tham

Tay trái nắm thừng lanh ngay tm uào tay

Tay phải nẵm thừng lanh ngay tim bào tay

Géu pli, drat pli se dem giti xuding diy mé day huyệt”

* Jean Chavelier, Alan Gheerbramt, Từ điển Biểu tượng Văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng -

“Trường Viết văn Nguyễn Du, 1997,

Trang 24

Sẽ lấy cho người con bò đá đen, con ngựa đá nâu

Ngươi đừng khóc đừng than

Nguoi hay mau mau vé nhan ngay

Soi thimg lanh quan chat veo tay

Nguoi hay mau mau vé nhan nhanh

Sợi chỉ lanh buộc chật tảo chân

sản cho người chết để họ mang về thể giới bên kía tiếp tục làm ain sinh sống Khi thực hiện các nghỉ lễ cúng hiến sức

ật cho người chết ~ "lẻ tàu sáng "(đưa người chét ra bai); 1é “cho pli"(tién dua

hồn); lễ “nhux đãngz”(ma trâu, bỏ) uuôx đăngZ”(ma lợn) người ta đẻu

dùng sợi dây lanh để buộc cố súc vật và nổi với tay người chốt hoặc nối với

những bộ quản áo bằng lanh, hoặc với hình nhân mặc bộ quần áo lanh (người

Hfmông quan niệm những bộ quân áo làm bằng lanh, hay những hình nhân

mặc quần áo lanh là những vật để thẩy cúng mời hỗn người chết vẻ trú ngụ ở

đó), rồi đọc bài cúng giao súc vật cho ma Người H"mông cho rằng nếu không có những sợi dây lanh này, việc giao trâu bò cho người chết không được đảm bảo, hồn người chết sẽ không nhận được gia súc, họ sẽ trở vẻ quấy nhiễu, làm hại mọi người trong gia đình, trong bán Soi dây lanh trở thành vật bảo đảm chuyển

giao tài sản giữa người còn sống với người đã chết Lí giải vấn để này, chúng tôi

thấy, bên cạnh quan niệm lanh là cẩu nối, là giấy thông hành giữa thế giới thực

¡ với thế giới siêu nhiên thì trong cuộc sống hàng ngày, người H'mông thường

sử dụng đây thừng bện từ lanh để buộc trâu bò Các loại dây buộc này rất tiện

dung và thưởng bên chắc, buộc trâu bò rất an toàn, không sợ bị dứt Chúng tôi thiết nghĩ, từ những đặc tính và công dụng này trong thực tế, sợi lanh đã trở

thành oật bảo đm cho sự chuyển giao tài sản giữa người còn sống với những

người đã chết trong tín ngưỡng tang ma của người H'mông,

Người H'mông có phong tục chía tả

4.2.6 Lanh - tín hiệu cầu con, cầu phúc

Mảnh văi lanh đỏ treo trên cây nêu trong lễ hội Gầu Tảo cũng được nhiều

bai dan ca nhắc tới Mánh vải này là một biểu tượng với nhiều tắng ý nghị Theo Bùi Xuân Tiệp, trước hế êu mời ma nhà về dự hội, hoặc là

biểu tượng mặt trỏi, phán ánh tục thờ mặt trời của những cư đân nông nghiệp

‘Lang Dinh Quy, Những bài Khòn củ, người Hmông ó Tà Giang, SÓd, tr, 188

Trang 25

xua kia’ Tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng mảnh vải lanh đỏ trong trưởng hợp này, chúng tôi thấy: Theo phong tục của người lmông, hai vợ chồng nào dỗ lấy

nhau lâu ngày mã không có con hoặc làm ăn gặp nhiều khó khăn, đi xem bó;

được thầy cúng phán truyền phải mở hội Gầu Tào mới có người nối dõi, làm án mới yên ốn no đủ, thì gia chủ đó trong năm ấy sẽ dụng cây nêu treo mảnh vải

lanh đồ mớ hội Gầu Tào để xin con cái nối đõi, xin làm ăn thuận lợi Kết thúc lễ

hội, mánh vải lanh đỏ thường được gia chủ đem về treo ở trong nhà Người I'mông ớ một số nơi quan niệm màu đỏ là màu của phúc lộc, màu của con

người Vi thế, theo chúng tôi, mảnh vải lanh đỏ treo trên cây nêu trong lễ hội Gầu Tảo ngoài những ý nghĩa như lùi Xuân Tiệp đã nêu ở trên, còn là tín hiệu mong muốn cầu con, cầu phúc của vợ chẳng gia chủ và của mọi người gửi t6; tổ

tiên ông bà, tới các vị thần linh siêu nhiên

Nhu vay, tìm hiểu biểu tượng lanh trong dân ca 1! mông, trên phương diện

là vật thiêng biểu trưng cho những sức mạnh thần kì, là vật giao tiếp trong thé giới siêu nhiên, sẽ giúp ta hiểu và li giải được những phong tục tập quần tôn

giáo tín ngường của họ Đồng thời qua việc tìm hiểu biếu tượng này, ta Cùng

thấy dược những hiệu quả lón lao cia mot tong những phương thức nghệ thuật độc đáo của dân ca H'mông: biểu hiện các giá trị nội dung tư tưởng, quan

niệm bằng biểu tượng,

Tìm hiểu biểu tượng lanh trên phương diện là biểu tượng của người phụ nữ

II mông trong dân ca H mông, chúng tôi cũng xuất phát từ quan niệm nghệ

thuật vỀ con người và những triết lí về cuộc sống của dân tộc này Nếu như

trong thơ Dường, các thi nhân thường lấy liễu làm biểu tượng cho người phụ nữ; hoặc trong văn học cổ nước nhà, đặc biệt là ca dao, dân ca của người Việt, các tác giả dân gian thường dùng hoa, trăng làm biểu tượng cho người phư nữ bởi giữa hoa, trăng, liễu với người phụ nữ có nhiều nét tương đồng: đó là đáng

về yêu kiểu, mềm mại thướt tha, tươi tắn, quyến rũ, thì trong dân ca H"mông,

các tác giá dân gian do xuất phát từ việc cảm nhận được mối quan hệ gắn bó thân thiết không tách rời giữa người phụ nữ với cây lanh nên đã dùng lanh làm

biểu tượng cho người phụ nữ H'mông

` Bùi Xuân Tiệp, Lễ hội Gầu Tào uà dâm ca giao duyên đâm tộc Mông, Luận văn Thạc sĩ khoa học

"Ngữ vân, Trường Dai học Sư phạm Hà Nội, 2003

Trang 26

“Trong lao động của người phụ nữ H"mông, bên canh những công việc làm

nương rẫy, nội trợ gìa đình thì công việc trồng lanh, xe lanh đệt vái, may mặc:

trang phục cho cả gia đình là công việc chính, chiếm một khoảng thời gian lớn, liên tục và thường xuyên trong suốt cuộc đời của họ, Khi còn tấm bé, các

em bé H'mông đã theo mẹ di gieo lanh, nhồ có; lớn hơn một chút nữa ho lai theo bà, theo mẹ học xe lanh, dệt vải may vá quân áo Họ tiếp xúc với lanh

quanh nấm ngày tháng, cả những lúc bận rộn cũng như những lúc nhàn rồi Ngay cả khí di chợ hoặc khi đi chơi với người yêu, họ cùng cắm theo cuộn lanh

để tranh thú xe s

Gdu Mong

Don dep bat daa rita xoug

Gdu Mong ldy nd lanh sợi cuốn lêu khuýtt

Núi đối người mẹ rằng

Gầu Mông dĩ ngắm hoa trăng hoa trồi lên

ầm liền nắm lanh sợi quận lên tay

Nói dối nguồi mẹ rằng

Gầu Mông đi ngắm hoa trăng, hoa trời bay.'

Quanh nam ngày tháng vất vả làm bạn với nghề trồng lanh dệt vải, lanh sợi

người phụ nữ H"mông tạo cho họ một thói quen làm

việc chăm chỉ cần mẫn, rèn luyện cho đôi bản tay của họ thêm khéo léo, nhanh

nhẹn Có thể nói, chính nghệ trồng lanh đệt vái đã góp phản không nhỏ trong

ệc tạo lên tính cách đẹp đê: đôn hậu, cần mắn, đám đang, khéo tay của người

phụ nữ H"mông, Vì vậy, muốn đánh gì ời ÿhu nữ, người

H'mông đã lấy kĩ thuật trồng lanh dệt vải để làm thước đo vẻ đẹp cũng như

trị của họ Người phụ nữ đẹp, lí tưởng phái là người thạo đường làm lanh đệt vải, khéo bàn tay thêu thùa may vá:

Ngôn tay em quay khéo nÌt xoáy trôn ốc

Lanh soi cting do em xe

Ban tay em làm khéo nhì trôn chén

‘Thing Dinh Quy, an ce HT niông Hà Giang, Tập 9, Sở Vân hoá Thông tín TIã Giang, 2001 tr L2

Trang 27

Soi lanh cũng do tay em cuốn

Đôi ta kết đường tình duyên.!

Ngược lại, một người phụ nữ bị coi là xấu xa nếu chị ta vụng đường làm lạnh đột vải Nhìn cách phụ nữ Lƒ'mông xe lanh đệt vải, hoặc chỉ cần nhìn cuộn lạnh của họ cũng có thể đoán biết tính cách người phụ nữ đó như thế nào, cẩn thận

hay du doang Nếu cuộn lanh của họ trơn tru, óng mượt gọn gàng thì đó là

người phụ nữ đảm đang cần thận, thạo đường lanh mũi chỉ Còn nếu cuộn lanh;

rối bù, lăn lóc nhom nhem thì đó là người phụ nữ cấu thả, lười biếng, vụng

đường làm lanh, đệt vải, kém may vá thêu thừa:

Minh oi, vg ta khong lam cing khong mac

Nó lấy cuộn lanh quảng bậy lên hòm

Cuộn lanh của nó lăn lóc nhom nhem

“Như cái sọt kéo đất của bà Nùng bà Sã”

Đặc thù lao động của người phụ nữ II'mông đã tạo cho họ một thối quen đáng yêu Khi đi đầu, họ thường mang theo lanh bên mình Lanh như là vật bất

]i thân với người phụ nữ H"mông, là bằng chứng cho dức tính chăm chỉ cản

mẫn, chịu thương chịu khó của họ Vi thé khi nang dau vé nha chéng, người te

để luôn nhắc con gái phải mang theo cuộn lanh, túi lanh bên mình:

Me nding v6i nói:

Con oi! Con gai me oi!

Khoan dã để mẹ lấy tái lanh đeo ngang

Con hay yên lòng mà uẻ theo khách

Đừng nhớchỉ chú bắc anh em!

May trong một đoạn dân ca khác nữa về chuyện một người con gái H mông

đã cùng người yêu trốn chạy khỏi cảnh đối xử bất công của gia đình nhà chồng,

vẫn mang theo túi lanh bên mình;

Tấm thân em sống kiếp sao lạc đính trời

Ởưới mẹ chồng, gặp mẹ chẳng ác ghét

Doan Thanh, Dan ca Méo ở Lào Caú, Hội Van học nghệ thuật Lào Cat, 1974, tt 11,

** Doãn Thanh, Dan ca Méo, NXB Van học, 1967, tr 152, 98,

Trang 28

Nàng rằng:

~ Chàng ơi em theo chàng băng núi bằng đèo

Mô hôi đổ chan chan

Quảng túi lanh ngang vai, em sé theo chang nhịn đói say nắng

Deo tii lank doc vai, em sẽ theo chàng nhịn đói một sức

Lên chạy theo chàng đôi ta cùng trốn."

Lấy kĩ thuật làm lanh để đánh giá phẩm cách của người phụ nữ, người

H mông xuất phát từ thực tiễn cuộc sống của họ Cư trú trên địa bàn khá phức

tạp, núi cao, vực sâu hiểm trở, người H'mông sống giữa thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa hoang dại, day khó khăn nguy hiểm Con người muốn tổn tại được phải biết lao động và lao động hết mình Nhân thức này đã chỉ phối đến tư tưởng cúa người H'mông Họ luôn để cao các phẩm chất lao động và mối quan hệ giữa con người với lao động: "Muốn ăn đú thi bỏi hai bàn tay” (Tục ngữ Hmông) Họ quan niệm giá trị của con người là ở chỗ có lao động và biết lao động: "Con gái

không biết làm lanh/Lấy được chồng vẫn rách/Con trai không

nương/Lấy được vợ vẫn đói” (Tục ngữ H'mông)

Nếu như trong ca dao dân ca của các đân tộc khác, số phận người phụ nữ

thường: nhự hạt mưa sa, nhúự hạt nưưa rào, nu tẩm lụa đào (ca đạo Việt) hay thân chỉ bằng thân con bọ ngựa (dân ca Thái), thì trong dân ca H'mông, thân phận của họ thường được ví như là hoa bảu, hoa bí, như hạt lanh Nếu phụ nữ lấy được chồng tốt th

Nếu lấy phải người chồng không xứng đôi:

Em lấy người chẳng không xứng đôi

Nhu hạt lanh nương tra vao bai ruộng

Hoặc cô gái H'mông đã dùng hình ảnh cây lanh trồng nơi bãi bằng để diễn

tả việc mình đã được gả đúng nơi đúng chỗ, số phận của mình đã an bài:

Than em đã làm dâu nhà người, là tợ nhà người

Thôi anh a, anh hay quay vel

“Doan Thanh, Dan ca Méo, NXB Van học, 1967, tt 109.

Trang 29

Em ở lại, theo mẹ trông lanh nơi bãi bằng

Cây lanh sau sẽ thắng

“Theo kinh nghiệm trồng lanh của người H"mông, nếu trồng lanh để lấy sợi

đệt vải, người ta gieo hạt lanh vào nơi đất tương đối bằng phẳng (lanh ruộng) và

gieo với mật độ dày khoảng 14 đến 16cm một hốc và phải gieo đều nhau Xung quanh khu trồng lanh này, người ta phải dọn có, phát quang, cây lanh mới đhọc thẳng, mọc đều, sợi lanh mới tốt Nhưng nếu trồng lanh để lấy hạt giống cha vụ sau thì người H'mông thường gieo hạt lanh trên các nương dốc (lanh nươn§) với mật độ gieo hạt thưa hơn để cây lanh to phát triển nhiều cành, ra hoa kết quả cho nhiều hạt lanh Vì thế “lanh nương tra vào bãi ruộng" có nghĩa là việc làm này không hợp lí, chắc chấn kết quả thu hoạch sẽ không được như ý muốn, cũng như cô gái H'mông được gã vào nơi không đúng ý, lấy phải chồng không xứng đôi vừa lứa thì cuộc sống sẽ phải chịu nhiều khổ dau, không có bạnh phúc Đây là cách nói rất hình ánh, rất gắn gũi với người H"mông nên nó vữa dễ hiểu, vừa thấm thía sâu sắc

Từ ý nghĩa là biếu tượng cho người phụ nữ H'mông, cây lanh và các vật dụng từ lanh cũng được các tác giá dân gian sứ dụng để khắc hoạ vai trò quan trọng của những người phụ nữ H'mông trong việc làm ra cái mặc và nuôi dạy con cái trong gia đình

* Tạo ra cái ăn, cái mặc cho mọi người trong gia đình

Qua việc tìm hiếu phân công lao đông trong gia đình người H'mông, chúng tôi thấy sự phân công này rất chật chẽ; rò rằng theo giới tính và theo lứa tuổi Nam giới đắm nhận những việc lớn nặng nhọc như cày nương phát rầy, khai vỡ đất dai, phụ nữ làm những công việc nội trợ gieo hạt, xe lanh đệt vải VÌ thế, nếu thiểu vắng người phụ nữ, không những mọi việc nội trợ trong gia đình bị bó

trễ mà những người trong gia đình đó sẽ không có đủ quần áo đế mặc, phải rơi

vào cảnh "Không có một manh mà mặc” hoặc "Phải mặc vải lanh sẵn rách trông thấy da" là diễu tất yếu

Người ta mặc gấm uóc người Hán

Mồ côi ta đây không mẹ cha

Phái mặc bái lanh sẵn rách nhìn thấy da."

* Hũng Dình Quý, Dân e1 mông Hà Giang, Tập 3, Sử Văn hoã Thông tin Hà Giang, 2001, tr, 25.

Trang 30

Đối với người H'mông nước ta, cái mặc rất quan trọng Bởi đại đa số các cư

dân của dân tộc này thường cư trú biệt lập ở trên những vùng núi cao bốn mùa mây phủ, khí hậu bán ôn đói Có những vùng núi cao thời tiết giá lạnh cả bốn

mùa trong năm, vào mùa đông, trời rét như cắt, thâm đa, tím thịt Ở những

vùng khí hậu như thế này, nếu không có cái mặc, hoặc không đủ cái mặc, người H'mông không thể, hoặc khó duy trì sự sống của mình Trang phục đối với

người H'mông không chỉ còn là cái để mặc nữa, mà là vấn để sống còn có ảnh

hưởng lớn đến sự sinh tốn và phát triển của những con người trong cộng đồng

đân tộc này Vì thế, vai trò của người phụ nữ H"mông trong việc lâm ra trang

phục được xã hội H'mông để cao, coi trọng

* Trong việc nuôi dạy con cái

Trong dân ca H'mông, vai trò của người phụ nữ còn được khẳng định trong

việc nuôi dạy con cái, đặc biệt đối với những người con gái Như đã nói, người

H'mông quan niệm người phụ nữ tốt phải là người thạo đường làm lanh, khéo may vá thêu thùa, nhưng để có được những kĩ nâng không phải là dễ Muốn biết được nghề, những người con gái H'mông phải được các bả, các mẹ dạy cho từ nhỏ Nếu vì một lí đo nào đó khiến trong gia đình vắng bóng những người phụ

nữ này (chẳng hạn như mẹ mất sớm ) thì việc những người con gái trong gia đình đó vụng đường lanh mũi chỉ: “Bó lanh thòng lòng treo cột" hoặc "Bó lanh thành ổ chuột ric” la điều khó tránh khỏi

Mẹ chết để lại cho gái bó lanh thòng lọng treo liếp

Gái mổ côi lồn thành người bó lanh đã thành ổ chuột ric

Mẹ chết để lại cho gái bó lanh thòng lòng treo cột

Gái mỗ côi lớn thành người bộ lanh đã thành ổ chuột chù.!

'Vụng đường làm lanh đệt vái đối với người con gái H'mông là một nôi bất

hạnh lớn Xuất phát từ quan niệm người con gái tốt, lí tưởng phải là người thạo

đường trồng lanh đệt vải, khéo may vá thêu thùa thì mới được xã hội tôn trọng, mọi người yêu mến, những người con gái mổ côi vụng đường lanh thường bị xã

hội ruông bỏ không thương tiếc và thưởng khó lấy được chồng như ý muốn Đối

với người con gái, có nỗi dau nào bằng nỗi xót xa này, Vì thế, bằng hình ảnh

“cuộn lanh thòng lòng treo cột”, “cuộn lanh thành ổ chuột rúc", các tác giá dân

gian đã diễn tả sâu sắc nỗi khố đau, thua thiệt lớn nhất của những người con gái

mổ côi là mất đi người mẹ Đỏng thời cũng góp phản khác sâu, nhấn mạnh vai trỏ,

Trang 31

tắm quan trọng của người mẹ, người phụ nữ trong việc nuôi dạy con cái mã đạc

biệt là những người con gái

Nhu vậy, do xuất phát từ mối quan hệ vô cùng thân thiết và gấn bó giữa

phụ nữ Hmông với cây lanh và nghẻ làm lanh dệt vải, nên trong cuộc

ng hàng ngày, cây lanh và nghé trồng lanh dệt vải đã trở thành biểu tượng tủa người phụ nữ H'mông Đi vào trong dân ca H"mông, cây lanh và các vật dụng từ lanh cũng được các tác giả dân gian sử dụng để biểu trưng cho tâm hỏn, tỉnh

cách, số phận cũng như vai trò của người phụ nữ H'mông trong gia đình, trong

xã hội Những cách thể hiện độc đáo này khiến cho hình ảnh người phụ nữ

H'mông nổi bật lên với những nét đẹp khoẻ khoắn của người lao động, nhưng

lại rất mềm mại duyên đáng, giàu nữ tính Những hình ảnh này vừa trong Sáng,

giản dị, mộc mạc lại vừa chân thành, đầm thấm như thiên nhiên núi rừng hững

vĩ, nơi họ cất tiếng chào đời và gắn bó với họ trong mọi sinh hoạt, tập tục, tình

cảm và tâm linh Mặt khác, cách thể hiện này cũng giúp cho dân ca H'mông thêm đậm đà bản sắc dân tộc, để lại những cảm tình sâu sắc trong người đọc,

4.4 Lanh ~ biểu tượng tình yêu

là tiếng nói tâm hồn tình cảm của người lao động, dân ca H'mông biểu

hiện mọi cung bậc và trạng thái tâm hỗn con người, đặc biệt là tình yêu lứa đôi, quan hệ tình cảm nam - nữ, tình vợ chỗng, sự thuỷ chung, niễm hạnh phúc, sự chia lia, nỗi bất hạnh, sự giận hờn trách móc Tất cá đều được diễn tá một cách

u sắc bằng nhiễu phương tiện nghệ thuật khác nhau và chịu sự chí phối của

moi trường diễn xưởng, Trong rất nhiễu các phương tiện nghệ thuật đó, chúng tôi thấy cây lanh và các vật dụng từ lanh nối lên như một phương tiện nghệ thuật độc đáo biểu hiện một cách hữu hiệu những trạng thái cung bậc tình yêu,

đồng thời thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá của dân tộc H"mông

Tìm hiểu biểu tượng lanh trong dân ca Hmông trên phương diện là biểu

tượng tình yêu ta thấy: Trước tiên, lanh và các vật dụng từ lanh chính là sợi dây

tơ hồng nối kết tỉnh yêu nam nữ:

Trước cửa nhà em có cây lanh mọc

Ong có noi vé dau

Em làm thân con gai bdy nam theo me theo che

Anh cô nơi ga lại.

Trang 32

Xuất phát từ quan niệm người phụ nữ tốt phải là người thạo đường làn:

lanh dệt vải, khéo may vá thêu thùa nên những kĩ thuật làm lanh là tiêu chuẩn

quan trong để các chàng trai H'mơng kén chọn bạn tình Muốn tìm những

người con gái tốt vẻ làm vợ, các chàng trai cĩ thể dựa vào đấu hiệu đĩ mà kén chọn Cây lanh và các vật dụng từ lanh trở thành đấu hiệu của tình yêu - sợi dây

tơ hơng để kết nối tình duyên dõi lứa

Cũng như các dân tộc khác, trai gái H"mơng yêu nhau thưởng tậng nhau

những kí vật do chính tay họ làm ra: chiếc vịng, cái nhẫn, chiếc khăn tay bang

lanh, thất lưng lanh để khi xa nhau, những kỉ vật này gọi cho họ nhớ tới người yêu Khi hát giao duyên, những kỉ vật này lại trở thành cái cớ để các chàng trai,

cơ gái giải bày tình cảm:

Em tặng chàng chiếc dây lưng lanh để ghỉ nhớ tình em

Em hỡi chiếc dây lưng lanh thêu hoa thành hình con ốc

Soi to sợi nhỏ đều do bàn tay em se

Chiếc dây lưng lanh thêu lioa hình con hiến

Soi to sợi nhỏ đều lo bàn tay em viễn

Các kỉ vật bằng lanh (khăn lanh, dây lưng lanh, miếng bỏ giáo ) mà các cơ gái tăng cho người yêu đều là những kỉ vật thiêng liêng quý giá Kĩ vật đĩ tượng

trưng cho tâm hồn, tính cách, tài nãng của cơ gải và tượng trưng cho tỉnh yêu cơ

gái trao cho chàng trai Khi các cơ gái H'mơng tặng dây lưng lanh cho chàng trai

nghĩa là tín hiệu tình yêu đã được kết nối Cơ gái đã quý mến, đồng cảm với chang trai

Hơn nữa trong hát ống ~ hát đây (hát đối dáp) của người H"mơng, sợi dây

lanh khơng những là vật truyền am thanh lời hát mã cịn là vật truyền tư tưởng,

tình cắm giữa hai bên người bát đối đáp Thơng qua sợi dây âm thanh liên

độc đáo này, người ta cĩ thể bộc lộ hết những tư tưởng tình cảm thẩm kín của

mình một cách tự nhiên hơn, chân thành hơn mà khơng phải ngượng ngùng xấu hổ như khi hát đối mặt nhau Vì thế, khơng ít nam nữ thanh niên H"mơng

đã lợi dụng loại hình hát này để bày tỏ tình cảm với người mình yêu: như nỗi

nhớ mong da diết, khát vọng xây dựng gia đình đảm ấm, hồ thu

Tình yêu muốn dược bên lâu phải cĩ ý thức nuơi dưỡng giữ gìn Sự:

trong tình yêu như con đao hai lưỡi nĩ vừa là "lửa" để thử "vàng”, vừa là

ngĩn” cĩ thể làm nhạt nhộ, hay giết chết tỉnh yêu Vì vậy, khi yêu nhau ai cũng

cĩ mong muốn được ở bên người mình yêu trong tất cả những nỗi buồn và

Trang 33

niém vui của cuộc sống Nhưng sự đời lại chắng mấy khi chiều lòng người Sự xạ

cách, hờn giận luôn là bạn đồng hành với sự gập gỡ, yêu thương Vì thế khi yeu,

con người ta luôn mong ước được kể vai sát cánh, quấn quýt bên nhau:

Giá thân em là sợi lanh sợi tơ

Anh quấn uào người để sợi cùng anh ớ

Giá mình em là sợi lanh sợi chỉ

Anh sẽ quấn uào người để sợi cùng anh đi

Công việc xe lanh đệt vải cũng khó khăn, vất và như việc chọn người bạn đời

để xây dựng tổ ấm Trong quá trình đệt vải, những sợi lanh ngang dọc đan xen,

liên kết vào nhau để tạo thành tấm vải như những chàng trai, cô gái H'mộng

yêu thương quấn quýt bên nhau để tạo thành những gia đình Trong đoạn dân

ca trên, chàng trai ước mong cô gái là sợi lanh, sợi chỉ để anh “quấn vào người”

cho không còn lo phải xa cách nữa Ước mong này thật sâu sắc và chân thành: biết bao, nó thể hiện khát vọng vẻ một tinh yêu chung thuý sắt son, không chia

la của nhân vật trữ tình trong bai dan ca nói riêng, nam nữ thanh niên H'mông

nói chung, Cách thể hiện này vừa dễ hiểu, vừa vô cùng sâu sắc, thấm thía

“Trong cuộc sống, có khát vọng nào mãnh liệt mà da diết hơn khát vọng yêu

đương luyến ái Khi đã yêu chân thành, ai chẳng rơi vào tâm trạng tương tư với đầy đủ các trạng thái tình cảm buỏn vui, nhớ thương, giận hờn xen lẫn khát

khao yêu thương hạnh phúc, và ai chẳng mong sẽ yêu được người mình yêu, sẻ

giữ vững được tình yêu của mình một cách chắc chắn, bẻn chặt Trong dân ca

H mông, biểu tượng lanh cũng biểu trưng cho những khát vọng yêu đương mãnh liệt đó;

Yếm lanh ba miếng uàng

Đây sợi ba uồng lưng

Anh mà đến được uùng trời khoảnh đất quê em

Anh sẽ bằng mọi cách yêu được nàng

Lòng dạ anh mới có thể bớt mong

Trong trang phục của phụ nữ H'mõng, yếm lanh và dây lưng là những phụ

trang được cắt may, thêu thùa rất kì công, rất dẹp Những phụ trang này vừa có tác dụng như chiếc dây lưng giúp cho váy (quản) ôm chặt, chắc chấn vào eo

lưng, vừa có tác dụng giữ cho vòng eo của người phụ nữ được thon nhỏ, gọn! gàng, kín đáo Dé đạt được những yêu cầu trên, đòi hỏi yếm lanh phải là

Trang 34

ba miếng và sợi dây lưng phải dài đú buộc ba vòng lưng Vì thế, cách nói “Yếm lanh ba miếng vàng/ Dây sợi ba vòng lưng” là những cách nói vô cùng độc đáo, thú vị Qua đó, các tác giả dân gian H'mông phản ánh khát vọng, mong muốn của nam nữ thanh niên H'mông nói chung, các chàng trai H"mông nói riêng

có thể giữ gìn được tình yêu của mình một cách bẻn chặt

Khi yêu nhau người ta thưởng chỉ trăng, vạch núi thể nguyễn va dan đò chờ

đợi chung thuỷ khi xa nhau Tình yêu của nam nữ thanh niên H"mông cũng vậy, các chàng trai Hmông thường lấy hình ảnh "cây sào trúc phơi sợi lanh” dé dan

dö người yêu, mong nàng chờ đợi chàng Hình ảnh này được lặp di lặp lai rất

nhiéu lan trong nhiều bài dân ca H'mông:

Cây sào cuộn lanh đem phơi sợi

Em hãy lầm con gái son chờ đợi

Cây sào cuộn lanh đem phơi pha

Em hãy làm con gái son đợi ta

Hoặc:

Em hay lam me lam cha

Cây sào trúc phơi sợi là

Đế làm mẹ làm cha

Con gái son chờ đợi ta

Cây sào trúc phơi sợi lanh

Để làm cha mẹ

Con gái son chờ đợi anh

Tai sao tác giả dân gian lại sử dụng hình ảnh “cay sáo trúc phơi sợi lanh” để

tả sự chờ đợi thuỷ chung trong tình yêu? Tìm hiểu kĩ thuật làm lanh của người H"mông chúng tôi thấy, sau khi tước sợi lanh, người H'mông đưa sợi vào

giã, luộc và ủ sợi rồi đem giặt sạch phơi khô rất nhiều lần Quá trình này được

lập đi lap lại đến khi sợi trắng mịn, săn bóng, trơn nhẫn mới thôi Sau mỗi lan

git, dé soi réc nước nhanh khô, người H'mông thường phơi sợi trên những cây

sảo phơi làm bằng tre bằng trúc, có độ to vừa phải, thon dài Sợi lanh sau khi

ngâm giặt thường ngấm nướ nặng nên phải phơi bằng cây sào phơi bằng

tre, trúc (loại cây vừa nhẫn vừa bên, có sức chịu lục dẻo dai) thì sợi mới mau

khô đều, không bị rối Còn khí phơi bằng các loại cây sào khác Nếu là cây có thể

Trang 35

chịu được trọng lượng sợi lanh sau khi ngâm thì lại có kích thước quá to, cẳng kènh khiến cho việc phơi sợi cũng như việc di chuyển sào phơi khó khăn Nếu tậy phơi nhỏ, trọng lượng của sợi lanh sẽ làm sào võng xuống khiến các sợi lanh đản

vào nhau dẫn đến rối sợi, sợi lâu khô và khô không đẻu Vì thế, dùng hình ảnh

“Cây sào trúc phơi sợi lanh”, tác giả dân gian muốn dùng sức chịu lực bền bi qéo dai của cây sào làm bằng tre, trúc để nói tới súc chịu đựng chờ đợi bên bi tủa người con gái Các chàng trai H"mông dặn người yêu của mình làm "Cây sào thúc phơi sợi lanh” là dặn đỏ người con gái hãy bên gan vững chí, chung thuỷ chờ dợi

họ Cách nói này thục giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc Đúng như một nhà Sưu tắm, nghiên cứu văn hoá dân gian đã nhận x n dị trong tình yêu, tình yêu thiên nhiên trong sáng sâu sắc Giản dị đến cá tấm lòng chung thuý chở đợi với

Mình ơi! Ví dù tá lấy được mình

Minh lam vu tanh doi ta mac tanh

làm uụ nương đôi ta không an bữa nhạt

Một cuộc sống hoà thuận đắm ẩm luôn là khát vọng đa diết trong mỗi gia

đình Trong đân ca H'mông, mong ước này được tác giả dân gian thể hiện bằng

vợ chồng cũng nhau làm lanh dệt vải, cây nương san rưộng:

Fim q đôi ta kết nghĩa ban tình vừa đôi phải lứa

Không c6 ân, anh cay em bừa

Không có mặc, em quay guỗng anh gỡ lanh

Không có ân, anh cấy em san

cây dùng để cày nương của người H"mông rất đặc biệt, không giống lưỡi

„ ngoài việc lựa chọn t tốt để tôi luyện, người

Mac Phú, Giả trị truyện thơ "2

ống Irụ xon xeo*, “Tiên dận người yêu” của (ân tộc

Trang 36

H'mông đúc lưỡi cày to, dây nên lưới cày rất nặng, có thể cày tung được dat nương rắn chắc và chặt đứt rễ cây rừng ăn sâu trong dất Loại cày này chỉ có

nam giới mới sử dụng được, phụ nữ không làm được việc này Còn xe lanh đệt vải là việc làm đôi hồi phải trải qua rất nhiễu công đoạn và đòi hỏi sự khéo tay,

sự cần cù, tỉ mỉ, nhẫn nại của người phụ nữ, chỉ có người phụ nữ mới có thể

đám đương được công việc này Vì thế phân công lao động trong gia đình người

H'mông là đàn ông thường làm việc cày nương cuốc rẫy, săn bắn và nghề rèn (ở những nơi có nghề rèn); phụ nữ làm công việc gieo trồng, chãn nuôi, nội trợ gia

đình và làm lanh dột vải Việc người đàn ông giúp vợ xe lanh det vai, hay người

vợ giúp chồng cày nương san những việc làm đặc biệt thể hiện tỉnh cám yêu thương gắn bó, sé chia của hai vợ chồng

Như vậy, hình ảnh đôi vợ chỗng cùng nhau xe lanh dệt vái, cày nương cuốt trong các đoạn dân ca trên biểu hiện một cuộc sống vợ chẳng hoà thu đâm ấm, yên vui Cách biểu hiện này tuy giản dị bình thường nhưng ta thấy rõ

ẩn sau nó là cả một tấm chân tình rộng lớn và sâu nặng Người H'mông sống

chân chất, mộc mạc và rất hiện thực Họ yêu nhau không phải vì một phút "trái tìm say", cũng không phải danh lợi, cũng không phái chỉ mê sắc, mê tải của

nhau mà vì một điểu gì đó tuy gián đị nhưng sâu sắc hơn nhiều Vĩ thế lời hẹn

trớc này thật quyến rũ và xúc động lòng người Thứ hỏi có chang trai, cô gái não khi đang yêu mà lại không muốn nghe những diều như thết

Tình yêu trong dân ca H"mông cũng như ở các dân tộc khác có lắm nỗ

cay đắng, không phải cứ thích ai là yêu được người đó, cứ yêu nhau là sẽ lấy

được nhau và được sống trọn đời hạnh phúc bên nhau Tình yêu cũng lắm nồi

uu tu budn phién, chẳng thiếu những lời than thân trách phân, trách duyên tình, Vì thể trong dân ca H'mông, biểu tượng lanh không chí biểu trưng cho

những tình cảm yêu thương, khát vọng hạnh phúc đấm say mà nó còn biểu

hiện cho những trắc trở, những nghịch cảnh, éo le trong tình duyên đôi lứa:

Sẽ được sợi chi

Dù mình biết biển ta biến hoá

Trang 37

Ta đến nhà mình để bạn mình quấn sợi

Khi sợi được lanh thành, mình không may không mạc cho ta

Ví tình yêu như chuyện xe lanh đột vải, các tác giá dân gian HI'mông muốn khẳng định: Tình yêu muốn đạt tới thắng lợi phải trải qua nhiều khó khăn thử

thách, tốn kém nhiều thời gian công sức mà có khi kết quá lại không thành Điều này khiến cho người ta không khỏi buồn phiền, giận hờn, ghen tuông Tuy nhiên, cái giận hờn ở đây tuy xót xa nhưng côn đây ắp nghĩa tình Vì thế trong

dân ca H"mông, các chàng trai vẫn dặn dò cô gái của mình:

Chớ nên trồng lanh ruộng uào bãi nương

Trồng lanh nương vào bãi ruộng

Mình làm nương cách phân lanh ruộng cách ly

Như uậy ta vé nhà lòng mới còn thiết tưởng đến uiệc nương uiệc ruộng

Tìm hiểu tình yêu đôi lứa trong dân ca H"mông, chúng tôi thấy tình cám của

họ rất xác định, rất hiện thực, rất sáng suốt chứ không phải là những gì mơ hỏ

chung chung, không tưởng Nên khi uớc nguyện vẻ tình yêu không thành, chí có

hãn hữu trưởng hợp tìm đến con đường tự vẫn, còn phản lớn tuy buồn dau nhưng họ vẫn cam chịu và âm thẩm nhớ nhung người bạn tình Cùng có khi, họ

đợi đến những phiên chợ tỉnh hàng năm để được gặp lại người yêu xưa, ôn lại kỉ niệm cũ và suy ngẫm vẻ những nguyên do dẫn đến sự chia lĩa, sự tan vỡ của tình yêu khi trước:

Xua vi cha mẹ đấp nương bên dồi

Ta bảo mình bừa mình không bừa

Ta báo mình hói mình không hỏi

Bay giờ sợi lanh nối sợi đáy

Mình không chết ta không mất

Đôi ta nhục mặt trời mặt trăng hội ngộ

Hoặc:

Hai ta gieo xong nụ lanh

Nhớ gieo lại không nhớ hái

Mới được yêu chẳng được lấy

Trang 38

Nhớ gieo lại không nhớ cắt

Mới chỉ yêu lại chẳng được lấy

Hay:

Vai lanh ché vai sợi

Soi dọc tranh sợi ngang

Yêu nhau không lấy được nhat

Em chết đi sẽ phí ước

Các hình ảnh: “Sợi lanh nối soi day”; “Nhớ gieo lại không nhớ hái"; "Vải lanh chê vải sợi” đều diễn tả những tình yêu dang dở không thành, không hạnh phúc Dẫn đến những kết quá đau buồn này là do nhiều nguyên nhân khác nhau: Do chàng trai không mạnh dạn để lỡ thời cơ, do tình yêu của đôi bên chưa đủ chín

Sống trong xã hội phong kiến, người H'mông bị trói buộc bởi những luật lệ

hà khắc Tình yêu nam nữ phải đặt dưới phép mẹ quyền cha, hôn nhân là do

mua bán ép gã Tất cả những luật lệ này nhiều khi bao vây, dỗn ép, xô đấy tình yêu nam nữ vào chỗ bï đát tuyệt vọng không lối thoát Nhưng tình yêu có quy

luật riêng của nó, khi cẩn thiết nó có thể vượt lên tất cả, bất chấp mọi “phép cả gốc tùng", “phép thiêng gốc quế” để bảng theo tiếng gọi cúa con tim, của lòng, chung thuỷ và khi bị ngắng trở, nó sẽ vùng lên như cây lanh bé nhỏ nhưng lại lật

đồ được cây thông để bảo vệ tình yêu:

Cây lanh đổ ua chạm phải cây thông

Cây thông đố nhào trên mặt đất

Đôi ta kết bạn trai gái tốt đẹp dường này

Ta chỉ có đường nói mà không có đường bỏ

Cây lanh thường yếu ớt mảnh dẻ Cây thông, so với cây lanh thì cao lớn, vũng chắc hơn rất nhiều Vậy mà các tác giá dân gian đã để cho cây lanh đổ va phải cây thông làm “cây thông đổ nhào trên n Cách nói có phản khác lạ nhưng đôi khi lại là hiện thực của cuộc đời này Các tác giả dân gian muốn chứng tỏ được sức mạnh của tỉnh yêu chung thuỷ, chân chính và gây cho người đọc một cảm giác bất ngờ thú vị, khiến họ tin tưởng vào sức mạnh kì diệu của

tình yêu chân chính Đồng thời cách nói này cũng góp phản cổ vũ, động viên

con người hãy dũng cảm, mạnh đạn và tự tin dấu tranh cho lê phải, cho tinh yêu chân chính

Trang 39

Trong dân ca H'mông, thái độ của các chàng trai, cô gái H"mông khí bị thấy bại trong tình yêu cũng rất khác nhau; có trường hợp thì mía mai chì chiết sâu cay, cũng có khí là lời lên án trực tiếp đầy phẫn nộ đối với kế bạc tình, hoặc là sự chấp nhận khổ đau, xót xa Cũng có khi họ rơi vào tuyệt vọng như không thấy đường đi, không đủ sức mạnh, họ chỉ biết khóc than Cũng đôi khi sức mạnh, của tình yêu đang rực cháy khiến họ có những ý nghĩ táo bạo, kiên quyết, nhưng bởi bất lực trước thực tế xã hội nên có khi những hành động phản kháng của họ,

là tự tử bằng lá ngón hay thất cổ bằng dây thừng lanh:

Drdu Mong

ước đi đến đầu thôn

Đã nghe rõ làng xóm tiếng khỏe uang

Đrâu Mông bước uào qua cửa chính

Thấy Gâu Mông

Mặt mũi tái mét xanh

Cùng quận ti thừng lanh

Cải chết bằng dây thừng quận lanh là cái chết bì thăm mã lại được nói đến

một cách bình thản đã thể hiện mạnh mê, quyết liệt khát vọng tự do hôn nhân,

Tinh yêu tự do là biểu hiện cao nhất của quyền làm người Cho nên dù có bị đồn nón đến hoàn cảnh bi đát, họ cũng không bao giờ lửa bỏ khát vọng tinh yêu

Ho tìm đến cái chết không phải vì coi thường mạng sống của mình mà để bảo

vệ hanh phúc Cái chết suy cho cùng chính là sự dấu tranh, sự cánh tính người thân, sự phản kháng xã hội bất công và chứng minh cho sức mạnh, cho sự bất

diệt, vĩnh cứu của tình yêu tự do Đồng thời, thể hiện khát vọng về tình yêu tự

do, hon nhân tự chủ cúa nam nữ dân tộc H"mông

Nhu vay, xuất phát từ vai trỏ và mối quan hệ giữa lanh và dụng từ lanh với cuộc sống nói chung, với tỉnh yêu và hón nhân gia đình của người H'mông

nói riêng, lanh vã các vật dụng từ lanh đã trớ thành biểu tượng biểu trưng cho

nhiều trạng thái tâm hồn khác nhau của tình yêu đôi lửa, tình cảm vợ chồng của người H mông, Với biểu tượng này, các tác giá dân gian IInông đã diễn tả dược một cách sâu sắc và độc đáo những trạng thái cám xúc yêu thương lứa đôi trong tâm hỗn người H'mông: giản dị, mộc mạc đến võ cùng và cũng dẫm thắm, sâu

ắc, tỉnh tế, quyết liệt đến không ngờ Đồng thởi, diễu đó cũng thể hiện bản sắc văn hoá độc đáo, khác biệt của dân tộc H"mông và góp phản khẳng định, tô đâm: thêm những giá trí nội dung, giá trị nghệ thuật của dân ca II"mông

Trang 40

Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết của cây lanh và cá

+ chất và đời sống tỉnh thần của người H'mông,

cây lanh và các sản phẩm từ lanh đã trớ thành biểu tượng biểu hiện đặc trưng văn hoá, văn học H'mông và hàm chứa các giá trị truyền thống của người H'mong id tri này được đúc kết, tích luy qua hang tram năm, hàng nghìn năm trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội người H'mông Trong,

thế giới tỉnh thần H'mông, biểu tượng lanh trớ thành “vật thiêng”, trở thành sức manh, nit ông đồng xã hội H'méng Biéu tượng lanh đã góp

phản giúp người H'mông liên kết, lại với nhau, sống tốt đẹp, nhân ái hơn, giúp

xã hội H'mõng ngày càng phát triển, hoàn thiện

5 Kết luận

Đân ca H "mông là tiếng nói tâm hồn, tình cảm, trí tuệ của người H'mông

Biểu tượng lanh trong dân ca H'mông là một trong những nơi kết tỉnh chất lọc

những tỉnh hoa tỉnh tuý của tiếng nói tư tưởng, tình cảm ấy Việc giải mã b tượng lanh trong dân ca H"mông vừa giúp ta thấy được toàn bộ bức tranh kinh

16, xã hội, văn hoá, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, thấy được tâm hỗn, tư tướng

yêu lao động, yêu ca hát, sống thuỷ chung, mộc mạc đằm thám, nhân hậu mà bản lĩnh của người H'mông; vừa giúp ta thấy được những giá trị nghệ thuật đội

đáo, đậm đà bản sắc dân tộc của dân ca H'mông Mặt khác, giải mã biểu tượng

lanh trong đân ca dân tộc Hmông ta cũng thấy được quá trình chuyến hoá từ cây lanh trong đời sống hàng ngày đến biểu tượng lanh trong vàn hod, van ho trong dân ca I['mông là sự chuyến hoá từ phạm vi cộng đồng, từ bình d

chung đến bình diện chủ thể, biểu hiện quá trình sáng tạo lại, tố chúc lại biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật Quá trình chuyển hoá này có thể mô tả theo

sơ đồ sau:

Cay lanh và các sản biểu trung hoá -

Ì phẩm từ lanh (trong đòi

sống hiện thực)

Biểu tượng lanh trong dan

môn ca H"mông (trong đời sống,

Ngõi Bạt Hội | tinh than)

Cay

một quá trình từ thực tại chuyển hoá vào văn học Công việc nghiên cứu (giải

m3) biểu tượng là tìm ra con đường chuyển đi đó, để từ biếu tượng có thể nhận

thức thế giới, nhận thức thục tại xã hội Hmong,

Ngày đăng: 17/07/2022, 17:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nghĩa  có  hinh |  1  2  3  4  5  hình  |  Tile % - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
gh ĩa có hinh | 1 2 3 4 5 hình | Tile % (Trang 8)
Bảng  khảo  sát:  Mô  típ  100  ~  1  trong  truyền  thuyết - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng khảo sát: Mô típ 100 ~ 1 trong truyền thuyết (Trang 57)
Bảng  khảo  sát  mô  típ  “Thế đất"  trong  truyền  thuyết - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng khảo sát mô típ “Thế đất" trong truyền thuyết (Trang 70)
Bảng  1:  Các  con  số  trong  tục  ngữ  người  Việt - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng 1: Các con số trong tục ngữ người Việt (Trang 76)
Bảng 3:  Các  con  số chỉ  thứ tự trong  tục  ngữ người  Việt - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
Bảng 3 Các con số chỉ thứ tự trong tục ngữ người Việt (Trang 81)
Hình  thức  thể  hiện  ; - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
nh thức thể hiện ; (Trang 82)
Bảng  4:  Các  con  số  dang  don  trong  tục  ngữ  người  (sắp  xếp  theo  thứ  tự  giảm  dân  vẻ  số  lẳn  xuất  hiện) - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng 4: Các con số dang don trong tục ngữ người (sắp xếp theo thứ tự giảm dân vẻ số lẳn xuất hiện) (Trang 82)
Bảng  6:  Dạng  thức  tỏn  tại  của con  số  chỉ  lượng, - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng 6: Dạng thức tỏn tại của con số chỉ lượng, (Trang 88)
Bảng  8:  Khả  năng  kết  họp  giữa  các  con  số  chỉ  lượng, - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng 8: Khả năng kết họp giữa các con số chỉ lượng, (Trang 93)
Bảng  9:  Khả  năng  kết  hợp  giữa  các  con  số  chỉ  thứ  tự - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 2
ng 9: Khả năng kết hợp giữa các con số chỉ thứ tự (Trang 94)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w