1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 1

101 5 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Văn Học Dân Gian Từ Mã Văn Hoá Dân Gian
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên Cứu Văn Học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 8,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian gồm có 2 phần. Phần 1 sau đây trình bày một số vấn đề có liên quan đến đề tài như: phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian và phương pháp nghiên cứu văn học dân gian qua các mã văn hóa dân gian; quan niệm về văn hóa, mã văn hóa; mối quan hệ giữa văn hóa, văn hóa dân gian và văn học dân gian; các khái niệm: tín ngưỡng, mã tín ngưỡng, phong tục tập quán, mã phong tục tập quán..., các thao tác nghiên cứu văn học dân gian qua các mã văn hóa dân gian. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TY Đại HỌC TH ĐÔ HN

IIIIIIIIIIIlllll DVL.5495 NGUYEN THI BICH HA : :

NGHIEN CUU Văn Học Pan Gian

TỪ MÃ VĂN HOÁ DÂN GIAN

Trang 2

PGS.TS NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DÂN GIAN

TỪ MÃ VĂN HOÁ DÂN GIAN

THU VEN DATHOC TH 0 HA NOL

ip

195

NHA XUAT BAN BAI HOC SU PHAM

Trang 3

SP

] UNIVERSITY OF EDUCATION PUBLISHING HOUSE

"NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DẪN GIAN

TỪ MÃ VĂN HOÁ DẪN GIAN 'PGSTS NGUYÊN THỊ BÍCH HÀ

Nguyên Trưởng Khoa Việt Nam học “Trường Đại học Sự phạm Hà Nội PARR LS

Sen un nl inthe ep en soon pw coe i ow mc is oeg Dac Spun Mi

"ain quytn nut in tev Nh xuất bản vi học Sự phạm,

‘Moi hin út a9 Chữa hay phảt hành cà thôeg có sự cho phép bằng văn bản ‘eda Nha nuit bin Das hoc Sưphạm đều làíphàm pháp Mặt

‘Chung tos kiên mong muốn như được những ÿ kita Bing abo cia cu wl dix gud sch mgt cng hos tig Hon,

Moi gap yh en b&w bint óch ự bổn quyển vo su lang gờ về a CN emo ehoachaebhp ed

Mã số:01.01.01/43 ~ÐH 2014.

Trang 4

Chương I KHÁI NIỆM VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN

1 Khải niệm văn hoá

_—- 1

3, Phan loai cdc hign tugng van hoa - Cac thanh 16 van hoa

4, Méi quan hệ giữa văn hoa, van hoa dan gian và văn học dân gian

5 Văn học dân gian ~ Một thành tố của văn hoá dân gian

Chương II VĂN HOA DAN GIAN VUNG VA VAN HOA DAN GIAN VIỆT NAM 25

4 Van hod Viét Nam trong khu vực Đông Nam Á cổ

2 Đặc trưng văn hoá vùng Đông Nam Ả

3 Các nền văn hoá Việt Nam

4 Giao lưu và tiếp biển văn hoá qua văn học dân gian

3 Biểu tượng ~ Loai mã văn hoá tiêu biểu nhất AT

4 Nhận diện mã văn hoá trong văn học dân gian 52

Chương IV TÍN NGƯỠNG VÀ MÃ TÍN NGƯỠNG

TRONG VĂN HỌC DẪN GIAN 56

3 Quan hệ giữa tin ngưỡng dân gian với văn học dân gian seamed’

4 Giải mã tín ngưỡng dân gian trong van hoe dan gian ¬ ,

Trang 5

Chương V PHONG TỤC TAP QUAN VÀ MÃ PHONG TỤC TẬP QUAN

TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

1, Khái niệm phong tục tập quán

2 Một số phong tục tập quán của dân tốc Việt

3 Giải mã phong tục tập quán trong văn học dân gian

4 Đối thoại giữa các nền văn hoá qua tín ngưỡng, phong tục tập quán

Chương VI VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG QUAN HE

VOI DI TICH LICH SỬ, XÃ HỘI, VĂN HOÁ

1 Quan hệ giữa văn học dân gian với thần tích, thần phả

2 Quan hệ giữa văn học đân gian với nghỉ lễ, hội lễ

Chương VII PHAN TÍCH TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ DÂN GIAN

1 Tìm và giải mã các yếu tố văn hoá trong văn học dân gian

2 Phương hướng khai thác các tác phẩm văn học dân gian

từ góc độ văn hoá dân gian

Phần thứ hai - PHỤ LỤC: NGHIÊN CỨU NHỮNG TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

| GIẢI MÃ BIỂU TƯỢNG LANH TRONG DÂN CA DẪN TỘC H'MÔNG

1, Lịch sử nghiên cứu biểu tượng lanh

2 Cơ sở hình thành biểu tượng lanh trong văn hoá,

văn học dân gian dân tộc H'mông

3 Khảo sát biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc H’mén

4 Giải mã một số hướng nghĩa cơ bản của biểu tượng lanh

trong dân ca dân tộc

5 Kết luận ni m

lì GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG CHON BAT BONG BO

TRONG KIỂU TRUYỆN CHỌN ĐẤT ĐÓNG ĐÔ CỦA NGƯỜI VIỆT

1 Về lí thuyết tiếp cận truyền thuyết qua mô t

và biểu tượng

2 Về truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đõ

3 Phản tích mô típ và biểu tượng

trong truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đõ

Trang 6

III CÁC CON SỐ TRONG TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT 175

1 Khảo sát các con số trong tục ngữ người Việt 176

2 Con số trong cấu trúc ngữ nghĩa của tục ngữ người Việt 188

3 Giải mã ý nghĩa biểu tượng của con số trong tục ngữ người Việt 199

4 Kết luận sua 214

IV GIẢI MÃ BIỂU TƯƠNG DONG SONG TRONG BAI CA TANG LE

MỘT SỐ DÂN TỘC VÙNG BẮC BỘ VIỆT NAM 214

1 Cơ sở hình thành biểu tượng dòng sống trong bai ca tang lễ

một sổ dân tộc vùng Bắc Bộ Việt Nam

2 Khảo sát ~ mô tả biểu tượng dòng sống trong bài ca tang lễ

một số dân tộc vùng Bắc Bộ Việt Nam

13 Giải mã các hướng nghĩa cơ bản của biểu tượng dòng sông

trong bai ca tang lễ một số dân tộc vùng Bắc Bộ Việt Nam

V GIẢI MÃ VĂN HOÁ TẾT NGƯỜI VIỆT

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Chuyên luận Nghiên cứu uãn học dân gian từ mã uăn hoá dân gian đã được chúng tôi biên soạn làm tải liệu giảng dạy cho thạc sĩ và nghiên cứu sinh của khoa Ngữ ván, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 2002 Từ đó đến

nay, chúng tôi luôn nghiển ngẫm và trở đi trở lại với để tài này trong những bài viết lẻ tẻ của mình để dẫn xác lập lí thuyết nghiên cứu văn học dan gian theo

hướng giải mã văn hoá dân gian Năm 2011, chúng tôi đã đưa tai liệu đi dự thi

Giải thưởng sáng tạo tại Hlội Văn nghệ dân gian Việt Nam và phần thứ nhất của

công trình đã được trao giải 3A Diễu đó thúc đấy chúng tôi xuất bản công trình

nhằm giới thiệu rộng rãi hơn với bạn đọc Chuyên luận Nghiên cứu uấn học dân gian từ mã uãn hoá dân gian gồm hai phần

Phản thứ nhất ~ Những vấn đẻ lí thuyết Trong đó, chúng tôi tập trung trình

bay một số vấn để có liên quan đến để tài như: phương pháp luận nghiên cứu

văn học dân gian và phương pháp nghiên cứu văn học dân gian qua các mã văn

hoá dân gian; quan niệm vẻ văn hoá, mã văn hoá; mối quan hệ giữa văn hoá,

văn hoá dân gian và văn học đân gian; các khái niệm: tín ngưỡng, mã tín ngưỡng, phong tục tập quán, mã phong tục tập quán ; các thao tác nghiên cứu văn học dân gian qua các mã văn hoá dân gian (giải mã văn học dân gian từ các

mã văn hoá dân gian)

Phân thứ hai ~ Phụ lục: Nghiên cứu những trường hop cu thé O phan nay,

chúng tôi sử dụng một số kết quả nghiên cứu vân học dân gian của các thạc sĩ, nghiên cứu sinh do tác giá phản nghiên cứu lí thuyết hưởng dẫn, đi theo

hướng nghiên cứu thể nghiệm lí thuyết trên Các kết quả nghiên cứu được giới

thiệu trong phần hai này đều đã được các tác giả của các công trình đó đồng ý

để chúng tôi sử dụng trong chuyên luận này Vì thế, ngoài

tết người Việt của chúng tôi, phẫn thứ hai (Phụ lục) còn gồm các bài viết của các tác giả sau:

~ Giải mã biểu tượng Lanh trong dân ca dân tộc H'mông của Đặng Thị Oanh;

~ Giải mã truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô trong truyền thuyết

chọn đất đông đô của người Việt của Ngô Thị Diễm Hằng;

Trang 8

~ Giải mã các con số trong tục ngữ người Việt của Nguyễn Thị Thuỳ Dương;

~ Giải mã biểu tượng dòng sông trong bài ca tang lễ một số dân tộc uàng Bắc Bộ Việt Nam của Nguyễn Thị Minh

Những nghiên cứu trường hợp thường không theo một công thức chung,

lẻ tải cụ thể sẽ đòi hỏi những thao tác và phương pháp chuyên biệt Tuy

nhiên, lí thuyết chung của các nghiên cứu đẻu là nghiên cứu văn học dân gian

dựa vào các mã văn hoá dân gian và đáp số cuối cùng sẽ là các biểu tượng văn

hoá được cố gắng khai thác đến tận cùng trong các tác phẩm văn học dân gian

Trong công trình còn có một số ảnh tư liệu minh hoạ do chính tác giả chụp

1rong những lần đi thực tế

Trong quá trình biên soạn và giảng dạy chuyên luận này, chúng tôi đã nhận

được nhiều ý kiến trao đổi của các chuyên gia văn học dân gian, các đồng

nghiệp và học sinh thân yêu của tôi Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận

được nhiều ý kiến đóng góp hơn nữa để lần tái bản sách được hoàn thiện hơn

TÁC GIÁ

Trang 9

Phần thứ nhất

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT

người ta cảng cố gắng quy chuẩn hoá việc nghiên cúu đó Cho đến nay, nghiên

cứu văn học dân gian chú yếu đi theo ba hướng,

Hướng thứ nhất nghiên cứu văn học đân gian theo hướng nghiên cứu văn học, tức là coi van hoc dan gian như một bộ phân của văn học (bộ phận văn hoc

truyền miệng, ra đời từ sớm và tổn tại chủ yếu trong đân gian), chủ yếu khai

thác văn học dân gian ở phương diện thi pháp văn học, Người ta đi tim vé dep

của câu chữ, từ ngữ, kết cấu, hình tượng của các tác phẩm và thể loại văn học

dân gian như khai thác những tác phẩm văn học thực thụ Đi theo hướng nghiên cứu này, trên thế giới có một số nhà nghiên cứu tiêu biểu, trong đỏ có

nhà cổ tích học Nga IA Propp với tác phẩm Hình thái học của truyệ

tích!.N.1, Crapxop với tác pham Thi phap cdc bai dan ca trit tinh Nga’ O Viet

Nam, cuốn sách viết theo hướng này vào loại sớm nhất là Sơ bỏ tìm hiểu những

và Hà Minh Đức, in Hin dau năm 1969 Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính với

cuốn Thi pháp ca đao in nam 1992 là chuyên luận về ca đao trung thành với

hướng nghiên cứu này Trước và sau ba cuốn sách cúa các tác giả trên còn có rất nhiều bài báo hoặc tham luận trong hội thảo khoa học di theo hướng này như

Về giá trị câu mở đâu trong thơ cá dân gián của Đình Gia Khánh (1966): Tức ngữc tới cầu thơ lục bát trong ca đao cân ca của Trần Đức Các (19739; Về một pluương,

ia cá dao tình yêu của Trần Thi An (1990)

dân gian gần như được đồng nhất với các loại người và các vụ việc trong xã hội

Từ đó việc khai thác các tác phẩm cũng thường theo hướng khai thác tính giai

cấp, các thành phần xã hội, các loại người trong xã hội được thế hiện qua văn học

" Vien Văn hoá nghệ thuật đã dịch sang tiểng Việt năm 2004

*Tvieh theo Nguyén Xuan Kinh, Thi php ca dao, NXB KUIXUL, 1, 1992, 44.28,

Trang 10

dân gian Chẳng hạn, hình tượng người nông dân trong truyện cố tích; tính!

chiến đấu của văn học dân gian; nỗi khổ và phẩm chất của người phụ nữ trong,

xã hội phong kiến Trước và sau Cách mạng tháng Tám nãm 1945 thường có

nhiều tác phẩm được nghiên cứu theo hướng này như 7ieo tục ngữ phong (k0,

xét rễ sự sinh hoạt của phút nữ nước fa' của Phan Khôi; Sức sống cúa dlân Việt

Nam trong ca dao uà cố tích” của Nguyễn Dinh Thi; Tinh thân dân tộc qua các truyền thuyết lịch sứ' của Phan Trần; Tư tưởng clủi yếu cúa người Việt thời cổ qua những truyện đứng đầu trong thân thoại uà truyền thuyết của Tâm Vụ,

Mot vai hình ảnh tễ người phụ nữ mới trong ca đao" của Văn Thiên

Hướng thú ba tiếp cận văn học dân gian từ góc độ văn hoá dân gian Các nhà nghiên cứu nhìn nhận văn học đân gian như một bộ phận của văn hoá

phí vật thể trong văn hoá dân gian Từ đó những yếu tố của văn học dân gian

đã được xem xét, phân tích như nơi ấn tàng, sự hoá thân của văn hoá dân gian

trong đó Người ta tìm thấy những quan niệm văn hoá, những yếu tố văn hoá,

những đặc điểm phong tục tập quán cộng đồng, những sự thể hiện đặc sắc

vân hoá trong mỗi thể loại hoặc tác phẩm van hoc dân gian E.M Meletinxki viết Nhân nật trong truyện cố tích hoang đường - xuất xứ cúa hình tượng;

viết Hình tượng rắn từ thân thoại đến truyện cổ tích” Càng ngày giới nghiên

cứu càng quan tâm tìm hiểu những vấn dễ lí thuyết vân hoá, nghiên cứu và khai thác các nên vàn hoá khác nhau thông qua việc nghiên cứu bản chất văn hoá, giao lưu văn hoá, đối thoại văn hoá, biểu tượng vân hoá và những thể

hiện của các yếu tổ văn hoá ấy qua kho tăng văn học dân gian đỏ sộ cửa các

cong đồng dân tộc khác nhau Chúng tôi cũng muốn giới thiệu mối quan hệ

văn học dân gian ~ văn hoá đân gian và hướng tiếp cận vân hoá của văn học dân gian qua công trình nghiên cứu của mình Hướng nghiên cứu của chúng tôi đi từ xa đến gắn, từ rộng đến hẹp, từ khái quát dẫn đến cụ thể hơn qua bây

chương của phần nghiên cúu này

Trang 11

(cael tt

KHÁI NIỆM VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN

1 Khải niệm văn hoá

Hiện nay, trên thế giới có đến gần 500 định nghĩa khác nhau về văn ho:

Ở Việt Nam, nghiên cứu văn hoá như một môn khoa học được bất đầu vào nữa

đầu thế kỉ XX Những người mở đầu có thể kế đến lã nhà nghiên cứu Dào Duy Anh với Vier Nain van hoá sử cương (1938), Nguyễn Văn Huyện với Văn minh Việt Nai

(1939, bằng tiếng Pháp, 1995 dịch sang tiếng ViệU, từ đó vấn để nghiên cứu văn

hoá học và văn hoá Việt Nam cảng được quan tâm và có nhiễu công trình hơn Đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà nghiền cứu đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu một cách khá toàn diện những vấn để văn hoá, từ xác định khái niệm văn hoá đến cấu trúc văn hoá, loại hình và biếu tượng văn hoá

“Trần Ngọc Thêm viết Cơ sở rấn hoá Việt Nam nâm 1995, 1 Vượng (chủ biên) viết Cơ sé van hod Vier Nam năm 1997, Doàn Văn Chúc v

năm 1997, Phan Ngọc viết Bán sắc uãn hoá Việt Nam nâm 1998,

viết Cơ sở van hod Viet Nam nam 1999, Nguyễn Dang Duy viét Van hod hoe Việt Nam năm 2002, Nguyễn San và Phan Dãng viết Giáo trình Cơ sở tàn hoá Việt Nam nam 2002 Nhiều ý kiến khác nhau và phong phú đó khiến cho văn boá hiện nay đang là một đối tượng phức tạp và khó nấm bất, cảng nhiều người bần cảng ít có tiếng nói chung

Dựa vào ý kiến của các nhà văn hoá và sự nhận thức cứa mình về đối tượng

về văn hoá như sau: Văn hod là phúc thế

nảy, chúng tôi tạm nều một định nghĩ

các giá tri vat chat, tink than do con người tác động đến tự nhiên, xã hội bà bán

thân trong quá trình lịch sứ đài lâu mà tạo nến, Nô tích tự tà thể hiện điện mạo,

bản sắc riêng của mỗi cộng đồng

Như vậy, văn hoá trước hết là giá trị và tổng hoà cúa các giá tri đo con người

ao ra Khi con người tác động đến thế giới tự nhiên, họ sẽ tạo ra các giá trị chat nhur an, mac, ở Từ chỗ “ăn lông ở lỗ”, “ân sống nuốt tươi” khong khác lắm

so với các loài động vật, con người đã chuyển dẫn đến thể giới văn mình hon han

khát n là sự thay thế sản bắt, hái lượm những thức

ân cô sẵn trong tự nhiên bằng trông trọt, chân nuôi Biến tự nhiên hoang sơ thành tự nhiên phục vụ cho mục dích của con người Nền nông nghiệp ra dời

Trang 12

chính là thành quả của sự tác động to lớn và có mục dích của loài người vào tự nhiên để cái tạo cuộc sống văn mình hơn cho mình Cho nên, trong tiếng Anh, chữ nông nghiệp là agriculture có một bộ phận chính là chữ văn hoá (culture)

Một bước tiến vĩ đại của con người được xác dịnh khi họ tìm ra lửa và biết sử

dụng lứa Điều đó khiển con người là động vật duy nhất biết an thức án chín, biết dùng lửa sưới ẩm, biết khống chế lửa và giữ lửa So sảnh việc tìm ra lứa với việc chế tạo ra máy hơi nước, Ph, Angghen da khang dink: "Sở dĩ cái trước quan trọng hơn cái sau vì nó có ý nghĩa giải phóng loài ngườ

loài người khống chế được sức tự nhiên, do đó m ấn thế giới động

ật"!, Từ đó chất lượng sống của con người dược nâng lên rõ rệt, con người không chỉ có nhu cầu ăn để tôn tại mã bất đâu có như cầu ăn để thưởng thức

Họ đã biết dùng các sản phẩm vật nuôi, cây trồng cùng với lửa để chế biến ra các món ăn và ngày càng hoàn thiện chúng trong quá trình thưởng thức, Ấn từ

hoạt động sinh tổn đã trở thành hoạt động văn hoá Không dừng ở đó, con

người còn biết sử dụng những thứ có sẵn trong thể giới tự nhiên, chế tác nó để

phục vụ cho cuộc sống của mình 'Từ chỗ ở hang lạnh lêo và ẩm thấp hoặc treo

mình trên những chạc cây, con người biết gác cành cây làm sản, lấy lá rừng ken

lai để che mưa nắng, từ đó mà hình thành những cái nhà sân thô sơ đầu tiên

Ho tién ra khỏi hang sâu, tự tin đón ánh mật trời và giông bảo Nhiều loài động vat trong thể giới tự nhiên cũng có tổ và biết làm tổ như chim, ong, chuột, cáo, hùm nhưng chúng lâm theo bán năng và muôn đời không có gì sáng tạo, thì con người từ khi sáng tạo cái nhà (tố) dẫu tiên của mình đến nay dã luôn luôn

thay đối Cũng là những chất liệu lấy từ tự nhiên như: cây, tre, lá, đất, đá những kiểu đáng, chất liệu của những "cái tổ" của con người đã biến đối rất nhiều để thoá mãn nhu câu sống và nhụ cầu thẩm mĩ của họ Bên cạnh đó, thể

giới thời trang biện dại chính là sự phát triển cao nhất của nhu cẩu vẻ cái mặc

của con người, Từ chỗ khoá thân, con người biết xấu hổ vì hành vị trần trụi của

mình, biết dùng vỏ cây, lá cây che thân, đến chỗ chế tác ra các loại vải sợi từ

bong, gai, trồng đâu nuôi tầm dệt thành vải mặc tô ràng đó là những gì án

hoá, những thành quá văn hoá vĩ đại va thiêng liễng mà loài người tác động đến

“Tuy nhiên, cẳn phân định giữa ăn, mặc, ở như bản năng của con người với

ăn, mậc, ở như những giá trị văn hoá Dông vật không có văn hoá nhưng không,

vì thế mã nó không ăn ở Trước khi có hoạt đông văn hoá thì con người như muôn loài động vật khác cũng phải ăn, ở Trước hết đó là những như cầu mang

° Trích theo Cosven, Lich ứ bản hod nguyen thuy, N)

XW Văn hoá, I1, 1958, tr 3011

Trang 13

tính bản năng của con người Nhưng khác với những loại động vật khác, dưới sự tác động vào thế giới tự nhiên xung quanh, con người biết biển cái bản nâng thành văn hoá, biến cái phẩn “con” như muôn loài đông vật khác thành phẩn

“người” Từ khi có xã hôi loài người, những giá trị vân hoá vật chất mã con

người sáng tạo ra có thể nói là vô tận và cảng ngày càng phát triển cao hơn

tạo ra các giá trị vật chất liên quan đến

Con người tác động đến tự nhi

các hoạt đông: ấn, mặc, ở, di lai

\ giá trí tính thần xã bội như: tôn

Con người tác đông đến xã hội, tạo ra

giáo, đạo đức, triết học, văn học nghệ thuật

Con người

chuẩn mực xã hội) như: Chân (giá trị chân thực) -> thật

—> tốt; Mĩ (giá trị nhân văn) —> đẹp

c động đến bản thân mình, tạo ra giá trị nhân bản (theo các

Thiện (giá trị nhân đạo)

Có thể cùng sống trong một xã hội, cùng chịu tác động của những môi trường xã hội như nhau, nhưng có người bị chìm đấm, vùi lấp, sa ngả: có người vươn lên bằng nghị lực, thể hiện cái thiện và cái đẹp trong tâm hôn

Đó chính là sự chọn lựa, ứng xử khác nhau với môi trường xã hội Khi nói đến những giá trí, chúng tôi chỉ lựa chọn những ứng xử theo xu hướng của cái đẹp, xu hướng văn hoá

* Van hod (culture) va van minh (civilization): Thoat Gen van minh duoc

hiểu như là dối lập với đã man, hoang đã, man ro (barbaric) Nó có gốc Latinh

Văn minh trước hết là khái niệm chỉ hành đông khai hoá, xoá bỏ mông muội, lạc hậu, man rợ Sau đó nó dùng để chỉ trạng thái xã hội phát triển, tiến

bộ Từ đó, ấn mình là khái niệm chú yếu dùng đế chí trình độ phát triển, có liên quan tới giá trị tật chất, tối kĩ thuật làm chủ thế giới Còn văn hoá là khái niệm bao trùm hơn, gồm cá giá trị vật chất và tỉnh thần có tính truyền thống, tương, đối ổn định.-

Trang 14

(những phát mính vũ khí hoá học, vũ khí côn trùng, thục phẩm biến đối gien,

những phát minh đẩy thế giới loài người nhanh chóng đến tận điệ

Khái niệm văn hiến thường được hiểu theo nghĩa là

nh ở các giá trị phi vật thể (văn chương,

* Văn hoá và văn hiết

văn hoá, và được nhấn mạnh ớ

kiến trúc, hiện vật văn hoá)

* Van hoá dân gian: Tương đương với thuật ngữ quốc tế là folklore Dây là

một thuật ngữ có nghĩa ghép (folk: nhân dân; lore: trí tuệ, trí khôn, trí thức) Văn hoa dan gian là bộ phận quan trọng của văn hoá, nó là kho trí thức, trí tuệ vó giá

nhân dân, nó là thứ văn hoá được tồn tại, lưu giữ và thực hành ở trong dân

ân: nhân dân; gian: khu vực, khoảng không gian)

Văn hoá dân gian là bộ phận uấn hod phi van ban, phi chink thong do quan chúng nhân đân súng tao, lieu giữ rà sử dụng trong quá trình lịch sứ dài lâu

Khái niệm folklore (văn hoá dân gian) thường được hiểu theo những cấp độ

rong hẹp khác nhau Rộng nhất là khái niệm bao gồm toàn bộ sáng tạo vật thể

và phi vật thể của nhân dân Chẳng hạn, trong văn hoá dân gian có nhiều bộ

động ~ đánh bắt, kiến trúc dân gian, hội hoạ dân gian, âm nhạc đân gian, văn

học dân gian, tín ngưỡng và phong tục tập quần địa phương, nghỉ lễ và lễ hội cố

truyền Khái niệm hẹp hơn tương đương với khái niệm văn nghệ dân gian, chỉ bao gồm các loại hình sáng tạo văn hoá phí vật thể dân gian như âm nhạc dân

gian, hội hoạ đân gian, văn học dân gian, lễ hội dân gian

cúa đời nì diện, Trong bất kì hiện tượng nào

sống cũng có yếu tố văn hoá hay khía cạnh vấn hoá Vì vậy, trong công

trình của các nhà nghiên cứu văn hoá mà chúng tôi tiếp cận được, họ nêu ra

khá nhiều đặc trưng khác nhau của văn hoá Do quan niệm khác nhau mà sự

lựa chọn và phân tích các đặc trưng văn hoá của họ cũng khác nhau và không, thống nhất Công trình này cúa chúng tôi không phải là công trình nghiên cứu lí

văn hoá mà là công trình dựa vào các nghiên cứu lí thuyết đã có sẵn

để đi sâu vào nghiên cứu văn học dân gian Vị vậy, chúng tôi chỉ nêu sơ lược

Trang 15

những vấn để lí thuyết mà mình đã lựa chọn có liên quan đến nghiên cúu nây

để tránh sa đã vào một vấn để không thuộc trọng tâm nghiên cứu cúa chúng tôi 'Theo chúng tôi, văn hoá có một số đặc trưng nổi bật sau:

2.1 Tính truyền thống của văn hoá

n hoá không phải là một cái gì cụ thể, không có hình khối, không thể sở

mó nhưng văn hoá lại có mật ở mọi nơi, không có hoạt động nào mã không có mặt văn hoá Bói vì văn hoá chính là cách lựa chọn, cách ứng xứ cũa con người trong quá trình sống, Nó được hình thành trong lịch sử, dưới tác động của môi trưởng tự nhiên (điều kiện địa lí, địa hình), môi trường xã hội (điều kiện lịch sứ, điều kiện sống, tổ chức xã hội ) mà tạo thành Vì vậy, vân hoá mang tính ổn định tương đối và tính lịch sử (nh quá trình), làm thành một truyền thống riêng Một hiện tượng mới nảy sinh, chưa qua thử thách, chưa được thừa nhận

và chọn lọc thì chưa thể được xem là hiện tương văn hoá Ngược lại, những gì đã

được cộng đồng thừa nhận, gìn giữ trong thời gian dài, đã trở thành thuộc tính

sấu rễ bên gốc trong công đồng như một thành tố văn hoá, truyền thống văn

hoá thì thật khó có thể xoá bó hay thay đối Truyền thống văn hoá cũng là cải

mã người ta dễ so sánh, dễ nhận ra khi tiếp xúc va giao lưu giữa các cộng đồng

Các giá trị văn hoá được bảo lưu và chuyển giao qua các thế hệ làm thành

truyền thống Nói đến tính truyền thống cũng có nghĩa nhấn mạnh mật ốn định

tương đối của văn hoá Vĩ dụ: Người Việt Nam trọng tình cám hơn lí trí, nặng ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân, tôn trọng gia đình, dòng họ, tôn trọng người cao tuổi Đồ là những truyền thống văn hoá của người Việt Nam

2.2 Tính nhân bản của văn hoá

Văn hoá thường được coi là tiêu chuẩn để phân biệt con người và động vật,

à cái chỉ có ở con người, là những giá tị do con người tạo ra Chí con người mới

có văn hoá, các loài động vật khác dù có cao cấp đến dâu cũng hành động theo bản năng sinh tôn; theo động hình chứ không sáng tạo vân hoá Văn hoá không,

có tính di truyền (tức không phái là một đặc tính sinh học), mà chỉ có tính lưu

truyễn (tức đặc tính xã hội), nó là sự chuyển giao tự nhiên từ thế hệ này tới thế

hệ khác qua con dường học tập và thấnunhuân Con ong xây tố rất khéo, nhưng

cái tố của loài ong xưa nay vẫn thế, không thay đổi Côn con người từ khi biết

xây nhà đến nay thì cách xây dựng đã khác xưa rất nhiều, bởi con người gửi gắm vào căn nhà của mình rất nhiều ¥.tudng và năng lục sáng tạo được tích luỹ qua các thế hệ mà con ong không có

Trang 16

n, chắc chấn họ tạo ra thiên nhiên thứ

ên nhiên không còn hoang mộc mà đã là thiên nhiên được gọt tửa, uốn nấn theo những mục đích mà con người đặt ra ngay từ trước khi tác động vào nó Thiên nhiên đó mang tính ý thức Cái cây mọc hoang dã là một

yếu tố của tự nhiên, khi con người mang cây đó vẻ trồng, họ nghĩ trước xem

mình trồng nó ở đâu, trồng để làm gì, trồng như thế nào cá mọi hoạt dộng

đó đều có tính mục đích, có ý thức của con người tác động vào Cái cây do con

người trồng đã không hoàn toàn giống cái cây tự nhiên hoang dã nữa

ä hội nhiều hay ít, mạnh hay yếu khác nhau, đặc biệt là những người có vai trò thống trị xã hội Vì vậy, xã hội phức tạp và vẻ cơ bản có các hình thái khác nhau

từ thấp lên cao (5 hình thái xã hội) Chí có con người mới cai tạo, phát triển xã hội theo những hình thức khác nhau như vậy

2.3 Tính thẩm mĩ của văn hoá

theo quy luật của cái đẹp (quy luật thẩm mĩ) Như vậy, không phải tất cả mọi sự biển đối đều là văn hoá, đều mang đặc trưng văn hoá Ngay khi một sản phẩm được tạo ra, nó chưa phải là văn hoá bởi nó chưa qua thử thách, chưa được chấp nhận Xu hướng tiếp nhận của con người bao giờ cũng hướng tới cái đẹp, cái hoàn thiện Vi vậy quy luật cúa văn hoá luôn là sự sáng tạo mang tính nghệ thuật, cái đó phải được lựa chọn và thẩm định qua thờï gian Và sau sự chọn lựa một cách tự nhiên đó, cái gì còn lại luôn mang tính văn hoá, luôn là cái đẹp Chẳng hạn, khi nói "ứng xử có văn hoá" có nghĩa đã bao hàm cái đẹp trong lối ứng xử đó

Trong thế giới vô cùng phong phú của chúng ta, dân tộc nào cũng có những;

đặc điểm ấm thực khác nhau, tạo nên một tiếng nói riêng của văn hoá ẩm thực

dân tộc Nhưng không phải bất cứ món ăn đổ uống nào cũng được coi như một

tính phố biến, là món ân quen thuộc với đa số dân chúng của công đồng dân

tộc đó; đồng thời phái đạt đến trình độ nghệ thuật của sự chế biến, bày biện và thưởng thức; thể hiện đặc điểm thẩm mĩ chung của dân tộc và đặc điểm am

Trang 17

Hiện nay, hẳu như cả thể giới dêu uống nước trả, nhưng coi uổng trả như một phương tiện giái khát, thod man nhú cảu sinh học của con người sẻ khả với tống trả như một nghệ thuật ấm thực, tạo ra nét đẹp văn hoá trong thướng

thúc nước trà Phần lớn mọi người trên thế giới đều mới chỉ dừng ở việc sứ dụng

nước trả như phương tiện giải khát, côn người Nhật Bán coi trả dạo như một động mang ý nghĩa triết học văn hoá của họ, một hình thức nghệ thuật

mì di dưỡng tinh than Nhat Ban

y nang những giá trị bổn vững, những

u tranh dựng nước và giữ nước,

it bién ma

Bán sắc văn hoá đân tộc chính vì và

tỉnh hoa được vun đấp qua hàng ngân

Đán sắc vân hoá dân tộc không phải là cái ngưng đọng, nhất thành bí

luôn phát triển một cách biện chúng theo xu hướng tích luỹ, thu nạp những, diễu tốt đẹp, tiến bộ, sa thái cái xẩu, cái lạc hau không phù họp với thoi ¢

chỉ thể hiện qua văn hoá tính thân của mỗi công đồng mà côn thể hiện 1 ật chất (ăn, mặc, ở, di lại Tuy nhiên, những biểu hiện cứa văn hoá vật chất và vấn hoá tỉnh thắn của một cộng

đồng thường nhất quần; vân hoá vật chất, điều kiện sống, hoàn cảnh xã hội

chính lã cội nguồn, là chỗ dựa để vn ho ăn hình thành và ốn định diện nạo, Từ đó, văn hoá công đồng thể hiện bản sắc riêng

đồng chỉ được biểu hiện rõ răng khi dat no

trong tương quan số sánh với văn hoá cộng đồng khác

tốt nhất dể nhận ra bản sắc mỗi cộng đồng Khi so sánh, người ta có thể dựa

y cá những cái giống nhau giữa cả hai

khó chỉ ra ác vấn hoá, nhưng nhiều

n toc ong đỏ Khi đặt những món ăn

tạ dân tộc khác, tạ sẽ nhận ra nét khái

( THU ViEN DAT HOC THU Đô HÀ Nội

Chẳng hạn, trong từng món

tón ấn của một cộng dong sé cho

trống của cong đồng dân tốc, bắn sắc

Trang 18

3 Phân loại các hiện tượng văn hoá - Các thành tố văn hoá

3.1 Phân loại văn hoá

n hoá thành hai linh vực: văn hoá vật chất

và vàn hoá tỉnh thắn, Nhưng ưong thực tế rất khó phân định một số yếu tố chỉ 1a van hod vat chất hoặc chí lã văn hoá tinh thân Chẳng hạn, đình chữa gần chất với tín ngướng thì nó là van hod tính thắn hay vật chất?

Trước đây người ta thường chia và

Để tạo sự phân định rõ ràng hơn khi nghiên cứu các bí

hiện nay người tạ thường chía vân hoá làm hai loại: vân hoá

culture) va vain hod phi vat thé (intangible culture)

ä những yếu tố văn hoá mà con người có thế thuông thức được qua các xúc giác Trong đó có kiển trúc, ẩm thục, trang phục, y học dân gian, thú công mĩ nghề Luật Di sản văn hoá viết: "Dĩ sân vân hoá vật thể là sản phẩm vật chất cỏ giả trị lịch sứ, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sứ~ văn hoá, danh lam thắng cảnh, dĩ vật, báo vật quốc gia

Văn hoá vật thể được quan niệm

Van hoa phi vat thể là những yếu tổ

thức hoặc thướng thức được bằng cám giác Chắng hạn: văn ho

hoa, tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Di sản vận hoá Việt Nai cũng đã nề

sản phẩm tỉnh thản có giá trị lịch sứ, văn ho;

nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình điền vị

thức luu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chủ viết, tác phẩm v

nghệ thuật, khoa học ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân giản, lối sống, nếp

sống, lễ hội, bí quy é nghề thú công truyền thống; trí thức về y được học

có truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tóc và các trí

thức dân gian khác"Ẻ,

khoa học, được lưu giữ bằng trí

Giữa văn hoá vật th văn hoá phi vat thé ¢

chỉ có sự phân định tương đối, nhiều khi chúng còn n nhấn, Theo

chúng tôi, văn hoá vật thể thường gần bô với các phương thức khác nhau trong

Hoạt động ấn, mặc, ở, đi lại Ching hạn: kiến trúc, tạo hình, trang phục, y học

Trang 19

Van hoa phi vật thể thường liên quan đến các phương diện khác nhau của

nh ngôn ngữ; phòng tục tập quần nhức ngôn ngữ (ngôn từ nghệ

1 dién (sân khẩu, trỏ diễn), dường nét, màu sắc (hội

tư duy, quản nị

thuật (văn học dân giản);

vật thể, chúng như li mặt của một thể thống nhất, mã có lúc ở chỗ này hay

chỗ khác, mặt này hay mặt kia của sư vật bộc lộ nói trội hơn Dưới cái vỏ vật

nồi sản phẩm vấn hoá đều chứa dựng những năng lực sáng tạo, kết

nhân sinh quan

4 Mối quan hệ giữa văn hoá, văn hoá dân gian và văn học dẫn gian

Nhìn từ góc độ văn hoá thì văn hoá dân gian là những giá trị vật thể và phí

ng tạo nên từ thời tiễn sứ và

niệm bao trùm hơn, trong đó bao gồm cá văn hoá đân giản,

a vận hoá báo gồm cá vận hoá dân gian trong đó,

ử quốc tế ki Folklore voi nghĩa rộng nhất của

ân hoá phí vật thể, Văn hoá

Văn hoá dân giản có th

nó, Khái niềm folklore bao gôm vận hoá vị

phí vật thể còn tương đương với khái niệm vấn nghệ dân giản (trong dó có vận

gian, âm nhc dân gian, lễ hỏi truyền thống)

Van hoe din gia

ngôn từ làm phương tiện chú yếu để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và thể bien

nhân dân, Chúng tôi nhấn mạnh yếu tố ngôn từ

ấu chứ không phải phương tiện duy nhất trong sáng tạo

an sứ dụng ngôn từ truyền miệng, đồng

hình tượng trở nên điền

có tính độc lập vừa có quan hệ tường hồ với những bộ pÌ

quan niệm về nhi

nhì phương tiện chủ ý

hình tượng đân gian, bói van hoe dan g

thời nó cũng sử dụng âm diệu, diệu bộ

Trang 20

làm thành một đặc dân gian Việt Nam

dân gian như nghệ thuật tạo hình, sân khẩu, âm nhạc

duy nhất, phương tiên độc lập trong thể hiện tư tướng thẩm mĩ của tác giả, người xem có thể tự do tướng tượng và cảm nhận ý nghĩa của tác phẩm đó; trong khi hội hoa dân gian thường kèm theo những chú giải bằng ngôn từ khiến người ta không thể hiểu khác dĩ tư tưởng của tác giá Cách phối hợp ngôn từ và

đó, Chẳng hạn, cánh mot chang trai dang gio tay hái dừa ở trên cây và cô gái

dang nang cao vat vay chờ húng quá dừa rơi xuống trong bức tranh ÚHững dia

không thể hiểu sai ý nghĩa tác phất

lân gian: “Khen a

người xem cho dù võ tình nh mot de

Do tính chị

can diệu bô,

thể hiện Hội hoa cần ngôn từ, văn học

động tác để biểu hiện Những yếu tố cúa văn hoá dân gian thường mang tính quan niệm, mang truyền thống văn hoá cộng đồng và dược thể hiện rũ quái các

loại hình van hoa cu thé Vi vay, vin hoe đân gian, hội hoa din gi trúc

dân gian, sân khẩu và âm nhạc dân gị ng tính quan niêm và truyền

Nó di vào kiến trúc (chân để các

hội hoa đân gian (vẽ người trong mọi tư thể mật đều phải tròn, dù bán mật có

quay nghiêng thì khuôn mặt vẫn phái giữ hình tròn, các khung tranh phải

J, di vào lễ hội truyền thống (người tt cúng và rước bảnh chưng - vuôn,

y= (On, Nhu những biếu hiện cứa vũ trụ, trời đất theo quan niệm cổ), dĩ

tượng tron = vuông của bánh bất dẫu từ quan niềm vũ trụ, sau là sự tôn kinh tố

tiên), di_vao sinh hoat (tron ~ vuông biểu tượng cho một vòng trời đất, mang, quan niệm về sự trọn vẹn Chúc “mẹ trồn, con vuông” là chúc cho sự sinh nở trọn vẹn; tròn = vuông cũng tượng trưng cho sự hoàn háo "lo sao cho được

vuông trôn thi lo” )

Trang 21

Cột đền Cửa Ông~ Quảng Ninh

thành tố của văn hoá dãn gian

5 Văn học dân gian - Mộ

n với tư cách là nghệ thuật ngôn từ, là một trong hai bộ

n tốc, Tuy nhiên không chỉ có thế, văn học đân gian côn là phan khác nhau cửa văn hoá dân giản, nó vừa có tính độc

a có nhiều mối quan hệ phong phú, da dạng và tỉnh tế với

ian Trong những mối quan hệ đó, vân

những bộ phận khác của văn hoá dần

học dân gian có cơ hội để bộc lộ sinh dong nh

chúng tôi muốn trình bây trong phan nay

thé Khi ta noi van hoc dan gian la sur tự ÿ tluíc của pân lhoá thì chính là ta đã đã

văn học dân gian trong mối quan hệ với các thành tố khác trong tổng thể van

hoá dân giản Trong đó, các quan niệm văn hoá, các phương diện khác nhau

Trang 22

của văn hoá như nghỉ lễ = nghỉ thức, tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục - tập

quản đã được thẩm thị ấn, thông quá

sử tự ÿ thức hoặc võ thức Hội hoạ hiện đại đem đến cho người xern một thể giới

tự cám rộng lớn, người ta có thể mặc sức để cho trí tướng tượng bay bồng và sự

liên tướng tung hoành Song hội hoạ dân gian thường nhờ cây đến ngôn ngữ và

hoa sĩ dân gi

đường như sợ rằng người xem sẽ cảm nhận sai lệch ý đỏ sáng,

thường dùng thêm các câu ca đao, tục ngữ để làm rõ ý tướng,

xem không bao giờ có thể hiểu sai Trong bức tranh IXánh ghen có hình ánh hai

người phụ nữ dang hằm hằm xông vào nhau, một người chỉ mặc cái yếm, giơ cao chiếc kéo, còn người kia c‹ in, duge một người đân ông ôm lấy hỗ trợ,

mat vênh lên, tay tự túm lọn tóc mình chìa ra với vé thách thức Hình ảnh ấy tự

nó đã nói lên mức độ nóng cửa cánh dánh ghen và sự che chớ cúa ông chủng với người vợ lẽ, Nhưng tác giả dân gian vẫn không quên chưa thêm một cảu hoi thoi bớt giận làm lành/ Chỉ diều sinh sự nhục mình nhục ta” Bức tranh Ming dừa, Dán cưới chuột, Gà đầu cũng có cùng mỗi quan hệ đó giữa ngôn

cũng có những mối quan hệ rất mật thiết Ca dao xưa chính là những câu hát lân gian, những câu hát đó được hát lên đã bao gồm cá phản lời và nhạc, Mặc

dù mối quan hệ giữa lời và nhạc , một lời có thể hát nhiều

gian không bao giờ sáng tác thơ riêng và phố nhạc cho thơ cả Phần thơ và nhạc

lữa đồng dao va tra chơi, g

mối quan hệ tương hỗ ấy Văn học dân gian với bản chất ngôn ny}

‘an hoc dan gian từ lâu đã được coi vừa là

thuật, nó có chúc năng vân ho: qghệ thuật, vừa không phái nghệ

con chứa đựng trong đó những đấu ấn văn hoá, những quan niệm văn hoá ~

nghệ thuật, những tín ngưỡng, tồn giáo, phong tục tập quần của cộng đồng

Nam không phái là nước duy nhất có tục ấu, nhưng là nước duy nhất coi

hôn giữa hai gia đình, hai dòng họ; trả trầu là từ hôn Đó chính là ngôn ngữ

Trang 23

không lời nhờ biểu tượng văn hoá là „uống trảu làm vật trung gian Biểu tượng vân hoá đồ thẩm thấu vào văn học dân gian, tạo nên bộ ba hình tượng anh em,

vợ chồng gắn bó, trong sáng, thuý chung cho đến chết (truyện Sự tích Trằu, Cưuc

tà Võ, dị vào ca đao với sự bộc lộ tình ÿ kín đáo mà duyên đảng, thế hiện sự

ràng buộc bên chặt gì ng trắu/ Miệng ân môi đó

dạ sẫu tương tạ”, “Miếng trâu ân ngọt như đướng/ Đã an lấy của phải thương lấy người”, "Miếng trầu ân nặng bằng chỉ Ấn thì đã vậy biết lấy gì trá ơn”; đi vào tục ngữ với sự phán quyết đanh thép của tập tục “Miếng tru nên dâu nhà người”, "Miếng trâu là dầu câu chuyện” Nếu chỉ nhìn nhân vân học dân gia

ỡi góc độ nghệ thuật ngón từ là đã tước bó đi một phần hết sức quan trọng và tấp dẫn của vân học dân gian

Văn học nói chưng có chức năng thực hành nhưng chỉ văn học dân gian mới có chức năng thực hành trực tiếp, chỉ văn học dân giản mới tham giả như một bộ phận không tách rời các sinh hoạt mọi mặt của nhân dân: hò vỏ động, đồng dạo với trò chơi, hát ru với ru trẻ ngủ, các loại dân ca với sinh hoy

hội hè, mo Mường với tục tiên đưa người chết vẻ thể giới bên kia, then với các nghỉ lễ quan trọng của người Tây, người Thái

sinh động, nhiều vẻ trong các thể loại văn học dân gian, từ đó gần với phong tục

tập quán liên quan đến tự nhiên hay xã hỏi Thái độ tôn sùng tự nhiên và vật tố

là thái dộ phố biến cúa cư dân ở buối đầu bước vào thời dại văn mình nông,

nghiệp, Họ quan niệm "vạn vật hữu linh”, quan niệm đô được thẩm thấu vào

thần thoại qua những câu chuyện vẻ các thân tự nhiên và thế giới thản lĩnh

phong phú Đó chính là cơ sở hình thành tôtem giáo (bái vật giáo) và lại được cụ

thể hoá qua phong tục thờ cúng các thân nhu than dat, than nước, thắn cây,

thần núi, thân mặt trời, t

n nhiên và trung thành các tín hiệu văn hoá, như một

g bạn: tục thờ lửa, thở cũng vưa Bếp dược lưu giữ rất

nơi lưu giữ một cách Ì

bao tang van hoa Ch

khéo trong truyén Sut

ũng nhận ra được; chỉ tiết chiếc giả

phong tục hôn nhân cúa nhiều dân tộc Á -

fe dau rau ma khong có cải nhìn văn hoá không phải ai

trong kiéu truyén Tm Cam lien quan đến

0 miã Chiếc giấy, quả tặng của

Trang 24

1 hoa dac biét cú:

diy mã nó liên quan tối nghỉ lễ ưrỡi của cư dân nông nghiệp,

đất nước nắng lắm mưa nhiều Cũng vì

nước, rước nước, thờ mật trời hay chống mộ

\ụ lửa nước trên mảnh đất nhiệt đói nà y

Đựa vào các mã văn hoá dân gian để nghiên cứu vấn học dân gian tìm hiểu các quan niệm vã văn hoá được thể hiện trong vân học dân gian là một hướng nghiên cứu đặc trưng, mang lại nhiều hiệu quả Dó chính là hướng tiếp cân đặc trưng mà chuyên luận này muốn cung cấp

Trang 25

Chương II

VĂN HOÁ DÂN GIAN VÙNG

VA VAN HOA DAN GIAN VIỆT NAM

1 Văn hoa Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á cổ

Ngày từ thời cổ đại, vấn để khu vực và nghiên cứu khu vực đã được đật rd, Với sự chọn lọc tự nhiên, một nhóm người nào đó tự tìm cho mình một vùng

lụ, vùng đất đó phải hội đũ những nhụ câu cần thiết tối thiếu như:

trường tự nhiền (nguồn nước, đất đái trồng trọt, khí hậu ), môi trường xã

với những công đồng xung quanh, những tương đồng hay khác

Những nghiên cứu khu vực

đất, sự phân bố cũa các nên

sống = không; gian xã hội của các e

nghiên cứu những bình diện khác nhau của khu vục, bất đấu từ điều kiện dịa lí tự

~ lịch sứ: địa = chính trị địa - kinh t

n hoá: dị

nhiên của khu vực đó:

Trong quá trình phát triển các công đồng và các khu vực, việc nghiên củu

khu vục ngày cảng dược đẩy mạnh vẻ cá chiều rộng và chiều nước trong cùng khu vực, các khu vực này với khu vục khác, toàn cẩu, từng đân tốc, từng vùng đễu trở thành mối quan tâm và dối tường nghiên cứu của ngàuh Khu vực học

Những nghiên cứu và hợp tác khu vực tại Việt Nam gần đây đã mang fa

nhiều thành tựu đáng kể Nó khiến cho Việt Nam tăng cường hiểu biết về khu

vực, tạo nhiều quan hệ tốt đựa trên sự hiếu biết lẫn nhau; các khu vục và các nước trong khu vực xích lại gần hàu hơn trong sự hợp tác và đối thoại

Chính vì vậy, nghiên cứu văn hoá khu vục chính là cái bắt dẫu, là nên tăng

để ta có cái nhìn bao quát hơn trước khí đí vào nghiên cứu vận hoá Việt Nam

Văn hoá Việt Nam sẽ thể hiện cái chung của vân hoá khu vực, đồng thời thế hiện rõ bản sắc của mình trong khu vục đó

Trang 26

vấn hoá dân gian khu tản vũng, Đã

Một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng cú

vục Đông Nam Á là nghiên cứu đặc điểi ụ

tượng nghiên cứu có tác dụng chỉ phối các đạc trưng khác nhau cửa từng khu

vực, từ do tác động tới các đặc điểm sinh hoạt văn hoá, xã hội, kinh tế của các dan

tộc, các nước trong: khu vục Khi nghiên cứu khu vực, người ta cũng rất quan tâm tới những đặc điểm riêng vẻ ngôn ngữ Mỗi khu vục cđêu có nhiều ngôn ngữ cũng:

tôn tại, giao thoa, ảnh hướng kin nhau, Nghiên cứu ngôn ngữ cũng là nghiên cứu

tư duy, kiếu tư duy của các công đồng, dân tộc, khu vực Tiếp sau là nghiên cứu

sinh hoạt văn hoá Ở mỗi khu vực đều có đặc diểm riêng, bán sắc riêng của sinh

hoạt vàn hoá khu vực trong tương quan với các khu vực khác, Nó được thé hiện ra

ở các phong tục tập quan, tin nị ngôn ngữ, lối sống Các nên vân hoá lại

thường có giao lưu ánh hưởng lấn nhau tạo nên sự phong phú, độc dão cho văn hoá khu vực và giúp các cộng đông gắn gũi nhau hơn, Tóm lại nghiên cứu kiru

vực là nghiên cứu điều kiên tự nhiên và môi trường sinh thái; hoàn cánh lịch sử;

trạng thái kinh tế: ngôn ngữ và dời sống văn hoá: thiết chế chính trị và hệ thống, pháp luật: sự biển dõi của cự dân và xã hồ

âu hoá hiện nay, nếu một quốc gia nào, một don vị nào,

một tổ chức lớn nhỏ nào chú trường độc lập tuyệt dối là tự cô lập mình và tiêu huý

sự phát triển Toàn câu hoá, khu vực hoá như một xu hướng giao lưu và hội nhập

vân hoá, nếu trong không gian giao lưu đó, người ta loại trừ hay không cản ch

đến mình, có nghĩa mình không có khả năng, không đú nâng lực tham gia Đật vấn

dé nghién cứu văn học dân gian Việt Nam trong van hoá dân gian không có nghĩa chỉ nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam mã còn phái đặt nó trong nghiên cứu hod khut vue Dong Nam Á cố, trong đồ cũ một ph

có như vậy mới tránh được

Đông Nam Á thì shot ein ĐôngN Ngân Á thối tiên sử gồm 1Ì nước eDông NHÀ

hiện nay và phía bắc gom cả miễn Hoa Nam của Trung Quốc từ bờ nan sóng Duong Tử trở xuống; phía nam gồm toàn bộ quần đảo Indônexia, Niu Ghinê,

phía đông và nam gồm cá một hị

Dai Loan, Philippin, Polinéxia, pt

Madaygitxea (chau Phi), Hawai (tlie

Trang 27

'Từ xa xưa, Đồng Nam Á duọc gọi tên lâ Indo-China (vùng đất giữa Ấn Độ

và Trung Quốc), hoặc Inđônôxia (đảo của Ấn Đội, Thực ra, Đông Nam Á là một khu vực tương đối độc lập, có dời sống văn hoá riêng khá phát triển, có đặc điểm địa vực riêng, có những đặc điểm làm ăn và sinh hoạt riêng mang, tính chất vũng, Trong dó, việc tréng hia nude va an com gao 6 Dong Nam

đã có từ sớm, có thế nói sớm nhất trong lịch sử trồng lúa nước trên thể giới

Nam 1952, một nhà nghiên cứu người Mĩ đã khẳng dịnh: áị nến,

van hoá nông nghiệp đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Dông Nam Ấ”” Khảo cổ

học cũng xác minh đặc điểm khác biệt của Dong Nam Á cổ trong lịch sử trồng lúa nước ở đây như sau: "Vết tích bữa com tiên sứ nấu với gạo từ lúa

mọc hoàng xưa nhất thế giới, 13.000 nâm trước được một nhóm kháo cố

Mĩ ~ Trung Hoa tim thay trong hang Diaotonghuan phía nam song Dương Từ

với diều kiện địa lí tự nhiên khác biệt và có truyền thống vận hoá nông

nghiệp lúa nước riêng,

Khu vuc Dong Nam A cố năm trong vùng nhiề

cơ bán là mùa khô và mùa mua Khí hậu nói chung nóng và

không rộng lắm nhưng đa dang, có cá rừng, biển, núi, dông bằng với hệ sinh

thái động thực vặt phong phú, da dạng, Sông suối nhiều, chẳng chịt, dải bo biển rộng khiển từ xa xưa nơi dây đã hình thành hai nên sản xuất cơ bản

nhất là ngư nghiệp và nông nghiệp, Diễu kiện địa lí này cũng đặc biệt thích

hợp với việc sản xuất nông nghiệp lúa nước Từ đó hình thành hai đặc trưng

giữa thể kỉ trước: “Nơi này quy tụ đú những diều kiện khác nhàu cần thiết về

chủ kì mũa mưa ẩm ướt và mùa khó tạnh ráo, sông nước tiện cho ví

cá, đất này là trung tâm điểm giao thương cá dưỡng biển lẫn dường bộ của

Trang 28

2 Đặc trưng văn hoá vùng Đông Nam Á

2.1 Trồng lúa nước, ăn cơm gạo

en dia li tu nl n nhur ten, ving Dong Nam A cổ được xá

chính là một trong chín trun; mì của thế giới thuần hoá cây hoang đại, có cây i, trồng sớn nhất Theo Lich sur Việt An — Tập 11971), tr 37: "Việt Nam và Đông

mm Á nói chúng là một trong những trung tâm phát sinh cây trồng của thế

\ hoá Hoà Bình, Bắc Sơn (dỗ đã biết nuôi chó,

ăn quả, cây có cú, rau, dạ n Ngọc Thêm, đây

ào khoáng thiên

nghề

Liúa nước (lúa gạo) k phẩm chính của nên nồng nghiệp Dông Nam A,

Người Dong Nam Á ăn cơm gạo và các sản phị am từ lúa gạo, các loại bánh Đằng gạo nếp, gạo tế, bột tế, bột nếp, bún, phớ rượu gạo Nó khác xa với các

khu vực trồng lúa khô (lúa mi, lúa ma loại bánh từ bột

mĩ, bột mạch Hoạt động sắn xuất, g; à niềm tin, sự công cảm trongr

lao động và tín ngưỡng, đã tạo ra nền văn hoá lúa nước mang những đặc trưng,

vùng rất rõ nét Chẳng hạn, sự tôn sùng nước và mật trời; các nghỉ lễ, hội lễ điễn

ta trong sự chỉ phối của mùa vụ nông nghiệp, tính cộng đỏng trong sinh hoạt

là sản phẩm chủng của văn hoá toàn vùng Đông Nam Á và dược thể hiện ra ở

mỗi nước sinh sống trong khu vực nảy

Tất cả các dân tốc ở Đông Nam Á đều có nghỉ lễ gắn với nuớc: thờ cúng,

thước, rước nước, dua thuyền, tế nước, cẳu nước

Campuchia, tue thờ cúng nước ở V „ lễ hội dua thuyền rước nước ở Lào, thai Lan, Viet Nam, M Indonéxia, Ma

dung khả nhiều tên gọi khác nÌ

dong, Ita sim had), thóc, gạo tấm, cám, dớn, bối, cơn

tấm lúa: người Tây, Thái, Mông, Mnông, Êd

at khoa học Xã hội Viê lách sự Vệ

Ngọc Thêm, Cơ sơ pin hoi Viết Nai in pt, NXW Khua học Trường DITHI TPHCM, 1995, tr 56 Xã hội, Hà Nội, 471

Trang 29

gọi vía thái độ quan tâm, thành kinh dối với thứ cây lượng thực quan

trọng nhất © ‘Tuy nhiên, văn hoá nông thôn (trong tương quan với thành thị) thế hiện rõ

tính khu vực, không gian văn hoá - người ta hay nhấc đến tín hiệu chợ phủ

nhấn mạnh thái đồ trọng sự tĩnh tại Người nông dân thưởng ngại ra khôi không gian nông thôn là không gian quen thuộc với mình: văn hoá làng (rong tương quan với nước) thể hiện rõ tính tố chức công đồng, văn hoá xã hôi mà đơn vị nhỏ nhất là gia đình, sau đó đến làng, nước Văn hoá làng thường biểu hiện ở tục thờ thành hoàng và những nghỉ thức của việc thờ cúng vốn là một phong, tục gần với văn hoá làng; văn hoá lứa nước (trong tường quan với vàn hoá lúa khô) phán ánh rõ phương thức sống, tính chất đặc thù của sán xuất nông nghiệp O day thai do ton sing nude, tôn sùng mật trời là một tín ngưỡng: cúa

nên vận hoá này Ba khái niệm khác nhau trên (vấn hoá nông thôn, vân hoá lang, van hoá lứa nước} thường huy bị hiểu chung chung và lẫn lộn Nếu khong

rạch rồi trong quan niệm, ta khó có thể tìm, phân tích các mã biểu tượng khác: nhau của mỗi lớp: văn Hoá lịch sử đó

(trị thúy, chống hạn, hệ thống mương máng tưới tiêu, đế diều đòi hỏi nhiều người

tham gia; tính chất thời vụ của gieo trồng hay gặt hái cũng đôi hỏi nhiều suc người góp lại trong thời gian ngắn ; hay đóng thuyền, kéo thuyền, dĩ sông di

ng đồng khá bến chặt từ

thế cùng tổn t n xuất đó đã hình thành phương thúc xống, lối ứng xứ trọng sự thân mắt, cỏi mở, thuần phác, trong tình của cư dân

đào hơn ao nước là”, "Dắng cay cũng thế ruột r ng là người dưng”: giữa công đông và cá nhân thì người ta thường tru tiên công đồng,

mà phải quên dĩ cá nhân mình nhà thì nhác việc chú bác thả siêng”, "Ấn cơm nhà, vác tù vá hàng tổng” Theo Udon Sonesulinh (cản bộ vận hoá Lao),

“Ngoài họ hãng, bã con ra, mỗi thành viên trong ban lãng côn có mỗi quan hệ với cộng đồng, Tập quản doàn kết, giúp dờ lần nhau và miển khách là một tập quát

Trang 30

nảo cũng có và là cơ hội tập họp đông người, cơ hội dế giao lưu và hợp tắc,

Quần niệm và tâm lí mỗi cá nhân trong cộng đồng thường cũng đậm tính cộng dong, thể hiện nhú cấu cộng đồng, công cám, cộng mệnh là truyền thống

chúng của người Đông Nam Á

Đo xắn xuất nông ngh

nghiệm được truyền từ thể hệ

người Đông Nam Á có khá năng

chấp nhận được một

lệp chủ yếu mang tính chất tập tỉnh, bằng kinh

y sang thế hệ khi ch trực tiếp nên con, chước, lãm theo rất tối, những ít sắng tạo, Ít

gi thay dối hay biển dòng “Nông nghiệp lửa nước c khiếu

định đó hình thành quan niệm phố biết

nghiệp”, trước hết phái an cứ, phấi có chỗ ở, chỗ sinh hoạt ổn định mới có thế 1 của người li Dũng Nam Á là "an cứ, lục

nông nghiệp thường có cách tính thời giản theo mùa vụ, dó là thủ gian t ng tháng, bằng quý, bằng vụ nên tư duy của người Đồng Nam Á

cũng theo cách như vậy Họ không bị cáu thúc bởi cách tính thời giản chính xác

ng ngày, giỏ Vì vậy người Đông Nam Á nói chung châm chạp, từ tổn, thích

bn hoa, it biit kịp với nhịp sống hiện đại, với những cạnh tranh gay những hoạt đồng gấp gấp Hiện nay, một số hoạt đông công nghiệp đang khiến

cho nhịp sống kh an lắng, từ tổ người Đông Nam Á thay đối Tuy nhiên,

nhịp sóng đố chưa thay đối nhiều quan niệm và lối sông truyền thống của nên

vận hoá nông nghiệp của các nước Đóng Nam Á nói chung

Trang 31

không dõi hỏi gay pất vẻ thôi gian ũng tạo nên tâm lí tự do, ưa thoái quy dinh, luật pháp không:

ác nước Dông Nam Á nông tuợc thể hiện khá rõ, liền cạnh

° điểm riêng cụ

Hoạt động nông nghiệp cũng íL gõ bé

nhự hoạt đông công nghiệp nên điều này

mái, tính kí luật lỏng léo, ý thúc tn trong

Đặc tính này không phái chỉ ớ Việt Nam: mã

nghiệp cũng như: Ó inh nay

những đặc trưng chủng đó, vân hoá Việt Nam còn có những

thể mà chúng tôi sẽ trình bày ớ phẩn sau

3 Các nền văn hoá Việt Nam

3.1 Văn hoá sơn lâm nghiệp

Trên mánh đất Việt Nam xưa kia, trước khi xuất hiện lúa nước và hình thánh: niên vấn hoá lú car dan Việt cổ đã sống chưa vào rùng núi, hái lượm các loại rau củ quả và sản bắt vật có sẵn trong tư nhiên để sinh sống

“Từ cuộc sống chú yếu dựa vào các san vật hoàng đã, họ dẫn biết thuần hoá các

loại cấy rừng, gieo trồng chúng nương theo mùa vụ, hợp với thiên nhiên bản địt như bẩu bí, củ mài biến chúng thành những sản phẩm vấn hoả Họ củng, thuần dưỡng các động vật hoang đã sân bất dược như chó rững, lợn rừng, voi

từng để dẫn biến chúng thành những vật nuôi Từ đồ tạo ra một nên vận hoi: xóm là nấm hoá son lâm nghiệp (có nhà nghiên cứu gọi lớp văn hoá này là war hoá củ hay véin hod bau bi) Khi ding khai niệm vấn hoá sơn lâm nghiệp, chúng tôi không chỉ nhằm nhấn mạnh loại thực phẩm của người Việt khí dó là sản phẩm từ từng, mà còn muốn nhấn mạnh không gũi sống và nghề nghiệp ch

1 vào rừng múi, có kĩ nâng kỈ ° sắn vật tt

Kinh dỗ đầu tiên của người Vi

yếu của người Việt khi đó là d

rừng núi để phục vụ đời sống công đồng,

lại dĩ tích đến nay cũng dược xây dựng tủ miễn rừng núi Phú Thọ (núi Nghúa

nhà nước Văn Lang với 18 doi Himg Vuong ti vi Nên vận mình Văn Lang ấy lấy cơ sở là vùng rùng núi đã di dưỡng và phát triển những đạc diểm văn hoá gắn với sơn lâm từ sớm và trở thành nên tầng vân hoá vững, bên c óc Cđứ khi cây lúa hoàng xuất hiện và người Việt có biết biển nó thành cảy lượng thực chính thí cứ d lần dõi tứ vũng núi xuống đông bảng, Đám vào ven các dong sông de nghẺ tròng lúa nước phẩt

Đằng, xông nước (tiên,

vận mình sống Hỏng như chúng tạ đà biểU, Nên vàn hoá sơn l

dân bị khuẩt lập bói một nên vấn hoá có sức lan toa nhành chong va manh me

0 tiên nên vấn H

hơn tại không gian Việt có - nên văn hải

Trang 32

Muốn tìm dấu vết một nên vận hoã cần dựa vào một số dấu hiệu đặc trưng, Đấu hiệu văn hoá vật chất thường để lại ở hoạt động ân, mặc, 6; van hoa tink thân thể hiện ở tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và quan niệm chung mang tính cộng đồng, Tất cả tạo thành những đặc trưng chúng của văn hoá Văn hoá truyền thống lận vào các món ân cổ truyền, các trang phục truyền,

thống, các cẩu trúc, kiến trúc nhà ớ, đình chùa, miểu mạo mang tính quan

niệm Đó là lớp trắm tích không dễ biển dối, tuy nhiên, nó cũng được phú bởi Đăng những lớp phù sa lịch sứ sinh hoạt của những thôi đại sau

Lớp sâu nhất của nên vận hoá Việt Nam, theo chúng tôi, là lớp văn h

lâm dược thế hiện trong nhiều sinh hoạt van he

Trong các món ăn ngày lễ, ngày tết: Người Việt đến nay v:

cú và chế biển các món ăn tuyển thống từ các loại củ (el: mang nau chan gid

lựn, cú chuối nấu ốc dâu phụ thit ba ba (nay thay bằng thịt ba chí), cũ mãi nấu Xương = sườn lợn, miễn (làm từ cú dong) nấu thịt lợn hoặc lòng gà) Thịt thú chữ: không phái hải sản hay thuý sản là các món ân hoặc đỏ nấu phổ biển (chân giỏ, Đóng bi, thịt đông, thịt tuộc, thịt bọc lá rùng nướng hoặc vùi lứa, các loại giỏ,

chả), Đỏ uống phổ biển là các loại rượu ú mì ñ rừng (rượu cần, rượu men lá)

Tiện này, món án hãng ngây của người Việt Nam đã biến đối nhiều để phù l với nếp xống hiện đại, nhưng món ân ngày lễ, ngà tế, ngày hội quan trọng của người Việt Nam vẫn mang đậm dấu vết v

am truyền thống của người Việt được chế biến từ nhiều loại thân và

ây rừng phong phú chính là nguồn thuốc quý võ tân cho người

dân Dường như bất cứ một loại cây rừng nào cũng có thể có tác dụng trị một

nghiệm trị các bệnh liên quan đến rừng, ví như bệnh rần cần, vất bám, bệnh sốt

TÚI rừng, bệnh viêm gan (vàng da) mã người Việt ở miễn núi hay gọi là bệnh ngà nước vì đó chính là các bệnh quen thuộc với không gian sinh hoạt thường nhật của họ trước kia, Hien nay, khí da sổ người Việt ở các thành phố lớn đã quen dũng thuốc Tây, thi phan lớn cư dân ở nông thôn, vùng núi Việt Nam vẫn

quen dùng thuốc Nam và giữ được nhiều loại thuốc Nam gia truyền rất quý giá

li ci yy rim,

bệnh nào đó cho con người Người Việt ú

Trong trang phục cổ truyền: Truớc đây đo dị lại trong rừng cẩn dé ding,

nhành chóng, thuận tiện nên người Việt cố đóng khố, cói tran, di chân đất (các

hình ảnh trang phục thời Hừng Vương được lưu giữ lại đến này cũng nhữ vậy,

Nam cới trần, đóng khố, dĩ dấu nữ cởi tắn, mặc váy, di đấu, Người Việt không

cổ truyền thống dĩ giây đếp sớm, nhưng dị anh, đặc biết là di

Trang 33

trong rừng núi Dé bám chật vào đất rừng, đất đốc nên hai ngón chân cái của

người Việt xưa thưởng choẽ sang hai bên, đó là một hướng hiểu tên gọi Giao Chí

(ngón chân giao nhau) Hiện nay thỉnh thoảng ta vẫn còn gấp một số người giả

có bàn chân như vậy!,

Trong kiến trúc nhà ở: Để tránh thú dữ và tránh ẩm thấp khi ở rừng,

người Việt (gốc Việt Mường) làm chòi ở ngay trên các chạc cây (hình thức sơ khai của cái nhà sản đã định hình) Từ chỗ ở trên cây, sau đó người ta dựng nhà

sản, chân nhà đứng trên mặt đất, nhưng chỗ ăn ở vẫn cách xa đất, nóc nhà lợp

lá cọ rừng, lá cỏ tranh Hình thức sống như vậy cũng gân với lối ở rừng, ở cây từ:

thời xa xưa của người Việt Hiện nay nhà của người Việt đều đã là nhã đất, thậm

chí nhà chỗng tầng cao, song có những ngôi nhà hoặc ngôi đình cố vẫn còn

mang đấu tích của nhà sàn, còn thể hiện đấu tích sinh hoạt nha san phổ biến

khi xưa Chẳng hạn, đình Đình Bảng (Bắc Ninh)

3.2 Văn hoá nông nghiệp lúa nước

Khoảng giữa thế kỉ XX đã có nhiều nhà khoa học nông học thế giới quan

tâm đến vùng Dong Nam Á như là quê hương của cây lúa nước Có thể kể ra tên

tuổi của một số nhà khoa học như: A.G Haudricourt & Louis Hedin (1944); Carl Sauer (1952); E Werth (1984); Jacques Barrau (1965, 1974); W.G Soldheim

(1969) [lọ cho rằng, những đặc điểm địa lý, khí hậu, thố nhưỡng nơi đây đã rất

thuận tiện để xuất hiện cây lúa hoang dã và con người nơi đây từ khoảng 10.000

năm trước Công nguyên đã biết thuẫn dưỡng cây lúa để biến nó thành loài cây

lương thực quý giá Carl Sauer đã viết “Về cái nôi của nền nông nghiện đầu

tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á Nơi này quy tụ đây đủ những điều kiện

khác nhau cần thiết vẻ vật lý thể chất, hoá học hữu cơ, khí hậu ôn hoà với cả hị

vụ gió mùa "” Năm 1969, W.G Soldheim lại khẳng định thêm: "Tôi đồng ý với Sauer là việc gây giống cây trồng dấu tiên trên thể giới đã được thực hiện bởi ngườ thuộc nên văn hoá Hoà Bình ở vùng Đông Nam Á ” Chúng tôi hiểu, "nên văn hoá Hoà Bình” mà Soldheim nói ở đây chính là di chỉ văn hoá Hoà Bình (thuộc tinh Hoa Binh, Việt Nam) đã được khảo cổ học khai quật, ở đó

thêm bài Đi tim bản chân giao chỉ, Trang Xã luận com,

, Agricultural Origins and Dispersal, ‘he American Geographical Society, New

“rich theo Wikipedia tighg Viet, mu Qué fen etic cay hia

Trang 34

dưới lớp đất sâu còn thấy có những hạt thóc hoá thạch được xác định niên đại

từ 9.260 đến 7.620 năm cách ngày nay

Như vậy, Đông Nam Á cố trong đó có Việt Nam vốn là quê hương của cây lúa nước, có truyền thống trồng lúa, bảo lưu giống lúa, chế biến các món an tit

lúa gạo khá sớm Vì vậy từ sớm đã có nên van hoá nông nghiệp gắn với cây lúa

này Người Việt Nam từ lâu đã coi cây lúa là báu vật của mình Rất nhiều sinh

hoạt hay tín ngưỡng của cộng đỏng bị thứ cây trồng này chí phối, phải nương

theo, vận hành theo những yêu cầu của nó

Do trồng lúa nước, đặt cả sự sống của mình và công đồng vào cây lúa nên

cây lúa là loại cây được coi trong nhất Người Việt có nhiều tên gọi khác nhau để

gọi cây lúa từ lúc gieo hạt xuống đến lúc cất nó vẻ: mậm, mạ, lúa, lúa con gái tủa lâm đông, lúa uốn câu, thóc, gạo, tấm, cám, đớn, bồi, cơm Khi trong tiếng, Anh, người ta chi ding tir “rice” dé chi nhiều khái niệm đó thì tiếng Việt dùng

nhiều từ khác nhau và tỉnh tế liên quan đến cây trồng nây, điều đó thể hiện tắm quan trong va str quan tâm tha thiết của người Việt Nam đến cây lúa Hơn thế, nhiều tộc người Việt Nam hằng năm đêu tổ chúc lễ hội lúa, tế thân Lúa, rước

g9i vía lúa, ăn cơm mới

Đối với cây lúa nước thì “nhất nước”, nước là yếu tố thứ nhất tạo nên sự

được mùa hay mất vụ Vì vậy, người Việt từ xa xưa đã có truyền thống làm thuỷ

lợi, chống thuỷ hại để bảo vệ cây lúa Truyền thuyết Son Tỉnh - Thuỷ Tỉnh đã

phần ánh sự kiện và kinh nghiệm chống lụt từ sớm của người Việt Cũng từ đó

người Việt tôn sùng nước, tôn sùng mặt trời, nguồn ánh sáng tạo nên mưa hoặc

trên bản thờ, các

nắng Tín ngưỡng, sùng nước khiến nhà nhà đều cúng nuó

nghỉ lễ liên quan đến mùa vụ hay thậm chí cả lễ hội tôn giáo cũng cúng nước, tổ

chức rước nước, đánh trống sấm hoặc đánh pháo đất để cầu mưa (tiếng trống

và tiếng pháo đất giống tiếng sấm trước khi trời mưa), Tín ngưỡng tôn sùng mật

trời còn để lại dấu tích trên các trống đông cổ Việt Nam với hình các tỉa mặt trỏi

ở trung tâm mặt trống, hình chim lạc (biểu tượng mật trời) sải cánh bay theo

chiều từ đông sang tây (chiều quay của mặt trời) Trên hầu khấp các nóc đến

chùa Việt Nam thưởng có đắp biểu tượng đôi rồng chẩu về một mặt trời bốc lửa

(biểu tượng của nước và mặt trời), Người ta còn cúng gà mỗi đêm giao thừa,

đồn năm mới để hi vọng nó gọi mật trời cho một năm mới dú đây ánh sáng, Họ cũng thả chim cho bay cao lên mài, bay gần tới mặt trời để câu cho tdi tanh táo Mưa và nắng, nước và mật trời là những yếu tố gắn bó và song hành cùng,

g nghiệp lúa nước Việt Nam

Trang 35

tộc trồng lúa nước trong đó có Việ 1 Nghề trồng lúa nước có nhiều khâu

không thể làm một mình được, chẳng hạn làm thuý lợi, chống thuý hại, thu

Trang 36

hoạch vụ lúa Các hoạt động đó đòi hỏi mọi người phải chung tay góp

Chính lao động tập thể đã tạo ra thói quen sinh hoạt cộng đồng Vi vậy mà các

sinh hoạt trong cộng đồng hay gia dình người Việt đều mang tính tập thể rất cao Đặc điểm đó dẫn đến lối sống nhiều thế hệ chung một nhà, món ăn đều ấn

chung, thể hiện sinh động quan niệm ăn uống của người Việt, đồng thời cũng

thể hiện rõ tính cộng đồng "một miếng giữa làng bằng, một sàng xó bếp”, "lời

chào cao hơn mâm cỗ” Do trồng lúa nước nên các nghi lễ, hội lễ tôn giáo hay lịch sử cúa cộng đồng cũng đều nương theo mùa vụ nông nghiệp để tổn tại

Người Việt xưa trồng lúa có hai vụ: vụ chiêm và vụ mùa Vụ chiêm thường cấy

xong trước tết, cây lúa cấy xuống rồi, chờ cho bén rẻ, lên đông Mùa xuân chính

là lúc nông nhàn Vụ mùa thường cấy vào tháng 6 và gặt vào tháng 10 âm lịch

Mùa thu (tháng 7, tháng 8) là mùa nông nhàn Vì vậy, các lễ hội đình đám của

người Việt thường được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân, sau đó là mùa thu,

“xuân thu nhị kì” chính là hai mùa diễn ra lễ hội nhiều nhất ở Việt Nam

Cũng từ nhụ cầu cộng đồng, công cảm của nghẻ trỏng lúa nước mà các

quan niệm sống, quan niệm kiến trúc nhà ở, quan niệm ứng xử trong cộng

đồng cũng bị chỉ phối khá rõ rằng Chẳng hạn, làm nhà là phải theo mẫu “nhà

cao cửa rong” để tiện đón khách ra vào, vì nhà cửa kín đáo quá người ta ngại lui tới; ứng xử với mọi người xung quanh, người Việt trọng “bán anh em xa, mua

láng giểng gần”; quan niệm ăn uống "lời chào cao hơn mâm cỗ", “một miếng giữa đảng bằng một sàng xó bếp”; quan niệm làm ăn "nhà có láng giềng nhà, đồng có láng giêng đồng”, Điều đó cho thấy, trong quan niệm và lối sống của

người làm nông nghiệp lúa nước, từ xa xưa người ta đã rất coi trọng tính cộng

đồng, đặt nó lên trên tất cả những quan hệ có tính chất cá nhân nào đó Nguyên

nhân hay chỗ dựa sâu xa cho tất cả những tư tưởng, quan niệm đó chính là do

nền văn hoá dân tộc chọn cây lúa nước làm lương thực chính

3.3 Van hoá nước và ngư nghiệp

Ở đây chúng tôi không dùng khái niệm “văn hoá ngư nghiệp” như một Số

người viết thường sử dụng, bởi khái niệm đó chỉ nhằm nói tới một loại nghẻ và

nước và ngư nghiệp”, chúng tôi muốn nhấn mạnh văn hoá ứng xử với nước như

một đặc trưng của những con người ở vùng địa lí tự nhiên nhiều sông nước Đặc

trưng văn hod d6 không chỉ thể hiện ở những người làm ngư nghiệp mà ở ngay

cả những người không làm nghề có liên quan gì đến sông nước Văn hoá nước

sông biến và sự gần bó với nghề sông biển không được thể hiện nhiều trong đời

sống văn hoá cộng đồng Việt Nam như văn hoá lúa nước bởi ngay từ xưa,

Trang 37

khi cây lúa nước xuất hiện vả trở thành cây trồng chủ lực thì tư tưởng trong

nông luôn luôn là tư tưởng chính yếu, chỉ phối cả đời sống vat chất va tinh thản

á nước và ngư nghiệp trong dời sống công đông Việt không phải lä không phong phú Nó tập trung đậm nét ở

vùng ven các con sông lớn và vùng ven biến, hơn nữa nó còn chỉ phối một số

phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói của cư dân trong vùng và đôi khí cúa cá

cộng đồng dân tộc Việt Nam

nước nhiều sông, hổ, kênh, rạch và có đường bờ biển dài hơn 3.000km, nên trong tâm thức văn hoá người Việt, nước không chỉ là môi trường quan trọng, thân thuộc, cẩn thiết đối với họ mà còn là một phẩn cúa đời sống, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu xa Nước biểu tượng cho sự tỉnh khiết, sự thiêng liêng, mang những sức mạnh ma thuật đầy lạ lùng, huyền bí Nước cũng

biểu tượng cho sự mêm mại uyển chuyển, sự sắc bén "sắc như nước”, bởi không,

có chỗ nào nước không len lỏi đến được Nước cũng là biểu tượng của sự nhân

cho vòng quay của cuộc đời, bới "nước chảy đá mòn”, “nước đi

é, lại mưa về nguồn” Để tỏ ra thân thiện với bạn bè, láng giềng hoặc với mọi

người, người Việt và các dân tộc Đông Nam Á thường tế nước vào nhau trong

các lễ hội nước Ai càng bị té nhiều nước, người đó càng là người được yêu

thương Là một đất nước nhiều sông nước, giao thông xưa kia giữa vùng này với

vùng khác của Việt Nam chủ yếu dựa vào đường sông biển và phương tiện

thuyền, ghe, bẽ, mắng là phương tiện giao thông phổ biến, quen thuộc Vì vậy,

ngôn ngữ và lối tư duy của người Việt luôn gắn liễn với sông nước dù nội dung lời nói dường như chắng có gì liên quan đến sông nước cá Chẳng hạn, làm án

“thuận buồm xuôi gió”, "xuôi chèo mát mái"; thân phận con người "lênh đênh”,

“nước chảy bèo trôi", "nước nổi bèo nổi”, “phận gái mười hai bến nước”;

người giàu có và may mắn "nước cháy chỗ trũng”; nói về phong tụ

“thuyén theo lai, gai theo chon}

Đối với người nông dân trong đất liên thì lễ hội phổ biến diễn ra hằng năm

lä lễ hội câu mùa, lễ hội nông nghiệp Còn ở các tỉnh vùng ven sông biển (từ:

Thanh Hoá vào đến Kiên Giang) có số lượng cư dân sinh sống chủ yếu

nghề đánh bắt thuý hải sản (đặc biệt hái sản) thì lễ hội phổ biến diễn ra hằng năm của họ là lễ hội cầu ngư, cảu cho mưa thuận gió hoà, cầu cho trời yên biển

lặng, cầu cho một mùa đánh bắt bội thu Lễ hội cẩu ngư thường được tổ chức

vào đâu mùa đánh bắt cá hoặc vào ngày giỏ cá lớn được dân làng thờ Thời

gian phổ biến nhất vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 6 âm lịch Một số dia

phương tổ chức lễ hội tại đình, một số khác tố chức tại các Lãng thờ cúng cá voi

Trang 38

(thường được gọi là lãng Ông, lãng Trong tín ngưỡng của người dan ving

ven biển thì các vị thản biển là vị thắn số 1, rất được ngư dán trọng vọng Trong

các miếu thờ, lăng thở, người ta thường có ban chính thờ Đúc Nam Hải đại

vương (thần biển Nam Hải), Long Thuỷ thắn nữ (nữ thắn biển), bên cạnh là các

ban thở Ngọc cốt Ông (Cốt cá voi được thiêng hoá trong tâm linh, được xây lãng

và được thờ cúng phổ biến ớ vùng ven biển miễn Trung) Tinh thần chung của

tục thở lä tạ ơn và ca ngợi công đức thắn biển Nam Hải và cá Ông, xin thần ban

cho vạn chài cuộc sống bình an, no đủ ~ “Biến lặng trời thanh, rước thắn sắc tải, thần ngư Nam Hải, cứu độ ghe thuyền, vượt khấp mọi miễn, sóng to gió cả "

Người Việt vùng ven sông biến Việt Nam cũng có nhiễu nghỉ lế thờ cúng và

nhiều phong tục tập quán gắn với cá và hải sản lớn: tục thờ cúng cá lớn như cá

Ông Voi và cá lớn vùng ven biển từ Bắc Trung Bộ đến Nam Trung Bộ, từ Thanh

Hoá đến Quảng Ngãi, Khánh Hoà, di liễn vớ oi có tính chất suy tôn trang

trọng như: Ông Sứa (cá nhà táng), Bà Tím (một loại rùa biển lớn), Ông Nược

cả heo) Đặc biệt cá Voi được gọi là cá Ông và vùng biển Quảng Ngãi có nhiễu,

lãng thờ cá Ông với nhiều tên gọi khác nhau như Lãng Đức Ngự, lãng Ông Khoi, Ong Long, Ong Chuông, Ông Sanh, Ông Lớn Phong tục này đã được các nhà

viết sử trong Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép: “Cá voi có tục danh là cá Ông,

Voi, dau tròn, nơi trần có lỗ phun nước ra, sắc den trơn láng, không có vấy, đuôi

©6 hai chia như duôi tôm, có tánh từ thiện, hay giải cửu cho con người khi qua biển mắc nạn Đầu niên hiệu Minh Mạng, vua đối tên là Nhân Ngư, đầu niên

hiệu Tự Đức đổi lại là Đức Ngư Loại cá này ở trong Nam Hải thì linh, còn ở biến

Vân hoá nước và ngư nghiệp còn được thể biện sinh động qua một số đặc: điểm ẩm thực Người Việt có phong tục ăn nước mắm, cá mắm, tôm cá khô và

các loại mắm làm từ thuỷ hải sản Họ cũng có cách chế biến các loại thức an

này khá độc lập, độc đáo mà nhiều nước trên thế giới không có So sánh với Nhật Bán là một quốc đảo, người Nhật ăn cá sống và các loại thuỷ hải sản rất nhiều nhưng không có tập quán chế biến và ăn các loại hãi sản khô hay ấn các:

loại mắm, nước mắm Đó có lẽ do địa phương nào của Nhật Bản cũng có biển,

họ không phải vận chuyển xa hay tích trữ hái sản để ăn dẫn, trong khi Việt Nam

có đường bờ biển dài, nhưng từ biển đến các vùng khác trong cá nước lại khá xa

quán trigu Nguyễn Dạí Nam nhhất thống chí, Quyền ha, Nha Van hoá

Trang 39

và giao thông khó khăn Phải chăng điều kiện địa lí tự nhiên đó khiến cho người Việt Nam phải nghĩ cách chế biến các loại hải sản dùng cho quanh nãm vả dùng cho các vùng xa biển Từ đó hình thành các tập quán chế biến và sử dụng thuỷ bải sản độc đáo của Việt Nam Các hình thúc chế biến tôm, cả, mắm, nước

mắm ở mỗi vùng sông biển của Việt Nam cũng khác nhau nhiều Nó phụ thuộc

vào đặc tính cúa thuỷ hải sản từng vùng Vậy nên, vùng biển từ Bắc Trung Bộ vào đến hết Nam Bộ cùng lầm và ăn nước mắm, nhưng có vùng chọn cá com làm nguyên liêu chế biến chính, có vùng lại chọn cá chích, cá chuồn, cá thu, cá nục Thừa Thiến ~ Huế nổi tiếng với đặc sản mắm tôm chua, trong khi Nam BO

lại nổi tiếng với mắm cá lóc, mắm cái; còn suốt dẻo bờ biển Nam Trung Bộ thì đâu đâu cũng nổi tiếng với các loại cá khô

dấu ấn văn hoá nước: Trong khi phân lớn các mái đình, chùa ở lục địa Việt Nam

thưởng có biểu tượng “lưỡng long chẩu nhật" hay "lưỡng long chấu nguyệt” thì

trên nóc một số đình chùa vùng ven sông biển có biểu tượng tôm, cá, Ốc; một số nhà cổ có hình thuyền Một số trang trí trên tầu, thuyền, đặc biệt là mũi thuyễn

và đuôi thuyền thường có hình cá, tôm, rồng, cá sấu Đặc biệt các con thuyền

thường được hình dung như một con cá lớn, người ta ve đầu cá ở mũi thuyền,

vây cá ở thân và đuôi cá ở đuôi thuyển Nhìn hình thức trang trí đó, ta thấy ngay sự khác biệt giữa văn hoá ngư nghiệp với văn hoá sơn lâm hay văn hoá nông nghiệp

và tiếp nhận văn hoá của nhau để làm phong phú hơn tài sản văn hoá

tộc mình Như vậy, không chỉ có những nên văn hoá lớn hay các nước lớn mớ ảnh hưởng tới các nước nhỏ và được các nước này tiếp nhận một cách thụ

động Ngược lại, các nước nhỏ với những đặc điểm văn hoá đặc sắc của nó cũng ánh hưởng tới các nền văn hoá lớn và để lại đấu ấn trong nên văn hoá đó

Lợi ích căn bản và lâu đài mã giao lưu văn hoá đem lại là thúc đấy sự phát

triển của mỗi nên văn hoá Lịch sử cho thấy, không một nên văn hoá nào có

thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nên văn hoá khác Giao lưu văn hoá làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân tộc khép kín trở thành những hệ thống mở, liên thông với nhau Từ đó mà gia tăng,

Trang 40

Tiếp biến văn hoá là hiện tượng một công đồng tiếp nhận có chọn lựa một

số yếu tổ văn hoá ngoại lai và biến đối chúng cho phù hợp với điểu kiện sử dụng bản địa, tức phù hợp với văn hoá cộng đồng được tiếp nhận Sau một thời gian

ứ dụng và biến đổi thì những yếu tố văn hoá mới được tiếp nhận đó dẫn trở thành những yếu tổ văn hoá bản địa có gốc ngoại sinh Dó là một quy trình tiếp biến văn hoá Từ đây có thể kháng định rằng, quá trình giao lưu văn hoá chí là

điểu kiện cần, còn quá trình tiếp biến văn hoá là điễu kiện đú để lâm phong phú

thêm, mạnh thêm nên văn hoá bán địa, năng nó lên tắm cao phát triển của văn hoá thế giới

Ngâu ớ Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bán", chúng tôi đã tìm ra một

truyện kể có những mô típ chung ở cá bốn nước đồng văn Ở Việt Nam là

Ông Ngân ~ Bà Ngâu, ở Trung Quốc là Ngưu Lang ~ Chức Nữ, ở Triều Tiên là Kyon U - Chik Nyo, & Nhat Ban la Hiko Boshi ~ Ori Hime Đó là câu chuyện tình dep va day đau khổ của một chàng trai chăn trâu (hoặc chãn bỏ) với một có gái

dệt vải trên thiên đình Họ yêu nhau say đắm đến nỗi quên cả công việc vua cha

(rời) trao cho, khiến nhà vua tức giận Vua Trời bắt hai người biến thành hai

ngôi sao Ngưu Lạng - Chức Nữ (Trung Quốc), bắt hai người ở hai phía của bầu

trời (Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên), nhìn thấy nhau mà không được gần

nhau, phải sống xa nhau, mỗi năm chỉ được gặp lại nhau một lấn Ở Trung

Quốc, đó là đêm mỏng 7 tháng bảy (thất tịch), khi gập nhau hai người thường khóc vì đau khổ, nhớ thương nên đêm đó trời có mưa, Ở Triều Tiên và Nhật Bản người gặp nhau vào cả ngày 7 tháng bảy Tháng bảy ở Triều Tiên và Nhật Bản

không có mưa, vi vậy, truyện kể rằng, khí gặp nhau chàng trai chân bò và cô gái

det vai rất vui nên trời đất thường trong sáng Đặc biệt, người Nhật Bản tin rằng,

ào ngày mỏng 7 tháng bảy, ai có mơ ước gì chỉ cần viết ra giấy rồi buộc lên các

ảnh cây cắm trước cửa trường học, bệnh viện, công ty (như cảnh phan ở: Viet Nam), Hiko Boshi và Ori Hime hạnh phúc khi gặp nhau sẽ giúp cho những

mơ ước của họ trở thành hiện thực Ở Việt Nam, hai người gặp nhau cả tháng bảy

no dời, khiến trời đất cũng mưa đẫm dĩ (cả tháng), vậy nên người Việt Nam

ö câu "Vào mỏng ba, ra mỏng bảy, giẫy mông tắm” (mông 3, mỏng 7, mồng 8,

13, 17, 18, 23, 27, 28 là những ngày mưa nhiều nhất trong tháng bảy âm lịch)

Ngày đăng: 17/07/2022, 17:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  tròn,  màu trắng  như hình  những  quả  trứng, vì  vậy,  trong  lễ hội  tướng  niệm  các  Mẫu,  người  dân  thường  dãng  cúng  bánh  trôi  và  bí  mat  thá  bánh  trôi  xuống - Chuyên luận nghiên cứu văn học dân gian theo hướng giải mã văn hóa dân gian: Phần 1
nh tròn, màu trắng như hình những quả trứng, vì vậy, trong lễ hội tướng niệm các Mẫu, người dân thường dãng cúng bánh trôi và bí mat thá bánh trôi xuống (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w