Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh ngành trong quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là cải t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN PHƯƠNG NGỌC
ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2
NGUYỄN PHƯƠNG NGỌC
ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
TS: LẠI TIẾN DĨNH
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP
KHẨU VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các thông tin, số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chính xác Luận văn này không sao chép từ bất kỳ bài nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Phương Ngọc
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, hình vẽ
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 4
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM 4
1.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM 4
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 4
1.1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh 6
1.1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM 7
1.1.2 Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM 10
1.1.3.1 Nguồn lực tài chính 10
1.1.3.2 Sản phẩm, dịch vụ 10
1.1.3.3 Chất lượng phục vụ 11
1.1.3.4 Mạng lưới và công nghệ 12
1.1.3.5 Nguồn nhân lực 13
1.1.3.6 Thương hiệu 13
1.1.4 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của Michael Porter 14
1.1.5 Ý nghĩa của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM 18
1.2 Các nghiên cứu trước 19
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 23
2.1 Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của EXIMBANK 23
2.1.1 Lịch sử hình thành 23
Trang 52.2.2 Tình hình phát triển sản phẩm – dịch vụ 31
2.2.3 Chất lượng phục vụ của Eximbank 37
2.2.4 Tình hình phát triển mạng lưới và công nghệ 39
2.2.5 Đội ngũ nhân sự 41
2.2.6 Tình hình phát triển thương hiệu 44
2.3 Quy trình nghiên cứu 45
2.3.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 45
2.3.2 Thiết lập quy trình nghiên cứu 47
2.4 Nghiên cứu sơ bộ 47
2.5 Nghiên cứu chính thức 50
2.5.1 Phạm vi, phương pháp chọn mẫu và kích thước mẫu 50
2.5.2 Thu thập dữ liệu 50
2.5.3 Phân tích dữ liệu 50
2.5.3.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 50
2.5.3.2 Phân tích nhân tố EFA 50
2.5.3.3 Hồi quy tuyến tính 51
2.6 Kết quả nghiên cứu 52
2.6.1 Mô tả mẫu 52
2.6.2 Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha 52
2.6.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 54
2.6.3.1 Phân tích nhân tố cho biến độc lập 55
2.6.3.2 Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc 57
2.6.3.3 Tính nhân số đại diện cho các nhân tố rút trích được 57
2.6.4.2 Phân tích sự tương quan giữa các biến 59
2.6.4.3 Hồi quy tuyến tính 59
2.7 Thảo luận kết quả 60
Kết luận chương 2 64
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 65
3.1 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Eximbank đến năm 2015 65
Trang 63.2.3 Giải pháp về mạng lưới – công nghệ 69
3.2.4 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 71
3.2.5 Giải pháp về phát triển nguồn lực tài chính 73
3.2.6 Giải pháp phát triển một số yếu tố còn lại 74
Tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 2: Kết quả mô tả thống kê mẫu nghiên cứu
Phụ lục 3: Kết quả phân tích Cronbach’ Alpha
Phụ lục 4: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho các biến độc lập
Phụ lục 5: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho biến phụ thuộc
Phụ lục 6: Ma trận hệ số tương quan
Phụ lục 7: Kết quả hồi quy
Phụ lục 8: Biểu đồ Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu của Eximbank từ 2008 – 2013
Phụ lục 9: Quy mô vốn điều lệ một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 7- ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
- Agribank: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
- ATM: máy rút tiền tự động
- BCTC: báo cáo tài chính
- BIDV: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
- CAR: hệ số an toàn vốn
- DongAbank: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
- EFA: Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá )
- EIB: Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
- Eximbank: Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
- Ficombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
- KHCN: Khách hàng cá nhân
- KHDN: Khách hàng doanh nghiệp
- MHB: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long
- MB: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội Việt Nam
- NHTM: Ngân hàng Thương mại
- NHTMCP: Ngân hàng Thương mại Cổ phần
- NHTMCPXNKVN: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
- NHTMVN: Ngân hàng Thương mại Việt Nam
- PGS.TS: Phó giáo sư, Tiến sĩ
Trang 8- Sacombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
- SCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
- SPSS: Statistical Product and Service Solutions
- TCKT: Tổ chức kinh tế
- Techcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
- TinNghiaBank: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa
- TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
- TS: Tiến sĩ
- VCB: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
- Vietinbank: Ngân hàng Công thương Việt Nam
- VPB: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
- WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 9Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh qua các năm tài chính từ 2008 – 2013 26
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của EIB từ 2008 - 2013 26
Bảng 2.3: Quy mô vốn và các quỹ của Eximbank 28
Bảng 2.4: Quy mô vốn điều lệ một số ngân hàng thương mại Việt Nam 29
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Eximbank giai đoạn 2008-2013 29
Bảng 2.6: Tổng hợp một số sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng 33
Bảng 2.7: Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của Eximbank 35
Bảng 2.8: Thang đo và mã hóa thang đo của các nhân tố 48
Bảng 3.1: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của các nhân tố 53
Bảng 3.2: Hệ số tương quan biến – tổng của biến phụ thuộc 54
Bảng 3.3 Thống kê mô tả điểm trung bình các nhân tố 57
Biểu đồ 2.1: Tình hình kinh doanh từ 2008 – 2013 của Eximbank 27
Biểu đồ 2.2: Các chỉ tiêu ROE, ROA, CAR giai đoạn 2008-2013 30
Biểu đồ 2.3: Vốn huy động và cho vay trong 6 năm qua 34
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng khách hàng 35
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn giai đoạn 2008 -2013 37
Biểu đồ 2.6: Mạng lưới điểm giao dịch của một số NHTM năm 2013 40
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu nhân sự Eximbank năm 2013 theo trình độ và độ tuổi 42
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu mẫu khảo sát theo độ tuổi và trình độ 52
Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 14
Hình 1.2: Mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Eximbank 46
Hình 3.1: Mô hình hồi quy điều chỉnh 59
Trang 10CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc nước ta gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO đã mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp, nhất là các Tổ chức tài chính và các Ngân hàng trong nước Sự tham gia của các tập đoàn Ngân hàng nước ngoài đã tạo nên một thị trường tài chính – ngân hàng
đa dạng cho Việt Nam Và chính việc tham gia mạnh mẽ của các tổ chức nước ngoài này đã tạo ra sự canh tranh ngày càng gay gắt cho các ngân hàng nội địa
Do đó, để tồn tại và phát triển trong điều kiện như vậy, các Ngân hàng Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, từ đó mới có cơ hội
mở rộng thị phần, thu hút khách hàng và gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh Vì mỗi Ngân hàng có đặc điểm, ưu thế riêng nên để có thể xây dựng được một chiến lược cạnh tranh hiệu quả thì các ngân hàng phải xác định được đúng và đủ các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng mình
Là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam,
ra đời từ những năm 90, cho đến nay Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN đã tạo dựng được uy tín nhất định trên thị trường Tuy nhiên, vì nhiều lý do đặc thù và nhu cầu phát triển nên thời gian gần đây, Eximbank mới chuyển hướng sang nhóm khách hàng cá nhân, và dĩ nhiên áp lực cạnh tranh của một thành viên mới trên thị trường bán lẻ cũng theo đó tăng lên Vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra cho Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trong giai đoạn này là phải tìm ra được nhân tố nào tạo nên tác động đến năng lực cạnh tranh của Eximbank, từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả nhất cho Ngân hàng
Trước nhu cầu rất cần thiết đó, tôi đã chọn đề tài “ĐO LƯỜNG CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM” để nghiên cứu với mong
muốn tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN, từ
Trang 11đó đề ra những một số giải pháp giúp Eximbank nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong tương lai.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, đồng thời đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố phát hiện được
Trên cơ sở đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tranh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN trong tương lai
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
4 Phạm vi và hạn chế nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu là ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN khu giai đoạn 2008-2013 Thời gian thực hiện khảo sát để thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu là tháng 8/2013
* Hạn chế của nghiên cứu: đề tài này nghiên cứu trong phạm vi hẹp, chỉ giới hạn trong một đối tượng cụ thể là Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN, tại một khu vực là Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng Thang đo Likert 5 mức độ
sẽ được dùng để đo lường giá trị của các biến Phép phân tích Cronbach’s Alpha được dùng để kiểm định độ tin cậy của các biến và phân tích nhân tố khám phá EFA dùng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Eximbank Tiếp đến, tác giả thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính để xác định những nhân tố thực sự có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Eximbank, đồng thời mức độ tác động của từng nhân tố cũng được thể hiện thông qua các hệ số tương ứng Nghiên cứu sử dụng công cụ hỗ trợ cho quá trình phân tích là phần mềm SPSS 16.0
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 12Thứ nhất, đề tài nghiên cứu này giúp Eximbank có cái nhìn tổng quát hơn về năng lực cạnh tranh hiện tại của ngân hàng mình thông qua đánh giá của các đối tượng mà nghiên cứu này đã khảo sát, chủ yếu là từ khách hàng trực tiếp của Eximbank
Thứ hai, nghiên cứu giúp Eximbank xác định được cụ thể những nhân tố và mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thứ ba, kết quả của nghiên cứu góp phần giúp Eximbank thực hiện các khảo sát thị trường hoặc nghiên cứu chuyên sâu hơn để xây dựng những chính sách, giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất nhằm cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống Eximbank
7 Bố cục của đề tài
Luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh của NHTM
Chương II: Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
NH TMCP Xuất Nhập Khẩu VN
Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NH TMCP
Xuất Nhập Khẩu VN
Trang 13CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM
1.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là hai từ vốn rất quen thuộc với mọi người Cạnh tranh diễn ra từng giờ, từng ngày và trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế, thương mại, thể thao, …cho đến cuộc sống thường nhật; và thuật ngữ này còn được nhắc tới thường xuyên trong các diễn đàn kinh tế, các cuộc hội thảo, hội nghị… trên các phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí là trong giao tiếp hàng ngày của nhiều đối tượng Tuy vậy, cho đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Khái niệm này được sử dụng từ phạm vi hẹp như phạm
vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, cho đến phạm vi rộng như phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv… chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và lợi nhuận trên
cơ sở cạnh tranh ngành trong quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là cải thiện, nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân v.v…
Trong quyển từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) có định nghĩa rằng: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất
Còn theo từ điển kinh doanh được xuất bản năm 1992 ở Anh thì định nghĩa
Trang 14cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành lấy tài nguyên sản xuất của cùng một loại hàng hoá về cho mình
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học xuất bản lần thứ 12, lại định nghĩa rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)
Theo quan điểm của K Marx thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Trong khái niệm của K.Marx, cạnh tranh được định nghĩa ngắn gọn nhưng rõ ràng và súc tích, nêu lên được chủ thể chính của cạnh tranh là các nhà tư bản; hành động cạnh tranh là ganh đua, giành giật; với mức độ cạnh tranh luôn rất gay gắt trong cả sản xuất lẫn tiêu thụ; và nhằm tới mục tiêu cuối cùng là siêu lợi nhuận
Như vậy, cạnh tranh nói chung là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại
các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, các phần thưởng hay những lợi ích khác Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao… Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được
sử dụng Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho
sự sống sót, tồn tại
Ở góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để
Trang 15có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh về giá (Ví dụ: giảm giá bán, tặng thêm sản phẩm khi mua số lượng lớn …) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, tài trợ các sự kiện lớn …) Cạnh tranh lành mạnh với những hình thức phù hợp với pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh bằng những thủ đoạn xấu Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược và các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp đó đối với các đối thủ còn lại nhằm giành lấy lợi ích cao nhất về mình
1.1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Cũng như cạnh tranh, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm; và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn”
về năng lực cạnh tranh Quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng
có nhiều khác biệt
Theo TS Nguyễn Văn Thanh, trường Đại học Thương mại trong Asian
Development Outlook, 2003, tr.205, thì năng lực cạnh tranh là “khả năng của một
công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới.”
Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF – lại cho rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá và chất lượng hơn so với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Ở góc độ vi mô, Micheal Porter, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược cạnh tranh của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) lại cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng
Trang 16hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn” [8, trang 19]
Tựu trung lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một hàm số của các nhân tố như: các nguồn lực của chính doanh nghiệp (vốn, con người, trình độ công nghệ…), các đối thủ hiện tại và tiềm năng, hệ thống pháp luật, môi trường kinh tế…
Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác,
sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao
1.1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM
Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp, nhưng là doanh nghiệp đặc biệt, do đó năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng mang nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo
ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh” [8, trang 22]
Năng lực cạnh tranh theo thời gian chính là khả năng có thể điều chỉnh trước những thay đổi của điều kiện thị trường, có thể duy trì được thị phần và/ hoặc tăng hoạt động kinh doanh theo sự phát triển của thị trường Đặc điểm chính của các ngân hàng cạnh tranh đó là khả năng của các ngân hàng này trong việc tận dụng những thay đổi của điều kiện thị trường Vị thế hiện tại của các ngân hàng chỉ là vấn
đề khi mà thị trường không có sự thay đổi
Như vậy, cũng không khác gì so với các doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng là khả năng chiếm lĩnh thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn so với bình quân ngành mà vẫn đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh và bền vững
Trang 171.1.2 Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
- Tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu sự tác động bởi rất nhiều nhân tố từ vi mô đến vĩ mô, từ kinh tế, chính trị cho đến tâm lý, xã hội, truyền thống văn hoá… khi mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là ít hay nhiều cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung Chỉ cần xuất hiện một thông tin không tốt về một ngân hàng nào đó thì ngay lập tức tin đồn thổi
sẽ được lan truyền nhanh chóng và có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của các ngân hàng khác, thậm chí cả hệ thống các tổ chức tín dụng Chẳng hạn, thông tin hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank, TinNghiaBank vào cuối năm 2011 và thông tin bầu Kiên cùng một số lãnh đạo Ngân hàng Á Châu bị bắt vào hồi cuối tháng 8/2012 đã gây nên những rúng động cho thị trường tài chính Việt Nam: người dân ùn ùn đi rút tiền tại các ngân hàng có liên quan và nhiều ngân hàng thương mại cổ phần khác; thị trường chứng khoán lao dốc không phanh, nhà đầu tư ồ ạt bán tháo cổ phiếu,… Ngoài ra, một NHTM hoạt động yếu kém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các NHTM vừa phải cạnh tranh để từng bước gia tăng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác
bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động dây chuyền
- Hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời, trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung Chính vì vậy, nếu như một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động lây lan đến gần như tất cả các NHTM khác, không những thế, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị “vạ lây” Đây quả là điều mà các NHTM không bao giờ
Trang 18mong muốn Chính vì vậy, các NHTM luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để giành giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống
- Do hoạt động của các NHTM có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh việc các NHTM hoạt động mạo hiểm gây nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà NHTW thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡ của thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy,
sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM không thể dẫn đến tình trạng đánh bại và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế
- Hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại; do vậy, hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố trong nước và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tập quán KD của các nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt là, nó chịu sự chi phối mạnh
mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các
NH này Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM trước hết phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán kinh doanh tiền tệ của các nước, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu cầu của các hoạt động kinh doanh tối thiểu; bởi vì, một NHTM mở ra một loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh với các NHTM khác đang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực dịch
vụ này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động được Rõ ràng là, sự cạnh tranh của các NHTM loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất
Trang 191.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM
Về thực chất, Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp và ngành ngân hàng cũng là một ngành kinh doanh như mọi ngành nghề khác Do đó, theo lý thuyết của
Michael Porter thì năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng tuân theo
mô hình 5 lực lượng cạnh tranh như đã nêu phần trên Tuy nhiên, do ngành ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt, hoạt động của ngành ngân hàng có liên quan đến tài chính - tiền tệ, thuộc lĩnh vực nhạy cảm và đặc thù nên các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng cũng có một số điểm khác biệt so với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bình thường Các yếu tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng sẽ gồm:
1.1.3.1 Nguồn lực tài chính
Các lý thuyết cơ bản chứng minh rằng năng lực tài chính đang giữ một vai trò rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng Năng lực tài chính mạnh giúp ngân hàng có điều kiện nhiều hơn để đầu tư vào công nghệ; ứng dụng các thiết bị, kỹ thuật hiện đại vào các sản phẩm, nhất là các sản phẩm ngân hàng điện tử; nâng cấp và mở rộng quy mô các chi nhánh, phòng giao dịch trở nên hoành tráng hơn, góp phần làm gia tăng uy tín và niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Vì thế, các ngân hàng thương mại có tiềm lực tài chính mạnh sẽ dễ dàng thu hút và giữ chân khách hàng hơn
Ngoài ra, năng lực tài chính mạnh còn là lá chắn giúp ngân hàng tăng cường khả năng chịu đựng rủi ro và luôn đứng vững trước những biến động khó lường trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh khốc liệt
Trang 20nước, phát hành thẻ, phát hành séc, … Và rất nhiều các dịch vụ có liên quan khác như thu chi hộ, giữ hộ tài sản, thanh toán các hóa đơn điện nước…
Các sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng đều giống nhau, rất dễ sao chép và
bị sao chép một cách hợp pháp Cho nên, để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các ngân hàng phải luôn đổi mới sản phẩm, cải tiến dịch vụ, gia tăng nhiều tiện ích cho khách hàng sử dụng
Trong cạnh tranh, bên cạnh sản phẩm đa dạng thì giá cả bao giờ cũng là vũ khí được lựa chọn tiếp theo của các doanh nghiệp và cả với các ngân hàng cũng vậy Bởi lẽ, giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng Với ngân hàng, giá cả chính là mức lãi suất (lãi suất huy động là giá mà ngân hàng mua lại quyền sử dụng vốn của khách hàng, lãi suất cho vay là giá mà ngân hàng bán quyền sử dụng vốn cho khách hàng) và mức phí dịch vụ
Trên thực tế, đây là công cụ đầu tiên và hữu hiệu nhất mà các ngân hàng sử dụng khi muốn cạnh tranh với đối thủ Nếu ngân hàng nào muốn gia tăng nguồn vốn huy động thì chỉ cần điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm cao hơn các đối thủ khác Còn ngân hàng nào muốn đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng thì có thể giảm lãi suất cho vay
về vật chất thì nhu cầu được phục vụ cũng là vấn đề mà tất cả các khách hàng của mọi lĩnh vực đều quan tâm, đặc biệt là các khách hàng VIP Do đó, việc chăm sóc khách hàng chu đáo, luôn đáp ứng tốt các nhu cầu, nguyện vọng của khách hàng sẽ
Trang 21hệ thân thiết giữa khách hàng với ngân hàng, làm tăng sự tín nhiệm và trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng Chính vì vậy mà chất lượng phục vụ khách hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi ngân hàng Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh thì các ngân hàng không thể bỏ qua công tác chăm sóc khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ tại ngân hàng mình
1.1.3.4 Mạng lưới và công nghệ
Mạng lưới giao dịch rộng khắp chắc chắn sẽ giúp ngân hàng có lợi thế hơn trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ tài chính, kèm theo đó là cơ hội để quảng bá thương hiệu trên diện rộng, và cũng là cơ sở rất quan trọng để gia tăng tính tiện ích của sản phẩm dịch vụ cung ứng khi mà khoảng cách địa lý giữa ngân hàng và khách hàng được rút ngắn
Nếu như sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng được khách hàng sử dụng nhiều hơn, nó là chọn lựa ưu tiên của khách hàng khi có nhu cầu dịch vụ tài chính, thì dĩ nhiên ngân hàng đó sẽ có được lợi thế trong cạnh tranh Trong thời đại hiện nay, điều đáng quan tâm của khách hàng khi lựa chọn, đặc biệt là người Việt Nam, chỉ đơn giản là thuận tiện nhất theo kiểu “ra ngõ là gặp” Dĩ nhiên, trong trường hợp này, mạng lưới rộng khắp là điều kiện tiên quyết
Thêm vào đó, các sản phẩm, dịch vụ tài chính tiện ích cao, giá rẻ, … hầu hết đều được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại; thực hiện các dịch vụ nhanh chóng, chính xác, khách hàng sử dụng được dịch vụ mà không cần đến ngân hàng cũng là kết quả ứng dụng công nghệ Bởi vậy, trình độ ứng dụng công nghệ cao sẽ là cơ sở cho một ngân hàng tạo sự khác biệt về chất lượng và giá cả của sản phẩm, dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh
Song song đó, ứng dụng công nghệ cao cho phép ngân hàng tập trung dữ liệu về thông tin khách hàng, quản lý và khai thác chính xác lợi ích từng khách hàng mang lại cho ngân hàng thông qua sử dụng dịch vụ để quyết định chiến lược khách hàng Công nghệ hiện đại cũng là cơ sở quan trọng để tạo ra kênh trao đổi thông tin
đa chiều giữa ngân hàng và khách hàng Và ứng dụng công nghệ cao cũng cho phép
Trang 22ngân hàng thiết lập một hệ thống giám sát hiệu quả toàn bộ các hoạt động, giảm thiểu rủi ro hệ thống có thể xảy ra
1.1.3.5 Nguồn nhân lực
Không riêng gì ngành ngân hàng mà đối với tất cả các ngành kinh doanh thì nguồn nhân lực luôn là yếu tố cực kỳ quan trọng Bởi vì, mọi thứ khác đều được làm bởi con người Một đội ngũ quản lý có trình độ và trí tuệ cao sẽ điều hành và lãnh đạo tốt, sẽ luôn đưa ra được những sáng kiến hay, những giải pháp hiệu quả Đội ngũ nhân viên có kiến thức, có chuyên môn sẽ làm việc hiệu quả, chuyên nghiệp, góp phần thu hút khách hàng đến giao dịch
Khả năng thu hút và giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng cao cũng thể hiện đẳng cấp và danh tiếng của ngân hàng trên thị trường Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của quá trình cạnh tranh trong quá khứ, đồng thời là năng lực cạnh tranh trong hiện tại và tương lai, là yếu tố then chốt giúp ngân hàng giành được khách hàng, gia tăng thị phần
1.1.3.6 Thương hiệu
Tạp chí Fortune năm 1996 đã viết rằng “Có một tên tuổi lớn được xem như vũ khí cơ bản trong cạnh tranh” Thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của doanh nghiệp, nó là một tài sản vô hình nhưng lại có giá trị rất lớn bởi
nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi của khách hàng Khi một doanh nghiệp có thương hiệu tức là nó đã được nhiều người biết đến, điều đó đồng nghĩa với việc nó đã sở hữu một lợi thế cạnh tranh hơn những đối thủ chưa có thương hiệu khác
Với tầm quan trọng như trên, thương hiệu có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Vì kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực nhạy cảm nên có một thương hiệu nổi tiếng sẽ giúp ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch Hơn thế nữa, nếu đã sở hữu một thương hiệu có tiếng thì ngân hàng
sẽ giảm thiểu đáng kể chi phí tìm kiếm và thu hút khách hàng mới cũng như chi phí
Trang 231.1.4 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của Michael Porter
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích năng lực cạnh tranh của một đơn vị Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh
Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành
Lực lượng cạnh tranh đầu tiên trong mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter là sự ganh đua của các đơn vị trong cùng ngành Đây là lực lượng cạnh tranh chính của các doanh nghiệp Các nhà kinh tế học đo lường cường độ cạnh tranh
bằng các chỉ số về mức độ tập trung của ngành Hệ số tập trung (Concentration
Ratio) được xác định bằng thị phần mà bốn công ty lớn nhất trong ngành chiếm giữ Hệ số tập trung cũng có thể được đánh giá bằng thị phần của 8, 25 hay 50 công ty hàng đầu trong ngành Hệ số tập trung cao chỉ ra rằng các doanh nghiệp hàng đầu
Trang 24chiếm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường và tính chất tập trung của ngành cao Điều đó cũng có nghĩa rằng khả năng thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp lớn, quyền lực trong đàm phán với hệ thống cung cấp hay hệ thống phân phối cũng được tập trung Khi chỉ có một số ít doanh nghiệp nhưng chiếm giữ một thị phần lớn thì thị trường trở lên ít cạnh tranh, thị trường tiến gần đến tình trạng độc quyền
Trái lại, mức độ tập trung thấp chỉ ra rằng ngành kinh doanh bị cạnh tranh bởi nhiều doanh nghiệp, không có doanh nghiệp nào có được thị phần quan trọng Hiện tượng này gọi là thị trường bị phân tán, nhưng mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lại trở lên rất gay gắt Các doanh nghiệp thường luôn cố gắng để gia tăng phần thị trường của mình Thị trường ở các ngành này thường diễn ra các cuộc chiến về giá
Hệ số tập trung ngành không phải là biến số duy nhất đánh giá mức độ cạnh tranh trong ngành Chúng ta còn thấy xu thế xác định ngành kinh doanh trên tiêu chí
về mức độ thông tin hơn là sự phân bổ thị phần
Nếu mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành thấp, hiện tượng này được gọi là cạnh tranh ngành có tính chất hệ thống hay có nguyên tắc Các nguyên tắc này được tạo ra do tính chất lịch sử cạnh tranh của ngành, vai trò của doanh nghiệp dẫn đầu hay những sự thỏa thuận ngầm Sự cấu kết thông thường
là trái luật pháp và không phải luôn là một giải pháp tốt, nên trong các ngành có mức độ cạnh tranh thấp thì hướng cạnh tranh thường chịu những ràng buộc miễn cưỡng không chính thức Tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp tận dụng được các lợi thế cạnh tranh của mình mà có khả năng làm thay đổi các nguyên tắc này
Khi một doanh nghiệp cạnh tranh và hành động không khéo léo để các doanh nghiệp khác nắm bắt được cơ chế cạnh tranh của mình thì mức độ cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt Các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh hoặc là sao chép cách thức khai thác lợi thế cạnh tranh hoặc sẽ đi tìm các lợi thế khác, và như vậy các doanh nghiệp không ngừng tìm kiếm các phương thức cạnh tranh mới Cường độ cạnh tranh thông thường thể hiện dưới các cấp độ như: rất khốc liệt, cạnh tranh
Trang 25cường độ cao, cạnh tranh ở mức độ vừa phải, cạnh tranh yếu Các cấp độ cạnh tranh này phụ thuộc vào khả năng phản ứng của các doanh nghiệp trong việc xây dựng và khai thác lợi thế cạnh tranh
Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định
đến áp lực cạnh tranh, cũng như quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn thì họ có thể ép giá hoặc giảm chất lượng các yếu tố đầu vào
Thông tin về nhà cung cấp: Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tố
thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp
Theo Porter, các nhà cung cấp sẽ có quyền lực nhất khi mà:
- Mức độ tập trung và quy mô của các nhà cung cấp lớn;
- Sản phẩm mà nhà cung cấp bán ít có khả năng thay thế và quan trọng đối với công ty;
- Các sản phẩm tương ứng của các nhà cung cấp được làm khác biệt đến mức có thể gây tốn kém cho doanh nghiệp nếu thay đổi nhà cung cấp;
- Khả năng liên minh, hợp nhất giữa các nhà cung cấp cao
Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế những nhà cung cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ (Nông dân, thợ thủ công ) sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với các doanh nghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức
Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Khách hàng của doanh nghiệp có thể là
Trang 26người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng nhỏ lẻ) hoặc là các nhà phân phối, các đại
lý Cả hai nhóm khách hàng này đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng
Tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp, Porter cũng chỉ ra rằng người mua sẽ có quyền lực nhất khi:
- Số lượng người mua ít trong khi số lượng công ty trong ngành nhiều;
- Khách hàng mua số lượng hàng lớn;
- Sản phẩm không quá cần thiết và ít quan trọng đối với nười mua;
- Mức độ sẵn có của sản phẩm thay thế cao;
- Người mua có được nhiều thông tin về sản phẩm từ nhiều nhà cung cấp
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
+ Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào
một ngành khó khăn và tốn kém hơn, chẳng hạn: kỹ thuật, vốn, hệ thống phân phối, nguyên vật liệu đầu vào, yêu cầu đặc biệt của Pháp luật về bằng cấp, giấy phép kinh doanh…
Nhận diện các đối thủ mới sẽ gia nhập vào ngành là một điều quan trọng, vì
nó đe dọa đến thị phần của các công ty hiện tại Các đối thủ mới gia nhập ngành thường có tham vọng và sự quyết tâm mãnh liệt trong việc tranh giành thị trường,
do đó nó buộc các công ty hiện hữu phải có những hành động cạnh tranh để giữ thị phần
Trang 271.1.5 Ý nghĩa của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM
Cạnh tranh có vai trò rất to lớn và quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi ngân hàng nói riêng Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng cần thiết phải duy trì sự cạnh tranh Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để khách hàng có thể lựa chọn được những sản phẩm – dịch vụ có chất lượng tốt, giá
cả rẻ Chính vì vậy cạnh tranh là để bảo vệ lợi ích của khách hàng Đứng ở góc độ ngân hàng, cạnh tranh sẽ là điều kiện thuân lợi để mỗi ngân hàng tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường, tự hoàn thiện bản thân để vươn lên dành ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác
Trên thị trường tài chính, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất nhằm tranh giành khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, tạo
ưu thế về mọi mặt cho ngân hàng nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất Do đó, việc tạo
ra và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng mình là một việc làm rất cần thiết và quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại Cạnh tranh buộc các ngân hàng phải luôn luôn sáng tạo ra những sản phẩm – dịch vụ mới mà thị trường cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của khách hàng Cạnh tranh thực chất là cuộc chạy đua không có đích, là quá trình mà các ngân hàng đưa ra các biện pháp kinh tế đích thực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thương trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra ưu thế về sản phẩm và giá cả Muốn vậy, mỗi ngân hàng phải không ngừng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công
Trang 28nghệ cao vào sản phẩm, dịch vụ tài chính của mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và chất lượng phục vụ Trong cơ chế thị trường, ngân hàng nào cung cấp các sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt nhất mà lãi suất phù hợp nhất, phí thấp nhất thì sẽ chiến thắng
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển trên nhu cầu về dịch vụ tài chính - ngân hàng của khách hàng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các ngân hàng phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá cả, chất lượng,
uy tín Hay các yếu tố gián tiếp như hoạt động quảng cáo, ưu đãi, khuyến mãi, Hơn nữa trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các ngân hàng trong nước mà còn là các ngân hàng, công ty tài chính nước ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển
Tóm lại, cạnh tranh là động lực cơ bản nhằm kết hợp một cách tối ưu nhất lợi ích của các ngân hàng, lợi ích của khách hàng và lợi ích của xã hội Và năng lực cạnh tranh là điều kiện giúp ngân hàng chiếm lĩnh thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao nhất mà vẫn đảm bảo hoạt động an toàn, bền vững
1.2 Các nghiên cứu trước
Các khái niệm cũng như các đề tài có liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đã được thảo luận rất nhiều trong các tài liệu trong và ngoài nước Trong bài nghiên cứu “Đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ở Bangladesh” (Measuring Competitiveness of Banks in Bangladesh) được thực hiện năm 2003, hai tác giả Jahangir Alam và Al Nahian Rijadh đã phân tích và so sánh để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của các loại hình ngân hàng ở Bangladesh dựa trên mô hình
mà Sadare đã dùng để đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ở Ấn Độ Bằng cách mở rộng mô hình của Sadare với nhiều hơn 2 biến, hai tác giả này đã nghiên cứu được rằng: các ngân hàng thuộc lĩnh vực tư nhân có khả năng cạnh tranh
Trang 29hơn các ngân hàng thuộc lĩnh vực khác
Hay một nghiên cứu khác về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng ở bốn trong năm quốc gia thuộc cộng đồng Đông Phi (EAC) là Kenya, Tanzania, Uganda
và Rwanda của 2 tác giả Sarah Sanya và Mathew Gaertner năm 2012 Các tác giả này đã sử dụng 2 phương pháp đo lường phi cấu trúc là chỉ số Lerner và Thống kê
H Kết quả nghiên cứu cho biết thứ tự xếp hạng của các nước về mức độ cạnh tranh của hệ thống ngân hàng là: Kenya, Tanzania, Uganda và Rwanda Ngoài ra, Thống
kê H còn chỉ ra rằng, các ngân hàng trong EAC ít cạnh tranh hơn so với các quốc gia khác với một mức độ cao hơn của sự phát triển tài chính và kinh tế Liên quan đến các yếu tố của cạnh tranh, kết quả nghiên cứu thực nghiệm còn cho thấy:
- Nền kinh tế và thể chế càng phát triển càng làm gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng
- Mức độ tập trung thị trường càng lớn càng làm giảm cạnh tranh
- Các ngân hàng tại các quốc gia có dân số đông có lợi thế cạnh tranh hơn do quy
mô giao dịch lớn hơn
- Cho vay ở khu vực tư nhân sẽ thúc đẩy cạnh tranh, trong khi lợi nhuận ngân hàng cao sẽ hạn chế cạnh tranh
Các bài nghiên cứu trong nước cũng rất nhiều, song hầu hết là các nghiên cứu dạng định tính, phân tích năng lực cạnh tranh của một ngân hàng cụ thể hoặc của hệ thống trong một giai đoạn nhất định Như bài nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Đặng Hữu Mẫn, được đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ – Đại học Đà Nẵng – số 5 (40) 2010 Hay bài nghiên cứu về một ngân hàng cụ thể “Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB) sau khi Việt Nam gia nhập WTO” của tác giả Nguyễn Thành Long năm 2012
Về nghiên cứu định lượng thì có bài “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2006 -2015” của tác giả Phan Ngọc Tấn năm 2006 Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng và
Trang 30phần mềm SPSS 10.0 để phân tích dữ liệu Kết quả cho thấy, năng lực cạnh tranh của NHTM gồm 6 thành phần chính là: 1/ Dịch vụ, 2/ Thương hiệu, 3/ Tiềm lực tài chính, 4/ Sản phẩm, 5/ Vốn trí tuệ, 6/ Mạng lưới phân phối Trong 6 thành phần trên thì chỉ có 4 thành phần có quan hệ tuyến tính với hiệu quả kinh doanh của NHTMVN hiện nay là: vốn trí tuệ, thương hiệu, dịch vụ và sản phẩm Trong các thành phần của năng lực cạnh tranh, thành phần thương hiệu được đánh giá cao nhất, các thứ tự tiếp theo là: vốn trí tuệ, sản phẩm, dịch vụ, mạng lưới phân phối và thấp nhất là tiềm lực tài chính
Trang 31Kết luận chương 1
Cạnh tranh trong kinh tế thị trường là sự tranh đua giữa các chủ thể tham gia thị trường để giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa nhằm thu lại nhiều lợi ích nhất cho chính họ
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, sử dụng hợp lý
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao
Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng là khả năng chiếm lĩnh thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn so với bình quân ngành mà vẫn đảm bảo hoạt động lành mạnh, bền vững
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM gồm có: sản phẩm – dịch vụ; chất lượng phục vụ; tiềm lực tài chính; danh tiếng và thương hiệu; nguồn nhân lực; hệ thống phân phối và trình độ công nghệ
Từ các lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại và các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài năng lực cạnh tranh, mô hình hồi quy ban đầu về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã được xây dựng Trong mô hình lý thuyết này, biến phụ thuộc là Năng lực cạnh tranh, sáu biến độc lập còn lại gồm: Sản phẩm – dịch vụ, chất lượng phục vụ, mạng lưới – công nghệ, thương hiệu, nguồn lực tài chính và cuối cùng là nguồn nhân lực
Trang 32Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 với tên gọi đầu tiên là Ngân
hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong
những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank
Đến ngày 30/06/2013, vốn điều lệ của Eximbank đã đạt 12.335 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 14.476 tỷ đồng Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP Hồ Chí Minh và 207 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc và đã thiết lập quan hệ đại lý với 869 Ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới
Eximbank là ngân hàng đa chức năng, được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh của một ngân hàng thương mại theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam Cụ thể như:
- Dịch vụ Nhận tiền gửi thanh toán - tiền gửi tiết kiệm - phát hành giấy tờ
Trang 33có giá ngắn hạn bằng Đồng và các loại ngoại tệ: Thực hiện các hình thức huy
động tiết kiệm, tiền gửi, kỳ phiếu vv không kỳ hạn và có kỳ hạn với các mức lãi suất linh hoạt, hấp dẫn
- Cho vay ngắn hạn - trung hạn - dài hạn - đồng tài trợ - cho vay theo hạn mức tín dụng: Thực hiện cho vay tín chấp hoặc có thế chấp bằng đồng và ngoại tệ
cho các thành phần kinh tế, cá nhân với các điều kiện thuận lợi và lãi suất cho vay hấp dẫn Cho vay hợp vốn với các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác đối với các dự án lớn
- Dịch vụ thanh toán - tài trợ dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa - dịch vụ chuyển tiền qua hệ thống SWIFT: Eximbank là một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần có hoạt động dịch vụ thanh toán đa dạng và có thể đáp ứng được hầu hết các yêu cầu về thanh toán quốc tế và trong nước của các khách hàng kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu Với mạng lưới liên kết với hơn 869 ngân hàng lớn tại 84 quốc gia trên thế giới, Eximbank có khả năng thực hiện nhanh chóng, chi phí thấp, an toàn với các hình thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C), nhờ thu (D/A, D/P), TT, OP, Cheque, thẻ tín dụng Chiết khấu chứng từ có giá với mức phí thấp (chứng từ hàng xuất) Phát hành thư bảo lãnh trong và ngoài nước; thực hiện dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước
- Kinh doanh tiền tệ: cung cấp các dịch vụ về mua bán các loại ngoại tệ đối
với các cá nhân và doanh nghiệp, nghiệp vụ giao ngay (Spot) về tiền tệ, nghiệp vụ hoán đổi về tiền tệ (Swap), nghiệp vụ kỳ hạn về tiền tệ (Forward) và nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ (Option) giữa ngoại tệ/ngoại tệ, ngoại tệ/đồng Đối với nghiệp vụ option, Eximbank là ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam thực hiện nghiệp vụ Option ngoại tệ/ngoại tệ từ tháng 2 năm 2003 và Option ngoại tệ/VNĐ từ tháng 6/2006 và đã thu hút nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tham gia nghiệp vụ này nhằm tránh các rủi ro về biến động
tỷ giá
- Dịch vụ trọn gói phục vụ du học sinh: Cung cấp dịch vụ tư vấn du học, thủ
Trang 34tục chứng minh tài chính cho du học sinh, cho vay du học trọn gói Phối hợp cùng các công ty tư vấn du học tổ chức nhiều hội thảo giới thiệu về các cơ hội du học tại các nước có nền giáo dục phát triển cho các học sinh sinh viên Hỗ trợ các du học sinh về mặt tài chính như cho vay với lãi suất ưu đãi, phát hành thẻ tín dụng MasterCard/Visa dưới dạng tín chấp hoặc ký quỹ với các mức phí sử dụng rất thấp
- Dịch vụ thanh toán và phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ: Cung cấp dịch
vụ phát hành thẻ tín dụng, ghi nợ quốc tế, thẻ nội địa Eximbank Card, cung cấp hệ thống máy rút tiền tự động (ATM) Cung cấp dịch vụ thanh toán cho các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có nhu cầu tiếp nhận thẻ tại Việt Nam như cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, công ty lữ hành, các trường học, bệnh viện vv
- Dịch vụ kinh doanh địa ốc: Cung cấp dịch vụ giới thiệu, tư vấn mua và
bán bất động sản, tư vấn pháp lý về thủ tục nhà ở, đất ở, hướng dẫn các thủ tục về nhà đất
- Dịch vụ kiều hối: Cung cấp dịch vụ chuyển tiền của kiều bào ở nước ngoài
cho thân nhân tại Việt Nam Thông qua dịch vụ kiều hối, hàng năm Eximbank tạo nguồn thu ngoại tệ khá lớn để cung cấp cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
- Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp
Thomas Cook Traveller' Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh (I.O.M), cùng với những dịch vụ và tiện ích Ngân hàng khác đáp ứng yêu cầu của khách hàng
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh từ 2008 - 2013
Giai đoạn 2008 – 2013 là thời kỳ khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng trên thế giới và cả ở Việt Nam Trong bối cảnh đó, Eximbank đã nỗ lực phấn đấu để thực hiện các mục tiêu phát triển đã đề ra
Trang 35Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh qua các năm tài chính từ 2008 – 2013
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Doanh thu 1,289 2,576 3,663 6,223 5,387 3,249 Chi phí 922 1,043 1,290 2,165 2,536 2,421 Lợi nhuận sau thuế 711 1,132 1,809 3,038 2,139 659
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các BCTC của Eximbank)
Bất chấp khủng hoảng kinh tế lan rộng, hoạt động kinh doanh của Eximbank vẫn phát triển tốt, doanh thu và lợi nhuận liên tục tăng qua các năm So với năm
2008, doanh thu của Eximbank năm 2009 tăng 99,84%, xét về giá trị tuyệt đối là gần như gấp đôi Doanh thu các năm sau cũng luôn tăng trung bình là 1.5 lần so với năm trước, (2009/2008: 1.99 lần, 2010/2009: 1.42 lần; 2011/2010: 1.7 lần) Trong khi đó, tốc độ tăng của chi phí thấp hơn nhiều, chi phí năm 2009 chỉ tăng 13% so với năm 2008, còn năm 2010 tăng 23,68% so với 2009 Nhờ công các quản trị và quản lý chặt chẽ nên Eximbank đã kiểm soát tốt các chi phí hoạt động, kết quả là tốc độ tăng của chi phí trong giai đoạn này không cao, góp phần làm tăng đáng kể lợi nhuận cho Eximbank Năm 2008, lợi nhuận sau thuế của Eximbank là 711 tỷ đồng, nhưng qua năm 2009 đã tăng thêm 421 tỷ đồng đạt 1,132 tỷ, tăng trưởng 60%
so với năm 2008 Đà tăng trưởng lợi nhuận cao như vậy tiếp tục được Eximbank duy trì trong 2 năm tiếp theo
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của EIB từ 2008 - 2013
Trang 36Năm 2011 là năm phát triển rực rỡ nhất của Eximbank trong giai đoạn này, doanh thu đạt 6,223 tỷ đồng, tăng 70% so với 2010 và so với 2008 thì năm 2011 tăng tới 383% Lợi nhuận cũng có mức tăng trưởng cao nhất trong thời kỳ này, tăng 68% so với năm 2010, gần bằng tốc độ tăng trưởng của doanh thu Và nếu so với năm 2009 thì lợi nhuận năm 2011 mà Eximbank đạt được đã tăng 168%
Biểu đồ 2.1: Tình hình kinh doanh từ 2008 – 2013 của Eximbank
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các BCTC của Eximbank) Dù đang trên đà tăng trưởng tốt như vậy nhưng từ năm 2012, kết quả kinh doanh của Eximbank đã thay đổi theo chiều hướng không tốt, cả doanh thu và lợi nhuận đều giảm; doanh thu năm 2012 giảm 836 tỷ so với năm 2011, tương đương 13,43%; lợi nhuận sau thuế giảm 899 tỷ so với năm 2011, tương đương với 29,62% Năm 2013, tình hình kinh doanh còn sa sút hơn nhiều Lợi nhuận kinh doanh sau thuế năm 2013 giảm 70% so với năm 2012, và giảm hơn 78% so với năm so với năm 2011 Nguyên nhân do trong năm 2012, thị trường tài chính ngân hàng có nhiều biến động xấu gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó có Eximbank Ngay từ đầu năm đã có 3 ngân hàng sáp nhập là ngân hàng TMCP Sài Gòn, ngân hàng Đệ Nhất và ngân hàng Việt
Trang 37Nam Tín Nghĩa Đây là vụ sáp nhập ngân hàng đầu tiên với quy mô lớn kể từ khi Ngân hàng Nhà Nước công bố chủ trương tái cơ cấu toàn diện hệ thống ngân hàng Tiếp sau đó là một số các ngân hàng nhỏ khác cũng sáp nhập Thông tin các ngân hàng bị sáp nhập đã gây ảnh hưởng đến tâm lý và lòng tin của khách hàng đối với hệ thống ngân hàng, làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt đông kinh doanh của những ngân hàng còn lại
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Eximbank từ 2008 - 2013
2.2.1 Tình hình vốn và năng lực tài chính
Eximbank là một trong những ngân hàng TMCP có vốn chủ sở hữu lớn nhất hiện nay Trong những năm qua, Eximbank không ngừng nâng cao sức mạnh tài chính của mình Quy mô vốn chủ sở hữu với thành phần chính là vốn điều lệ đều tăng liên tục từ năm 2008 – 2013, bình quân vốn điều lệ tăng 20% mỗi năm
Bảng 2.3: Quy mô vốn và các quỹ của Eximbank
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Tổng vốn chủ sở hữu 12,844 13,353 13,505 16,302 15,812 14,680
1 Vốn điều lệ 7,220 8,800 10,560 12,355 12,355 12,355
3 Các quỹ dự trữ 213 378 641 1,116 1,391 1,525
4 Lợi nhuận giữ lại 104 449 338 2,660 1,893 628
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các BCTC của Eximbank)
Cơ cấu nguồn vốn cũng có sự điều chỉnh trên cơ sở vốn điều lệ vẫn luôn chiếm tỉ trọng lớn, trên 55% và tăng rất mạnh, từ 56,21% năm 2008 đã tăng lên 78,14% vào năm 2013 Cơ cấu các thành phần vốn còn lại có sự thay đổi theo xu hướng tăng tỉ lệ quỹ dự trữ và lợi nhuận giữ lại, đồng thời giảm các nguồn vốn khác Cơ cấu như vậy là rất tốt, đảm bảo được tính ổn định và bền vững cho nguồn vốn chủ sở hữu
Trang 38Bảng 2.4: Quy mô vốn điều lệ một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Ngân hàng 2010 2011 2012 2013
Agribank 20,709 21,103 29,154 29,605 Vietinbank 15,173 20,230 26,217 37,234 VCB 13,233 19,698 23,174 23,174 BIDV 14,600 28,251 23,012 28,112 Eximbank 10,560 12,355 12,355 12,355 Sacombank 9,179 10,740 10,740 12,425 ACB 9,377 9,377 9,377 9,377 Techcombank 6,932 8,788 8,848 8,878 VPB 4,000 5,050 5,770 5,770 DongAbank 4,500 4,500 5,000 5,000 MHB 3,006 3,062 3,365 3,365
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ BCTC các ngân hàng)
So sánh với một số ngân hàng thương mại Việt Nam thì vốn điều lệ của Eximbank đứng thứ 6, chỉ sau các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước Như vậy, năng lực tài chính của Eximbank hiện nay có thể nói là rất mạnh, đây là một lợi thế giúp Eximbank có điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh cũng như tăng cường sức mạnh chống đỡ rủi ro và là thế mạnh giúp Eximbank nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Eximbank giai đoạn 2008-2013 Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 2013
ROE (%) 7.43% 8.85% 13.51% 20.39% 13.30% 4.3%
ROA (%) 1.74% 1.99% 1.85% 1.93% 1.20% 0.4%
Trang 39CAR (%) 45.89% 26.87% 17.79% 12.94% 16.38% 14.47%
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các BCTC của Eximbank)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của Eximbank năm 2008 đạt 7,43%, tăng đều qua các năm và đến năm 2011 đã đạt 20,39% Từ năm 2012, tỷ suất lợi nhuận trên vốn sụt giảm mạnh do lợi nhận đã giảm 30% so với năm 2011
Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) cũng đạt mức khá cao
và khá ổn định trong giai đoạn này, riêng năm 2012 sụt giảm nhiều so với các năm trước nhưng bình quân cũng đạt 1,74% mỗi năm
Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) rất cao và có xu hướng giảm liên tục từ năm 2008 đến năm 2011, tuy nhiên vẫn đạt khá cao so với quy định tối thiểu 9% của NHNN Nguyên nhân hệ số CAR giảm mạnh là do tổng tài sản luôn tăng rất cao qua mỗi năm, trong khi các nguồn vốn thì gần như ổn định, con số tăng rất thấp không đáng kể so với mức tăng của tài sản
Biểu đồ 2.2: Các chỉ tiêu ROE, ROA, CAR giai đoạn 2008-2013
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các BCTC của Eximbank)
Trang 40Nhìn chung, các chỉ tiêu tài chính cơ bản ROE, ROA, CAR của Eximbank thời gian qua khá tốt, đạt trên mức chuẩn chung và tiến gần đến thông lệ quốc tế (theo thông lệ quốc tế, hệ số ROE tối thiểu nên đạt tối thiểu từ 12%-15% ; hệ số ROA nên đạt trên 1%, hệ số CAR theo tiêu chuẩn Basell II là 12% )
2.2.2 Tình hình phát triển sản phẩm – dịch vụ
Trong những năm qua dịch vụ khách hàng của Eximbank không ngừng đổi mới và phát triển Kể từ năm 2010 Eximbank quyết định chuyển hướng sang hoạt động bán lẻ, từ đó hoạt động ngân hàng bán lẻ được chú trọng và thường xuyên cải tiến, thay đổi các mô hình mới cho phù hợp Các mô hình bán hàng chủ động được
áp dụng và nhân rộng với đội ngũ chuyên viên bán hàng năng động, chuyên nghiệp, đồng thời đa dạng các kênh bán hàng để Eximbank đến gần với khách hàng hơn
Các sản phẩm dành cho khách hàng cá nhân:
- Tiền gửi tiết kiệm: bao gồm các sản phẩm truyền thống như tiền gửi, tiết
kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn; tiền gửi thanh toán; các sản phẩm tiết kiệm tiện ích như Tiết kiệm Phúc Bảo An, tích lũy tiền lương, Tiết kiệm cho con yêu… và cả các sản phẩm hiện đại như Tiết kiệm online…
- Sản phẩm cho vay: để đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách hàng,
Eximbank đã phát triển nhiều sản phẩm cho vay thích hợp với từng đối tượng Các sản phẩm điển hình như: cho vay tiêu dùng; cho vay mua, xây, sửa chữa nhà; cho vay du học, cho vay hỗ trợ tiểu thương, cho vay cầm cố …
- Thẻ và dịch vụ thẻ: Sản phẩm thẻ và dịch vụ thẻ của Eximbank rất đa
dạng và phong phú Hiện nay Eximbank đã là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế như Master, Visa, JCB, Union…
- Các dịch vụ khác: ngoài các sản phẩm chính kể trên, Eximbank còn
cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích khác cho khách hàng cá nhân như: dịch
vụ mua bán vàng miếng, dịch vụ du học trọn gói, dịch vụ chuyển tiền,