Đây là một giống có nhiều đặc tính quý: Độ dẻo cao, dẻo lâu, thơm, ngậy, ngon và chịu đựng tốt với các yếu tố bất thuận địa phương, do đó nếp Tú Lệ có giá bán cao trên thị trường và là g
Trang 1NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO NĂNG SUẤT
VÀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM GIỐNG LÚA ĐẶC SẢN NẾP TÚ LỆ
Hà Đình Tuấn, Lưu Ngọc Quyến
Abstract
Research and development of technologies for improvement of yield
and quality of specialty rice variety nep Tu Le
Nep Tu Le is a local traditional sticky rice variety with a number of precious traits like pleasant aroma, long time stickiness of cooked rice, tolerance to adverse local conditions and high market value However, due to genetic degeneration, mechanical contamination and changes in cultural practices, the yield and quality of the variety are decreasing and there is a threat of its genetic erosion It has become urgent to develop technologies to improve the yield and quality of Nep Tu
Le to increase the growers’ income and stimulate them participate in conservation of local germplasm of specialty varieties Population and single line selection resulted in production of high quality seeds,which together with new cultivation techniques: density of 40 - 42 hills/m2, sowing date 13 - 15 May, transplating date 25 - 30 June, and fertilizers at 70 kg NPK + 10 kg Urea + 10 kg Potassium chlorite, have increased the yield from 4.1 to 4.7 T/ha (or by 14 to 18% as compared to farmers’practices) Research also reveals that Nep Tu Le can be grown in the nearby communes like Cao Pha and Nam Co with the same yield and quality Further research is needed to identify measures to improve and maintain the post harvest quality of Nep Tu Le
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nếp Tú Lệ là một giống lúa nếp bản địa
quý của thung lũng Tú Lệ, huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái Nếp Tú Lệ còn có tên gọi khác
là KhNu N ua Mường Lùng hay N ếp Tan
Đây là một giống có nhiều đặc tính quý: Độ
dẻo cao, dẻo lâu, thơm, ngậy, ngon và chịu
đựng tốt với các yếu tố bất thuận địa
phương, do đó nếp Tú Lệ có giá bán cao trên
thị trường và là giống lúa mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho người sản xuất Tuy nhiên
năng suất cũng như chất lượng sản phNm
đang bị giảm Kết quả điều tra năm 2005 đã
chỉ rõ nguyên nhân của sự giảm sút đó, chủ
yếu do thoái hoá giống và những bất cập
trong gieo cấy, chăm sóc, đặc biệt là chế độ
bón phân và thu hoạch bảo quản N guồn gen
N ếp Tú Lệ đang bị xói mòn nghiêm trọng
Việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phNm N ếp Tú Lệ để nâng cao thu nhập cho nông dân, thúc đNy ho tham gia bảo tồn nguồn gen quý hiếm này là vô cùng cấp thiết Vì vậy, chúng tôi đã được Bộ N ông nghiệp và PTN T cho phép thực hiện đề tài
“N ghiên cứu phục tráng và phát triển giống lúa đặc sản nếp Tú Lệ” Chúng tôi đã tập trung vào việc nghiên cứu các giải pháp khắc phục các yếu tố hạn chế trên nhằm góp phần duy trì, phát triển nông sản đặc sản của vùng và duy trì nét đẹp văn hoá của đồng bào dân tộc Thái ở Tú Lệ
II N ỘI DUN G VÀ PHƯƠN G PHÁP
N GHIÊN CỨU
1 Phục tráng giống
- Điều tra PRA cấp hộ sản xuất, điều tra
chuyên gia (Lão nông) theo bảng câu hỏi,
Trang 2thảo luận nhóm, kết hợp phân tích trong
phòng thí nghiệm để xác định đặc điểm
hình thái nông học, sinh lý, sinh hoá và chất
lượng sản phNm của giống nếp Tú Lệ
- Phục tráng giống trên cơ sở sử dụng
kết hợp các phương pháp truyền thống:
Chọn lọc cá thể và chọn lọc quần thể
2 !ghiên cứu xây dựng quy trình canh tác
- Sử dụng phương pháp PRA cùng
nông dân đề xuất các nội dung thử nghiệm
- Thực hiện các thử nghiệm trong môi
trường nông dân Từ đó xây dựng quy trình
sản xuất, bảo quản đạt năng suất và chất
lượng cao (kết hợp kiến thức tiên tiến và
truyền thống)
- Các nội dung thử nghiệm gồm: Thử
nghiệm thời vụ canh tác, mật độ cấy, quy
trình bón phân, thời điểm thu hoạch, kỹ
thuật phơi thóc đến chất lượng gạo và một
số kỹ thuật bảo quản nông sản
3 Xây dựng mô hình thử nghiệm áp
dụng đồng bộ các yếu tố kỹ thuật
- Thử nghiệm sản xuất canh tác nếp Tú Lệ
với việc áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ
thuật mới được xác định sau các thử nghiệm
- Phương pháp xây dựng mô hình: Xây
dựng mô hình trên ruộng nông dân, kết hợp
khảo nghiệm sản xuất diện rộng
4 Khảo nghiệm địa lý giống nếp Tú Lệ
cho việc xác định vùng sản xuất
- Thử nghiệm gieo cấy giống nếp Tú Lệ
ở các xã lân cận: Tú Lệ, Cao Phạ, N ậm Có
và N ậm Búng
- Thực hiện các thử nghiệm trong môi
trường nông dân
III KẾT QUẢ THẢO LUẬN
1 Kết quả phục tráng giống
1.1 Phục tráng cá thể
a/ Xây dựng thang tiêu chun các đặc điểm hình thái và nông học nếp Tú Lệ gốc
Qua điều tra đã xác định được các đặc điểm chính về mặt nông học của giống nếp
Tú Lệ, từ đó đã xây dựng được thang tiêu chuNn phục vụ cho công tác phục tráng giống ở những năm tiếp theo Các chỉ tiêu nông học nổi bật là: Giống dài ngày (150 -
160 ngày); Hạt có râu màu đen dài khoảng 0,5 cm; Vỏ trấu vàng sẫm ở đầu hạt, viền gân màu nâu tím; Hạt tròn, trắng trong, ít bạc bụng; Đặc biệt rất thơm khi nấu, cơm dẻo, không dính, giữ được mùi thơm và độ dẻo lâu
b/ Chọn lọc dòng
Căn cứ vào các đặc điểm chính của giống và theo dõi trên đồng ruộng, năm
2005 chúng tôi đã chọn được 200 dòng
Vụ mùa năm 2006 qua theo dõi trong giai đoạn mạ đã loại đi 50 dòng có dạng cây khác dạng và gieo cấy 150 dòng để tiếp tục quá trình chọn lọc cá thể Kết quả theo dõi
và lọc dòng cụ thể là:
- Dựa vào hình dáng và màu sắc râu (ưu tiên thứ nhất): Chọn được 94 dòng nếp Tú
Lệ từ 150 dòng ban đầu, các dòng bị loại hạt thóc không có râu
- Dựa vào màu sắc hạt thóc (ưu tiên thứ 2): Chọn được 87 dòng từ 94 dòng chọn theo ưu tiên thứ nhất, 7 dòng bị loại hạt thóc không có viền gân màu nâu tím
- Dựa vào màu gạo lật và hình thái cây (ưu tiên thứ 3): Chọn được 80 dòng từ 87 dòng theo thứ tự ưu tiên thứ 2 Các dòng bị loại có hình thái cây ở dạng xoè và gạo lật màu hồng nhạt
- Dựa vào chỉ tiêu động thái tăng trưởng số nhánh (những dòng có số dảnh cuối cùng trên 9 và thấp dưới 4 nhánh sẽ bị
Trang 3loại) và động thái tăng trưởng chiều cao
của 80 dòng nếp Tú Lệ (loại các dòng
ngoài chiều cao từ 124 - 159 cm) Kết quả
còn 20 dòng làm vật liệu cho chọn lọc vụ
G2 năm 2007
Năm 2007 gieo cấy 20 dòng được chọn
ở năm 2006, qua theo dõi đã thu được kết
quả như sau:
- Dựa vào góc độ ra lá đòng chúng tôi
chọn được 15 từ 20 dòng gieo cấy, những
dòng xuất hiện cá thể có kiểu lá đòng
chụm bị loại, chỉ chọn dòng có kiểu ra lá
đòng xoè
- Dựa vào màu sắc mỏ hạt chúng tôi
chọn lọc được 8 dòng từ 15 dòng còn lại,
các dòng này có màu mỏ hạt tím, những
dòng xuất hiện cá thể có màu mỏ đỏ, trắng
và các màu khác bị loại bỏ
- Dựa vào màu sắc râu và độ dài râu
chọn ra được 6 dòng từ 8 dòng trên: Những
dòng có màu sắc râu trắng, đỏ bị loại Đồng
thời các dòng có độ dài râu trên 0,3 cm và
nhỏ hơn 0,1 cm bị loại bỏ
Căn cứ vào các đặc điểm trong thang
tiêu chuNn chúng tôi đã tiến hành hỗn 6
dòng trên tạo được hạt giống siêu nguyên
chủng làm vật liệu cho việc nhân hạt
nguyên chủng ở năm 2008
1.2 Phục tráng quần thể
Năm 2006 đã tổ chức 1 lớp tập huấn
các kỹ thuật cơ bản trong việc phục tráng
giống nông dân (phục tráng quần thể) cho
các hộ tham gia, cán bộ xã và một số hộ
đại diện cho các thôn trong xã Các ruộng
phục tráng đều được cấy theo băng rộng
1,2 m; cấy 1 dảnh, được tiến hành khử lẫn
được 4 lần ở các giai đoạn: Mạ trước cấy,
đẻ nhánh tối đa, trỗ và từ ngậm sữa đến
chín Qua theo dõi nhận thấy: Có 8% số cây có kiểu hình khác dạng so với đặc điểm chung của quần thể, ruộng cao nhất
là 12,2%, thấp nhất là 3,3% Năng suất các ruộng phục tráng đạt trung bình là 3,67 tấn/ha
Năm 2007 quá trình phục tráng quần thể tiếp tục được thực hiện Qua theo dõi nhận thấy độ thuần đồng ruộng tại các điểm theo dõi đều đạt trên 98% và sự lẫn tạp ở vụ mùa 2007 ngoài sự phân ly giống thì phần lớn là do lẫn tạp cơ giới Năng suất lúa ở ruộng phục tráng trung bình đạt
37 tạ/ha Và đã thu được 3 tấn lúa giống sạch bệnh, có độ thuần cao để cung cấp cho vụ mùa 2008
2 Kết quả nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác và bảo quản sản ph>m
2.1 Thời vụ gieo trồng
+ Tiến hành thử nghiệm 3 thời vụ canh tác:
Trà sớm: Gieo mạ 3 - 5 tháng 5, cấy 15
- 20 tháng 6
Trà chính vụ: Gieo mạ 13 - 15 tháng 5, cấy 25 - 30 tháng 6
Trà muộn: Gieo mạ 25 - 28 tháng 5, cấy
5 - 10 tháng 7
+ Qua thử nghiệm nhận thấy: Gieo cấy
ở trà chính vụ và trà muộn có thời gian sinh trưởng 140 - 145 ngày, còn trà sớm là 145 -
150 ngày Năng suất trà chính vụ cao nhất (đạt 3,93 tấn/ha), trà sớm là 3,6 tấn/ha và trà muộn là 2,8 tấn/ha Tỷ lệ gạo xát và gạo nguyên, hàm lượng amiloze, amilo - pectin
ở các thời vụ không khác nhau Như vậy nên cấy nếp Tú Lệ ở trà chính vụ, còn trà muộn sẽ không cho năng suất cao, do đó
Trang 4cần tìm giống lúa xuân ngắn ngày để cấy,
đảm bảo canh tác được 2 vụ lúa/năm
2.2 Xây dựng quy trình bón phân
+ Nội dung: Thử nghiệm 3 quy trình
bón phân:
- Quy trình bón phân cũ: Chỉ bón lót 8
tạ phân chuồng cho 1000 m2
- Quy trình phổ biến hiện nay của các
hộ tại xã (đối chứng): Bón lót 100 kg NPK
(loại 5:10:3) và thúc 1 lần sau cấy 30 ngày
với 30 kg NPK cho 1000 m2
- Quy trình cải tiến được xây dựng từ
hội nghị PRA: Bón lót 70 kg NPK (loại
5:10:3) và thúc 1 lần sau cấy 30 ngày với
10 kg urê, 8 kg kali cho 1000 m2
Qua thử nghiệm nhận thấy:
- Bón phân theo quy trình cũ, năng
suất đạt thấp 24,2 tạ/ha, giảm 33% so với
cách bón thông thường hiện nay; Nếu bón
theo quy trình phổ biến hiện nay đạt 36,1
tạ/ha, tăng năng suất 49% so quy trình
bón phân trước đây Nếu bón theo hướng
cải tiến năng suất đạt 42,2 tạ/ha, tăng 17%
so với quy trình phổ biến hiện nay của nông dân
- Các chỉ tiêu: Tỷ lệ gạo xát và gạo nguyên, hàm lượng amiloze, amilo - pectin
ở các công thức bón không có sự khác biệt (amiloze từ 11,0 - 11,24%; amilo - pectin từ 88,76 đến 89%) Như vậy cần thay đổi quy trình bón phân cho cân đối để tăng năng suất nếp Tú Lệ và không nhất thiết bón đơn độc phân chuồng theo kiểu canh tác cũ
2.3 Xác định mật độ cấy tối ưu
Tiến hành thử nghiệm với 3 mật độ (Cấy 4 - 5 dảnh/khóm):
- 23 khóm/m2 (mật độ phổ biến của hiện nay): Khoảng cách cấy là 20 x 22 cm
- Cấy 33 khóm/m2: Khoảng cách cấy là
20 x 15 cm
- Cấy 42 khóm/m2: Khoảng cách cấy là
20 x 12 cm
Kết quả thử nghiệm thời vụ và quy trình bón phân được nêu trong bảng 1
Bảng 1 Ảnh hưởng của thời vụ và quy trình bón phân đến năng suất và chất lượng nếp Tú Lệ
Công thức Chỉ tiêu
Vụ sớm Chính vụ Vụ muộn Quy trình
cũ
Quy trình phổ biến
Quy trình cải tiến
Số liệu bảng 1 cho thấy:
Trang 5- So với mật độ phổ biến của dân (là 23
khóm/m2) thì việc tăng mật độ cấy lên 33
khóm/m2 và lên 42 khóm/m2 có số
bông/khóm giảm từ 7,4 xuống còn 6,2 và
5,8; Số hạt chắc/bông giảm từ 97,2 xuống
còn 88,6 và 78,6 Tuy nhiên việc tăng mật
độ vẫn tăng năng suất rõ rệt: Mật độ 42
khóm/m2 đạt 4,34 tấn/ha, tăng 15%; Mật độ
33 khóm/m2 đạt 4,13 tấn/ha, tăng 10% so
với mật độ cũ
- Kết quả phân tích các chỉ tiêu sinh lý,
sinh hoá cho thấy không có sự sai khác giữa
các mật độ cấy về tỷ lệ gạo nguyên,
amiloze, amilo - pectin, B1
2.4 ,ghiên cứu ảnh hưởng của thời
điểm thu hoạch và kỹ thuật phơi thóc đến
chất lượng gạo
Hiện gạo nếp Tú Lệ có 2 màu chính:
Trắng trong và trắng đục; Tỷ lệ gạo vỡ
không đều và chất lượng gạo không đều
Kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân
chính là do thời điểm thu hoạch và việc
phơi không đúng kỹ thuật, vì vậy cần xác
định thời điểm thu hoạch, kỹ thuật phơi cho
chất lượng gạo cao nhất Các nội dung được
thử nghiệm gồm:
+ Phân tích chất lượng sản phNm ở thời
điểm: 27 ngày, 30 ngày, 33 ngày, 36 ngày
sau trỗ
+ Phân tích chất lượng sản phNm ở các
chế độ phơi khác nhau:
- Phơi trong nắng tán xạ: Gồm 3 mức
phơi: 24, 32, 36 giờ phơi
- Phơi trong nắng trực xạ: Gồm 3 mức
phơi: 16, 24, 32 giờ phơi
Qua lấy mẫu và phân tích kết quả thu
được cho thấy:
*) Về đặc tính vật lý của thóc, gạo nếp Tú Lệ tại
các mức phơi khác nhau:
Cả 2 chế độ phơi, thời gian phơi càng tăng tỷ lệ gạo lật và gạo xát tăng không đáng kể, khi độ Nm thóc giảm thì tỷ lệ gạo lật, gạo xát tăng Kết quả phân tích đã chỉ ra rằng tỷ lệ gạo lật, gạo xát, gạo nguyên của mẫu phơi tán xạ cao hơn các mẫu phơi trực tiếp ngoài trời
Tỷ lệ gạo trong và gạo đục thay đổi rõ rệt theo chế độ phơi Các mẫu phơi tán xạ ở các mức 24 giờ có tỷ lệ gạo trong là 75,5%,
ở mức phơi 32 giờ là 45,5% và 36 giờ là 13,0% Với mẫu phơi trực xạ 16 giờ tỷ lệ gạo trong là 15% và 24 giờ là 5% Muốn đạt tỷ lệ gạo trong cao, độ Nm thóc phải từ 14% trở lên, Nm độ đó sẽ khó khăn trong xay xát bằng máy, nhất là các loại máy có chế độ công tác 2 công đoạn
*) Về thành phần sinh hóa của gạo nếp
Tú Lệ tại các thời điểm thu hoạch:
- Hàm lượng tinh bột: Thời gian từ chín
thu hoạch đến chín sinh lý hàm lượng tinh bột tăng mạnh 9,71% (59,38% lên 69,09%), nhưng những thời điểm tiếp theo chỉ tăng 3,7% (69,09 - 72,80%) và 0,20% (72,80 -
73,00%)
- Hàm lượng protein: Hàm lượng
protein trong hạt gạo xát thu hoạch đầu vụ cao hơn cuối vụ, cụ thể từ 7,82% xuống còn 6,48% Hàm lượng protein trong gạo nếp xát Tú Lệ trung bình và hơi thấp so với các giống lúa chất lượng cao khác
- Hàm lượng amiloze: Căn cứ vào hàm lượng amiloze chúng ta thấy nếp Tú Lệ dẻo nhưng săn chắc, rõ hạt, không bết hoặc dính nát như nếp Cái Hoa Vàng, N - 97 khi nấu
- Hàm lượng vitamin B1: Khi xay xát bình thường hàm lượng vitamin B1 trong nếp Tú Lệ từ 0,129mg - 0,143mg/100g và
129 - 138 mg/100g chất khô Trong quá trình chín hàm lượng vitamin B1 giảm dần nhưng vẫn cao hơn các loại gạo khác
Trang 6Bảng 2 Thành phần sinh hóa chính của gạo nếp Tú Lệ tại các thời điểm thu hoạch khác nhau
Số
TT
Thời điểm
thu hoạch sau trỗ
Tinh bột
%
Protein
%
Amiloze
%
A.pectin
%
Vitam.B1 mg/100g
Đ.P.H kiềm N.H hóa
1 27 ngày sau trỗ 59,38 7,82 7,21 94,74 0,143 >7 Rất thấp
3 39 ngày sau trỗ 72,80 6,50 9,11 91,89 0,136 6 - 7 Thấp
4 45 ngày sau trỗ 73,00 6,48 9,15 91,85 0,129 6 - 7 Thấp
Ghi chú: A pectin%: amilo - pectin/%; Vitam B1: Vitamin B1; Đ.P.H kiềm: Độ phân hủy kiềm;
N.H hóa: Nhiệt hồ hóa
2.5 Xây dựng phương pháp bảo quản
a/ Ảnh hưởng của các chế độ bảo quản
đến các chỉ tiêu vật lý nông sản
Qua nghiên cứu 3 hình thức bảo quản:
Trong thùng gỗ, trong cót và trong bao tải
trong 10 tháng bảo quản chúng tôi nhận
thấy:
+ Về độ Nm: Bảo quản trong bao biến
đổi về hàm lượng Nm chậm nhất sau đó đến
bảo quản trong thùng gỗ và cuối cùng là
bảo quản trong cót Thời gian đầu tốc độ
hút Nm của thóc mạnh, sau 4 tháng tăng độ
Nm lên 2,2%; 2,49% và 1,87%, hút Nm dừng
hẳn ở 16%
+ Về tỷ lệ gạo lật: Tỷ lệ gạo lật tại các
mẫu bảo quản đều giới hạn từ 77,84% -
78,50%, trong quá trình bảo quản tỷ lệ gạo
lật giảm xuống sau đó tăng lên rất nhỏ, ở
mẫu bảo quản trong thùng tăng ở tháng thứ
8, trong cót tăng ở tháng thứ 6 và trong bao
tăng ở tháng thứ 10
+ Tỷ lệ gạo xát: Trong quá trình bảo
quản tỷ lệ gạo xát giảm xuống, sau đó tăng
lên rất nhỏ, thời điểm gạo lật tăng tỷ lệ
cũng khác nhau, ở mẫu bảo quản trong
thùng tăng ở tháng thứ 8, trong cót tăng ở
tháng thứ 6 và trong bao tăng ở tháng thứ
10
+ Tỷ lệ gạo nguyên: Hạt gạo bị gẫy
mạnh nhất là khi bảo quản từ tháng thứ 6
trở đi, lúc đó hàm lượng Nm đã đạt và vượt
ngưỡng cho phép của lúa, gạo.Với kết quả
phân tích trên cho thấy chỉ nên bảo quản trong vòng 6 tháng với phương pháp thủ công (trong bao, thùng, cót)
b/ Sự biến đổi sinh hoá của thóc nếp Tú
Lệ ở các chế độ bảo quản khác nhau
Theo thời gian, sản phNm có biến đổi, thường thì làm giảm chất lượng, thậm chí hỏng sản phNm Qua phân tích các mẫu bảo quản thu được kết quả sau:
+ Với protein: Hàm lượng protein giảm
từ tháng thứ 2 sau bảo quản, giảm mạnh nhất là từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6, ở mẫu đựng trong thùng gỗ là 0,16%, trong cót là 0,17%, trong bao là 0,15% Từ tháng thứ 6 trở đi protein có giảm nhưng không mạnh mẽ như trước đó
+ Với vitamin B1: Từ tháng thứ 6 sau bảo quản hàm lượng B1 trong gạo xát giảm
đi trên 50% so với ban đầu
+ Với amiloze và amilo - pectin: Từ tháng 6 quá trình này biến đổi nhanh (amiloze từ 11% tăng lên 15,2 - 15,6% và amilo - pectin từ 88,6% giảm xuống còn 84,3 - 84,7%)
+ Về nhiệt hồ hoá và độ phá huỷ kiềm:
Từ tháng thứ 4 sau bảo quản độ phá huỷ kiềm ở các hình thức bảo quản đều giảm (từ
6 xuống 5), tuy nhiên đến tháng thứ 10 sau bảo quản độ phá huỷ kiềm vẫn giữ được ở
độ 5 Như vậy có thể thấy gạo nếp Tú Lệ giữ được độ dẻo khá lâu sau thu hoạch, đây
là đặc điểm rất quý của giống lúa này
Trang 7Bảng 3 Biến động hàm lượng dinh dưỡng trong gạo xát ở các chế độ bảo quản khác nhau
Thời gian sau
bảo quản
Hàm lượng protein (%) Hàm lượng B1 mg/100g Amiloze (%) Thùng
gỗ
Trong cót
Trong bao
Thùng
gỗ
Trong cót
Trong bao
Thùng
gỗ
Trong cót
Trong bao
Ban đầu 6,83 6,84 6,85 0,145 0,141 0,141 11,30 11,20 11,30
6 tháng 6,54 6,51 6,55 0,052 0,05 0,049 15,20 15,60 15,12
8 tháng 6,48 6,45 6,49 0,047 0,046 0,046 15,87 15,89 15,56
10 tháng 6,43 6,41 6,47 0,042 0,041 0,042 16,16 16,18 16,10
Tóm lại:
- Bảo quản trong bao tải cho chất lượng
sản phNm tốt hơn các hình thức bảo quản
trong thùng gỗ và trong cót, cách bảo quản
này vừa rẻ tiền, dễ làm, thuận tiện
- Nếp Tú Lệ chỉ nên bảo quản trong
vòng 6 tháng, mặc dù cơm vẫn giữ được độ
dẻo, nhưng làm suy giảm chất lượng gạo
Muốn kéo dài thời gian bảo quản cần hong
khô sản phNm sau 2 - 3 tháng bảo quản
3 Xây dựng mô hình sản xuất áp dụng
đồng bộ các biện pháp kỹ thuật cải tiến
Qua việc thực hiện các thử nghiệm kỹ
thuật ở năm 2006, năm 2007 chúng tôi đã
tiến hành xây dựng 2 mô hình sản xuất thử nghiệm nếp Tú Lệ trên diện rộng, áp dụng đồng bộ các biên pháp kỹ thuật cải tiến gồm: Cấy chính vụ; Mật độ cấy 40 khóm/m2 (kỹ thuật cũ 20 - 23 khóm/m2); Cấy 2 - 3 dảnh/khóm, cấy nông tay; Bón phân theo quy trình cải tiến: 5 tạ phân chuồng + 70 kg NPK + 10 kg đạm + 8 kg kali/1000 m2
Kết quả khảo nghiệm cho thấy: Năng suất trên các ruộng áp dụng các biện pháp kỹ thuật cải tiến đạt trên 4 tấn/ha tăng từ 14 - 18% so với đối chứng (sản xuất theo phương pháp truyền thống của
nông dân)
Bảng 4 Kết quả xây dựng mô hình thử nghiệm sản xuất
Điểm
Dài bông
(cm) Bông/khóm Khóm/m
chắc/bông
P1000 hạt
NSLT (tạ/ha)
NSTT (tạ/ha)
Tăng so
đc (%)
4 Khảo nghiệm vùng địa lý giống nếp
Tú Lệ
Theo kết quả xác định phân bố địa lý
năm 2005 thì nếp Tú Lệ được gieo cấy ở
nhiều xã: Tú Lệ, Cao Phạ, Nậm Có,
Nậm Búng, nhưng chỉ có các xã trong lòng chảo Tú Lệ là: Cao Phạ và Nậm Có thì chất lượng gạo như nhau, do đó cần thử nghiệm để kiểm chứng kết quả cho việc mở rộng diện tích sản xuất nếp Tú
Lệ sau này
Trang 8Kết quả khảo nghiệm cho thấy năng
suất tại Cao Phạ là cao nhất trung bình đạt
49 tạ/ha Trong khi đó ở Tú Lệ, Nậm Có,
Sài Lương năng suất đạt được gần tương tự
nhau
Khi tiến hành phân tích các đặc điểm
sinh lý, sinh hoá của các mẫu thóc thu ở các
xã chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
*) Đặc tính vật lý:
Tỷ lệ gạo lật, gạo xát, độ dài và độ rộng
hạt gạo có sự khác nhau giữa các xã trong
vùng và được xếp theo thứ tự cao nhất là
mẫu Sài Lương, sau đó đến mẫu Nậm Có
và Tú Lệ như nhau và cuối cùng là Cao
Phạ Tuy nhiên tỷ lệ gạo nguyên thì có phần
ngược lại
Từ những sự sai khác không lớn về chỉ
tiêu vật lý của thóc, gạo "nếp Tú Lệ" tại xã
Tú Lệ, Nậm Có, Cao Phạ, Sài Lương chứng
tỏ giống "nếp Tú Lệ" đã có lâu đời tại khu
vực 4 xã và đã thích ứng với điều kiện
ngoại cảnh của các xã nói trên
*) Các chỉ tiêu sinh hóa học:
- Hàm lượng tinh bột: Thấp nhất trong
mẫu trồng tại Cao Phạ (70,39%), cao hơn
trong các mẫu của Tú Lệ (72,56%); Nậm
Có (72,65%) và cao nhất là Sài Lương (73,89%)
- Hàm lượng protein: Hàm lượng protein của Sài Lương thấp nhất 6,22%, nằm ở khoảng giữa là Tú Lệ 6,49% và Nậm
Có 6,48%, Cao Phạ cao nhất 6,99% Điều này chúng tỏ Tú Lệ và Nậm Có có nhiều điểm tương đồng nhất
- Hàm lượng amiloze và amilo - pectin: Đối với nếp Tú Lệ đặc điểm là dẻo, thơm, mềm nhưng rõ hạt, không dính, bết, nát, ăn không bị “ngán” Hàm lượng amiloze của Cao Phạ thấp nhất 9,85%, trung bình vẫn là
Tú Lệ 10,15%, Nậm Có 10,25% và cao nhất vẫn là Sài Lương 10,35%
- Hàm lượng vitamin B1: Hàm lượng vitamin B1 có biến động nhỏ, thấp nhất là mẫu Sài Lương 0,129; sau đó đến mẫu Tú
Lệ 0,133; mẫu Nậm Có 0,136 và cao nhất là mẫu Cao Phạ 0,138 mg/100gam chất khô Các kết quả nghiên cứu trên bước đầu giúp chúng ta có cơ sở khẳng định phạm vi gieo trồng nếp Tú Lệ gồm các xã: Tú Lệ, Cao Phạ, Nậm Có và Sài Lương, do đó có thể tạo ra lượng sản phNm nếp Tú Lệ đủ lớn
để cung cấp cho thị trường
Bảng 5 Đặc tính sinh hóa của thóc, gạo nếp được trồng tại các địa phương
TT Địa điểm thu
hoạch
Tinh bột
%
Protein
%
Amiloze
%
A.pectin
%
Vitam.B1 mg/100g
Đ.P.H kiềm
N.H hóa
Ghi chú: A pectin%/TB: Amilo - pectin/% tinh bột; Vitam B1: Vitamin B1; Đ.P.H kiềm: Độ phân hủy
kiềm; N.H hóa: Nhiệt hồ hóa
Trang 9IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ N GHN
1 Kết luận
Đã tạo được hạt siêu nguyên chủng cho
giống nếp Tú Lệ, đồng thời đã chọn tạo
được 3 tấn hạt giống đạt cấp nguyên chủng
nhờ việc phục tráng quần thể, đáp ứng nhu
cầu mở rộng sản xuất trước mắt
Quy trình canh tác phù hợp cho nếp Tú
Lệ: Mật độ 40 - 42 khóm/m2; lượng phân
bón 70 kg N PK + 10 kg đạm + 8 kg kali;
cấy trà chính vụ (Gieo mạ 13 - 15 tháng 5,
cấy 25 - 30 tháng 6)
Áp dụng quy trình trên với giống phục
tráng đã đạt năng suất từ 4,1 đến 4,7 tấn/ha
tăng so với đối chứng từ 14 đến 18%
Có thể mở rộng sản xuất giống nếp Tú
Lệ sang các xã Cao Phạ và N ậm Có với
năng suất cao mà vẫn giữ được chất lượng
cao như ở Tú Lệ Tại thôn Sài Lương xã
N ậm Búng, nông dân vẫn sản xuất nếp Tú
Lệ nhưng chất lượng giảm, vì vậy không
nên khuyến cáo
Thời điểm thu hoạch thích hợp nhất của
nếp Tú Lệ là từ 39 - 45 ngày sau trỗ
Chế độ phơi ảnh hưởng lớn tới mẫu gạo
sau chế biến Độ Nm xay sát phải đảm bảo
trên 14% thì mẫu mã gạo sau chế biến sẽ
đẹp và vẫn giữ được thành phần dinh
dưỡng
2 Đề nghị
- Mở rộng diện tích gieo cấy nếp Tú Lệ
ra các xã Cao Phạ và N ậm Có
- Tiếp tục thử nghiệm các biện pháp
chế biến để đảm bảo mẫu mã và chất lượng
gạo
- Hỗ trợ nông dân trong sản xuất, duy
trì giống và tiêu thụ sản phNm
- Tiếp tục thử nghiệm các hình thức bảo quản thóc nếp Tú Lệ để có thể giữ gạo được lâu mà không ảnh hưởng tới chất lượng sản phNm
- Hỗ trợ địa phương trong việc xây dựng, quản lý và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá tập thể sau khi đã được công nhận giúp nâng cao giá trị sản phNm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Bá Bổng, 1995 Chọn tạo giống lúa
có phNm chất gạo tốt đáp ứng yêu cầu xuất khNu ở ĐBSCL, Hội thảo quốc gia cây lương thực và cây thực phNm
2 Bùi Chí Bửu, Xguyễn Thị Lang, 2000
Chọn tạo giống lúa cho vùng bị nhiễm mặn ở vùng ĐBSCL, Omonrice 8/2000,
tr 16 - 26
3 Trần Văn Đạt, 2005 Sản xuất lúa gạo
thế giới: Hiện trạng và khuynh hướng phát triển trong thế kỷ 21, Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, Chương
1, 2, 3, 10,12, 13, 19
4 Xguyễn Hữu Xghĩa, Lê Vĩnh Thảo,
Xguyễn Xuân Dũng, 2007 Nghiên cứu
phát triển một số giống lúa đặc sản cho một số vùng sinh thái của Việt Nam Tạp chí Khoa học và Công nghệ nông nghiệp Việt Nam, số 2/2007
5 Xguyễn Hữu Xghĩa, 2007 Lúa đặc sản
Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội
!gười phản biện: Lê Quốc Doanh