Athanasoglou et.al 2005 ở Hy Lạp, Ben Naceur & Goaied 2008 ở Tunisia…Ở Việt Nam, dường như chưa có một nghiên cứu chính thức nào về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng t
Trang 1VÕ BẢO MAI TRÂM
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
Trang 2VÕ BẢO MAI TRÂM
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN HOÀNG NGÂN
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
Trang 3nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS
Trang 4Thầy, Cô ở Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt hai năm học vừa qua Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS TS Trần Hoàng Ngân – người đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành bài luận văn thạc sĩ của mình
Em kính chúc Quý Thầy, Cô được dồi dào sức khỏe, thành công trong công việc!
TP Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 07 năm 2013 Học viên
Võ Bảo Mai Trâm
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1 1
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 1
1.1.2 Những điểm đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM 3
1.1.3 Chức năng của NHTM 5
1.1.3.1 Trung gian tài chính 5
1.1.3.2 Trung gian thanh toán 5
Trang 61.2 Tổng quan về lợi nhuận của ngân hàng thương mại 8
1.2.1 Khái niệm về lợi nhuận ngân hàng 8
1.2.2 Các dịch vụ tạo nên lợi nhuận của NHTM 8
1.2.2.1 Các dịch vụ ngân hàng truyền thống 8
1.2.2.2 Các dịch vụ ngân hàng hiện đại 10
1.3 Vấn đề niêm yết của các ngân hàng thương mại 14
1.3.1 Khái niệm ngân hàng thương mại niêm yết 14
1.3.2 Sự ảnh hưởng của việc niêm yết tới lợi nhuận của các NHTM 14
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại 15
1.4.1 Các cuộc nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 15
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng: 16
1.4.2.1 Các yếu tố bên trong 16
1.4.2.2 Các yếu tố bên ngoài 23
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 28
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 28
2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 28
2.2 Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận của các ngân hàng thương mại 28
2.2.1 Chỉ tiêu lợi nhuận ROA 28
2.2.2 Chỉ tiêu lợi nhuận ROE 31
Trang 72.3 Đo lường sự ảnh hưởng của một số nhân tố đến lợi nhuận của 8 ngân hàng
thương mại Việt Nam 33
2.3.1 Mô hình nghiên cứu 33
2.3.2 Ý nghĩa các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 34
2.3.2.1 Biến LNTA 34
2.3.2.2 Biến CA 34
2.3.2.3 Biến LA 35
2.3.2.4 Biến DP 35
2.3.2.5 Biến NIM và biến NII 36
2.3.2.6 Biến GDP 36
2.3.2.7 INF 36
2.3.3 Phân tích kết quả hồi quy 38
2.3.3.1 Thống kê mô tả các biến được lựa chọn 38
2.3.3.2 Ước lượng phương trình hồi quy 38
2.3.3.3 Kiểm định mô hình hồi quy 41
2.3.3.4 Ý nghĩa các kết quả ước lượng của mô hình hồi quy (2.1) 44
2.3.3.5 Ý nghĩa các kết quả ước lượng của mô hình hồi quy (2.2) 45
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3 50
GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 50
Trang 83.1.1 Đối với Chính phủ 50
3.1.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) 52
3.2 Giải pháp gia tăng lợi nhuận cho các NHTM 53
3.2.1 Tăng quy mô vốn chủ sở hữu 53
3.2.2 Tăng thu nhập từ lãi 53
3.2.3 Tăng thu nhập ngoài lãi 54
3.2.3.1 Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế 54
3.2.3.2 Phát triển dịch vụ thẻ 56
3.2.3.3 Dịch vụ ngân hàng điện tử 58
3.2.3.4 Dịch vụ cung cấp thông tin tư vấn 58
3.2.3.5 Phát triển dịch vụ tài chính phái sinh 60
3.2.3.6 Phát triển các hoạt động kinh doanh khác 60
3.2.3.7 Thu hút tiền gửi từ khách hàng 61
3.3 Giải pháp giúp các NHTM xử lý nợ xấu 61
3.3.1 Đối với Nhà nước và Chính phủ 62
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 63
3.3.3 Đối với các NHTM 63
3.4 Giải pháp hạn chế rủi ro ngân hàng 64
3.4.1 Hạn chế rủi ro tín dụng 64
3.4.2 Hạn chế rủi ro thanh khoản 65
3.4.2.1 Đối với Ngân hàng nhà nước 65
Trang 93.4.4 Phòng ngừa rủi ro lãi suất 68
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 70
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 71
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10trong những năm qua
Bảng 2.2 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Bảng 2.3 Thống kê mô tả biến phụ thuộc và các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy
Bảng 2.4 Kết quả hồi quy phương trình (2.1) theo Fixed Effect Model
Bảng 2.5 Kết quả hồi quy phương trình (2.2) theo Fixed Effect Model
Bảng 2.6 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập
Bảng 2.7 Kết quả ước lượng của các phương trình hồi quy phụ
Trang 11Ngân hàng là một trong các ngành công nghiệp ra đời sớm nhất trong nền kinh tế thị trường Dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới, ngân hàng thương mại (NHTM) luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Bằng các hoạt động của mình, ngân hàng
có thể huy động được vốn ở trong nước và ngoài nước để tăng nguồn vốn cho phát triển kinh tế Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại là nhân tố nòng cốt, tích cực trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn có vai trò to lớn trong việc làm tài chính trung gian giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa các tác nhân thừa vốn và thiếu vốn
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Sự gia tăng cạnh trang gay gắt không chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà cả với các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh Thế nên, các ngân hàng thương mại phải không ngừng vươn lên, phát triển, tìm đủ mọi cách để gia tăng lợi nhuận Sự sống còn của ngân hàng thương mại cũng là sự sống còn của hệ thống tài chính Việt Nam Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại như: nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) ở Philippines, nghiên cứu của Sufian & Habibullah (2009) ở Trung Quốc, Fadzlan Sufian (2011) ở Hàn Quốc, Panayiotis P Athanasoglou et.al (2005) ở
Hy Lạp, Ben Naceur & Goaied (2008) ở Tunisia…Ở Việt Nam, dường như chưa có một nghiên cứu chính thức nào về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân
hàng thương mại Việt Nam Vì những lý do đó, tác giả chọn đề tài: "Phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại đang niêm yết tại
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM niêm yết tại Việt Nam
niêm yết tại Việt Nam
Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận và hạn chế rủi ro trong hoạt động của các NHTM niêm yết tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại (bao gồm các nhân tố bên trong: quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô các khoản cho vay, quy mô các khoản tiền gửi, thu nhập lãi thuần, thu nhập ngoài lãi thuần; và các nhân tố bên ngoài: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát)
Phạm vi nghiên cứu: các ngân hàng thương mại đang niêm yết tại Việt Nam, bao gồm 8 ngân hàng thương mại:
NHTM Cổ phần Á Châu (ACB)
NHTM Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)
NHTM Cổ phần Nam Việt (Navibank)
NHTM Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
NHTM Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
NHTM Cổ phần Quân Đội (MB)
NHTM Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
Trang 13nghiên cứu định lượng bằng cách dùng mô hình hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại thông qua dữ liệu bảng (panel data)
Phần mềm được sử dụng để phân tích định lượng là Eviews 6.0
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ở cấp độ vĩ mô, kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để Chính phủ, Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra được những chính sách vĩ mô kịp thời và hợp
lý nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng vững chắc, hoạt động kinh doanh lành mạnh và hiệu quả
Ở cấp độ vi mô, kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các nhà quản trị ngân hàng xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng và mức
độ ảnh hưởng của chúng, từ đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, mang lại khả năng sinh lợi cao cho ngân hàng của mình, làm cho cổ phiếu ngành ngân hàng có sức hấp dẫn hơn trên thị trường
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại và lợi nhuận của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM đang niêm yết tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao lợi nhuận của các NHTM đang niêm yết tại Việt Nam
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng có lịch sử ra đời rất lâu, 3000 năm trước công nguyên Từ nghề đổi tiền của một số thương nhân dần dần hình thành nên các tổ chức nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, thanh toán hoạt động như các NHTM Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập quốc
tế hiện nay, các NHTM không ngừng phát triển hình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu Hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao, được xem như một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú, tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường
Hiện nay, tùy theo lịch sử hình thành của hệ thống ngân hàng có nhiều khái niệm
về NHTM:
Theo Ngân hàng thế giới: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) Dưới tiêu đề "các ngân hàng" gồm có: NHTM chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung dài hạn; Ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại ngân hàng khác nữa Tại một số nước còn
có ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động NHTM với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm
Trang 15 Tại Hoa Kỳ: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế
Tại Pháp: Theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, NHTM là những xí nghiệp hay là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính
Tại Việt Nam: Khái niệm về NHTM được quy định theo pháp luật: Theo
điều 4, Luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm 2010, "NHTM là
loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận"
Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác có liên quan, bao gồm:
Huy động vốn là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho khách hàng theo đúng thời hạn thỏa thuận
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một tài sản theo nguyên tắc có hoàn trả và
Trang 16lãi bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, ủy nhiệm chi, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng
Dịch vụ ngân quỹ
Dịch vụ ủy thác
Dịch vụ môi giới tiền tệ
Dịch vụ kinh doanh ngoại hối
Các dịch vụ khác: quản lý tài sản, tư vấn tài chính
1.1.2 Những điểm đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM
NHTM có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác trong nền kinh tế Chính những điểm khác biệt này giúp cho NHTM thể hiện được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ Đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm, tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động, mọi chủ thể trong nền kinh tế Do đó, khi lĩnh vực này có những biến động xấu hoặc bất thường thì hoạt động kinh doanh của NHTM
sẽ gặp khó khăn, sẽ dẫn đến những thiệt hại cho nền kinh tế Mặt khác, sản phẩm kinh doanh của NHTM là các dịch vụ gắn liền với sự chu chuyển tiền
tệ trong nền kinh tế, đáp ứng các giao dịch phát sinh giữa các chủ thể mà các giao dịch này cần thiết sử dụng tiền để đo lường, tính toán giá trị, thanh toán Cho nên hoạt động ngân hàng luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía
Trang 17Chính phủ nhằm ổn định tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính
có thể xảy ra
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức
độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Điều này giúp cho ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn từ công chúng và sử dụng nguồn vốn này
để cho vay Do đó, khi lòng tin của khách hàng đối với NHTM giảm sút thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong huy động vốn, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng sẽ không được thiết lập, đồng thời việc cung ứng các dịch vụ khác cũng gặp những khó khăn nhất định
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của NHTM có thể xuất hiện rủi ro Rủi ro trong kinh doanh của NHTM bao gồm: rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi
ro lãi suất, rủi ro hệ thống Những rủi ro này có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM khi nền kinh tế biến động từ các yếu tố kinh tế, chính trị bất thường Bản thân NHTM là một tổ chức đi vay để cho vay lại, khả năng thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc cung cầu vốn trên thị trường, khả năng huy động vốn của ngân hàng, khả năng trả nợ của người đi vay và năng lực quản trị ngân hàng Mặt khác, khi
sự biến động của lạm phát trong nền kinh tế nằm ngoài khả năng dự báo thì NHTM còn phải đối mặt với những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất
Thứ tư, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau Trong thực tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, khi có một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra một tác động lan truyền đến các NHTM khác Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay sự phụ thuộc và mức độ liên kết giữa các ngân hàng càng cao, một NHTM phá sản có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng trong nước, khu vực và thế giới Chính vì vậy, trong kinh doanh các NHTM cạnh tranh với nhau
Trang 18nhằm khẳng định vị thế của mình trên thị trường trên cơ sở cùng tồn tại chứ không triệt tiêu lẫn nhau
1.1.3 Chức năng của NHTM
Trong cơ chế kinh tế thị trường, NHTM thực hiện được 3 chức năng cơ bản sau:
1.1.3.1 Trung gian tài chính
Trung gian tài chính là chức năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự phát triển và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong chức năng này NHTM đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian đứng ra tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để điều chuyển cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, góp phần điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế Mặt khác, NHTM cũng là một chủ thể tham gia trên thị trường tài chính bằng các hoạt động đầu tư sinh lời, cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho các chủ thể trong nền kinh tế, như vậy NHTM cũng là một trong những chủ thể tham gia vào việc phân phối tài chính cho nền kinh tế
1.1.3.2 Trung gian thanh toán
NHTM là người quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng,
do đó NHTM thực hiện được chức năng trung gian thanh toán cho khách hàng Trong chức năng này, NHTM đóng vai trò là một tổ chức trung gian thực hiện việc thanh toán, chi trả thay cho những khách hàng có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng theo sự
ủy nhiệm của khách hàng Để thực hiện chức năng này, NHTM phải tổ chức mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, phát hành và quản lý các phương tiện thanh toán, tổ chức thực hiện thanh toán khi nhận được lệnh thanh toán của khách hàng Chức năng trung gian thanh toán mang lại sự tiện lợi cho khách hàng trong hoạt động thanh toán đồng thời góp phần thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, nâng cao
uy tín thương hiệu ngân hàng trên thị trường
Trang 191.1.3.3 Tạo tiền
Trong chức năng này đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngân hàng và nhiều khách hàng Khi kết hợp chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra một lượng tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng lớn hơn gấp nhiều lần so với lượng tiền gửi ban đầu của khách hàng Lượng tiền ghi sổ do NHTM tạo ra phụ thuộc vào số tiền gửi ban đầu của khách hàng,
số lượng ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền và tỷ lệ dự trữ bắt buộc Giáo sư P.Samuelson đã đưa ra công thức xác định khả năng tạo tiền của NHTM như sau:
= trong đó:
Mn: Tổng khối lượng tiền ghi sổ tạo ra
M0: Lượng tiền gửi ban đầu
n: Số ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền
q: Tỷ lệ cho vay tối đa
1-q: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tuy nhiên khả năng tạo tiền của NHTM theo công thức trên chỉ đúng khi hội đủ các điều kiện như: hệ thống ngân hàng tổ chức theo mô hình ngân hàng 2 cấp: tất cả các giao dich đều thực hiện bằng hình thức thanh toán chuyển khoản và các NHTM phải đạt được tỷ lệ cho vay tối đa Trên thực tế khó có thể phủ nhận được khả năng tạo tiền của NHTM nhưng để tính toán được một tỷ lệ tạo tiền chính xác và khả năng tạo tiền ở mức tối đa thì khó có thể xác định được Vì hoạt động của NHTM chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố và đặc biệt khi môi trường kinh tế thay đổi hoặc trước những điều chỉnh của việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sẽ gây tác động đáng kể đến tình hình huy động vốn và cho vay của NHTM, điều này sẽ làm thay đổi khả năng tạo tiền của NHTM Ngày nay trong kỹ thuật quản trị ngân hàng, ứng
Trang 20dụng khả năng tạo tiền được xem như là nghệ thuật trong việc kiểm soát khả năng cung ứng tiền trong lưu thông góp phần ổn định lưu thông tiền tệ
1.1.4 Vai trò của NHTM
Điều tiết nguồn vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh
tế Nhờ hoạt động của NHTM mà nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế NHTM trở thành kênh chu chuyển vốn quan trọng trong nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển: hoạt động của NHTM vừa mang tính cạnh tranh nhưng cũng vừa có tác động hỗ tương đến các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính như: thị trường chứng khoán, bảo hiểm Khi NHTM ngày càng phát triển và hoàn thiện thì càng có nhiều dịch
vụ hỗ trợ cho các hoạt động trên Ngược lại, sự phát triển phong phú và đa dạng của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động đến sự phát triển của các sản phẩm kinh doanh của NHTM, từ đó, xuất hiện sự kết hợp và bán chéo sản phẩm của NHTM với các định chế tài chính khác như: công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính và quỹ đầu tư góp phần gia tăng doanh số giao dịch trên thị trường tài chính
Góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia: ngân hàng trung ương là cơ quan xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ nhưng để thực thi chính sách tiền tệ ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ như: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tái cấp vốn, thị trường mở tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM, thay đổi tăng hoặc giảm khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, góp phần bình ổn lưu thông tiền tệ của quốc gia, kiểm soát lạm phát
Trang 211.2 Tổng quan về lợi nhuận của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng có hai nghiệp vụ chủ yếu: nhận tiền gửi và cho vay Trong nghiệp vụ nhận tiền gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền; còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng phải thu lợi tức của người đi vay Về nguyên tắc, lợi tức cho vay phải cao hơn lợi tức nhận tiền gửi
Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận tiền gửi, sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, cộng với các thu nhập khác (thu dịch vụ, ngoại hối ) hình thành nên lợi nhuận của ngân hàng
1.2.2 Các dịch vụ tạo nên lợi nhuận của NHTM
1.2.2.1 Các dịch vụ ngân hàng truyền thống
Khi nói đến dịch vụ ngân hàng truyền thống, chúng ta thường ngụ ý nói đến hoạt động của các sản phẩm đã thực hiện trong nhiều năm trên nền công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng Có thể kể đến một số sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng như sau:
Dịch vụ huy động vốn
Các NHTM triển khai dịch vụ huy động vốn trong tất cả các thành phần kinh tế
để nhận tiền gửi và bảo quản hộ người gửi tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Vốn huy động theo tính chất được phân loại thành hai nhóm :
Nhóm 1: bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác Với loại tiền gửi này khách hàng có thể linh hoạt sử dụng, thông qua việc được lập thư chuyển tiền, phát hành séc rút tiền
từ tài khoản một cách tự do Các chủ tài khoản gửi tiền vào tài khoản không nhằm mục đích hưởng lãi mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình Do đó, đối với loại sản phẩm này ngân hàng cần phải có những thủ tục nhanh chóng, thuận lợi,
an toàn thì khả năng thu hút khách hàng càng cao
Trang 22 Nhóm 2: bao gồm tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…Đặc điểm của loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều kiện bình thường các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng được rút tiền trước kỳ hạn nhưng chỉ được hưởng lãi suất không
kỳ hạn) Đối với vốn huy động định kỳ, người gửi tiền có mục đích xác định là hưởng lãi, vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn để gửi tiền vào Với lý do đó, các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất để thu hút nguồn vốn này Cạnh tranh lãi suất trở thành một trong những loại cạnh tranh hợp lý và gay gắt trong giai đoạn hội nhập hiện nay, ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, khuyến mãi nhiều hơn, tiếp thị tốt hơn thì sẽ có lợi thế trong việc thu hút tiền gửi của khách hàng
Dịch vụ cho vay
Cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM Hoạt động cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá…Tuỳ theo nhu cầu về thời gian vay vốn của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Lãi suất cho vay áp dụng cho từng
đối tượng khách hàng và theo từng thời điểm lãi suất khác nhau
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương - những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất
Bảo quản vật có giá trị
Ngay từ thời Trung cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản Một điều hấp dẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được
Trang 23lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền Đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng
Dịch vụ thanh toán
Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và nước ngoài đều được thực hiện qua ngân hàng Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam sử dụng các dịch vụ thanh toán như: thanh toán séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu, lệnh phiếu
Dịch vụ ủy thác
Ngân hàng nhận thực hiện các công việc mà khách hàng uỷ thác như: bảo quản tài sản cho các cá nhân, bảo quản chứng thư quan trọng, bảo quản và lưu giữ chứng khoán của khách hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu hộ, trả lãi, trả gốc, trả cổ tức…cho các tổ chức phát hành chứng từ có giá
Ngoài ra, còn có các sản phẩm dịch vụ truyền thống khác như: dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…
Các sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng được cải tiến theo hướng hoàn chỉnh hơn, gọn về thủ tục, rút ngắn được thời gian giao dịch, các ngân hàng đã hướng tới việc xuất phát từ nhu cầu của khách hàng hơn là áp đặt sản phẩm mình có
1.2.2.2 Các dịch vụ ngân hàng hiện đại
Ngoài các dịch vụ truyền thống, dịch vụ ngân hàng hiện đại là hình thức dịch vụ ngân hàng mới được đưa vào hoạt động của tổ chức tín dụng, được ra đời trên nền các công nghệ mới, đem lại các tiện ích mới cho khách hàng Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại có thể kể đến như sau:
Dịch vụ tư vấn tài chính
Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ
Trang 24tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến
tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ
Dịch vụ cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng dành cho khách hàng doanh nghiệp Khi đó, ngân hàng cam kết mua và cho thuê lại máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của doanh nghiệp Trong suốt thời gian thuê, ngân hàng vẫn là chủ sở hữu tài sản và doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê cho ngân hàng theo hợp đồng đã ký giữa 2 bên
Ưu điểm của cho thuê tài chính là doanh nghiệp được chủ động lựa chọn tài sản (máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển…) đáp ứng được mục đích sử dụng của mình với mức chi phí phù hợp nhất nhờ được thanh toán dần tiền thuê theo năng lực trả
nợ Ngoài ra, tỷ lệ cho thuê tài chính có thể lên đến 90% tổng giá trị tài sản
Đây là dịch vụ dành cho khách hàng là tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh tại Việt nam có nhu cầu thuê và trực tiếp sử dụng tài sản thuê
Cho vay tài trợ dự án
Tài trợ dự án là những khoản vay trung, dài hạn của ngân hàng dành cho doanh nghiệp Đối tượng được tài trợ bao gồm:
– Các dự án đầu tư xây dựng bất động sản (như dự án chung cư cao cấp, căn
hộ cho thuê, cao ốc văn phòng, khách sạn, khu dân cư ) – Các dự án xây dựng mới hoặc mở rộng cơ sở kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp
– Đầu tư vào các dự án để thành lập doanh nghiệp mới
– Góp vốn liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần với các doanh nghiệp khác – Và các hình thức hợp tác đầu tư khác
Nếu được ngân hàng đồng ý tài trợ, doanh nghiệp có thể vay số vốn lên đến 85% chi phí đầu tư dự án (có thể không giới hạn quy mô dự án) với thời hạn cho vay
Trang 2570-linh hoạt, có thể kéo dài đến 15 năm Về tài sản đảm bảo, doanh nghiệp có thể sử dụng chính hợp đồng đầu ra của dự án để đảm bảo cho các nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng phát sinh
Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn có thể được tài trợ trọn gói dự án với các dịch
vụ trọn gói như bảo lãnh, tín dụng, thanh toán theo trình tự phát sinh nhu cầu khi tham
gia dự án
Thẻ tín dụng
Tùy vào nhu cầu và thu nhập của khách hàng, ngân hàng sẽ cấp một hạn mức tín dụng thể hiện qua loại thẻ (chuẩn hoặc vàng) Đây là hạn mức được dùng và rút tiền mặt của khách hàng trong tháng Đặc biệt, khi dùng thẻ tín dụng để thanh toán, chủ thẻ
sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả khoản vay trong vòng 45 ngày
Hầu hết các điểm bán lẻ lớn hiện nay đều chấp nhận việc thanh toán bằng thẻ tín dụng của hầu hết các ngân hàng khác nhau Ngoài ra, các ngân hàng còn cung cấp hai loại thẻ tín dụng nội địa và quốc tế để khách hàng lựa chọn
Sử dụng dịch vụ ở máy rút tiền tự động (ATM)
Thập niên 80 chứng kiến sự phát triển của các máy rút tiền tự động đa chức năng Những máy này đã được nối mạng điện toán nhằm cung cấp rất nhiều dịch vụ ngân hàng và vận hành với thế hệ mới nhất của các tấm thẻ nhựa có một dải từ tính được lưu trữ các chi tiết tài chính cá nhân của người cầm thẻ Các ngân hàng khác nhau thì vận hành các loại máy khác nhau Khi đưa thẻ vào máy, hành động này kết nối máy ATM với máy tính của Ngân hàng Thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ tính của thẻ, máy tính có thể tra cứu tài khoản của khách hàng Ngoài ra, ATM còn giúp khách hàng thực hiện các giao dịch khác như rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ
Ngày nay, giữa các ngân hàng đã có sự hợp tác với nhau, theo đó một thẻ ATM của ngân hàng này có thẻ được dùng với máy rút tiền của ngân hàng khác trong khi vẫn
có thể ghi nợ vào đúng tài khoản
Trang 26 Dịch vụ ngân hàng tại nhà
Trong khi ATM cung cấp dịch vụ ngân hàng giao dịch tự động, tiện lợi thì ngân hàng tại nhà lại mạng đến lợi ích khác Với dịch vụ này, chỉ cần dùng máy vi tính cá nhân, khách hàng có thể truy cập được các thông tin liên quan đến tất cả các sản phẩm dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán; các loại cho vay; các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ khác; lãi suất, biểu phí; những văn bản có liên quan đến ngân hàng
do Ngân hàng Nhà nước ban hành Theo cách này, các giao dịch ngân hàng có thể thực hiện 24/24h, suốt 7 ngày trong tuần
Để phòng chống việc sử dụng không được phép, mỗi chủ tài khoản đều phải mở
mã số an toàn riêng trước khi thực hiện giao dịch
Dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại
Đây là dịch vụ giúp khách hàng thực hiện chuyển khoản (từ tài khoản của mình sang tài khoản của khách hàng khác cùng sử dụng dịch vụ tài khoản của cùng một ngân hàng) bằng cách gửi tin nhắn SMS từ điện thoại di động Dịch vụ áp dụng tại mọi nơi
có phủ sóng viễn thông di động
Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến kinh doanh chứng khoán Trong một vài trường hợp, ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của một ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và
Trang 27phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
Dịch vụ hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit Swap)
Là hình thức hai tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng trao đổi cho nhau một khoản tín dụng, chủ yếu là để đa dạng hóa danh mục cho vay để thực hiện các danh mục tín dụng theo chính sách tín dụng
1.3 Vấn đề niêm yết của các ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm ngân hàng thương mại niêm yết
Ngân hàng thương mại niêm yết là ngân hàng thương mại cổ phần có cổ phiếu được đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch chứng khoán tập trung, cụ thể là sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
1.3.2 Sự ảnh hưởng của việc niêm yết tới lợi nhuận của các NHTM
Việc niêm yết trên thị trường chứng khoán mang tới những lợi ích cho các NHTM như sau:
Tiếp cận kênh huy động vốn dài hạn: khi tham gia niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các NHTM có thể huy động vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng từ việc phát hành cổ phiếu dựa trên tính thanh khoản cao và
uy tín của NHTM được niêm yết trên thị trường Huy động theo cách này, các NHTM không phải thanh toán lãi vay cũng như phải trả vốn gốc giống như việc vay nợ, từ đó sẽ rất chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được cho mục tiêu và chiến lược dài hạn của mình Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất khi quyết định niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Khuyếch trương uy tín: để được niêm yết chứng khoán, các NHTM phải đáp ứng được những điều kiện chặt chẽ về mặt tài chính, hiệu quả sản xuất - kinh doanh cũng như cơ cấu tổ chức Do đó, các NHTM được niêm yết trên thị trường là các NHTM có hoạt động sản xuất - kinh doanh tốt Thực tế đã chứng
Trang 28minh, niêm yết chứng khoán là một trong những cách thức quảng cáo tốt cho các NHTM, từ đó thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, tìm kiếm đối tác…
Tạo tính thanh khoản cho cổ phiếu: khi NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ giúp các cổ đông dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu đang nắm giữ, qua
đó tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu
Gia tăng giá trị thị trường: xét về dài hạn, giá cổ phiếu của các NHTM niêm yết đều tăng so với mức giá tại thời điểm trước khi niêm yết
Với những lợi ích trên, các NHTM có cơ hội quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng gia tăng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại
1.4.1 Các cuộc nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Short (1979) và Bourke (1989) là những nhà nghiên cứu đầu tiên về lợi nhuận của ngân hàng Từ đó, rất nhiều cuộc nghiên cứu thực nghiệm khác nhau đã được thực hiện
để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Hiện nay trên thế giới, nhiều cuộc nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng chỉ tập trung ở một đất nước cụ thể, gồm có: nghiên cứu ở Mỹ (Berger, 1995; Angbazo, 1997); Colombia (Barajas et al., 1999); Malaysia (Guru, Staunton và Balashanmugam, 2002); Macau (Vong & Chan, 2009); Hi Lạp (Mamatzakis và Remoundos, 2003; Kosmidou, 2008); Tunisia (Naceur, 2003); Ấn Độ (Badola và Verma, 2006); Trung Quốc (Heffernan và Fu, 2008); Thụy Sĩ (Dietrich và Wanzenried, 2011); Hàn Quốc (Sufian, 2011); Thổ Nhĩ Kỳ (Deger Alper và Adem Anbar, 2011)
Bên cạnh đó, cũng có nhiều cuộc nghiên cứu, phân tích về lợi nhuận của ngân hàng ở một nhóm các quốc gia, bao gồm: nghiên cứu ở 18 quốc gia Châu Âu từ năm
1986 đến 1989 (Molyneux và Thorton, 1992); nghiên cứu ở 80 quốc gia phát triển và đang phát triển từ năm 1988 đến 1995 (Demirguc-Kunt và Huizinga, 1999); nghiên cứu
ở một vài nước Châu Âu (Abreu và Mendes, 2001); nghiên cứu về lợi nhuận của các ngân hàng thuộc Đạo hồi giáo đến từ 21 quốc gia khác nhau (Bashir, 2000; Hassan và
Trang 29Bashir, 2003); nghiên cứu về các ngân hàng thuộc vùng Tây Nam Châu Âu từ năm
1998 đến 2002 (Athanasoglou, Brissimis và Stakouras, 2008)
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng:
Tùy theo tính chất và mục đích khác nhau mà trong các cuộc nghiên cứu, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cũng khác nhau Nhìn chung, các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng có thể được chia thành 2 nhóm: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài
Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng có thể được định nghĩa là các yếu tố chịu ảnh hưởng bởi các quyết định mang tính chủ quan của ban lãnh đạo ngân hàng
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng là các sự kiện diễn
ra bên ngoài ngân hàng Tuy nhiên, các nhà quản trị vẫn có thể lường trước được những thay đổi của môi trường bên ngoài và cố gắng xây dựng những chính sách nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội phát triển cũng như hạn chế tối đa những tác động không mong muốn do các nhân tố bên ngoài mang lại
1.4.2.1 Các yếu tố bên trong
Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng được đo lường thông qua số liệu về tổng tài sản của ngân hàng
Kết quả nghiên cứu của Fadzlan Sufian F & Royfaizal Razali Chong (2008) tại Philippines, nghiên cứu của Pasiouras & Kosmidous (2007) tại các ngân hàng của 15 nước EU trong khoảng thời gian từ 1995-2001, nghiên cứu của Staikouras, Mamatzakis
& Koutsomanoli – Filippaki (2008) tại các ngân hàng Châu Âu từ năm 1998-2005 đã tìm ra mối tương quan âm giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Fadzlan Sufian (2011) tại Hàn Quốc, nghiên cứu của Spathis et al (2002) tại các ngân hàng Hy Lạp từ năm 1990 – 1999,
Trang 30nghiên cứu của Kosmidous (2008) tại các ngân hàng Hy Lạp từ năm 1990-2002 đã tìm
ra mối tương quan dương giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng Như vậy, kết luận về mối quan hệ thuận hay nghịch giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của ngân hàng ở những quốc gia khác nhau là không đồng nhất
Quy mô vốn chủ sở hữu
Quy mô vốn chủ sở hữu được xem như là một công cụ giá trị để đo sự an toàn và lành mạnh của một ngân hàng Nhìn chung mọi người đều tin rằng một ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu cao sẽ có lợi nhuận cao hơn Trong cuộc nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở 12 nước được chọn ra từ các khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc, Bourke (1989) đã tìm ra mối tương quan thuận giữa tình trạng đủ vốn và lợi nhuận Ông đã chỉ ra rằng ngân hàng có tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (gọi tắt là tỷ số vốn) càng cao thì lợi nhuận càng cao Tương tự, nghiên cứu của Berger (1995) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ trong khoảng thời gian nửa sau thập niên 1980, và nghiên cứu của Angbazo (1997) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ từ năm 1989 đến 2003 đều cho rằng các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu cao đều có lợi nhuận cao hơn
Mối tương quan thuận giữa tỷ số vốn và lợi nhuận không chỉ giới hạn trong ngành ngân hàng Mỹ Trong một nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng từ 18 nước Châu Âu trong vòng 4 năm từ 1986 đến 1989, Molyneux và Thornton (1992) cũng chỉ ra rằng tỷ
số vốn có tác động thuận lên lợi nhuận của ngân hàng mặc dù mối quan hệ này ít nhiều
bị ảnh hưởng bởi vấn đề sở hữu ngân hàng
Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) đã có một nghiên cứu rộng hơn về lợi nhuận của các ngân hàng ở 80 quốc gia bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển trong khoảng thời gian từ 1988 – 1995 Họ đã đi đến kết luận rằng các ngân hàng nước ngoài có lợi nhuận cao hơn các ngân hàng nội địa ở các nước đang phát triển, trong khi điều này là ngược lại ở các nước phát triển Tuy nhiên, nhìn chung, nghiên cứu của họ ủng hộ mối tương quan thuận giữa tỷ số vốn và lợi nhuận Nghiên cứu của
Trang 31Panayiotis P Athanasoglou et.al (2005) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Hy Lạp trong khoảng thời gian từ 1985 – 2001 cũng chỉ ra vốn là một nhân tố quan trọng giải thích lợi nhuận của ngân hàng, quy mô vốn ngân hàng càng lớn thì lợi nhuận càng cao Mối tương quan thuận giữa quy mô vốn và lợi nhuận của ngân hàng cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Ben Naceur & Goaied (2008) khi xem xét tác động của các biến về ngân hàng, cấu trúc tài chính và các điều kiện kinh tế vĩ mô lên lợi nhuận biên
và lợi nhuận của các ngân hàng Tunisia trong khoảng thời gian từ 1980 – 2000
Nghiên cứu tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi cũng cho kết quả tương tự Sammy Ben Naceur & Omran (2008) đã phân tích ảnh hưởng của chính sách ngân hàng, sự cạnh tranh, sự cải cách tài chính đến lợi nhuận của các NHTM ở các nước thuộc khu vực Trung Đông và Bắc Phi trong suốt khoảng thời gian từ 1989 – 2005 và
đi đến kết luận về mối tương quan thuận giữa quy mô vốn và lợi nhuận Nghiên cứu của Valentina Flamini et al (2009) về các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng ở vùng Châu Phi cận Saharan (Sub Saharan Africa – SSA) dựa trên dữ liệu của
389 ngân hàng thuộc 41 nước SSA cũng đã đi đến kết luận về mối tương quan dương giữa quy mô vốn và lợi nhuận Trước đó, Uhomoibhi Toni Aburime (2008) nghiên cứu
về các yếu quyết định lợi nhuận của ngân hàng Nigeria từ dữ liệu của 33 ngân hàng trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2004 cũng cho kết quả tương tự
Tại Châu Á, các nghiên cứu về lợi nhuận của các ngân hàng đã được tiến hành và cho kết quả tương tự Nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) về các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng ở một nền kinh tế đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ Philippines trong khoảng thời gian từ 1990 –
2005, nghiên cứu của Sufian & Habibullah (2009) về các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 2000 – 2005, cả hai nghiên cứu đã cùng tìm ra mối tương quan dương giữa quy mô vốn và lợi nhuận của ngân hàng Gần đây nhất là nghiên cứu của Fadzlan Sufian (2011) dựa trên dữ liệu của 29 ngân hàng Hàn Quốc trong khoảng thời gian từ 1992-2003 cho thấy các ngân hàng có
Trang 32quy mô vốn lớn có lợi nhuận cao Nghiên cứu này cho rằng các ngân hàng có vốn hóa tốt đối mặt với nguy cơ vỡ nợ thấp hơn Hơn nữa, một cấu trúc vốn mạnh rất cần thiết cho các ngân hàng trong nền kinh tế đang phát triển, vì nó cung cấp thêm sức mạnh cho các ngân hàng có thể đứng vững trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và tăng mức
độ an toàn cho người gửi tiền khi phải đối mặt với các điều kiện kinh tế vĩ mô không
ổn định
Như vậy tất cả các nghiên cứu được thực hiện trong các khoảng thời gian khác nhau, tại những khu vực địa lý khác nhau đều cho kết quả về mối tương quan dương giữa quy mô vốn và lợi nhuận của ngân hàng
Quy mô các khoản cho vay
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là huy động vốn từ các doanh nghiệp thừa vốn
và cho các doanh nghiệp thiếu vốn vay Sự chênh lệch đó giúp các ngân hàng kiếm được lợi nhuận Cho vay càng nhiều, lợi nhuận càng nhiều Alper và Anbar (2011) đã tìm thấy mối tương quan âm giữa các khoản cho vay và lợi nhuận Trong khi đó, Gur, Irshad và Zaman (2011), Sufian (2011) và Sasrosuwito danSuzuki (2011) lại tìm thấy mối tương quan dương giữa các khoản cho vay và lợi nhuận
Như vậy, mối quan hệ giữa quy mô các khoản vay và lợi nhuận cần được kiểm định lại ở Việt Nam
Quy mô tiền gửi
Samy Ben Naceur và Mohamed Goaied (2001) nghiên cứu các yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng Tunisia trong khoảng thời gian từ năm 1980 – 1995 chỉ ra rằng các ngân hàng hoạt động tốt nhất đều duy trì mức độ tiền gửi cao so với tài sản của họ Tỷ lệ tiền gửi so với tài sản càng lớn nghĩa là ngân hàng càng có nhiều vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư và cho vay Việc gia tăng hoạt động đầu tư và cho vay đến lượt nó lại mang lại lợi nhuận trên tổng tài sản cao cho ngân hàng (Linda Allen & Anoop Rai, 1996 và Ken Holden & Magdi El-Banany, 2004)
Trang 33 Mức độ đa dạng hóa
Khi các ngân hàng được đa dạng hóa, nó có thể sinh ra nhiều nguồn thu nhập hơn,
vì thế có thể giảm được sự phụ thuộc của nó vào thu nhập từ lãi, thu nhập mà dễ dàng
bị chịu ảnh hưởng bởi môi trường kinh tế vĩ mô Kết quả nghiên cứu của Guorong Jiang et al (2003) chỉ ra rằng các ngân hàng đa dạng hóa ở Hong Kong có lợi nhuận cao Tương tự, nghiên cứu của Fadzlan Sufian (2011) cũng cho thấy mối tương quan thuận giữa thu nhập ngoài lãi và lợi nhuận của ngân hàng Hàn Quốc Nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng có thu nhập đa dạng từ các công cụ phái sinh và các hoạt động thu phí khác có khả năng sinh lợi cao Nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) ở Philippines cũng cho thấy mối tương quan dương giữa thu nhập ngoài lãi và lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu này đưa ra lời đề nghị rằng các ngân hàng nên cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ mới để nâng cao lợi nhuận Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc phát triển công nghệ để tăng thêm tính tiện ích cho các sản phẩm của mình cũng như góp phần cải thiện năng suất lao động cho ngân hàng
Rủi ro tín dụng
Các nghiên cứu của Panayiotis P Athanasoglou et.al (2008) ở Hy Lạp, Panayiotis P.Athanasoglou et.al (2006) ở vùng Đông Nam Châu Âu, Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) ở Philippines, Anna P.I.Vong & Hoi Si Chan (2009) ở Macao, Fadlan Sufian (2011) ở Hàn Quốc đều tìm ra mối tương quan âm giữa rủi ro tín dụng
và lợi nhuận của ngân hàng Các nghiên cứu này đưa ra lời khuyên rằng các ngân hàng nên tập trung vào việc quản lý rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng hơn là việc
mở rộng dư nợ tín dụng
Rủi ro thanh khoản
Molyneux & Thornton (1992) và Fadzlan Sufian (2011) đều tìm ra mối tương quan nghịch giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng, kết quả nghiên cứu cho thấy ngân hàng có khả năng thanh khoản kém hơn sẽ có lợi nhuận cao hơn Vì tài
Trang 34sản của các ngân hàng này không tồn tại dưới dạng tiền mặt mà được đầu tư vào các hoạt động khác mang lại lợi nhuận cao hơn
Chi phí hoạt động
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các ngân hàng có chi phí hoạt động càng cao thì lợi nhuận càng thấp Và lập luận đó đã được ủng hộ bởi kết quả nghiên cứu của Bourke (1989), Guorong Jiang et al (2003), Panayiotis P Athanasoglou et.al (2005), Fadzlan Sufian (2011), Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008), Sufian & Habibullah (2009)
Ngược lại, Molyneur & Thornton (1992) lại phát hiện ra biến chi phí có tác động thuận đến lợi nhuận của ngân hàng Châu Âu Họ đã chứng minh được rằng các ngân hàng đạt được lợi nhuận cao khi có chi phí tiền lương cao Nghiên cứu của Balachandher K.Guru et al.(2002) về các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng ở Malaysia, sử dụng mẫu là 17 NHTM Malaysia trong khoảng thời gian từ 1986 -
1995 đã cho kết quả về mối tương quan thuận giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng Mối tương quan thuận giữa lợi nhuận và chi phí cũng được tìm thấy ở Tunisia trong nghiên cứu của Ben Naceur & Goaied (2008) Kết quả nghiên cứu của họ
đã ủng hộ học thuyết tiền lương: lương tăng thì năng suất lao động cũng tăng
Chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất của ngân hàng bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay Lãi suất huy động là một trong những nguồn chi phí vốn của ngân hàng Đó là lý do tại sao Steven Fries et al (2002) cho rằng hàm số lợi nhuận của một ngân hàng bao gồm tiền lãi để thanh toán cho người gửi tiền Mặt khác, tiền lãi từ hoạt động tín dụng của ngân hàng là nguồn thu nhập chủ yếu được dùng để tái đầu tư mở rộng kinh doanh Bobáková (2003) cho rằng lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi chính sách lãi suất và chính sách này có thể được điều chỉnh để nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Vì thế, yếu tố quyết định chính là năng lực của ngân hàng trong việc xây dựng một chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với từng thời kỳ, từng nhóm khách hàng để đáp ứng chi
Trang 35phí sử dụng vốn, chi phí hoạt động cũng như lợi nhuận yêu cầu của các cổ đông ngân hàng
Năng suất lao động
Những bằng chứng thực nghiệm từ Panayiotis P Athanasoglou et al (2005) đã chỉ ra rằng năng suất lao động tăng có ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu này cho thấy năng suất lao động cao là một nhân tố quan trọng tạo ra thu nhập cao cho ngân hàng Vì thế, các ngân hàng nên hướng đến mục tiêu tăng năng suất lao động thông qua các chiến lược khác như: giữ ổn định đội ngũ lao động, đảm bảo chất lượng cao hơn của lao động được tuyển dụng mới, cắt giảm nhân sự để tăng tổng đầu ra bằng cách tăng cường đầu tư vào các tài sản cố định kết hợp với công nghệ mới
Tình trạng công nghệ thông tin
Hệ thống công nghệ thông tin góp phần quan trọng trong việc quản lý cũng như hiệu quả dịch vụ khách hàng Porter & Millar (1985) đã chứng minh rằng đầu tư vào công nghệ thông tin đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm tổng chi phí của ngân hàng (đưa ra lợi thế chi phí) và đa dạng hóa sản phẩm (đưa ra lợi thế cạnh tranh), được
phản ánh trong sự gia tăng của lợi nhuận ròng
Sử dụng những bằng chứng từ những dữ liệu kế toán, Holden và El-Bannany đã điều tra thực nghiệm xem liệu việc đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Mỹ trong suốt khoảng thời gian từ năm 1976 đến năm 1996 hay không Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng việc đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin (chủ yếu là đầu tư vào hệ thống máy ATM) có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Tương tự, một vài nghiên cứu khác (ví dụ như: Abdullah, 1985; Katagiri, 1989; Shawky, 1995 và Gupta, 1998) cho thấy rằng việc phát triển hệ thống máy ATM của ngân hàng sẽ đem lại thu nhập từ dịch vụ cao hơn mà không cần phải tuyển thêm nhân sự và mở thêm chi nhánh, vì vậy giảm được chi phí giao dịch và cuối cùng là tăng lợi nhuận của ngân hàng Sử dụng Internet để thực hiện các giao dịch
Trang 36ngân hàng cũng giúp làm giảm chi phí giao dịch và nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Daniel và Storey (1997) rút ra từ kết quả của một cuộc điều tra trong đó mỗi giao dịch không dùng tiền mặt giảm được 1,08 bảng Anh cho một chi nhánh
Như vậy, các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc phát triển công nghệ thông tin góp phần tích cực làm tăng lợi nhuận của các NHTM
1.4.2.2 Các yếu tố bên ngoài
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Theo kinh nghiệm thông thường, trong thời kỳ kinh tế bùng nổ sẽ có nhiều nhu cầu tín dụng hơn trong thời kỳ kinh tế suy thoái Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm tăng sức mạnh cho các gói dư nợ tín dụng vì lúc này các doanh nghiệp có điều kiện kinh doanh thuận lợi hơn, khả năng trả nợ cao hơn góp phần vào việc giảm rủi ro tín dụng Ngược lại, điều kiện kinh tế suy thoái có thể gây tổn thất cho ngân hàng do tăng các khoản vay không hiệu quả Bourke (1989) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Nier (2000), Balachandher K.Guru et al.(2002), Bashir (2003), Gerlach et al.(2004), Sufian & Habibullah (2009) cũng tìm ra mối tương quan dương giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận của ngân hàng
Trong khi kết quả nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008), Anna P.I.Vong & Hoi Si Chan (2009) lại cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế không có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Như vậy, kết quả về tác động của yếu tố tốc độ phát triển kinh tế lên lợi nhuận của các ngân hàng ở những quốc gia khác nhau là không đồng nhất
Trang 37 Lạm phát
Những bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), Demirguc – Kunt và Huizinga (2001) đã chỉ ra rằng lạm phát làm nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Họ cho rằng mối tương quan dương giữa tỷ lệ lạm phát và lợi nhuận của ngân hàng sẽ làm cho thu nhập của ngân hàng tăng nhanh hơn chi phí của ngân hàng Tỷ lệ lạm phát cao đi cùng với lãi suất cho vay cao và vì thế thu nhập cũng cao Nhưng nếu lạm phát xảy ra bất ngờ và ngân hàng tỏ ra chậm chạp trong việc điều chỉnh lãi suất thì chi phí của ngân hàng có thể tăng nhanh hơn thu nhập và do
đó ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng
Sử dụng dữ liệu của 154 ngân hàng trong suốt khoảng thời gian từ 1980 – 2006, Uhomoibhi Toni Aburime (2008) đã nghiên cứu về các yếu tố kinh tế vĩ mô quyết định đến lợi nhuận của ngân hàng Nigeria và cũng tìm ra mối tương quan dương giữa tỷ lệ lạm phát và lợi nhuận của ngân hàng Cùng cho kết quả về quan hệ thuận giữa hai biến này còn có các nghiên cứu của Balachandher K.Guru et al (2002), P Athanasoglou et.al (2006), Anna P.I.Vong & Hoi Si Chan (2009)
Tuy nhiên, nghiên cứu của Uche (1996) và Ogowewa và Uche (2006) lại cho kết quả âm Họ giải thích rằng ở Nigeria, trong thời kỳ lạm phát cao, các ngân hàng dễ bị tổn thương và lạm phát là nhân tố chính gây áp lực cho các định chế tài chính này Lạm phát gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm cho rủi ro của ngân hàng tăng cao và lợi nhuận giảm xuống Không chỉ riêng ở Nigeria, nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) cũng cho kết quả tương tự ở Philippines
Như vậy, ở những quốc gia khác nhau, tác động của lạm phát lên lợi nhuận của ngân hàng theo chiều hướng hoàn toàn khác nhau
Cung tiền
Những thay đổi trong cung tiền có thể dẫn đến những thay đổi trong GDP danh nghĩa và cấp độ giá Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng cung tiền như một thước đo quy mô thị trường (market size) để tìm hiểu tác động của biến này đến lợi nhuận của
Trang 38ngân hàng Nghiên cứu của Sufian & Habibullah (2009) đã tìm ra mối tương quan nghịch giữa cung tiền và lợi nhuận của ngân hàng Trung Quốc Trong khi đó, nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008) lại không tìm thấy mối liên
hệ giữa cung tiền và lợi nhuận của các ngân hàng Philippines
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán càng phát triển rộng, càng năng động và càng hiệu quả khi đất nước trở nên giàu có hơn Vì thế, các nước đang phát triển thường có ít thị trường chứng khoán phát triển hơn Theo những nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), Bashir (2000), Demirguc – Kunt và Huizinga (2001), Sammy Ben Naceur (2003), Sammy Ben Naceur & Goaied (2008) chỉ ra rằng ngân hàng sẽ có cơ hội nâng cao lợi nhuận ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển Vì khi thị trường chứng khoán phát triển, các ngân hàng có thể dễ dàng tăng vốn của mình, mà vốn lại là một nhân tố quan trọng góp phần làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Hơn nữa, khi thị trường chứng khoán phát triển, thông tin tài chính của các công ty sẽ minh bạch hơn, nhờ đó các ngân hàng có thể đưa ra các quyết định cho vay chính xác, góp phần làm giảm rủi ro tín dụng, từ đó làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng
Chế độ tỷ giá hối đoái
Lợi nhuận của ngân hàng ở một quốc gia có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ tỷ giá hối đoái ở quốc gia đó Ogunleye (1995) đã khẳng định rằng lợi nhuận của ngân hàng
có thể bị hạn chế bởi chế độ tỷ giá cố định; trong khi đó, chế độ tỷ giá thả nổi có điều chỉnh và thả nổi hoàn toàn lại cho phép một biên độ đủ rộng cho các ngân hàng trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và vì thế có thể làm cho lợi nhuận của ngân hàng tăng cao
Tuy nhiên, Uhomoibhi Toni Aburime (2008) lại tìm ra mối tương quan âm giữa chế độ tỷ giá hối đoái và lợi nhuận của ngân hàng, nghiên cứu chỉ ra rằng ngân hàng Nigeria tạo ra được lợi nhuận cao hơn trong thời kỳ chế độ tỷ giá cố định
Mức độ độc quyền của ngành ngân hàng
Trang 39Nghiên cứu của Demirguc – Kunt & Huizinga (1999) đã tìm ra mối tương quan
âm giữa tỷ số độc quyền và lợi nhuận biên của ngân hàng Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ số tổng tài sản toàn ngành ngân hàng trên GDP càng lớn và tỷ số độc quyền càng thấp thì lợi nhuận biên và lợi nhuận cảng giảm Các nghiên cứu của P.Athanasoglou et al (2006) về các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng ở vùng Đông Nam Châu Âu trong khoảng thời gian từ 1998 – 2002, Fadzlan Sufian (2011) tại Hàn Quốc cũng cho kết quả tương tự
Tuy nhiên, nghiên cứu của Ben Naceur & Goaied (2008) lại cho kết quả ngược lại Nghiên cứu giải thích mối tương quan âm này có nghĩa là độc quyền làm cho lợi nhuận của các NHTM Tunisia thấp hơn so với thị trường cạnh tranh
Trang 40TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đưa ra những cơ sở lý luận về NHTM và lợi nhuận của các NHTM Trong đó nêu bật lên các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM dựa trên những nghiên cứu đã được thực hiện trước đây ở các nước trên thế giới
Cụ thể là: các nhân tố bên trong thường được sử dụng trong các nghiên cứu bao gồm: quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô các khoản cho vay, quy mô tiền gửi, mức độ đa dạng hóa, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, chi phí hoạt động, chính sách lãi suất, năng suất lao động, tình trạng công nghệ thông tin; các nhân tố bên ngoài thường được sử dụng bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cung tiền,
sự phát triển của thị trường chứng khoán, chế độ tỷ giá hối đoái, mức độ độc quyền của ngành ngân hàng
Kết quả về tác động tiêu cực hay tích cực của các yếu tố kể trên đến lợi nhuận của các NHTM ở mỗi quốc gia khác nhau là không đồng nhất, điều đó còn tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế đặc thù của từng vùng, từng quốc gia trong mỗi giai đoạn nghiên cứu nhất định