Chính vậy mà việc xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh trở thành một trong những vấn đề mà doanh nghiệp cần giải quyết nếu muốn kiểm soát chi phí tốt hơn và từ đó
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
XÁC LẬP QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ
RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU
THIÊN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HÀ
XÁC LẬP QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU THIÊN NAM
Chuyên ngành : KẾ TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HUỲNH LỢI
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan: Luận văn “Xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định khi thực hiện dự án sản xuất tại Công ty Cổ phần Thương mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận văn được
sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nào Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp trí và trang web theo danh mục tài liệu luận văn
Trong quá trình tiến hành và hoàn thiện luận văn, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến TS Huỳnh Lợi đã tận tình hướng dẫn cho tôi từ những bước đi ban đầu
và tạo mọi điều kiện để cho tôi hoàn thiện luận văn Những hướng dẫn, chỉ bảo của thầy như là một hành trang quý báu trên con đường học tập và nghiên cứu của tôi sau này
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, hình ảnh
Danh mục các sơ đồ
Phần mở đầu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH 6
1.1 Tổng quan về quyết định kinh doanh 6
1.1.1 Khái niệm quyết định quyết định kinh doanh 6
1.1.2 Tiêu chuẩn kinh tế khi ra quyết định kinh doanh 7
1.1.3 Các loại quyết định kinh doanh 8
1.2 Chi phí và vai trò của chi phí trong việc ra quyết định kinh doanh 9
1.2.1 Khái niệm và tiếp cận chi phí trong hoạt động kinh doanh 9
1.2.1.1 Khái niệm chi phí 9
1.2.1.1.Tiếp cận chi phí trong hoạt động kinh doanh 9
1.2.2 Phân loại chi phí hoạt động kinh doanh 12
1.2.2.1 Phân loại chi phí theo phạm vi và chức năng hoạt động 12
1.2.2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh 14
1.2.2.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 15
1.2.2.4 Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát 16
1.2.2.5 Một số cách phân loại chi phí khác liên quan phân tích ra quyết định 17 1.2.3.Vai trò của chi phí trong việc ra quyết định kinh doanh 18
1.3 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 19
1.3.1 Mục tiêu của quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 19 1.3.2 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh trong
Trang 5Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU THIÊN NAM 30
2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Thương mại XNK Thiên Nam 30
2.1.1 Khái quát về công ty Cổ phần Thương mại XNK Thiên Nam 30
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của công ty 32
2.1.2.1 Chức năng 32
2.1.2.2 Nhiệm vụ 32
2.1.2.3 Phương hướng hoạt động của Công ty 33
2.1.3 Đặc điểm hoạt động, quản lý, tài chính, kế toán của công ty 34
2.1.3.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 34
2.1.3.2 Đặc điểm Quản lý - Tài chính – Kế toán tại công ty 36
2.2 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty Cổ phần Thương mại XNK Thiên Nam 39
2.2.1 Quan điểm chung về phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty 39
2.2.1.1 Quan điểm về quyết định kinh doanh tại Công ty 39
2.2.1.2 Tiêu chí kinh tế ra quyết định kinh doanh tại Công ty 40
2.2.1.3 Vai trò của chi phí trong việc ra quyết định kinh doanh tại Công ty 40
2.2.2 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty 41
2.2.2.1 Quy trình tổng quát 42
2.2.2.2 Diễn giải nội dung quy trình 42
2.2.2.3 Số liệu minh họa 43
2.3 Đánh giá thực trạng quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh và sự cần thiết phải áp dụng quy trình phân tích chi phí mục tiêu tại Công ty 52
Trang 6ra quyết định kinh doanh tại Công ty 54
2.3.2.1 Phương hướng hoạt động ngành thép đến năm 2015 của Công ty 54
2.3.2.2 Sơ lược về dự án thành lập trung tâm sản xuất và kinh doanh sắt thép Long An 54
2.3.2.3 Sự cần thiết áp dụng quy trình phân tích chi phí mục tiêu phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại Công ty 63
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: XÁC LẬP QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU THIÊN NAM 66
3.1 Quan điểm và định hướng trong việc ứng dụng quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty Cổ phần XNK Thiên Nam 66
3.1.1 Quan điểm 66
3.1.2 Định hướng 66
3.2 Nội dung và quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 70
3.2.1 Quy trình tổng quát 70
3.2.2 Diễn giải nội dung và trình tự các bước tiến hành quy trình 71
3.2.3 Minh họa số liệu cho một quyết định kinh doanh cụ thể tại Công ty 76
3.3 Tổ chức ứng dụng quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty Cổ phần XNK Thiên Nam 81
3.3.1 Xác lập các điều kiện liên quan đến vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ để xây dựng và vận hành hiệu quả quy trình 81
3.3.2 Xác lập những vấn đề về chuyên môn kỹ thuật liên quan đến quy trình 85
3.3.3 Xác lập những vấn đề về tổ chức và nhân sự khi ứng dụng quy trình 86
3.3.3.1 Những vấn đề về tổ chức bộ máy 86
3.3.3.2.Những vấn đề về tổ chức nhân sự 88
3.4 Đánh giá về triển vọng mở rộng mô hình cho các doanh nghiệp Việt Nam 89
Trang 8LNTT: lợi nhuận trước thuế
ROA: tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE: tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư
TNHH: trách nhiệm hữu hạn
TT: thực tế
Trang 92 Bảng 2.2 - Bảng tổng hợp thống kê về kết quả hoạt động bình quân của 20 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh sắt thép trong năm 2010 47
3 Bảng 2.3 - Bảng dự toán tình hình kinh doanh sắt thép tại Công ty năm 2012 48
4 Bảng 2.4 - Bảng tổng hợp tình hình kinh doanh sắt thép thực tế tại Công ty năm
11 Bảng 3.1 - Mẫu bảng đánh giá chỉ tiêu phân bổ chi phí 73
12 Bảng 3.2 - Mẫu bảng xác định chi phí ước tính cho từng sản phẩm 73
13 Bảng 3.3 - Mẫu bảng so sánh chi phí ước tính và chi phí mục tiêu 74
14 Bảng 3.4 - Mẫu bảng đánh giá kết quả thực hiện chi 75
15 Bảng 3.5 - Bảng tổng hợp kết quả khảo sát giá thép dây Wire rod 76
16 Bảng 3.6 - Bảng đánh giá chỉ tiêu phân bổ chi phí của mặt hàng thép dây Wire
Trang 1018 Bảng 3.8 - Bảng xác định chi phí ƣớc tính cho sản phẩm thép dây Wire rod 78
19 Bảng 3.9 - Bảng so sánh chi phí ƣớc tính với chi phí mục tiêu của sản phẩm thép dây Wire rod 79
20 Bảng 3.10 - Bảng đánh giá kết quả thực hiện chi phí của sản phẩm thép dây Wire rod 80
Trang 113 Biểu đồ 2.3 - Biểu đồ sản xuất sắt thép tại Việt Nam 45
4 Biểu đồ 2.4 - Biểu đồ tiêu thụ sắt thép tại Việt Nam 46
5 Hình 2.1 - Hình ảnh về sản phẩm sắt thép tại Công ty 35
Trang 12Sơ đồ 1.6 - Sơ đồ phương pháp tiếp cận chi phí mục tiêu 27
Sơ đồ 2.1 - Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty 37
Sơ đồ 2.2 - Sơ đồ quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh tổng quát tại Công ty 42
Sơ đồ 3.1 - Sơ đồ quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định tổng quát 71
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, phát triển với các loại hình doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển không ngừng theo cơ chế kinh tế thị trường Vì vậy, để đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển và tăng trưởng bền vững, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để biến chiến lược thành hành động nhằm tối đa hóa lợi nhuận Và một trong những chiến lược đó là kiểm soát chi phí Phương án kiểm soát chi phí tối ưu là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Do đó, nếu doanh nghiệp không kiểm soát được hết chi phí thì doanh nghiệp không thể nào nhận biết và đánh giá được tình hình thực hiện các kế hoạch kinh doanh cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, để kiểm soát tốt chi phí doanh nghiệp cũng cần phải xác lập một quy trình tiếp cận phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh hợp lý Xuất phát từ những đặc điểm kinh doanh khác nhau, mỗi doanh nghiệp sẽ có một quy trình phân tích chi phí ra quyết định khác nhau Song, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đạt được kết quả như mong muốn Chính vậy mà việc xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh trở thành một trong những vấn đề mà doanh nghiệp cần giải quyết nếu muốn kiểm soát chi phí tốt hơn và từ đó thực hiện được mục tiêu tối đa hóa giá trị hoạt động
Xuất phát từ yêu cầu khách quan trên, trong thực tế có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về quy phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh và có nhiều giải pháp hữu ích đã ra đời, phần nào đáp ứng được mong muốn của các doanh nghiệp Tuy nhiên, hầu hết các tác giả này mới chỉ đứng trên góc độ phân tích chi phí của từng bộ phận để ra quyết định mà chưa đưa ra cái nhìn toàn diện về các chi phí phát sinh trong toàn bộ chu kỳ sống của một sản phẩm, chưa giải quyết các vấn đề mà nền kinh tế thị trường đặt ra nên đã không mang lại kết quả tối ưu trong quá trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh đối với một sản phẩm
Trang 14Qua tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty Cổ phần Thương mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam, tác giả nhận thấy việc xác lập một quy trình phân tích chi phí
ra quyết định kinh doanh là một vấn đề hết sức cần thiết, giúp cho Công ty có tầm nhìn toàn diện để thực hiện tốt hơn vấn đề kiểm soát chi phí ra quyết định kinh doanh hợp lý, từ đó nâng cao giá trị của Công ty Việc xác lập một quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh theo hướng tiếp cận nghiên cứu những chi phí phát sinh trong suốt chu kỳ sống của một sản phẩm sẽ giúp Công ty có cái nhìn toàn diện hơn về những chi phí phát sinh liên quan đến sản phẩm bắt đầu từ giai đoạn nghiên cứu, thiết kế, triển khai và sản xuất sản phẩm Từ đó, Công ty sẽ kịp thời điều chỉnh những chi phí vô ích phát sinh và nhờ vậy mà hoạt động kiểm soát chi phí sẽ trở thành công cụ hữu hiệu hơn trong quá trình tối đa hóa lợi nhuận của đơn vị Đó là những lý do đã khiến tác giả lựa chọn đề tài: “Xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh tại công ty Cổ phần Thương mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Quy trình phân tích chi phí mục tiêu không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới mà ngược lại nó đã được nhiều tác giả đề cập tới cũng như được rất nhiều công ty trên thế giới áp dụng
Mặc dù một số công ty ở Bắc Mỹ (Như Boeing, Caterpillar, John Deere, và Northern Telecom) đã có những ý tưởng chung về việc áp dụng quy trình phân tích chi phí mục tiêu trong những năm qua nhưng việc áp dụng quy trình này mới chỉ dừng lại ở một số sản phẩm cụ thể chứ vẫn chưa được áp dụng một cách toàn diện và mạnh mẽ như các công ty hàng đầu của Nhật Bản như Toyota, Nissan, Nippondenso, và NEC Và chỉ gần đây, lý thuyết quy trình phân tích chi phí mục tiêu mới được các tác giả Nhật Bản (Chẳng hạn như Monden, Sakurai, và Tanaka) bắt đầu nghiên cứu và mô tả cách thức mà các công ty Nhật Bản áp dụng quy trình này, cũng như cách thức mà các công ty đã phấn đấu để thành công trong thị trường nội địa và sau đó trong thị trường thế giới Hiện nay, một
số công ty ở Bắc Mỹ (như Ford, Chrysler, và Động cơ CUMMINS) cũng đang
Trang 15bắt đầu nghiên cứu quy trình này trên cơ sở các lý thuyết đã được áp dụng ở Nhật Bản và đưa ra các sáng kiến chi phí mục tiêu
Trong nền kinh tế thị trường, rất nhiều công ty đã nhận ra rằng việc tăng giá bán hiện không còn là sự chủ động của công ty mà phải theo hướng thị trường và quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định là một kỹ thuật mạnh mẽ để giải quyết những vấn đề mà thị trường đặt ra Ý tưởng về quy trình phân tích chi phí chi phí mục tiêu đã dẫn sự cạnh tranh khốc liệt mà hầu hết các công ty Nhật Bản phải đối mặt trong nhiều năm Xuất phát từ đặc điểm kinh doanh khác nhau, mỗi công ty có một cách thức tiếp cận riêng và độc đáo về quy trình này Kết quả
là có rất nhiều định nghĩa liên quan đến chi phí mục tiêu
Một số tác giả tiêu biểu đã nghiên cứu về quy trình này trên thế giới gồm: Michiharu Sakurai (1989), Robin Cooper (1992), Peter Horváth (1993),
Hầu hết trong các định nghĩa về quy trình chi phí mục tiêu, các giả trên cho rằng đây là một quy trình được áp dụng trong thị trường cạnh tranh, nơi mà giá hướng dẫn và quyết định chi phí, lập kế hoạch chi phí, quản lý và cắt giảm chi phí từ giai đoạn thiết kế và cả quá trình phát triển sản phẩm với sự tham gia của một đội ngũ liên chức năng, bao gồm cả kế toán trị nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận
Tại Việt Nam, quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định vẫn chưa đề cập như là một công cụ để hỗ trợ việc ra quyết định kinh doanh trong các doanh nghiệp Nó chỉ mới được giới thiệu sơ lược như một phương pháp kế toán chi phí mới theo phương pháp chi phí mục tiêu (tác giả Trương Bá Thanh, Đại học Đà Nẵng) nhằm giúp cho người đọc tiếp cận một phương pháp mới trong kế toán quản trị hiện đại
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được thực hiện nhằm:
- Tìm hiểu quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh như một phương thức tiếp cận để kiểm soát chi phí của một tổ chức nhằm tạo tiền đề cho việc ứng dụng lý thuyết vào thực tế
Trang 16- Phân tích thực trạng quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh trong Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam, qua đó nhận diện những hạn chế mà đơn vị gặp phải
- Vận dụng quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh để đưa ra một số những kiến nghị nhằm giải quyết những hạn chế nêu trên của đơn vị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Việc xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh thực tiễn ở mỗi tổ chức có thể giải quyết được những khó khăn về mặt kiểm soát chi phí và
ra quyết định kinh doanh tối ưu Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ dừng lại ở việc xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định đối với các sản phẩm về thép được sản xuất và kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015 mà không
đi sâu vào xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh cho tất cả các mặt hàng của đơn vị
5 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả thực hiện đề tài trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng, trong đó chủ yếu là phương pháp định tính với việc áp dụng thống kê mô tả Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thêm một số phương pháp
cụ thể như: quan sát, chọn mẫu, phỏng vấn, thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích đánh giá
6 Các điểm mới của đề tài:
Hiện nay có rất nhiều cách thức tiếp cận và mô hình phân tích chi phí hiện đại phục vụ cho việc ra quyết định như phân tích chi phí chu kỳ sống, phân tích chi phí chất lượng, phân tích chi phí Kaizens, chi phí Taguchi, …Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu và giới thiệu nội dung của 1 quy trình nổi bật trong số đó là quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định kinh doanh
Đề tài trình bày và giới thiệu nội dung cơ bản của quy trình phân tích chi phí
ra quyết định theo một hướng tiếp cận mới – tiếp cận chi phí theo chuỗi giá trị
Trang 17Quy trình này có thể giải quyết được các vấn đề mà thị trường đặt ra cho Thiên Nam nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung hiện nay Thông qua đề tài, các doanh nghiệp có thêm một công cụ hỗ trợ hữu ích trong việc ra quyết định
Do thời gian có hạn, đề tài chỉ mới đề cập đến việc ra quyết định kinh doanh đối với 1 loại sản phẩm sắt thép tại Công ty mà chưa khảo sát rộng rãi cho tất cả các sản phẩm
Mặt khác, do đây là quy trình mới nên việc khảo sát dữ liệu còn gặp nhiều khó khăn, còn mang tính ước tính, dự toán thông qua việc khảo sát và phân tích thị trường Vì vậy, đề tài vẫn còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, tác giả hi vọng đề tài
sẽ trở thành cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về việc giới thiệu và tổ chức vận dụng các quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh hiện đại nói chung và quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định nói riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam ở các lĩnh vực khác trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh
- Chương 2: Thực trạng về quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty cổ phần Thương Mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam
- Chương 3: Xác lập quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tại công ty cổ phần Thương Mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ QUY TRèNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ
PHỤC VỤ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH
1.1.1 Khỏi niệm quyết định kinh doanh
Ra quyết định của doanh nghiệp là việc lựa chọn từ nhiều phương ỏn khỏc nhau, trong đú mỗi phương ỏn được xem xột ở nhiều gúc độ, tiếp cận rất nhiều thụng tin, nhất là thụng tin về chi phớ nhằm đạt được lợi ớch kinh tế cao nhất
Ra quyết định kinh doanh là một quỏ trỡnh kết nối quan trọng cỏc chức năng quản trị với nhau (hoạch định, tổ chức, lónh đạo và kiểm tra) Quỏ trỡnh ra quyết định kinh doanh thường được tiến hành theo 8 bước sau:
Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ quy trỡnh ra quyết định (www.ntu.edu.vn)
Xác định rõ vấn đề cần giải quyết
Xác định các nhân tố ảnh h-ởng
đến quá trình ra quyết định Xác định mục tiêu ra quyết định
Trang 19Để ra quyết định kinh doanh trong mọi lĩnh vực của doanh nghiệp, nhà quản trị doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thông tin liên quan đến các lĩnh vực đó Có nhiều phương pháp thu thập thông tin khác nhau hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị Trong đó, ra quyết định kinh doanh dựa trên nguồn thông tin từ hệ thống kế toán quản trị thực sự mang lại sự đáng tin cậy và ngày càng thu hút sự quan tâm của nhà quản trị thuộc nhiều cấp khác nhau Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc ra quyết định một cách đúng đắn, nhà quản trị cần phải có những công cụ thích hợp giúp họ phân biệt được những thông tin thích hợp và những thông tin không thích hợp, làm căn cứ cho việc ra quyết định
1.1.2 Tiêu chuẩn kinh tế khi ra quyết định kinh doanh
Tiêu chuẩn về mặt kinh tế của việc ra quyết định là lựa chọn hành động dự tính sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất (hoặc lỗ ít nhất) cho doanh nghiệp Việc vận dụng nguyên tắc này để chọn các quyết định đúng đắn không phải lúc nào cũng đơn giản, do đó cần phải có 2 nguyên tắc bổ sung, có tác dụng trong quá trình lựa chọn
Một là: các khoản thu và chi phí thích hợp cho việc ra quyết định thường là những khoản thu và chi phí ước tính chênh lệch giữa các phương án sẵn
Hai là: các khoản thu và chi giống nhau, các khoản thu đã kiếm được hoặc các khoản chi đã chi thì không thích hợp cho việc xem xét quản quyết định Tuy nhiên chúng có thể sử dụng để dự đoán các khoản thu và chi trong tương lai (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2009)
Mặt khác, để ra quyết định một cách hiệu quả, các quyết định đưa ra phải đặt trong mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí Nếu một phương án mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp nhưng có chi phí rất cao, làm cho tỷ lệ lợi ích trên chi phí thấp thì chưa hẳn đã là một phương án tối ưu Bởi vì doanh nghiệp có rất nhiều mục tiêu cần phải đạt đến mà nguồn lực thường thì có hạn
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nhu cầu về sản phẩm của khách hàng ngày càng đa dạng với vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn Sản phẩm cung cấp cho khách hàng không chỉ thỏa
Trang 20mãn nhu cầu của khách hàng mà còn phải tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng khi sử dụng Vì vậy, chúng ta cần phải xem xét thêm tiêu chuẩn về chi phí biên
tế, được đo lường trên cơ sở chi phí một đơn vị hữu ích trên một chức năng sản phẩm Với tiêu chuẩn này, sẽ giúp nhà quản trị đo lường được chi phí liên quan đến từng bộ phận chức năng của sản phẩm và đánh giá tầm quan trọng của từng
bộ phận chức năng, tạo cơ sở cho việc thiết kế sản phẩm với những chức năng thích hợp trong điều kiện nguồn lực cho phép, từ đó giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng sản xuất và giới thiệu một sản phẩm có các chức năng không cần thiết với chi phí quá cao, gây lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp
1.1.3 Các loại quyết định kinh doanh
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các loại quyết định kinh doanh Tùy theo tính chất và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, các quyết định kinh doanh này có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau Xét về mặt thời gian, quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp thường được chia thành hai loại: quyết định kinh doanh ngắn hạn và quyết định kinh doanh dài hạn
Quyết định kinh doanh ngắn hạn:
Xét về mặt thời gian, một quyết định được xem là ngắn hạn nếu nó chỉ liên quan đến một thời kỳ hoặc ngắn hơn, nghĩa là kết quả của nó thể hiện rõ trong kỳ
kế toán Xét về mặt vốn đầu tư, quyết định ngắn hạn là quyết định không đòi hỏi vốn đầu tư lớn
Quyết định ngắn hạn có tính dễ thay đổi hơn nhiều so với quyết định dài hạn
và mục tiêu của quyết định ngắn hạn là nhằm phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu lâu dài của quyết định dài hạn Vì vậy, các dạng quyết định ngắn hạn phát sinh một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình điều hành, chẳng hạn như: quyết định về các phương pháp sản xuất; quyết định về các cách thức phân phối hàng hoá; quyết định nên sản xuất hay nên mua ngoài; quyết định nên tiếp tục kinh doanh hay ngừng kinh doanh một bộ phận; quyết định nên bán hay tiếp tục sản xuất; quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất bị giới hạn và kể cả các
Trang 21quyết định về định giá bán các sản phẩm sản xuất trong điều kiện hoạt động bình thường và sản phẩm của các đơn đặt hàng đặc biệt,
Quyết định kinh doanh dài hạn:
Quyết định dài hạn là các quyết định liên quan đến quá trình đầu tư vốn để phục vụ mục tiêu lâu dài của tổ chức, hay nói một cách khác, đây là các quyết định liên quan đến vốn đầu tư dài hạn cho mục đích thu được lợi tức trong tương lai Các quyết định dài hạn thường liên quan đến việc đầu tư vào các loại tài sản
cố định (các tài sản dài hạn - long term assets) như máy móc thiết bị, công trình nhà xưởng, Một vài dạng quyết định dài hạn thường gặp như: quyết định đầu
mở rộng sản xuất, để tiết kiệm chi phí hoạt động; quyết định về lựa chọn loại máy móc thiết bị cần đầu tư; quyết định về phương thức mua sắm hay thuê mướn TSCĐ,
Mỗi loại quyết định kinh doanh cần có những phương thức, kỹ thuật và công
cụ hỗ trợ ra quyết định khác nhau Doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trong việc lựa chọn phương thức, kỹ thuật và công cụ hỗ trợ ra quyết định nhằm đưa ra những quyết định kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp và đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra
1.2.1 Khái niệm và tiếp cận chi phí trong hoạt động kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh là những phí tổn tiêu hao nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời
kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1.2.1.2 Tiếp cận chi phí trong hoạt động kinh doanh
Trang 22Trong hoạt động kinh doanh, chi phí thường được nhận thức và tiếp cận theo những tư duy, quan điểm quản lý chi phí sản xuất kinh doanh khác nhau, phù hợp với đặc điểm của mô hình sản xuất đang áp dụng
Trong quá khứ, với tư duy quản lý chi phí sản xuất kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa, chi phí thường được tiếp cận cục bộ theo từng công đoạn, bộ phận chức năng theo từng doanh nghiệp và phù hợp với mô hình sản xuất truyền thống Với cách tiếp cận này thường hướng góc nhìn chi phí, kiểm soát chi phí, tiết kiệm chi phí cũng như các quyết định liên quan đến chi phí vào bên trong doanh nghiệp, chi phí hiện tại
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa và dịch vụ, của kinh tế thị trường, mô hình “sản xuất tinh gọn” xuất hiện thay cho mô hình sản xuất truyền thống, tạo tiền đề cho lý thuyết chuỗi giá trị giá trị ra đời Với tư duy này, chi phí thường được tiếp cận theo từng chuỗi Đó là chi phí gắn liền và xuyên suốt quy trình hoạt động kinh doanh Theo cách tiếp cận này chúng ta có thể thông qua chuỗi giá trị để xác định các loại chi phí phát sinh tạo nên giá trị của hàng hóa và dịch vụ ở một số doanh nghiệp theo các sơ đồ dưới đây
Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
Sơ đồ 1.2 – Sơ đồ tiếp cận chi phí theo chuỗi giá trị tại doanh nghiệp
Chế tạo hoặc Sản xuất Marketing Phân
phối
Dịch vụ khách hàng
Giá trị của hàng hóa
Giai đoạn đầu Giai đoạn chính
Giai đoạn cuối
Trang 23sản xuất
- Ở giai đoạn đầu, tức là giai đoạn nghiên cứu, các loại chi phí có thể phát sinh gồm: chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm, chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí triển khai sản phẩm
- Ở giai đoạn 2, đây là giai đoạn sản xuất (giai đoạn chính của quá trình), các chi phí có thể phát sinh gồm: chi phí triển khai sản phẩm, chi phí sản xuất, chi phí Marketing
- Ở giai đoạn 3, tức là giai đoạn hậu sản xuất, chi phí có thể phát sinh gồm: chi phí Marketing, chi phí phân phối và chi phí dịch vụ khách hàng
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ:
Sơ đồ 1.3 – Sơ đồ tiếp cận chi phí theo chuỗi giá trị tại doanh nghiệp kinh
Phân phối
Marketing
Dịch vụ khách hàng
Giá trị của dịch vụ
Giai đoạn đầu
Giai đoạn chính
Giai đoạn cuối
Trang 24- Ở giai đoạn 3, tức là giai đoạn hậu sản xuất, chi phí có thể phát sinh gồm: chi phí Marketing và chi phí dịch vụ hỗ trợ khách hàng
Việc tổ chức và quản lý sản xuất theo chuỗi giá trị đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để hình thành một cách tiếp cận mới – tiếp cận chi phí theo từng chuỗi Phương pháp mới này cho phép cung cấp những thông tin hữu ích, đúng lúc và loại bỏ sự phức tạp, tốn kém vốn có của phương pháp truyền thống “Kế toán chi phí theo chuỗi giá trị ghi nhận chi phí thực tế của từng chuỗi giá trị và cung cấp được một báo cáo chi phí theo đúng mục đích của sản xuất tinh gọn” (Huỳnh Thị Hồng Hạnh và cộng sự, 2010) Theo đó, tất cả những chi phí liên quan đến chuỗi giá trị nào thì sẽ được tập hợp cho đúng chuỗi giá trị đó, bao gồm chi phí lao động, nguyên vật liệu, các chi phí dịch vụ và hỗ trợ sản xuất
Như vậy cách tiếp cận chi phí theo từng chuỗi thường hướng góc nhìn chi phí, kiểm soát chi phí, tiết kiệm chi phí cũng như quyết định liên quan đến chi phí không chỉ bên trong mà cả bên ngoài doanh nghiệp, chi phí hiện tại và cả những chi phí tiềm ẩn trong tương lai
1.2.2 Phân loại chi phí hoạt động kinh doanh
Như đã trình bày ở trên, đối với kế toán quản trị thì chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một dự án
Do đó, việc phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý khác nhau là một yêu cầu cần thiết trong doanh nghiệp Với mỗi tiêu thức khác nhau, chi phí được phân thành nhiều loại khác nhau và có ảnh hưởng đến việc ra quyết định kinh doanh
Phân loại chi phí theo phạm vi và chức năng hoạt động là cách phân loại cơ
sở, hầu như phải thực hiện trước khi tiến hành các cách phân loại khác đối với tổng chi phí nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của doanh nghiệp Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
Trang 25 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp vào quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm như thép phôi, thép phế, than, … hoặc liên quan trực tiếp đến quá trình cung cấp dịch vụ như nhiên liệu sử dụng trong dịch vụ vận tải, giấy và mực in trong dịch vụ in ấn, …
Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về sử dụng lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương phải trả cho lao động trực tiếp và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
và kinh phí công đoàn trên tiền lương phải trả lao động trực tiếp, …
Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng để phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất Nói cách khác, đây là chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm nhưng không liên quan trực tiếp (không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp)
mà liên quan gián tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm
Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là những loại chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung toàn doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa Chi phí sản xuất chung được chia thành hai loại: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa, bao gồm tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, chi phí bao bì, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, hoa
Trang 26hồng bán hàng, khấu hao tài sản cố định, …Loại chi phí này xuất hiện ở tất cả các loại hình doanh nghiệp như sản xuất, thương mại, dịch vụ
Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ những khoản chi phí phát sinh phục
vụ cho quá trình quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác liên quan hoạt động của toàn doanh nghiệp, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí về văn phòng phẩm, tiếp tân, hội nghị, đào tạo nhân viên, …Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều phát sinh loại chi phí này
Phân loại chi phí theo phạm vi và chức năng hoạt động đã chỉ ra vị trí, chức năng của từng khoản mục chi phí trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà quản trị doanh nghiệp cần phải cân nhắc khi ra quyết định kinh doanh trên cơ sở các khoản chi phí này
kết quả hoạt động kinh doanh
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành chi phí sản phẩm
và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm:
Chi phí sản phẩm là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc sản xuất hoặc mua các sản phẩm Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được chuyển sang kỳ sau khi sản phẩm đang còn tồn kho chờ bán và khi sản phẩm đã được tiêu thụ thì chúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả kinh doanh trong kỳ
Chi phí thời kỳ:
Chi phí thời kỳ là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp là những chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ
Trang 27sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị cho dù kết quả hoạt động của đơn vị đạt ở mức nào đi nữa Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã được coi là phí tổn trong kỳ
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định những khoản chi phí nào thực sự ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
để từ đó đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp đối với từng khoản chi phí đó
Cách phân loại này chỉ ra chi phí gắn liền với mức độ hoạt động như thế nào Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành ba loại: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
Biến phí:
Biến phí là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng, giảm của mức độ hoạt động Trong phạm vi phù hợp, biến phí một đơn vị sản phẩm không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động và được chia thành hai loại:
Định phí
Định phí là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Định phí một đơn vị sản phẩm thay đổi tỷ lệ nghịch theo sự thay đổi của mức độ hoạt động Định phí có thể được chia thành hai loại như sau:
Trang 28 Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả biến phí và định phí Sự pha trộn giữa biến phí và định phí có thể theo những tỷ lệ nhất định Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện các đặc điểm của biến phí Ví dụ: Chi phí điện thoại có thể xem là chi phí hỗn hợp trong đó phần biến phí là chi phí thuê bao, phần định phí là chi phí tính trên thời gian gọi
Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo phương pháp này, cho ta thấy mối quan hệ giữa chi phí và sản lượng sản xuất sản phẩm, giúp doanh nghiệp xác định được sản lượng sản xuất hoặc doanh thu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và phân tích thông tin chi phí để đưa ra quyết định kinh doanh Nói cách khác, phương pháp phân loại này, giúp nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn chính xác hơn về sự ảnh hưởng của mức độ hoạt động đối với chi phí, từ đó lập dự toán chi phí phát sinh ở những mức sản xuất và tiêu thụ khác nhau để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp
Trang 29Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành hai loại: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Chi phí kiểm soát đƣợc:
Chi phí kiểm soát được đối với một cấp quản lý là những khoản chi phí mà nhà quản trị cấp đó được quyền ra quyết định Ví dụ: Tại một cửa hàng, nhà quản trị có thể quyết định được chi phí tiếp khách của cửa hàng và như vậy nó được xem là chi phí có thể kiểm soát được
Chi phí không kiểm soát đƣợc:
Những khoản chi phí mà nhà quản trị cấp đó không được quyền ra quyết định gọi là chi phí không kiểm soát được Ví dụ: Nhà quản trị của cửa hàng trên không thể quyết định chi phí để sản xuất sản phẩm bán tại cửa hàng đó và vì vậy những chi phí này được xem là chi phí không kiểm soát được đối với cấp quản lý này
Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi
“ai ở vị trí có thể tác động đến khoản chi phí” (Phạm Văn Dược và cộng sự, 2010), từ đó xem xét khả năng ra quyết định liên quan đến khoản chi phí đó của nhà quản trị các cấp Với cách phân loại này cho thấy, nhà quản trị cấp nào chỉ có thể ra quyết định phù hợp với các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi của cấp
đó
1.2.2.5 Một số cách phân loại chi phí khác liên quan đến phân tích chi phí ra quyết định
Chi phí trực tiếp – Chi phí gián tiếp:
Chi phí trực tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là những khoản chi phí phát sinh có thể tính thẳng và toàn bộ vào đối tượng đó Chi phí trực tiếp gắn liền với đối tượng tập hợp chi phí, phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi cùng với sự phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi của đối tượng tập hợp chi phí
Chi phí gián tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là những khoản chi phí không thể tính thẳng toàn bộ cho đối tượng đó mà phải thực hiện phân bổ Chi phí gián tiếp là những chi phí gắn liền với các hoạt động phục vụ, hỗ trợ cho sự
Trang 30phát sinh, tồn tại và phát triển của nhiều đối tượng khác nhau, do đó không thể tính toàn bộ cho đối tượng nào
Trên góc độ của nhà quản trị thì chi phí trực tiếp thường mang tính có thể loại trừ được vì nó gắn liền với một đối tượng cụ thể, còn chi phí gián tiếp thì không thể loại trừ được vì nó gắn với nhiều đối tượng Qua cách phân loại này đã giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng quát hơn về những chi phí có thể cắt giảm và những chi phí không thể cắt giảm, để từ đó ra quyết định kinh doanh hợp lý
Chi phí chênh lệch:
Chi phí chênh lệch là chi phí có trong phương án này nhưng lại không có hoặc chỉ có một phần trong phương án khác Chi phí chênh lệch là căn cứ giúp nhà quản trị lựa chọn các phương án kinh doanh
Chi phí cơ hội:
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phương án này thay vì phương án khác Ví dụ: Bạn đang có trong tay 100 triệu đồng ở ngân hàng, bạn quyết định dùng 100 triệu đồng này đầu tư vào chứng khoán, chi phí
cơ hội đối với bạn là khoản lãi tiền gửi hàng năm bị mất đi
Chi phí cơ hội không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng, phải xem xét và cân nhắc mỗi khi doanh nghiệp cần lựa chọn phương án kinh doanh
Chi phí chìm:
Chi phí chìm (lặn) là những chi phí đã chi ra trong quá khứ và nó không thể tránh được dù lựa chọn bất kỳ phương án nào, ví dụ như những khoản chi phí đã được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, những chi phí liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp ban đầu, …
1.2.3 Vai trò của chi phí trong việc ra quyết định kinh doanh
Một trong những mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Do đó, đối với nhà quản lý doanh nghiệp thì chi phí là một trong mối quan tâm hàng đầu, bởi vì chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và quyết định kinh doanh
Trang 31Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với các quyết định kinh doanh mà đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Nguyên nhân của sự cân nhắc
đó là do nguồn lực của doanh nghiệp thường có hạn, trong khi đó doanh nghiệp lại có quá nhiều mục tiêu phải lựa chọn Vì vậy mọi quyết định đưa ra thường phải đặt trong mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí Rõ ràng, yếu tố chi phí đóng vai trò rất quan trọng trong việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp, là một trong những căn cứ cho việc lựa chọn phương án này hay loại bỏ phương án kia
Để ra quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả, nhà quản lý cần phải có những kỹ năng cần thiết liên quan đến kỹ thuật phân tích chi phí ra quyết định Qua việc phân tích chi phí có thể cung cấp cho nhà quản lý những thông tin thích hợp làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu gia tăng giá trị của doanh nghiệp
1.3 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh
1.3.1 Mục tiêu của quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh
Như chúng ta đã biết, chi phí có vai trò rất quan trọng trong việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp, là một trong những yếu tố làm căn cứ cho việc ra quyết định Vì vậy, việc xác lập quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh hợp lý trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết
Quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp phải đáp ứng được các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Chỉ rõ cách thức tiếp cận để đưa ra quyết định kinh doanh;
2 Chỉ rõ những tiêu chí phải đáp ứng khi phân tích ra quyết định kinh doanh;
3 Chỉ rõ các các loại chi phí và ảnh hưởng của chi phí đến tiêu chí khi ra quyết định kinh doanh
Trang 32Thông qua quy trình phân tích chi phí ra quyết định, nhà quản trị doanh nghiệp có được những thông tin thích hợp liên quan đến chi phí nhằm phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Đó là những chi phí hữu ích nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng và từ đó tạo nên giá trị của sản phẩm, dịch vụ Các quyết định đưa ra phải trên cơ sở xem xét những thông tin chi phí thích hợp, đảm bảo cho việc ra quyết định hợp lý, thỏa mãn các tiêu chí kinh tế mà doanh nghiệp lựa chọn
Chính vì vậy việc lựa chọn một quy trình phân tích chi phí ra quyết định kinh doanh đáp ứng các mục tiêu trên trong doanh nghiệp là không phải là một vấn đề đơn giản Doanh nghiệp cần phải xem xét đến nhiều yếu tố như khả năng cung cấp thông tin chi phí thích hợp, khả năng vận dụng và ra quyết định linh hoạt, hiệu quả và giải quyết được các vấn đề đặt ra của nền kinh tế thị trường Quy trình phân tích chi phí theo mục tiêu phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh đảm bảo được các yêu cầu trên
1.3.2 Quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp phải hướng đến thị trường và thỏa mãn những yêu cầu của thị trường Vì vậy quy trình phân tích chi phí ra quyết định trong nền kinh tế thị trường cần phải hướng đến đáp ứng, giải quyết các vấn đề này
Tiếp cận chi phí ra quyết định trong nền kinh tế thị trường có nhiều phương pháp Mỗi phương pháp đều có quy trình, kỹ thuật tiếp cận khác nhau, trong đó nổi bật là phương pháp tiếp cận phân tích chi phí mục tiêu để ra quyết định kinh doanh
Phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định là tổng thể các phương pháp, công
cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sản phẩm mới Quy trình này cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giai đoạn sản xuất và đảm bảo được các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản
Trang 33phẩm Nói cách khác, quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định là
“phương pháp quản trị chi phí được sử dụng nhằm đạt được lợi nhuận đã đặt ra” (CIMA NHS Working Group, 2005) Với mỗi loại sản phẩm, để đạt được mức lợi nhuận mong muốn họ phải tìm cách giảm chi phí đến mức mong muốn trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và cung ứng vật tư
Tiếp cận phân tích chi phí mục tiêu để ra quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp gắn liền với quy trình sau:
Sơ đồ 1.4 – Sơ đồ quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định
Lợi nhuận mục tiêu
Đƣa vào sản xuất
Sản xuất và quá trình thay đổi thiết kế
design changes Sản phẩm chuẩn
Thiết kế có đáp ứng được chi phí mục tiêu ?
Trang 34Qua sơ đồ trên chúng ta thấy, quy trình phân tích chi phí mục tiêu phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh có thể được chia thành các bước như sau:
Bước 1: Thiết lập một giá bán mục tiêu cho các sản phẩm mới và doanh thu bán hàng ước tính từ kết quả phân tích thị trường và mục tiêu lợi nhuận
Trong bước này doanh nghiệp cần xem lại những phân khúc thị trường mà doanh nghiệp muốn bán sản phẩm Nhóm nghiên cứu của doanh nghiệp cần phải xác định một sản phẩm cụ thể với các chức năng mà khách hàng có nhiều khả năng mua nhất và số tiền mà họ sẵn lòng trả cho những chức năng đó Nhóm nghiên cứu phải tìm hiểu về các giá trị nhận thức cá nhân đối với các chức năng sản phẩm, từ đó định hình ra một sản phẩm với những chức năng nhất định và giá bán ước tính cho sản phẩm đó Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng cần phải xác định những nhân tố nào sẽ tác động chủ yếu đến giá bán của sản phẩm nếu sau khi bỏ bớt một hoặc một số chức năng của sản phẩm Điều này là hết sức cần thiết cho việc đưa ra quyết định bỏ bớt chức năng nào của sản phẩm trong trường hợp doanh nghiệp không thể cung cấp sản phẩm với tất cả các chức năng trong khi vẫn phải đáp ứng chi phí mục tiêu của sản phẩm Vào cuối quá trình này, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra ý tưởng về giá bán mục tiêu có thể bán của sản phẩm được đề xuất với một tập hợp các chức năng đã được xác định và giá bán dự kiến
sẽ thay đổi như thế nào nếu bỏ bớt một số chức năng của sản phẩm
Thông qua khảo sát và phân tích thị trường, doanh nghiệp có thể ước tính được số lượng tiêu thụ dự kiến và từ đó xác định doanh thu dự kiến trên cơ sở kết hợp với giá bán mục tiêu của sản phẩm Trong kế hoạch lợi nhuận của mình, doanh nghiệp có thể ước tính được lợi nhuận mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đối với từng sản phẩm thông qua chỉ tiêu lợi nhuận gộp mong muốn
Bước 2: Xác định chi phí mục tiêu
Chi phí mục tiêu được xác định bằng cách lấy giá bán mục tiêu trừ đi lợi nhuận mục tiêu Theo công thức này, doanh nghiệp có thể dễ dàng xác định chi
Trang 35phí mục tiêu mà sản phẩm phải đạt được trước khi xem xét nó có được phép đưa vào sản xuất hay không
Bước 3: Thực hiện phân tích chi phí mục tiêu chức năng cho các bộ phận của sản phẩm
Chi phí mục tiêu nên được xác định chi tiết cho từng bộ phận (đại diện cho các chức năng) của sản phẩm Việc xác định chi phí mục tiêu cho các bộ phận phải dựa vào mức độ quan trọng của nó đối với sản phẩm, từ đó xác định tỷ lệ chi phí của từng thành phần trong tổng số chi phí của sản phẩm theo tỷ lệ thuận với mức độ quan trọng của nó Doanh nghiệp có thể thực hiện việc đánh giá mức độ quan trọng từng bộ phận của sản phẩm bằng cách cho điểm các chức năng của sản phẩm Mặt khác, việc xác định chi phí mục tiêu cho từng bộ phận của sản phẩm cũng đòi hỏi phải có một hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật hợp lý và phải phù hợp với điều kiện sản xuất tại doanh nghiệp
Bước 4: Xác định chi phí ước tính cho sản phẩm
Một khi chi phí mục tiêu tổng thể đã được thiết lập cho các sản phẩm, doanh nghiệp cần phải xác định chi phí ước tính cho sản phẩm để thiết kế sản phẩm dựa trên quy trình sản xuất hiện tại, các nhà cung cấp, công suất máy móc thiết bị và định mức kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm
Bước 5: So sánh chi phí ước tính với chi phí mục tiêu
Thực hiện so sánh giữa chi phí ước tính của sản phẩm khi thiết kế với chi phí mục tiêu của sản phẩm khi nghiên cứu
- Nếu chi phí ước tính vượt quá chi phí mục tiêu, cần xem xét lại quá trình thiết kế, lặp lại việc phân tích chi phí/giá trị kỹ thuật của sản phẩm nhằm cắt giảm chi phí ước tính Đây có thể là một quá trình lặp đi lặp lại cho đến khi đáp ứng được chi phí mục tiêu Nếu sau khi xem xét hết các phương án mà không thiết kế được sản phẩm đạt được chi phí mục tiêu thì doanh nghiệp không nên đưa sản phẩm vào sản xuất và giới thiệu cho khách hàng
- Nếu chi phí ước tính đạt đến chi phí mục tiêu doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định sản xuất sản phẩm và giới thiệu cho khách hàng
Trang 36 Bước 6: Quản lý chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm
Trong quá trình sản xuất cần phát hiện những bộ phận của sản phẩm có chi phí quá cao so với tầm quan trọng được xác định ở bước thứ 3 Quy trình sản xuất những bộ phận này cần phải điều chỉnh thông qua việc áp dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý nghiêm ngặt để giảm chi phí sản xuất
Bên cạnh đó, ở giai đoạn này cũng cần phát hiện các bộ phận của sản phẩm
có chi phí quá thấp so với tầm quan trọng của nó để gia tăng chi phí hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm Việc theo dõi và phát hiện những chi phí không phù hợp phải được thực hiện thường xuyên để không ngừng cắt giảm chi phí nhằm duy trì một tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức thấp nhất (chi phí thực tế/lợi nhuận mục tiêu phải luôn luôn nhỏ hơn hoặc bằng chi phí mục tiêu/lợi nhuận mục tiêu) Hay nói cách khác, ở giai đoạn này, nhà quản trị phải nhận diện những
cơ hội để cắt giảm chi phí thông qua việc áp dụng Kaizens
Bước 7: Đánh giá kết quả thực hiện chi phí
Trong quá trình tổ chức và quản lý sản xuất theo phương pháp chi phí mục tiêu có thể dẫn đến một trong các kết quả sau:
- Chi phí thực tế nằm trong giới hạn chi phí mục tiêu và chi phí ước tính: Nhà quản trị cần phải tạm dừng các hoạt động sản xuất để xem xét lại kế hoạch sản xuất vì khả năng đạt lợi nhuận mục tiêu từ sản xuất là bấp bênh
- Chi phí thực tế đạt đến chi phí mục tiêu: Nhà quản trị cần phải xem xét lại toàn bộ quy trình Phải xem xét kỹ quá trình thiết kế sản phẩm đã hợp lý chưa hoặc xem xét lại các bước của giai đoạn sản xuất để giảm chi phí Các phương pháp có thể vận dụng ở giai đoạn thiết kế sản phẩm và giai đoạn sản xuất nhằm cắt giảm chi phí như:
+ Kế hoạch tốt hơn quá trình chế tạo sản phẩm;
+ Cải tiến phương pháp sản xuất, lựa chọn đầu tư hợp lý, lựa chọn công nghệ phù hợp mang lại hiệu suất cao, vận dụng hệ thống sản xuất kịp thời để loại bỏ các chi phí phát sinh do thời gian chờ các yếu tố sản xuất
Trang 37+ Áp dụng hệ thống quản trị chất lượng tổng thể (TQS) để tránh lãng phí làm gia tăng chi phí (luanvan.net.vn)
việc ra quyết định
Quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định được áp dụng hầu hết cho các công ty thực hiện cạnh tranh bằng cách liên tục phát hành một dòng sản phẩm mới hoặc nâng cấp vào thị trường Đối với họ, quy trình này là một công
cụ quan trọng có ý nghĩa sống còn
Quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định là một công cụ hữu ích cho việc lập kế hoạch sản xuất và giới thiệu một bộ sản phẩm có mức độ lợi nhuận nhất định Điều này trái ngược với cách tiếp cận truyền thống trong việc tạo ra một sản phẩm được dựa trên quan điểm của bộ phận kỹ thuật về thiết kế sản phẩm và doanh nghiệp sẽ phải vật lộn với việc chi phí quá cao so với giá thị trường, làm cho sản phẩm giảm tính cạnh tranh
Doanh nghiệp sản xuất và tung ra một sản phẩm hoàn toàn mới trong điều kiện ngành sản xuất công nghiệp đã phát triển, doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh dựa trên công nghệ mới của nó và chính sản phẩm, dịch vụ Đối thủ cạnh tranh xuất hiện là cơ sở để cạnh tranh lan truyền đến các khu vực khác như chu kỳ sống, chất lượng, độ đáng tin cậy Khi ngành sản xuất công nghiệp đã trưởng thành, cơ sở cạnh tranh thường di chuyển đến giá cả Từ đây, lợi nhuận sẽ phải thu nhỏ lại Các doanh nghiệp bắt đầu tập trung vào việc cắt giảm chi phí Tuy nhiên, cơ cấu chi phí cho các sản phẩm hiện tại phần lớn bị khóa trong giai đoạn nghiên cứu và thiết kế sản phẩm, làm cho các hoạt động cắt giảm chi phí bị hạn chế rất nhiều Khi các doanh nghiệp bắt đầu nhận ra rằng phần lớn các chi phí của sản phẩm được cam kết dựa trên các quyết định trong sự phát triển của một sản phẩm, họ sẽ tập trung chuyển sang hành động có thể được thực hiện trong giai đoạn phát triển sản phẩm
Cho đến gần đây, các doanh nghiệp đã tập trung vào việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng Hầu hết các nhân viên nghiên cứu và phát triển sản phẩm đã
Trang 38xem chi phí của sản phẩm như là một biến phụ thuộc, là kết quả của các quyết định về chức năng, tính năng và khả năng thực hiện một sản phẩm Bởi vì chi phí của một sản phẩm thường không được đánh giá cho đến khi bước vào giai đoạn phát triển sản phẩm, nó thường dẫn đến trường hợp giá thành sản phẩm cao hơn
so với mong muốn Vì vậy, doanh nghiệp phải xem xét lại quá trình thiết kế sản phẩm Quá trình này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5 – Sơ đồ phương pháp tiếp cận quản lý chi phí truyền thống
Trong khi đó, quy trình phân tích chi phí mục tiêu ra quyết định lại đại diện cho một cách tiếp cận cơ bản khác với cách tiếp cận truyền thống Nó được dựa trên ba cơ sở:
Trang 391 Định hướng sản phẩm đến khả năng chi trả của khách hàng hoặc định hướng giá cả thị trường thông qua việc nghiên cứu thị trường
2 Xem chi phí sản phẩm như là một biến độc lập trong định nghĩa của các yêu cầu của sản phẩm;
3 Chủ động làm việc để đạt được giá mục tiêu trong thời gian nghiên cứu và thiết kế sản phẩm cùng với quá trình phát triển phẩm, tức là liên quan đến tất các các giai đoạn trong chu kỳ sống của một sản phẩm (Kenneth Crow, 2002)
Phương pháp tiếp cận chi phí mục tiêu này được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.6 – Sơ đồ phương pháp tiếp cận chi phí mục tiêu
Quy trình phân tích chi phí mục tiêu xây dựng trên phương thức tiếp thức tiếp cận chi phí với trọng tâm là giá mục tiêu định hướng thị trường làm cơ sở cho việc thiết lập chi phí mục tiêu Với quy trình này sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn so với phương pháp truyền thống Doanh nghiệp chỉ sản xuất và giới
Những yêu cầu về sản phẩm & Phân tích thị trường
Giá mục tiêu – Lợi nhuận mục tiêu
Cân bằng giữa chi phí mục tiêu & Những yêu cầu
Sản xuất
Tiếp tục giảm chi phí
Phân tích cung/cầu
Trang 40thiệu những sản phẩm có những chức năng, tính năng mà khách hàng cần và có khả năng mua với chi phí thấp nhất có thể (chi phí mục tiêu) chứ không giới thiệu một sản phẩm chỉ với mong muốn là sẽ có khách hàng mua sản phẩm đó Chính vì vậy việc xác lập quy trình phân tích chi phí mục tiêu phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao, giúp doanh nghiệp luôn chủ động và đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận trong quá trình sản xuất và giới thiệu một sản phẩm mới cho khách hàng trong nền kinh tế thị trường