Mẫu bìa Ä�á»� cương luáºn văn i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUYÊN NGHIÊN CỨU BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC CHO CÁC VÙNG THÍ ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI NUÔI TÔM QUẢNG CANH SANG MÔ HÌNH TÔM LÚA TẠI HUYỆN PHƢỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường Mã số ngành 60520320 TP HỒ CHÍ MINH, tháng 9 năm 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUYÊN NGHIÊN CỨU BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC CHO CÁC VÙNG THÍ ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI.
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUYÊN
NGHIÊN CỨU BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CHO CÁC VÙNG THÍ ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI NUÔI TÔM QUẢNG CANH SANG
MÔ HÌNH TÔM - LÚA TẠI HUYỆN PHƯỚC LONG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUYÊN
NGHIÊN CỨU BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CHO CÁC VÙNG THÍ ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI NUÔI TÔM QUẢNG CANH SANG
MÔ HÌNH TÔM - LÚA TẠI HUYỆN PHƯỚC LONG
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS Huỳnh Phú
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày tháng năm 2021
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
2 PGS TS Phạm Hồng Nhật Phản biện 1
5 TS Nguyễn Thị Phương Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn
Trang 4TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày 24 tháng 6 năm 2020
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Thị Phương Duyên Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 08/10/1988 Nơi sinh: Quảng Ngãi
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường MSHV: 1841810021
I Tên đề tài
Nghiên cứu bảo vệ nguồn nước cho các vùng thí điểm chuyển đổi nuôi tôm quảng canh sang mô hình tôm - lúa tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
II Nhiệm vụ và nội dung
+ Làm rõ thực trạng chuyển đổi cơ cấu kinh tế các loại hình từ sản xuất nông nghiệp
sang nông nghiệp thủy sản kết hợp của tỉnh Bạc Liêu hiện nay
+ Phân tích, đánh giá các loại hình nuôi tôm sú, tôm càng xanh và vấn đề liên quan đến môi trường nước tỉnh Bạc Liêu có nguồn gốc từ hoạt động kinh tế - xã hội
+ Đề xuất các giải pháp nuôi tôm kết hợp trồng lúa cải thiện thu nhập cho nông dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm nguồn nước thay đổi độ mặn thất thường
Luận văn thực hiện các nội dung
Nội dung 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên Thế giới và trong nước liên quan
đến đề tài
Nội dung 2: Phân tích đánh giá chất lượng nước các đặc điểm tính chất các loại hình
nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu
Nội dung 3: Bảo vệ nguồn nước cho nuôi tôm quảng canh sang mô hình nuôi tôm- lúa tại huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu
Nội dung 4: Đề xuất bảo vệ nguồn nước khi chuyển đổi từ nuôi quảng canh
sang tôm – lúa tại huyện Phước Long
III Ngày giao nhiệm vụ: Ngày 24 tháng 6 năm 2020
IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ: Ngày 30 tháng 4 năm 2021
V Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Huỳnh Phú
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài Luận văn nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Phương Duyên
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ được hoàn thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh (HUTECH) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia suốt khóa học và thực hiện Luận văn này
Chân thành cảm ơn PGS.TS Huỳnh Phú, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và có
những góp ý tận tình trong suốt quá trình làm Luận văn của tôi Sự tận tâm của thầy cùng với những lời dạy quý báu là yếu tố lớn giúp tôi hoàn thành Luận văn Tác giả, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã nỗ lực hết mình nhưng do kiến thức và thời gian có hạn nên tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp chỉ dẫn góp ý để tôi rút kinh nghiệm, sửa chữa và hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Phương Duyên
Trang 7TÓM TẮT
Đồng bằng Sông Cửu long hiện có 8 tỉnh thực hiện với mô hình sản xuất tôm - lúa xen canh: Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang, Tiền giang và Long An Tổng diện tích canh tác khoảng 120.000 ha và Kiên Giang là tỉnh có diện tích nhiều nhất khoảng 60.000 ha (www.nongnghiep.vn) Tỉnh Bạc Liêu, năm 2018 có gần 33.000 ha tôm - lúa, đến năm 2019 đã hơn 38.000 ha Tại tỉnh Bạc liêu sản xuất tôm – lúa được xác định là mô hình cho hiệu quả kinh tế cao và bền vững Nắm bắt lợi thế này, thời gian qua huyện Phước Long đã chỉ đạo phát triển mô hình lúa - tôm, nhằm từng bước làm thay đổi thói quen trong sản xuất độc canh con tôm và tư duy sản xuất của người nông dân, hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu Thực tiễn cho thấy, khi áp dụng mô hình tôm - lúa thì lúa ít sâu bệnh, ít bón phân, môi trường đồng ruộng được cải tạo tốt, góp phần giảm rủi ro cho vụ tôm Từ đó, năng suất lúa đạt 5 tấn/ha, tôm khoảng 400kg/ha, tổng thu nhập từ 80 - 100 triệu đồng/ha
Huyện Phước Long - “thủ phủ” của mô hình sản xuất tôm - lúa, năm 2019 toàn huyện đưa vào sản xuất khoảng 13.000 ha Nhờ mô hình phát triển và mang lại hiệu quả cao, nên năm 2020, toàn huyện đã có hơn 13.800 ha sản xuất theo mô hình lúa - tôm, tăng khoảng 800 ha Mô hình lúa - tôm còn được nông dân sản xuất kết hợp một vụ lúa với tôm càng xanh (con tôm ôm cây lúa) và một vụ chuyên tôm Mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, cho lợi nhuận khoảng 150 triệu đồng/ha/năm Nhu cầu nước cho nuôi tôm trong ruộng lúa huyện Phước long tỉnh Bạc liêu, không chỉ đánh giá chất lượng nước cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản mà việc đảm bảo lượng nước từ nuôi quảng canh sang nuôi tôm lúa tại Huyện Phước Long có ý nghĩa thực tế quan trọng
Từ thực tế sản xuất, nhằm đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống và hoạt động sản xuất ổn định cho người dân, đòi hỏi xây dựng và phát triển nhiều mô hình sản xuất phát triển bền vững như: mô hình xen và luân canh tôm - lúa, trong năm hộ dân
có thể sắp xếp 6 tháng để trồng lúa và 6 tháng nuôi tôm Thiết kế hệ thống ruộng nuôi phù hợp; thiết kế ruộng nuôi trong mô hình nuôi tôm lúa luân canh đơn giản,
Trang 8nhưng cần đảm bảo một số tiêu chuẩn nhất định
Lượng nước cần cấp hoặc thay nước mỗi lần cho ruộng nuôi lấy bằng 15% lượng nước có trong ruộng nuôi tôm Hiện nay, ở các khu vực nuôi tôm lúa thì vụ tôm thường bắt đầu vào tháng II, kết thúc vào tháng VI và vụ lúa (lúa Hè Thu, lúa Mùa) đến tháng XII Ở vụ tôm cho thấy hình thức nuôi theo mô hình nuôi quảng canh (không cho thức ăn), lớp nước mặt ruộng khoảng 6 ÷ 8 tấc Ở hình thức nuôi tôm quảng canh thì hầu hết người dân không làm ao lắng và ao xử lý, nước được lấy trực tiếp từ kênh dẫn nước vào ao nuôi và thải trực tiếp ra kênh rạch không qua ao
xử lý, khi độ pH trên ao không đạt <7.5%0 thì bỏ thêm vôi đá cho đến khi độ pH đạt 7,5 – 8,0%0, khi lượng nước trên ao thiếu hụt vào khoảng cuối tháng 3 thì bơm nước bổ sung vào và không thay nước trong suốt vụ tôm Như vậy, qua tính toán thì
hệ số lấy nước là q max = 4 - 4,6 (l/s_ha), hệ số này có thể thay đổi theo thời gian lấy
dài hay ngắn
Lượng nước tiêu thoát ao ruộng đang đầy nước mà gặp mưa ta chỉ tính tiêu thoát cho lượng mưa này mà không tính thêm lượng thay nước (15% lượng nước có trong ao) Tính hệ số thoát trong trường hợp cần thay 15% lượng nuớc có trong ruộng với mức nước trên ruộng là 0,2m và lượng mưa lớn nhất là 162mm Đồng thời cả hai loại kênh cấp và thoát đều làm nhiệm vụ tiêu thoát
Tính hệ số thoát trong trường hợp cần thay nước trong ruộng (15% lượng nước có trong ruộng) và lượng mưa tiêu thiết kế cho tôm là 91.5 mm (Tính tóan tiêu cho Tôm theo mô hình 1 ngày max tháng 6 không được phép ngập)
Trang 9SUMMARY
The Mekong Delta currently has 8 provinces implementing the shrimp-rice intercropping model: Tra Vinh, Bac Lieu, Soc Trang, Ca Mau, Ben Tre, Kien Giang, Tien Giang and Long An The total cultivated area is about 120,000 hectares and Kien Giang is the province with the largest area of about 60,000 hectares (www.nongnghiep.vn) Bac Lieu province, in 2018 had nearly 33,000 hectares of rice - shrimp, by 2019 more than 38,000 hectares
In Bac Lieu province, rice-shrimp production is identified as a model for high economic efficiency and sustainability Grasping this advantage, over the past time, Phuoc Long district has directed the development of the rice-shrimp model, in order
to gradually change the habits of shrimp monoculture and farmers' production thinking, towards an agricultural production adapted to climate change Practice shows that, when applying the rice-corrugated iron model, the rice has fewer pests and diseases, less fertilizer, and the field environment is improved, contributing to reducing the risk for the shrimp crop Since then, rice yield reached 5 tons/ha, shrimp about 400kg/ha, total income from 80-100 million VND/ha
Phuoc Long district - the "capital" of the rice-shrimp production model, in
2019 the whole district put into production about 13,000 hectares Thanks to the development model and high efficiency, in 2020, the whole district has more than 13,800 hectares of rice-shrimp production, an increase of about 800 hectares The rice-shrimp model is also produced by farmers combining a rice crop with giant freshwater shrimp (the shrimp hugs the rice plant) and a special shrimp crop The model brings high economic efficiency, making a profit of about 150 million VND/ha/year Water demand for shrimp farming in rice fields in Phuoc Long district, Bac Lieu province, not only assessing water quality for agriculture and aquaculture, but also ensuring water quality from extensive farming to rice-shrimp farming in Phuoc Long District important practical significance From the actual production, in order to meet the needs of people's life and stable production activities, it is required to build and develop many sustainable development
Trang 10production models such as: intercropping and crop rotation rice - shrimp, in the year, households can arrange 6 months to grow rice and 6 months to raise shrimp Design suitable farming systems; The design of farming fields in the rotational rice-shrimp farming model is simple, but it is necessary to ensure certain standards The amount of water that needs to be supplied or changed each time for the farming field is equal to 15% of the water in the shrimp farming field Currently, in rice-shrimp farming areas, the shrimp crop usually starts in February and ends in June and the rice crop (summer-autumn rice, summer rice) comes to December In the shrimp crop, it was shown that the model of extensive farming (no food is given), the surface water layer of the field is about 6 ÷ 8 inches In the form of extensive shrimp farming, most people do not make settling ponds and treatment ponds, water is taken directly from the water channel into the farming pond and discharged directly into the canal without treatment pond, when the pH is above If the pond does not reach < 7.5%0, add lime and stone until the pH reaches 7.5 - 8.0%0, when the amount of water in the pond is insufficient at the end of March, add water and do not change the water during the shrimp season Thus, through the
calculation, the water extraction coefficient is qmax = 4 - 4.6 (l/s_ha), this coefficient can change according to the long or short collection time
The amount of water drained from a pond full of water when it rains, we only calculate the drainage for this amount of rain without counting the amount of water change (15% of the water in the pond) Calculate the coefficient of drainage in case
it is necessary to change 15% of the water in the field with the water level in the field is 0.2m and the maximum rainfall is 162 mm At the same time, both supply and exit channels are responsible for draining
Calculate the drain coefficient in case of need to change water in the field (15% of the water in the field) and the design rainfall for shrimp is 91.5 mm (Calculation for Shrimps according to the model of 1 day max June is not allowed
to flood )
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CNH- HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GIS Hệ thống thông tin địa lý
GTNĐ Giao thông nội đồng
GTNT Giao thông nông thôn
HTCTTL Hệ thống công trình Thủy lợi
KT-XH Kinh tế xã hội
NTTS
PTBV
Nuôi trồng thủy sản Phát triển bền vững QTBT Lưu lượng trung bình tháng
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TKNN Thiết kế Nông nghiệp
Trang 12MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
SUMMARY v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỤC LỤC viii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xiii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ xiv
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4
3 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 5
4 Kịch bản biến đổi khi hậu nước biển dâng 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 12
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến luận văn 12
1.2 Nghiên cứu chất lượng nước và nuôi tôm càng xanh trên thế giới và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 14
1.2.1 Nuôi tôm càng xanh trên thế giới 14
1.2.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh ở vùng ĐBSCL 15
1.3 Nghiên cứu chất lượng nước và nuôi tôm sú trên thế giới và ĐBSCL 16
1.3.1 Tình hình nghề nuôi tôm sú trên thế giới 16
1.3.2 Nuôi tôm sú ở Việt Nam và vùng ĐBSCL 17
1.4 Khu vực nghiên cứu 19
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên 19
1.4.2 Đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng 20
1.4.3 Đặc điểm khí hậu 21
1.4.4 Vị trí địa lý Huyện Phước Long 23
Trang 13CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC, CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN NUÔI TÔM CÀNG XANH VÀ TÔM SÚ HUYỆN
PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU 26
2.1 Hiện trạng cấp nước nội đồng vùng ngọt 26
2.1.1 Hệ thống kênh mương điều tiết nước 26
2.1.2 Sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp huyện Phước Long 27
2.1.2.1 Trồng trọt 27
2.1.2.2 Thủy sản 28
2.2 Đặc điểm hình thái tôm càng xanh 30
2.2.1 Vị trí phân loại 30
2.2.2 Phân bố và vòng đời tôm càng xanh 31
2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng, sinh sản 32
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 34
2.2.5 Đặc điểm sinh thái môi trường 35
2.3 Đặc điểm hình thái tôm sú 39
2.3.1 Vị trí phân loại 39
2.3.2 Phân bố và vòng đời tôm sú 39
2.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng 40
2.3.4 Đặc điểm sinh trưởng, sinh sản 40
2.3.5 Đặc điểm sinh thái môi trường 41
2.3.6 Mô hình nuôi tôm sú trên ruộng lúa 41
2.4 Quan hệ môi trường nước - kinh tế xã hội - kỹ thuật công nghệ và các yếu tố liên quan 43
2.4.1 Diễn biến chất lượng nước từ hoạt động kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu43 2.4.2 Đánh giá chất lượng lượng nước theo các thông số hóa lý 43
2.5 Các yếu tố kinh tế xã hội 54
2.5.1 Cơ sở hạ tầng 54
2.5.2 Dân số- phát triển kinh tế xã hội 54
2.5.2.1 Nông nghiệp 54
Trang 142.5.2.2 Công nghiệp 55
2.5.2.3 Lâm nghiệp 55
2.5.2.4 Dịch vụ thương mại 55
2.5.2.5 Giáo dục – 55
2.5.2.6 Vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm 56
2.6 Các yếu tố kỹ thuật – công nghệ 56
2.6.1 Giống – kỹ thuật ao nuôi – kỹ thuật nuôi 56
2.6.2 Vệ sinh môi trường 57
2.7 Mô hình nuôi huyện phước long tỉnh bạc liêu 58
2.7.1 Nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 58
2.7.1.1 Nuôi quảng canh 58
2.7.1.2 Nuôi quảng canh cải tiến 58
2.7.1.3 Chọn vị trí xây dựng ao nuôi 59
2.7.1.4 Các công trình trong hệ thống 59
2.7.1.5 Quản lý ao nuôi 59
2.7.1.6 Mùa vụ 60
2.7.1.7 Chuẩn bị ao nuôi 60
2.7.1.8 Chăm sóc thu hoạch 60
2.7.2 Các công trình trong hệ thống 60
CHƯƠNG 3 NHU CẦU NƯỚC CHO NUÔI TÔM TRONG RUỘNG LÚA TẠI HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU 62
3.1 Nuôi tôm trong ruộng lúa 62
3.1.1 Nuôi tôm càng xanh xen canh trong ruộng lúa mùa mưa 62
3.1.2 Nuôi tôm càng xanh xen canh tôm sú trong ruộng lúa vào mùa khô 66
3.1.3 Giải pháp công nghệ nuôi tôm càng xanh luân canh trong ruộng lúa 68
3.1.4 Kiểm soát, đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nước trong ruộng nuôi tôm 70
3.1.5 Phân vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi tôm 70
3.1.6 Nguyên tắc và cơ sở phân vùng 71
Trang 153.1.7 Tiêu chí và kết quả phân vùng 71
3.2 Phát triển nông nghiệp và thủy sản gây ô nhiễm môi trường nước 73
3.2.1 Phát triển nông nghiệp 73
3.2.2 Phát triển thủy sản 74
3.2.3 Tác động của phát triển nông nghiệp, thủy sản tới môi trường nước 75
3.3 Diễn biến chất lượng nước mặt tỉnh bạc liêu và huyện phước long 76
3.3.1 Chất lượng nước mặt tỉnh Bạc liêu và huyện Phước long theo thông số hóa lý và vi sinh 76
3.3.1.1 pH 76
3.3.1.2 Nhiệt độ 77
3.3.1.3 Độ mặn 77
3.3.1.4 Nhu cầu oxy hòa tan (DO) 78
3.3.1.5 Nhu cầu BOD5, COD 80
3.3.1.6 Chất rắn lơ lửng (TSS) 82
3.3.1.7 Hàm lượng NO3-, NO2-, NH4+ 83
3.3.1.8 Thông số kim loại 86
3.3.1.9 Clorua phân bố rộng trong tự nhiên 87
3.3.1.10 Độ kiềm 88
3.3.1.11 Thông số vi sinh 89
3.4 Chỉ số chất lượng nước wqi tại các vị trí quan trắc mùa khô và mùa mưa 90 3.5 Chất lượng nước vùng nuôi tôm huyện phước long 92
CHƯƠNG 4 BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC CHO NUÔI TÔM QUẢNG CANH SANG TÔM LÚA HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU 94
4.1 Kỹ thuật và giải pháp công nghệ nuôi tôm càng xanh, tôm sú trên nền đất lúa 94
4.1.1 Mùa vụ 94
4.1.2 Thiết kế ruộng nuôi 95
4.1.3 Mật độ nuôi, nguồn gốc, kích cỡ tôm, giống thả nuôi 97
4.1.4 Chăm sóc và quản lý mô hình nuôi 99
Trang 164.1.5 Quản lý bệnh, thuốc và hóa chất 101
4.1.6 Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm 102
4.1.7 Thuận lợi - khó khăn 103
4.2 Chất lượng nước nuôi tôm trong ruộng lúa 105
4.2.1 Môi trường nước Nuôi TS mùa khô - TCX và lúa xen canh mùa mưa105 4.2.2 Môi trường nước Nuôi TCX xen canh với TS trong ruộng lúa ở mùa khô 108
4.2.2.1 Ðặc điểm môi trường nước trong mô hình nuôi 108
4.2.2.2 Tăng trưởng của tôm nuôi 111
4.2.3 Môi trường nước Nuôi tôm càng xanh luân canh với sú trong ruộng lúa 114
4.2.4 Tăng trưởng của tôm nuôi trong các mô hình 115
4.3 Tính toán hệ số cấp nước 116
4.3.1 Tiêu chuẩn dùng để tính toán 116
4.3.2 Tính toán yêu cầu dùng nước cho nuôi tôm 117
4.3.3 Tính toán tiêu nước 118
4.3.3.1 Tính toán tiêu nước cho mô hình trồng lúa 118
4.4 MÔ HÌNH NUÔI TÔM QUẢNG CANH SANG NUÔI TÔM - LÚA 121
4.4.1 Thiết kế mô hình tôm - lúa 121
4.4.2 Giải pháp nâng cấp đồng ruộng hiện tại 124
4.4.3 Định hướng ứng phó với BĐKH và NBD phát triển bền vững nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 125
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
1 KẾT LUẬN 127
2 KIẾN NGHỊ 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130 PHỤ LỤC
Trang 17DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Diện tích nuôi tôm sú vùng ĐBSCL 2010-2015 18
Bảng 1.2 Nhiệt độ trung bình tháng trạm Bạc Liêu (0C) 21
Bảng 1.3 Số giờ nắng trong tháng trạm Bạc Liêu (giờ) 21
Bảng 1.4 Lượng mưa tháng trạm Bạc Liêu (mm) 22
Bảng 2.1 Chu kỳ lột xác của TCX ở các giai đoạn 32
Bảng 2.2 Đặc điểm kỹ thuật – kinh tế nuôi tôm - lúa xen canh ở vùng ĐBSCL 41
Bảng 3.1 Khẩu phần ăn TCX trong quá trình nuôi (cho 1.000 con) 65
Bảng 3.2 Bảng thời gian cho tôm càng xanh ăn trong ngày 66
Bảng 4.1 Diện tích canh tác và mực nước ở ruộng nuôi 97
Bảng 4.2 Thông tin về con giống và chất lượng 98
Bảng 4.3 Năng suất, tỷ lệ sống tôm trong mô hình khảo sát 102
Bảng 4.4 Các yếu tố Thủy lý trong mô hình nuôi 105
Bảng 4.5 Các yếu tố thủy hóa (mg/L) trong hệ thống nuôi 106
Bảng 4.6 Các yếu tố thủy lý trong hệ thống nuôi 108
Bảng 4.7 Các yếu tố thủy hóa trong hệ thống nuôi (Đơn vi: mg/L) 109
Bảng 4.8 Tăng trưởng tôm sú trong mô hình nuôi xen canh với tôm càng xanh 111
Bảng 4.9 Tăng trưởng của tôm càng xanh xen canh với nuôi tôm sú ở mùa khô 112
Bảng 4.10 Tăng trưởng của tôm càng xanh trong ruộng lúa kết hợp ở mùa mưa 113
Bảng 4.11 Các yếu tố thủy lý trong mô hình nuôi 114
Bảng 4.12 Các yếu tố thủy hóa trong hệ thống nuôi (Đơn vị: mg/L) 115
Bảng 4.13 Kết quả tính tóan hệ số tiêu nước cho đất chuyên trồng lúa (l/s.ha) 119
Bảng 4.14 Kết quả tính toán hệ số tiêu nước cho hệ thống (l/s.ha) 120
Trang 18DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Bản đồ Hành chính tỉnh Bạc Liêu 20
Hình 1.2 Đẳng trị mưa vùng ĐBSCL 22
Hình 1.3 Vị trí vùng nghiên cứu – huyện Phước Long 23
Hình 1.4 Bản đồ huyện Phước Long 24
Hình 2.1 Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) 31
Hình 2.2 Hệ thống nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa 37
Hình 2.3 Loài tôm sú Penaeus monodon Fabricius, 1798 39
Hình 2.4 Diễn biến giá trị pH trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 44
Hình 2.5 Diễn biến giá trị TSS trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 44
Hình 2.6 Diễn biến giá trị BOD5 trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 45
Hình 2.7 Diễn biến giá trị COD trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 46
Hình 2.8 Diễn biến giá trị DO trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 47
Hình 2.9 Diễn biến giá trị DO (b) trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 47
Hình 2.10 Diễn biến giá trị Amoni trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 48
Hình 2.11 Diễn biến giá trị Amoni (b) trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 48
Hình 2.12 Diễn biến giá trị Nitrit (NO2) nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 49
Hình 2.13 Diễn biến giá trị Nitrit (NO2) trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 50
Hình 2.14 Diễn biến giá trị Nitrat (NO3) trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 51
Hình 2.15 Diễn biến giá trị Nitrat (NO3) trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 51
Hình 2.16 Diễn biến giá trị Phosphat trong nước mặt giai đoạn 2016 – 2020 52
Hình 2.17 Diễn biến giá trị Phosphat trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 53
Hình 2.18 Diễn biến giá trị Clorua trong nước mặt giai đoạn 2016 - 2020 53
Hình 3.1 Sơ đồ qui trình ương và nuôi tôm 63
Hình 3.2 Sơ đồ ruộng nuôi với 4 mương bao xung quanh 63
Hình 3.3 Mặt cắt ngang ruộng lúa, mương bao và ao liên kề 64
Hình 3.4 Sơ đồ mặt cắt ngang ruộng canh tác Lúa – Tôm 68
Hình 3.5 Quy hoạch vùng nông nghiệp – thủy sản tỉnh Bạc Liêu 73
Trang 19Hình 3.6 Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2015 -2019 73 Hình 3.7 Biến động diện tích NTTS giai đoạn 2015 - 2018 75 Hình 3.8 Giá trị pH trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô
2014 - 2019 77 Hình 3.9 Độ mặn trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô
2014 - 2019 78 Hình 3.10 Giá trị Oxy hòa tan trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 79 Hình 3.11 Giá trị BOD5 trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô giai đoạn 2014 - 2019 80 Hình 3.12 Giá trị COD trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô giai đoạn 2014 - 2019 81 Hình 3.13 Giá trị TSS trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô giai đoạn 2014 - 2019 82 Hình 3.14 Giá trị Nitrit trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 83 Hình 3.15 Giá trị Nitrat trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 84 Hình 3.16 Giá trị Amoni trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 85 Hình 3.17 Giá trị Sắt tổng nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô
2014 - 2019 87 Hình 3.18 Giá trị Clorua trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 88 Hình 3.19 Giá trị Độ kiềm trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 89 Hình 3.20 Giá coliform trong nước mặt tỉnh Bạc Liêu và huyện Phước Long mùa khô 2014 - 2019 90 Hình 3.21 Giá trị WQI các điểm quan trắc vào mùa khô (2014 - 2019) 91
Trang 20Hình 3.22 Giá trị WQI các điểm quan trắc đợt vào mùa mưa (2014 - 2019) 92
Hình 4.1 Lịch thời vụ sản xuất 95
Hình 4.2 Dạng ruộng nuôi tôm lúa 4 có mương bao 96
Hình 4.3 Dạng ruộng nuôi tôm với ao liên kề 96
Hình 4.4 Tỷ lệ mô hình sử dụng thức ăn cung cấp 100
Hình 4.5 Tỷ lệ xuất hiện các loại bệnh trên tôm càng xanh 101
Hình 4.6 Tỷ lệ xuất hiện loại bệnh trên tôm sú 101
Hình 4.7 Diễn biến độ mặn và mực nước tại khu mẫu KB1a 122
Hình 4.8 Bố trí quy hoạch trên khu mẫu 124
Trang 21MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu ôn hòa và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằn chịt, rộng khắp và đất đai màu mỡ, ĐBSCL được xác định là vùng phát triển nông nghiệp, thủy sản lớn nhất cả nước, hàng năm đóng góp hơn 70% tổng sản lượng lúa, thủy sản, cây ăn trái của cả nước Tuy nhiên, với đặc điểm hai mùa mưa nắng rõ rệt cùng hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều cửa sông ăn thông ra biển đã gây ra hiện tượng xâm nhập nước mặn vào sâu trong đất liền Để khai thác tốt những đặc điểm này, biến các hạn chế thành cơ hội phát triển, nông dân nhiều tỉnh thành vùng ĐBSCL đã biết cách khai thác hiệu quả điều kiện ruộng lúa trong mùa khô để nuôi tôm tự nhiên, nhờ đó hình thành hệ thống lúa - tôm phát triển cho đến ngày nay Mô hình trồng lúa kết hợp nuôi tôm đã góp phần tăng thu nhập cho người dân, bên cạnh đó mô hình góp phần làm đa dạng hóa các đối tượng vật nuôi và cây trồng Hiện nay tiềm năng phát triển hệ thống canh tác tôm - lúa ở vùng ĐBSCL còn rất lớn, quy mô sản xuất từ mô hình trên nền đất lúa kết hợp thủy sản có thể đạt đến 280.000 ha (Tổng cục thủy sản, 2019)
Thống kê cho thấy vùng ĐBSCL hiện có 8 tỉnh thực hiện với mô hình sản xuất tôm - lúa xen canh: Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang, Tiền giang và Long An Tổng diện tích canh tác khoảng 120.000 ha và Kiên Giang
là tỉnh có diện tích nhiều nhất khoảng 60.000 ha (www.nongnghiep.vn) Tỉnh Bạc Liêu, năm 2018 có gần 33.000 ha lúa - tôm, đến năm 2019 đã hơn 38.000 ha Các huyện có diện tích sản xuất với mô hình lớn là: huyện Hồng Dân 16.200 ha, huyện Phước Long 11.000 ha, thị xã Giá rai 6.000 ha (www.nongnghiep.vn) Tuy nhiên, trong những năm gần đây do biến động về điều kiện khí hậu, đặc biệt là độ mặn xuất hiện sớm và ngập sâu vào nội địa, nguồn nước ngọt cung cấp cho các mô hình sản xuất luân canh hay kết hợp chưa thật thuận lợi, nên năng suất và sản lượng tôm nuôi thường biến động, đồng thời sản phẩm tuy có chất lượng cao, nhưng giá bán ra thị trường vẫn còn nhiều hạn chế, chưa ổn định
Từ năm 2007 - 2008 nhiều hộ dân trong vùng, đặc biệt ở 2 huyện Phước Long
Trang 22và Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu và mô hình sản xuất từ chuyên canh lúa một vụ sang mô hình nuôi tôm sú trong mùa khô, nuôi tôm càng xanh kết hợp với ruộng lúa vào mùa mưa Kết quả bước đầu cho thấy sau một chu
kỳ sản xuất, bên cạnh sản phẩm là lúa một vụ, họ còn thu thêm được từ 104 - 234 kg/ha tôm nuôi (Hồ Thanh Thái, 2011) và sản phẩm thu được này đã từng bước giúp cho người dân trong vùng có thêm thu nhập, góp phần cải thiện đáng kể điều kiện sinh hoạt của họ ở vùng nông thôn tỉnh Bạc Liêu
Do đặc điểm xa nguồn nước ngọt, chịu ảnh hưởng mặn xâm nhập cộng với trình độ dân trí còn thấp và hạn chế về kinh tế, các vùng nông thôn trong tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn về phát triển sản xuất như thiếu nguồn nước tưới, nước phục
vụ nuôi trồng thủy sản, nước cho sinh hoạt về mùa khô, nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng ngàn con người Cần thiết phải tìm ra được những giải pháp kỹ thuật tổng hợp góp phần khai thác hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng nông thôn, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, phát triển các vùng nông thôn trong tỉnh đi lên theo một hướng mới, văn minh tiên tiến
Đối với Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và nói riêng là tỉnh Bạc Liêu, phương châm chủ yếu là thích nghi, né tránh và hạn chế một phần tác động của lũ lụt, hạn hán xâm nhập mặn, trong đó cần chú trọng xây dựng mùa vụ sản xuất và giống cây trồng thích hợp với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay Củng cố hệ thống
kỹ thuận đê biển, đê cửa sông, hệ thống bờ bao, cống bọng nhằm chủ động được nguồn nước cho các đối tượng sản xuất
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, năm
2019, tổng diện tích canh tác nuôi trồng thủy sản 138.309 ha (diện tích canh tác phần đất nội địa 136.009 ha và khu vực bãi bồi ven biển 2.300 ha); diện tích nuôi trồng thủy sản 144.159 ha, trong đó diện tích nuôi tôm 138.709 ha (nuôi tôm thẻ siêu thâm canh 2.000 ha; nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh 23.850 ha; nuôi quảng canh cải tiến 300 ha; nuôi quảng canh cải tiến kết hợp 74.559 ha, nuôi thủy sản trên đất tôm - lúa 38.000 ha) và diện tích nuôi cua, cá, thủy sản khác 5.450 ha (nuôi cá
Trang 23nước ngọt 1.894 ha, nuôi cua, cá nước mặn, lợ 756 ha; nuôi nghêu, sò 2.300 ha và nuôi Artemia 500 ha); tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 290.400 tấn (trong đó tôm
186.800 tấn, cá và thủy sản khác 103.600 tấn)
Tập trung đầu tư xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng (thủy lợi, giao thông, lưới điện, chợ thủy sản đầu mối) phục vụ nuôi trồng thủy sản, nhất là các vùng nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp tập trung, đảm bảo các điều kiện nuôi thâm canh,
an toàn dịch bệnh với quy mô 15.000 - 20.000 ha; đầu tư xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, hình thành các vùng sản xuất giống thủy sản tập trung quy mô lớn khu vực phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình và xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất và quy trình sản xuất giống; kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống thủy sản, đáp ứng đủ nhu cầu giống thủy sản phục vụ sản xuất tại địa phương; hoàn thành đưa vào hoạt động Trại sản xuất giống thủy sản nước mặn, lợ cấp I; đầu tư cải tạo, nâng cấp Trại sản xuất giống thủy sản nước mặn và Trại thực nghiệm thủy sản nước ngọt đáp ứng được các yêu cầu sản xuất giống thủy sản chất lượng cao, sạch bệnh
Tuy nhiên những năm gần đây, khi mà dự báo của các nhà khoa học đã trở thành sự thật, Bạc Liêu – một tỉnh ven biển, cũng như nhiều tỉnh, thành khác của Đồng bằng sông Cửu Long đã chịu những tác động không nhỏ của biến đổi khí hậu, Những tác động này xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng điều có điểm chung là diễn biến bất thường gây thiệt hại nặng nề đa chiều
Từ năm 2015 đến 2018, hơn 11.000 hộ nông dân ở vùng sản xuất phía Bắc Quốc lộ 1A, gồm tiểu vùng chuyên sản xuất lúa có diện tích 80.600 ha và tiểu vùng chuyển đổi sản xuất nuôi trồng thủy sản và làm một vụ lúa có diện tích khoảng 75.600 ha ngậm ngùi gánh chịu thiệt hại gần 37 tỷ đồng do hạn hán, xâm nhập mặn gây ra Một năm sau, tháng 5/2019, cũng tại khu vực phía Bắc Quốc lộ 1A này, nhưng mưa đến sớm, nước mặn thiếu trầm trọng gây khó khăn cho hơn 32.000 ha tôm nuôi, khiến nhiều diện tích tôm chết hàng loạt Và cũng chính đợt mưa kể trên, kéo dài từ giữa tháng 5 đến nửa đầu tháng 6/2019 đã làm thiệt hại khoảng 24.000 ha lúa trên địa bàn tỉnh
Trang 24Những con số, những ví dụ nói trên cũng chỉ phản ánh phần nào những tổn thất mà Bạc Liêu phải gánh chịu do diễn biến phức tạp của chất lượng nước từ diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu Chính vì vậy mà việc thực hiện đề tài
“Nghiên cứu bảo vệ nguồn nước cho các vùng thí điểm chuyển đổi nuôi tôm quảng canh sang mô hình Tôm - Lúa tại Phước Long, tỉnh Bạc Liêu” là rất cấp
thiết từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ nguồn nước thích ứng với biến đổi khí hậu
và nước biển dâng phục vụ cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi tôm quảng canh tại Huyện Phước Long tỉnh Bạc liêu là tôm sú và tôm càng xanh Vì vậy Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hường chất lượng nước cho 2 loại tôm này
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
2.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
- Về mặt học thuật, đã phân tích các thông số chất lượng nước tại các ruộng nuôi tôm, đồng thời đánh giá chất lượng nước mặt tại vùng nghiên cứu
- Đề tài đề xuất nâng cấp kỹ thuật, cung cấp nước phục vụ cho việc khai thác
và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước mặt Thiết kế ruộng nuôi trong
mô hình nuôi tôm lúa luân canh đảm bảo một số tiêu chuẩn đáp ứng được
sự phát triển nuôi Tôm – Lúa của tỉnh Bạc Liêu
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cơ quan quản lý tài nguyên nước, các đơn vị thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc khai thác nước mặt trên địa bàn, trước bối cảnh biến đổi khí hậu
- Đề tài sẽ đưa ra những lựa chọn và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ phân phối nước cho nuôi Tôm – Lúa tại Phước Long tỉnh Bạc Liêu
2.3 Những đóng góp mới của luận văn
- Đề xuất thiết kế ruộng nuôi trong mô hình nuôi tôm lúa luân canh đảm bảo tiêu chuẩn cho các giải pháp phát triển và bảo vệ nguồn nước phục vụ chuyển đổi nuôi tôm quảng canh sang nuôi Tôm - Lúa
Trang 252.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nguồn nước mặt phục vụ chuyển đổi nuôi tôm Quảng canh sang nuôi tôm lúa thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tập trung huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu
2.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi và không gian nghiên cứu tập trung chủ yếu ở huyện Phước Long tỉnh Bạc liêu
Luận văn nghiên cứu chất lượng nước nuôi tôm sú và tôm càng xanh
3 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng nguồn nước mặt tại huyện Phước Long, làm cơ sở đề xuất biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn nước phục vụ cho công tác chuyển đổi từ nuôi quảng canh sang nuôi Tôm - lúa
- Xây dựng được các giải pháp phát triển nguồn nước và bảo vệ nguồn nước đảm bảo việc phát triển nuôi tôm bền vững trước bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Bạc Liêu
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Tổng quan các nghiên cứu chất lượng nước tại ĐBSCL và tỉnh Bạc Liêu
các hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Đối với việc xây dựng hệ thống cấp nước và tiêu nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cua, cá…) cần xem xét kỹ qui hoạch sản xuất và tiến độ chuyển đổi
cơ cấu sản xuất trên cơ sở đó xây dựng qui hoạch hệ thống thuỷ lợi Hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản có yêu cầu cao hơn, nghiêm ngặt hơn hệ thống tưới cho nông nghiệp Trong đó vấn đề kiểm soát chất lượng nước đến phải hết sức chặt chẽ Vấn đề xử lý nước thải từ các khu nuôi trồng và vấn đề tiêu thoát nước thải đảm bảo môi trường nước bền vững nhất thiết phải quan tâm đầy đủ
Trang 263.2.2 Đánh giá hiện trạng cho các vùng nuôi tôm càng xanh, tôm sú tỉnh Bạc
và đảm bảo an toàn, trong đó thực hiện việc kiên cố hoá cống đập, cải tiến cửa van
là một nội dung rất hiệu quả Đầu tư trang thiết bị, phương tiện quản lý vận hành cho công trình tương xứng với đầu tư xây dựng công trình Đưa nhanh những tiến
bộ khoa học công nghệ, tin học vào quản lý để từng bước hiện đại hoá công tác quản lý khai thác và vận hành
Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân trong các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Đây là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài Muốn như vậy từng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, tay nghề cho đội ngũ Từng bước thực hiện tiêu chuẩn hoá để đội ngũ cán bộ công nhân đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
3.2.3 Nhu cầu nước cho nuôi tôm trong ruộng lúa huyện Phước long tỉnh Bạc
liêu
Không chỉ đánh giá chất lượng nước cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
mà việc đảm bảo lượng nước từ nuôi quảng canh sang nuôi tôm lúa tại Huyện Phước Long có ý nghĩa thực tế quan trọng
Việc quản lý thuỷ lợi sẽ tốt hơn, thường xuyên và kịp thời hơn thông qua tổ chức tự quản của người nông dân; công tác bảo vệ, giữ gìn hệ thống công trình tốt hơn dẫn đến tiết kiệm chi phí duy tu bảo dưỡng và vận hành công trình; công tác điều hành, thu chi tài chính được công khai Người nông dân được tham gia ý kiến của mình trong điều hành và giải quyết các tranh chấp; được trao quyền tự chủ về
Trang 27tài chính nên việc thu tiền nước tốt hơn và chi phí chặt chẽ tiết kiệm hơn; Nhà nước giảm nhẹ gánh nặng về quản lý cũng như đầu tư
Việc chuyển giao cho nông dân quản lý các công trình thuỷ lợi trong thôn xã vẫn đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước trong hoạch định các thể chế, sự giám sát giúp đỡ, đặc biệt là sự hỗ trợ về tài chính trong những trường hợp cần thiết
3.2.4 Bảo vệ nguồn nước cho nuôi tôm quảng canh sang nuôi tôm lúa Huyện Phước long tỉnh Bạc lieu
Từ thực tế sản xuất, nhằm đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống và hoạt động sản xuất ổn định cho người dân, đòi hỏi xây dựng và phát triển nhiều mô hình sản xuất phát triển bền vững như: mô hình xen và luân canh lúa - tôm, trong năm hộ dân
có thể sắp xếp 6 tháng để trồng lúa và 6 tháng nuôi tôm
Thiết kế hệ thống ruộng nuôi phù hợp; thiết kế ruộng nuôi trong mô hình nuôi
tôm lúa luân canh đơn giản, nhưng cần đảm bảo một số tiêu chuẩn nhất định
3.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để định hướng phát triển nguồn nước tại tỉnh Bạc liêu trong điều kiện BĐKH nước biển dâng phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, đề tài phát triển nông nghiệp thủy sản sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập tổng hợp, phân tích kế thừa có chọn lọc các số liệu
Điều tra dân sinh – kinh tế xã hội, khảo sát đo đạc số liệu thủy văn, dòng chảy, chất lượng nước
Thu thập Các số liệu, tài liệu liên quan đến các con sông trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu đã công bố; được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học …
3.3.1 Đo đạc phân tích chất lượng nước
1- Thời gian Chất lượng nước được lấy theo mùa, mùa mưa và mùa khô, trong ao
nuôi tôm, ao bố trí thí nghiệm và ngoài kênh, khi triều lên và khi triều xuống từ năm
2016 – 2019 Và các số liệu thí nghiệm và đo đạc bổ sung 2020
Trang 282- Không gian Nhằm mục đích đánh giá được các yếu tố tác động đến môi trường
nước ruộng nuôi tôm Các vị trí ao, ruộng nuôi tôm ở các điểm khác nhau, vị trí của sông lớn, sông nhỏ, kênh rạch, có liên quan đến các nguồn nước trong đồng đổ ra
3.3.2 Phương pháp chuyên gia và hội thảo
Chọn đúng chuyên gia, có năng lực chuyên môn theo vấn đề ta đang nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống các chuẩn đánh giá cho các tiêu chí cụ thể, dễ hiểu và tường minh, nếu có thể dùng điểm số để thay thế
Hướng dẫn kĩ thuật đánh giá, theo các thang điểm với các chuẩn khách quan, giảm tới mức tối thiểu những sai lầm có thể xảy ra
3.3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp xử lý số liệu
Tổng hợp, phân tích các số liệu liên quan đến hệ thống thủy lợi, các mô hình canh tác ở Bạc Liêu như: Địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn, nguồn nước, kinh tế-xã hội…, Từ đó xây dựng các tiêu chí cho mô hình sản xuất đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cây trồng làm cơ sở phân vùng phù hợp với điều kiện sản xuất của từng vùng
Sử dụng phương pháp thống kê (phần mềm SPSS, Excel) để phân tích các số liệu thu thập được đồng thời tổng hợp số liệu/tài liệu theo định hướng mong muốn phục vụ cho việc đánh giá để phân tích kịch bản, tổng hợp đánh giá các phương án
3.3.4 Phương pháp đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường không chỉ giới hạn trong việc phân tích để chỉ
ra các tác động tích cực và tiêu cực của dự án tới tài nguyên và môi trường khu vực,
mà còn dự báo, dùng các phương pháp kỹ thuật để đánh giá một cách định tính hoặc định lượng các tác động đó
3.3.5 Ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS)
Ứng dụng GIS và viễn thám rất quan trọng trong nghiên cứu đánh giá tính dễ tổn thương do ngập lụt Các thế hệ ảnh vệ tinh được chụp trong các khoảng thời gian khác nhau là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá tai biến ngập lụt ở khu vực nghiên cứu Công nghệ GIS được ứng dụng trong việc số hóa dữ liệu, phân tích
Trang 29dữ liệu không gian, chồng lớp và xây dựng các bản đồ chuyên đề Các kết quả phân tích, tính toán, đánh giá được thể hiện lên bản đồ bằng các phần mềm GIS
Ứng dụng GIS bằng phần mềm Mapinfo, kết hợp các lớp dữ liệu hỗ trợ phần mềm như lớp địa giới hành chính, lớp sông ngòi, lớp thủy văn,, để xây dựng lại các bản đồ hiện trạng nuôi trồng thủy sản Đồng thời, xây dựng các bản đồ mô phỏng chất lượng nước dựa trên các kịch bản dự báo tác động đến môi trường
4 Kịch bản biến đổi khi hậu nước biển dâng
4.1 Mức độ biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng nghiên cứu
- Về nhiệt độ trung bình: Theo kịch bản trung bình RCP4.5, nhiệt độ trung
bình năm khu vực tỉnh Bạc Liêu có xu thế tăng so với trung bình thời kỳ cơ sở (1986-2005), giữa thế kỷ tăng khoảng 1,4 oC; đến cuối thế tăng khoảng 1,8 oC Theo kịch bản cao RCP 8.5, giữa thế kỷ tăng khoảng 1,8oC; đến cuối thế kỷ tăng khoảng 3,3oC
- Về nhiệt độ cực trị: Theo kịch bản RCP4.5, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tối
cao và tối thấp trung bình năm có xu thế tăng từ 1,8 đến 2,6 oC Theo kịch bản cao RCP8.5, mức tăng có thể đến 4oC Vào giữa thế kỷ 21 số ngày nắng nóng có xu thế tăng, với mức tăng từ 20 đến 40 ngày so với thời kỳ cơ sở Đến cuối thế kỷ 21, số ngày nắng nóng tăng từ 50 đến 60 ngày
- Về lượng mưa năm và mưa cực trị: Theo kịch bản trung bình RCP4.5,
lượng mưa năm có xu thế tăng Giữa thế kỷ tăng 11%; đến cuối thế kỷ tăng khoảng 13,6% Theo kịch bản cao RCP8.5, giữa thế kỷ tăng 16,5%; đến cuối thế kỷ tăng khoảng 18,0%
- Lượng mưa một ngày lớn nhất và 5 ngày lớn nhất đều được dự tính có xu thế tăng trong thế kỷ 21 theo các kịch bản trung bình và kịch bản cao Đến cuối thể
kỷ 21, theo kịch bản trung bình RCP 4.5, mức tăng của lượng mưa 1 ngày lớn nhất
có thể tăng từ 30 đến 50%; lượng mưa 5 ngày liên tiếp lớn nhất có thể tăng từ 20 đến 35%
Trang 30- Hạn hán: Kết quả dự tính cho thấy, lượng mưa mùa đông, mùa xuân có xu
thế giảm và nhiệt độ tăng cao khiến bốc hơi tăng, dẫn đến nguy cơ hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn vào các tháng mùa đông, mùa xuân ở khu vực tỉnh Bạc Liêu
- Về mực nước biển dâng: Theo kịch bản trung bình (RCP4.5), đến cuối thế
kỷ 21 nước biển có khả năng dâng thêm khoảng 53cm; theo kịch bản cao (RCP8.5) thăng khoảng 73 cm
4.2 Khó khăn, thách thức do tác động của BĐKH và nước biển dâng
- Nguy cơ mất đất: Nếu mực nước biển dâng 100 cm sẽ ảnh hưởng 48,6%
diện tích đất của tỉnh, các huyện bị ảnh hưởng nhiều nhất là Hồng Dân (90,8%), Phước Long (73,5%)
- Gia tăng xâm nhập mặn: Biến đổi khí hậu sẽ làm ra tăng hiện tượng biển
xâm thực và xâm nhập mặn dẫn đến mất đất canh tác, gia tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng lớn đến hạ tầng giao thông, sản xuất nông nghiệp và các hệ sinh thái ven biển
- Nguy cơ thiếu hụt nguồn nước: Vấn đề hạn hán, thiếu nước ngọt ở nhiều
vùng vào mùa kiệt sẽ gay gắt hơn trước tác động của biến đổi khí hậu, không chỉ ảnh hưởng đối với sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh
- Gia tăng nguy cơ ngập lụt: Do có sự gia tăng về lượng mưa cực trị dẫn đến
lũ lụt cũng sẽ nguy hiểm hơn, sức tàn phá sẽ lớn hơn nhiều Nhiều công trình chắn sóng, chắn cát, đê sông, đê biển sẽ không còn tác dụng hoặc dễ bị phá vỡ trước lũ lụt Các hệ sinh thái tự nhiên cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do những diễn biến cực đoan của thời tiết, thiên tai
4.3 Đối mặt với nhiều thách thức
- Nhiều năm qua, Bạc Liêu đã gánh chịu những hậu quả nặng nề do BĐKH gây ra do nằm ở vị trí tiếp giáp với biển Đông, có hệ thống sông ngòi chằng chịt ăn sâu vào nội đồng, Địa hình của Bạc Liêu lại tương đối thấp, với cao độ phổ biến từ 0,2 - 1,3m so với mực nước biển nên rất dễ bị tác động tiêu cực từ nước biển dâng
Trang 31- Khu vực nội đô TP Bạc Liêu và các phường, xã vùng ven như: Vĩnh Trạch,
Vĩnh Trạch Đông, Hiệp Thành, Nhà Mát và cả các huyện khu vực ven biển như: Hòa Bình, Đông Hải thường bị ngập do triều cường dâng cao hoặc khi mưa lớn
- Sở TN&MT Bạc Liêu đánh giá, BĐKH sẽ gây ra nhiều thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững của tỉnh Cụ thể đối với tài nguyên nước, BĐKH thông qua vấn đề làm thay đổi lượng mưa và phân bố mưa ở các vùng sẽ kéo theo những thay đổi về dòng chảy của các dòng sông, kênh, rạch, gia tăng tần suất và cường độ lũ, hạn hán, nhiệt độ
- Vào mùa khô, kết hợp với mực nước biển dâng có khả năng gây ra tình
trạng thiếu nước ngọt và sự xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân
- Cụ thể là nhiều địa phương ở vùng sản xuất phía Bắc Quốc lộ 1A như: Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai… luôn phải ứng phó với nạn xâm nhập mặn gây hại trên lúa và thiếu nước mặn cho con tôm Nước biển dâng còn làm cho diện tích canh tác lúa bị thu hẹp, suy giảm nghiêm trọng về sản lượng và chất lượng, ảnh hưởng đến an ninh lương thực Kéo theo đó là những hệ lụy mất cân bằng hệ sinh thái động, thực vật…
Trang 32CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến luận văn
Nuôi trồng thủy sản Đồng Bằng Sông Cửu Long có hai sản phẩm chủ lực là tôm nước lợ và các tra Năm 2019, diện tích nuôi tôm nước lợ 670.551 ha tôm sú 583.205 ha Sản lượng 724.646 tấn, tôm sú 301.207 tấn, tôm nước lợ khoảng 88,4% tổng sản lượng Năm 2019 diện tích nuôi tôm càng xanh 52.657 ha, xen canh và luân canh với lúa trên 100.000 ha
Nghiên cứu giải pháp nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình cấp nước
và thoát nước đã được quan tâm đầu tư nghiên cứu từ lâu trên phạm vi cả nước, nhưng toàn diện và sâu sắc nhất vẫn là các nghiên cứu ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Duyên hải miền Trung và ĐBSCL Các tổ chức nghiên cứu hiện đại hóa
hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất và dân sinh ở ĐBSCL đáng kể nhất là Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam với các nghiên cứu cơ sở khoa học về thủy nông cải tạo đất, thủy lợi ngọt hóa, chống xâm nhập mặn, kiểm soát và chung sống với lũ, thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, công trình cấp nước ngọt cho các vùng chua phèn và phèn mặn ven biển, vấn đề tự động hóa quản lý khai thác các công trình thủy lợi , Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam với các khảo sát quy hoạch hệ thống thuỷ lợi phục vụ lấy nước tưới cho các vùng ngọt hóa, Trường Đại học Thủy lợi với các nghiên cứu về hệ thống thoát lũ Đồng Tháp Mười, công trình thủy lợi cải tạo vùng triều ở ĐBSCL…
Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là một trong những đồng bằng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong đó, nước biển dâng là yếu tố
tác động trực tiếp và đang diễn ra mạnh mẽ (Tri et al., 2012; Bộ Tài nguyên và Môi
trường, 2012) Bạc Liêu là tỉnh ven biển, có 80% dân số sống bằng nghề nông, kinh
tế của tỉnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và nuôi thủy sản) Đây là địa phương điển hình cho sinh thái ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long chịu đe dọa nghiêm trọng bởi sự thay đổi điều kiện tự nhiên (Trung and Tri, 2012) Sự thay đổi lượng mưa cùng với nước biển dâng đã làm cho xâm nhập mặn lấn sâu vào trong
Trang 33nội đồng, làm thiệt hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp (IPCC - Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu) , 2007;
Lê Quang Trí và ctv., 2008; Lê Thị Hồng Hạnh và Trương Văn Tuấn, 2014)
Theo các nghiên cứu và số liệu thống kê gần đây, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng nặng nề
do nước biển dâng và xâm nhập mặn gây ra Mùa khô năm 2010, nước mặn từ 3,3‰-6‰ xâm nhập vào vùng chuyên canh lúa đã làm thiệt hại 20.000 ha lúa Đông Xuân và hơn 45.000 ha lúa khác thiếu nước ngọt tại Sóc Trăng và Bạc Liêu
Mùa khô năm 2011 có 2.615 ha lúa bị thiệt hại do khô hạn và xâm nhập mặn
(Nguyễn Thị Hiền Thuận và ctv, 2015), 30.065 tấn muối bị thất thoát do mưa trái
mùa (Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bạc Liêu, 2012) Bên cạnh đó, biện pháp quản
lý của con người cũng như chất lượng của các công trình ngăn mặn chưa tốt đã gián tiếp làm cho xâm nhập gây nguy hại đến sản xuất Cụ thể, năm 2013, do ảnh hưởng của nước mặn rò rỉ qua cửa van các cống ngăn mặn làm thiệt hại 625 ha lúa, gây ngập trên 10 ha rau màu, ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng cục bộ, làm cho độ mặn tăng cao gây khó cải tạo rửa mặn làm thiệt hại trắng 55 ha lúa-tôm (Sở Nông nghiệp
và PTNT tỉnh Bạc Liêu, 2014)
Từ năm 2017 đến 2019, hơn 11.200 hộ nông dân ở vùng sản xuất phía Bắc Quốc lộ 1A, gồm tiểu vùng chuyên sản xuất lúa có diện tích 80.600 ha và tiểu vùng chuyển đổi sản xuất nuôi trồng thủy sản và làm một vụ lúa có diện tích khoảng 75.600 ha ngậm ngùi gánh chịu thiệt hại gần 37 tỷ đồng do hạn hán, xâm nhập mặn gây ra Một năm sau, tháng 5/2017, cũng tại khu vực phía Bắc Quốc lộ 1A này, nhưng mưa đến sớm, nước mặn thiếu trầm trọng gây khó khăn cho hơn 32.000 ha tôm nuôi, khiến nhiều diện tích tôm chết hàng loạt Và cũng chính đợt mưa kể trên, kéo dài từ giữa tháng 5 đến nửa đầu tháng 6/2017 đã làm thiệt hại khoảng 24.000 ha lúa trên địa bàn tỉnh
Trang 341.2 Nghiên cứu chất lượng nước và nuôi tôm càng xanh trên thế giới và ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.2.1 Nuôi tôm càng xanh trên thế giới
Theo New (1988) phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển mạnh mẽ ở các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia… có tôm càng xanh phân bố tự nhiên và phổ biến ở nhiều quốc gia khác do quá trình di nhập thuần hoá như Hawaii, Jamaica, Florida, California, Carolina, (Mỹ), Brazil, Mexico, Honduras, Buertorica, Ecuador, Costarica (Nam Mỹ), Ghana, Mauritius, Caledonesia, Guyana, Guadeloup (thuộc Pháp), Đài Loan, Israel
Ở Châu Á, một số nước có phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển như ở Thái Lan tôm càng xanh nuôi trong điều kiện ruộng lúa bằng nguồn giống nhân tạo với kích thước 4,5 - 4,8 cm, mật độ 1,25 con/m2, năng suất thu hoạch đạt 370 kg/ha (Janssen, 1998) Trong điều kiện nuôi thâm canh ở ao đất, năng suất đạt 6 - 8 tấn/ha
Ở Malaysia lần đầu tiên thí nghiệm nuôi tôm càng xanh trong ao với mật độ
10 PL/m2 sau 5,5 tháng nuôi đạt năng suất 979 kg/ha, tỷ lệ sống đạt 32,4% và một thí nghiệm khác liên hệ đến sự khác nhau về mật độ thả nuôi 10 và 20 PL/m2 sau 5
tháng nuôi, năng suất đạt 1.100 kg/ha và 2.287 kg/ha (Ang và ctv., 1990)
Ở Trung Quốc, trước năm 1999 năng suất tôm nuôi trong ao có diện tích rộng đạt 1.500 - 2.250 kg/ha Từ sau năm 1999 - 2000 năng suất nuôi đã tăng lên từ 3.000 - 3.750 kg/ha
Đài Loan năm 1969 bắt đầu nuôi thử nghiệm tôm càng xanh, đến năm 1979 sản lượng đạt 65 tấn/năm (Liao và Chao, 1980), đến năm 1986 đạt sản lượng đạt 3.500 tấn/năm (New, 1988) Mô hình nuôi thâm canh trong hệ thống ao đất, năng suất bình quân từ 2,5 -3 tấn/ha (Haroonm, 1998) Cũng theo Haroonm, ở Banglades nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa Boro bằng giống tự nhiên theo thủy triều cho năng suất đạt từ 280 - 450 kg/ha/vụ
Năng suất bình quân tôm càng xanh nuôi thâm canh trong bể xi măng tại Mỹ dao động từ 4,5 - 4,8 tấn/ha (Haroonm, 1998) New Zealand nuôi tôm càng xanh với mật độ 10 PL/m2 đạt năng suất 2,5 - 3 tấn/ha (New, 2002) Ở Isreal nuôi ghép tôm
Trang 35càng xanh với cá rô phi và cá chép theo tỉ lệ ghép 0,5 - 1,5 PL/m2 và 1,2 cá giống/m2 cho năng suất 6.700 - 10.100 kg cá/ha/vụ và 220 - 280 kg/ha/vụ (Cohen, 1984)
1.2.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh ở vùng ĐBSCL
Ở nước ta hiện nay các hoạt động khảo sát và nghiên cứu về tôm càng xanh trong các loại hình thủy vực nuôi như mương vườn, ruộng lúa và ao đất đã được triển khai thực hiện từ những năm 1980 trên khắp các địa phương vùng ĐBSCL bởi Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II-Tp Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát cho thấy, năng suất tôm càng xanh nuôi trong các mô hình như nuôi thâm canh, nuôi trên ruộng lúa và một số mô hình khác có sự biến động khá lớn và hiệu quả kinh tế mang lại từ những mô hình nuôi này đã góp phần cải thiện đáng kể điều kiện thu nhập cho các nông hộ trong vùng
Tại vùng ĐBSCL, năng suất tôm nuôi đạt từ 308 - 672kg/ha đối với nuôi tôm kết hợp vơi trồng lúa; 500 - 1200kg/ha/vụ đối với nuôi ao và năng suất 1,2 - 5
tấn/ha/vụ đối với nuôi trong đăng quầng (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 1999)
Năm 2000, mô hình nuôi tôm càng xanh chuyên canh trong ao đất ở Nông trường quốc doanh Sông Hậu - Cần Thơ với năng suất từ 600 - 1.000 kg/ha (Trần
Thanh Hải và ctv., 2004)
Năm 2002 trên cơ sở hợp tác nghiên cứu thực nghiệm giữa Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ và Sở Khoa học công nghệ tỉnh Long An, kết quả xây dựng mô hình nuôi tôm càng xanh thương phẩm dưới dạng bán thâm canh trong ao và ruộng lúa tại huyện Thủ Thừa cho thấy năng suất đạt được khá khả quan, bình quân 900 kg/ha (Dương Nhựt Long, 2003) Năm 2003 trên
cơ sở hợp tác giữa Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản, Khoa Thủy sản và Sở Khoa học
- công nghệ tỉnh Long An, mô hình nuôi tôm càng xanh thâm canh trong ao đất được thực hiện tại huyện Mộc Hóa, kết quả thu được cho thấy trọng lượng bình quân đạt gần 70 gram/con và năng suất đạt 3.250 kg/ha Lợi nhuận cho nông hộ sau
chu kỳ nuôi 6 tháng đạt 115.000.000 đồng/ha (Dương Nhựt Long và ctv., 2003)
Năm 2004, từ kết quả nuôi 2003 thực hiện tại huyện Mộc Hóa, mô hình được tiếp
Trang 36tục nhân rộng với 7 mô hình nuôi có tổng diện tích 36.000 m2 tại 2 huyện Mộc Hóa
và Vĩnh Hưng tỉnh Long An cho thấy, tỷ lệ sống tôm nuôi đạt dao động từ 22 – 26,3 %, năng suất tôm trong ao đạt từ 1.600 kg/ha – 3.133 kg/ha Hiệu quả lợi nhuận mang lại cho hộ nuôi đạt dao động từ 16.286.000 - 78.392.000 đồng/ha Năm 2006 kết quả thực nghiệm xây dựng mô hình nuôi công nghiệp tôm càng xanh trong ao đất ở Bến Tre với mật độ thả nuôi 40 PL/m2, sau chu kỳ nuôi 6 tháng cho năng suất nuôi cao nhất 3,53 tấn/ha kế đến ao nuôi ở huyện Chợ Lách đạt năng
suất 1,5 tấn/ha (Dương Nhựt Long và ctv, 2006)
Đồng Tháp, nuôi tôm đăng quầng trong suốt mùa lũ từ tháng 6 – 12, quầng nuôi tôm là những nơi dọc bờ kênh, sông và ruộng, nơi ngập nước sâu trên 1m, mật
độ thả là 30 - 40 con/m2
Sau thời gian nuôi 4 tháng, tôm được thu tỉa dần, mỗi lần cách nhau 15 - 30 ngày Sau khoảng 6 tháng nuôi tôm được thu toàn bộ Năng suất tôm đạt 5 - 8 tấn/ha/vụ, có nơi đến 10 tấn/ha/vụ (Chi cục thủy sản Đồng Tháp, 2001)
1.3 Nghiên cứu chất lượng nước và nuôi tôm sú trên thế giới và ĐBSCL 1.3.1 Tình hình nghề nuôi tôm sú trên thế giới
Theo số liệu thống kê của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2005), tổng sản lượng thủy sản Thế giới (bao gồm cả khai thác và nuôi trồng) đã tăng 312% từ 49,92 triệu tấn năm 1964 tới 155,87 triệu tấn năm 2004 Mức tăng trưởng hàng năm của tổng sản lượng là 4% trong giai đoạn 1964 - 1974
và giảm xuống mức 3% trong giai đoạn 1874 - 1984 Từ giữa thập kỉ 80 đến cuối thập kỉ 90, mức tăng trưởng hàng năm lại tăng lại đạt 3,5% Nhưng từ năm 2000 đến 2003, xu hướng thay đổi, mức tăng trung bình hàng năm chỉ còn khoảng 1% Tuy nhiên đến năm 2004, tổng sản lượng thủy sản của thế giới tăng 6% so với năm
2003 Đây không chỉ là kết quả của sự đóng góp lớn về sản lượng từ nguồn nuôi trồng mà còn có sự tăng trưởng sản lượng từ nguồn thủy sản khai thác tự nhiên
(Nguyễn Trung Chánh, 2008)
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong nuôi trồng thủy sản, sản lượng nuôi tôm năm 2000 của thế giới là 1.087.111 tấn, chiếm 66% giáp xác
Trang 37nuôi, trị giá 6,880 tỷ USD, chiếm 73,4% giá trị trong nuôi giáp xác Năm 2001, sản lượng đạt 1.270.875 tấn, trị giá 8,432 tỷ USD Theo tính toán , sản lượng nuôi tôm hiện nay chiếm ¼ sản lượng tôm nói chung của thế giới Các loài tôm được nuôi
nhiều nhất là tôm sú (Penaeus monodon), tôm nương (P.chinensis) và tôm thẻ chân trắng (P vannamei) Riêng ba loài tôm này chiếm trên 86% sản lượng tôm nuôi của
thế giới Nếu tính riêng sản lượng thì tôm sú chỉ xếp thứ 20 trong số các loài thủy sản nuôi nhưng về giá trị thì chúng được xếp đứng đầu với 4,046 tỷ USD trong năm
2000 (FAO, 2005)
Châu Á có 42 nước phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, trong đó Trung Quốc dẫn đầu bảng với tổng sản lượng là 20,8 triệu tấn (trị giá 21,7 tỷ USD) chiếm hơn 50% tổng sản lượng NTTS của toàn thế giới Nếu tính thêm 6 triệu tấn thực vật thủy sinh thì tổng sản lượng của nước này sẽ là 26,8 triệu tấn Ấn Độ xếp hàng thứ hai với tổng sản lượng là 2,29 triệu tấn Tuy nhiên, nếu xét về mặt giá trị thì kém Nhật bản (2,2 tỷ USD so với 3 tỷ USD) và chỉ tương đương với Indonesia trong khi nước này chỉ sản xuất có 696.000 tấn Các nước Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam đồng hạng 5 với thu nhập vào khoảng 1,5 triệu USD từ sản lượng trên dưới 500.000 tấn Tại Châu Âu chỉ có Nauy (408.862 tấn) có sản lượng tương đương với Mỹ (445.123 tấn) Năm 2004 theo thống kê của FAO có 10 nước NTTS đứng đầu thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Philippine, Indonesia, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, Hàn
Quốc, Chile và Bangladesh (FAO, 2005)
1.3.2 Nuôi tôm sú ở Việt Nam và vùng ĐBSCL
Tôm sú là đối tượng nuôi quan trọng của nghề NTTS ở Việt Nam Nuôi tôm
sú ở Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1990, nhưng bước nhảy vọt nhanh chóng vào những năm 2000 - 2005, đặc biệt ở vùng ĐBSCL Nếu như năm 2000 diện tích nuôi tôm sú của ĐBSCL ước tính khoảng 220.000 ha và đạt sản lượng 81.875 tấn thì sau 5 năm (năm 2005) đã là 498.000 ha, sản lượng đạt
9.476 tấn, tăng gấp 2,3 lần về diện tích và 3 lần về sản lượng (Lê Xuân Sinh, 2006)
Diện tích NTTS mặn, lợ ở vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2019, tăng từ 432.759 ha lên 634.461 ha, tốc độ tăng trưởng bình quân 5,2 %/năm Tuy nhiên tốc
Trang 38độ tăng trưởng không đều giữa các năm Giai đoạn 2001 - 2003 bắt đầu triển khai nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ, các tỉnh trong vùng đã rà soát lại quỹ đất, các loại hình mặt nước, các vùng miền làm muối kém hiệu quả, các vùng đất cát hoang hóa để quy hoạch chuyển đổi và phát triển các dự án NTTS, nên tốc độ tăng trưởng về diện tích ở giai đoạn này đạt cao hơn các giai đoạn còn lại Xét theo các địa phương trong 10 nặm qua, tốc độ tăng diện tích NTTS vùng ĐBSCLkhác nhau giữa các tỉnh, cao nhất ở Hậu Giang (49,63%/năm), kế đến là Trà Vinh (23,67%/năm) và Kiên Giang (18,8%/năm), các tỉnh còn lại đạt tốc độ tăng không
cao (dưới 9,69%/năm)
Bảng 1.1 Diện tích nuôi tôm sú vùng ĐBSCL 2010-2015
(Nguồn: Tổng cục Thủy sản, Sở NN&PTNT 8 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL -2015)
Diện tích NTTS nước mặn, lợ vùng ĐBSCL chủ yếu tập trung ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL thuộc các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Tiền Giang và Long An Năm 2010, tỉnh dẫn đầu là Cà Mau đạt 266.952 ha, kế là Bạc Liêu 128.552 ha (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009) Đối với tôm nước mặn lợ, tôm sú vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các đối tượng nuôi mặn, lợ của vùng Năm 2008, đạt 583.290 ha, chiếm 94,48% tổng diện tích
Trang 39nuôi mặn lợ Trong đó diện tích nuôi tôm sú chủ yếu tập trung ở vùng bán đảo Cà Mau với 264.522 ha (chiếm 45% diện tích nuôi tôm cảu vùng); tôm chân trắng mới được đưa vào nuôi trong năm 2008 với diện tích là 1.399 ha, chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 0,23% tổng diện tích mặn lợ của vùng, phương thức nuôi chủ yếu QCCT (chiếm 54,79% tỷ trọng đối tượng và chiếm 51,89 so với tổng diện tích NTTS của
cả vùng ĐBSCL), nuôi tôm lúa chiếm 28,84% tỷ trọng của nuôi tôm và 27,32% tổng diện tích NTTS của vùng Diện tích nuôi BTC và TC chỉ chiếm 6,77% trong tổng diện tích nuôi tôm nước lợ (trong đó diện tích nuôi TC chiếm thấp hơn 4%) Năm 2010 diện tích nuôi tôm sú giảm so với 2008 nhưng tỷ lệ nuôi TC/BTC tăng từ 7,14 lên 13% (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009; Sở NN và PTNT các tỉnh
2010)
Ngành NTTS đã và đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều vùng và nhiều cấp độ khác nhau Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng lớn nhất Việt Nam về NTTS cả
về nuôi mặn lợ ven biển và nuôi nước ngọt Tôm sú (Penaeus monodon) là đối
tượng nuôi chủ lực ở vùng ven biển của đồng bằng này Trong năm 2005, toàn đồng bằng có diện tích nuôi tôm sú khoảng 498.000 ha với sản lượng đạt 260.000 tấn Chiếm 80% diện tích và sản lượng tôm biển nuôi của cả nước Tuy nhiện, việc cung cấp tôm sú nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu là một trong những trở ngại cơ bản để phát triển nghề nuôi tôm trong vùng (Lê Xuân Sinh & Phan Thị Ngọc
+ Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang;
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng;
+ Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau;
+ Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 56 km
Trang 40Hình 1.1 Bản đồ Hành chính tỉnh Bạc Liêu
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.570 km2 bằng 1/16 diện tích của Vùng Đồng
bằng sông Cửu Long; với dân số trung bình 907.236 người (tính đến tháng 4 năm
2019), gồm các dân tộc chính là kinh, Khmer và người Hoa chung sống cùng nhau
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong đó người Kinh chiếm 89,9%, Khmer 7,66% và Hoa 2,34% Dân số thành thị chiếm 26,53%, dân số nông thôn chiếm tỷ lệ 73,47% so với dân số toàn tỉnh Đơn vị hành chính tỉnh hiện tại gồm 7 đơn vị hành chính là: Thành phố Bạc Liêu, thị xã Giá Rai (2015) và 5 huyện gồm: Vĩnh Lợi, Hoà Bình, Đông Hải, Phước Long và Hồng Dân
1.4.2 Đặc điểm địa chất - thổ nhƣỡng
Các nhóm đất chính: 5 nhóm chính, trong đó chủ yếu là Nhóm đất mặn (94.031 ha, chiếm 37,6% quỹ đất) và Nhóm đất phèn (118.771 ha - 47,5%) Các