Tuy nhiên, theo quan sát của tác giả nghiên cứu, tới thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào phân tích cụ thể về các biện pháp phi thuế quan Trung Quốc áp dụng đối với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUÓC TẾ
Môn Phương pháp Nghiên cứu kinh tế
BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI
TRÁI CÂY TƯƠI NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM Gif Giảng viên giảng dạy: TS Nguyễn Thế Kiên
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Ngọc
Ngày sinh: 31/01/2000 MSSV: 18041246
Hà Nội, 12/2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tổng quan tài liệu 8
2.1 Tài liệu nghiên cứu nước ngoài 8
2.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước 10
2.3 Khoảng trống nghiên cứu 12
3 Mục tiêu nghiên cứu 13
3.1 Mục tiêu chung 13
3.2 Mục tiêu cụ thể 13
4 Đối tượng nghiên cứu 14
5 Phạm vi nghiên cứu 14
5.1 Phạm vi nội dung 14
5.2 Phạm vi không gian 14
5.3 Phạm vi thời gian 14
6 Phương pháp nghiên cứu 14
7 Kết cấu 15
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA MỸ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TÔM 16
1.1 Các khái niệm 16
1.1.1 Khái niệm về biện pháp phi thuế quan 16
1.1.2 Khái niệm về trái cây 17
1.2 Phân loại biện pháp phi thuế quan 20
1.3 Tác động của biện pháp phi thuế quan trong thương mại quốc tế 26
Trang 31.3.1 Tác động tích cực 26
1.3.2 Tác động tiêu cực 27
1.4 Đặc tính của trái cây tươi 28
1.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc ứng phó với các biện pháp phi thuế quan và bài học cho Việt Nam 30
1.5.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 30
1.5.2 Kinh nghiệm của Israel 32
1.5.3 Bài học cho Việt Nam 33
Chương 2: THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TRÁI CÂY TƯƠI NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM 34
2.1 Giới thiệu về thị trường trái cây Trung Quốc 34
2.2 Thực trạng xuất khẩu trái cây tươi VIệt Nam sang Trung Quốc 34
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam sang Trung Quốc 34
2.2.2 Giá cả trái cây tươi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc 38
2.3 Các biện pháp phi thuế quan mà Trung Quốc áp dụng đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam 38
2.3.1 Kiểm nghiệm, kiểm dịch thực vật 39
2.3.2 Truy xuất nguồn gốc 40
2.3.3 Đóng gói và dán nhãn 41
2.3.4 Quy định hải quan 42
2.4 Các biện pháp ứng phó của Việt Nam đối với biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc 42
2.5 Đánh giá chung 44
2.5.1 Một số thành tựu đạt được 44
Trang 42.5.2 Một số hạn chế còn tồn tại 44
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TRÁI CÂY TƯƠI XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 47
3.1 Khuyến nghị đối với Nhà nước 47
3.2.1 Tích cực tăng cường phổ biến và hướng dẫn những quy định của Trung Quốc 47
3.1.2 Đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất và công nghệ cho xuất khẩu trái cây tươi 48
3.2.1 Hiểu biết về các quy định của Trung Quốc 49
3.2.2 Đầu tư hệ thống quản lý chất lượng 49
3.2.3 Hợp tác chặt chẽ với các bên trong chuỗi cung ứng trái cây tươi 50
3.3 Khuyến nghị đối với người nông dân 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt tiếng Việt
CPNTM Chi phí tổn thất do NTM gây ra
GTXK Giá trị xuất khẩu trái cây tươi của doanh
nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc
nNTM Số lượng nhóm NTM bị áp dụng bởi nhà
nhập khẩu Trung Quốc
Từ viết tắt tiếng Anh
Anh
Tiếng Việt
ACFS The National Bureau of
Agricultural Commodity and Food Standards
Văn phòng quốc gia về tiêu chuẩn nông sản và thực phẩm ACFTA ASEAN – China Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
– Trung ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EVFTA European-Vietnam Free Trade
cầu
Trang 6HACCP Hazard Analysis and Critical
NTBs Non – tariff barriers Rào cản phi thuế quan
NTM Non – tariff measure Biện pháp phi thuế quan OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển
QR code Quick Response Code Mã vạch ma trận
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH
Bảng 1.1: Các loại trái cây chính theo định nghĩa của FAO……… 17 Bảng 1.2: Trái cây theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa……… 19 Bảng 1.3: Phân loại các biện pháp phi thuế quan……… 20 Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu trái cây của Việt Nam giai đoạn 2014 -2019………… 35 Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam trên thế giới và Trung Quốc… 36
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các nước dần dần dỡ bỏ các hàng rào thuế quan nhưng vẫn duy trì các biện pháp phi thuế quan để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước và lợi ích của người tiêu dùng Theo Bộ Công Thương, biện pháp phi
thuế quan “có thể là các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc các quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm đối với hàng hoá nhập khẩu để bảo vệ môi trường và sức khoẻ của người dân Thậm chí, các thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu cũng có thể được coi
là biện pháp phi thuế quan vì những ảnh hưởng của nó tới quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.” Trong một chừng mực nào đó, việc Chính phủ sử dụng các biện pháp phi thuế quan
là cần thiết và chính đáng vì những mục tiêu đề cập ở trên Nhưng trong bối cảnh thuế quan đang được giảm dần và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn theo các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do, thì các biện pháp phi thuế quan được sử dụng ngày càng nhiều và gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường xuất khẩu
Hiện nay, Việt Nam đang tích cực chủ động hội nhập vào thương mại toàn cầu, trong
đó có việc tham gia Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) Hiệp định này đã mang lại lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp Việt Nam với mức thuế quan được giảm xuống còn 0% trên gần 8000 sản phẩm, trong đó có mặt hàng trái cây tươi Từ
đó, Trung Quốc với quy mô dân số gần 1,5 tỷ người, chiếm 18,7% tổng dân số toàn thế giới dần trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng và tiềm năng cho trái cây Việt Nam với khoảng 70% tổng lượng trái cây tươi xuất khẩu Tuy nhiên, dến năm 2019, trái cây tươi xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc gặp phải sóng gió lớn khi quốc gia này siết chặt việc nhập khẩu qua đường tiểu ngạch và áp dụng hàng loạt các biện pháp phi thuế quan như dán nhãn, đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, truy xuất nguồn gốc Chính vì vậy, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2019 không đạt được mục tiêu đề ra, thậm chí còn giảm sâu tới gần 13% Tính đến năm 2020, Việt Nam chỉ có 9 loại trái cây được xuất khẩu chính ngạch sang thi trường Trung Quốc
Chính vì tầm quan trọng của các biện pháp phi thuế quan đối với thương mại quốc
tế nên hiện nay các đề tài nghiên cứu cả trong và ngoài nướcvề biện pháp phi thuế quan rất
Trang 9phong phú và đã dạng Trong đó, các nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu tác động của biện pháp phi thuế quan tới xuất nhập khẩu một mặt hàng cụ thể hoặc tới doanh nghiệp xuất khẩu Tuy nhiên, theo quan sát của tác giả nghiên cứu, tới thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào phân tích cụ thể về các biện pháp phi thuế quan Trung Quốc áp dụng đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam cũng như đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp này
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Biện pháp phi thuế quan của
Trung Quốc đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam” cho bài nghiên cứu cuối kỳ với
mong muốn góp phần nho nhỏ vào việc tìm ra lời giải cho vấn đề này
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Tài liệu nghiên cứu nước ngoài
K.P.G.L Sandaruwan và các cộng sự (2020) trong bài báo “Effects of Non-Tariff
Measures on Seafood Exports from Sri Lanka: A Gravity Approach” (Các ảnh hưởng của
biện pháp phi thuế quan đến xuất khẩu thủy sản của Sri Lanka) đã điều tra những thay đổi trong cơ cấu biện pháp phi thuế quan ở các nước nhập khẩu thủy sản từ Sri Lanka và xác định tác động của các biện pháp phi thuế quan đó dối với xuất khẩu thủy sản của Sri Lanka Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình trọng lực với dữ liệu về các biện pháp phi thuế quan ở
ba cấp độ, biện pháp thuế quan (NTM), tổng sản phẩm quốc nội, khoảng cách tới Sri Lanka
và dân sô của 107 quốc gia và 144 sản phẩm thủy sản từ năm 2001 đến năm 2017 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các loại NTM quan trọng nhất đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Lankan là các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Kiểm tra trước khi vận chuyển (PSI) Xu hướng phát triển của các NTM và xu hướng giảm của thuế quan cho thấy sự thay thế của các NTM thay cho thuế quan Các phân tích về NTM ở cấp quốc gia cho thấy các nước phát triển có tần suất xây dựng NTM cao hơn các nước đang phát triển Kết quả của mô hình trọng lực cho thấy rằng NTMs, thuế quan và khoảng cách đến nhà nhập khẩu có tác động tiêu cực, và GDP của nhà nhập khẩu và Sri Lanka có tác động tích cực đến xuất khẩu thủy sản Các giá trị tương đương biểu phí được tính toán dựa trên độ co giãn thu được từ mô hình trọng lực Kết quả cho thấy rằng tổng số NTMs, SPS, TBT và PSI làm tăng giá thủy sản lần lượt là
Trang 1062%, 48%, 15% và 13% Điều này ngụ ý rằng các NTM khác nhau có tác động khác nhau đến xuất khẩu thủy sản từ Sri Lanka Do đó, tác động của từng loại hình NTM cần được chú ý trong quá trình xây dựng chính sách
Upalat Korwatanasakul và Youngmin Baek (2020) trong bài báo “The Effect of
Non-Tariff Measures on Global Value Chain Participation” (Ảnh hưởng của các biện pháp phi
thuế quan đối với sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu) đã tiến hành phân tích cắt ngang 19 ngành công nghiệp ở 30 quốc gia khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy cả biện pháp phi thuế quan và biện pháp thuế quan đều có tác động tiêu cực đến sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và biện pháp phi thuế quan có tác động đến GVC lớn hơn biện pháp thuế quan Từ đó, tác giả đề xuất cho chính phủ các quốc gia một số giải pháp giải nhằm giảm chi phí thương mại từ các rào cản chính sách, đặc biệt là các biện pháp phi thương mại; qua đó thúc đẩy sự tham gia vào các GVC giữa các quốc gia
Robert E Baldwin (1970) trong cuốn sách “Non-tariff distortions of international
trade” (Sự biến dạng của biện pháp phi thuế quan trong thương mại quốc tế) đã nhóm các
biện pháp phi thuế quan thành năm loại: hạn ngạch nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu, chính sách mua sắm hạn chế của chính phủ, điều chỉnh thuế biên giới đối với thuế nội bộ, viện trợ của chính phủ cho các nhóm trong nước và các rào cản kỹ thuật và hành chính đối với thương mại; Phân tích tác động thực tiễn và cụ thể của các biện pháp phi thuế quan đối với dòng chảy và giá cả thương mại, phúc lợi kinh tế của các quốc gia; Ước tính sự méo mó thương mại kết hợp giữa các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đối với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh
Aaditya Mattoo, Ralf Peters và các cộng sự (2018) trong báo cáo “The unseen
impact of Non-Tariff Measures: Insight from a new database” (Tác động vô hình của các
biện pháp phi thuế quan: Một số quan niệm từ cơ sở dữ liệu mới) đã sử dụng mô hình kinh
tế lượng phân tích các biện pháp phi thuế quan thông qua bốn chỉ số: tần số, tỉ lệ bao phủ, điểm phổ biến, cường độ điều tiết Kết quả nghiên cứu cho thấy biện pháp phi thuế quan liên kết với sự phát triển bền vững theo hai mặt Thứ nhất, hầu hết các biện pháp phi thuế quan được thiết kế để theo đuổi mục tiêu phi thương mại Các biện pháp kỹ thuật được liên kết trực tiếp với các mục tiêu xã hội và môi trường như thực phẩm an toàn, nước sạch, bảo
Trang 11vệ khí hậu, hoặc tiêu thụ và sản xuất có trách nhiệm Những biện pháp phi thuế quan này giúp đạt được mục tiêu phát triển bền vững Thứ hai, tác động của biện pháp phi thuế quan ảnh hưởng đến chi phí thương mại và tiếp cận thị trường Do đó, thông qua tác động đối với thương mại, biện pháp phi thuế quan ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và tính bền vững của quốc gia
Evelyn s Devadason, Santha Chenayah (2011) trong bài báo “Proliferation of
non-tariff measures in China – Their relevance for ASEAN” (Sự phổ biến của các biện pháp phi
thuế quan ở Trung Quốc - Sự phù hợp của chúng đối với ASEAN) đã sử dụng mô hình trọng lực tăng cường để ước tính tác động của các biện pháp phi thuế quan đối với xuất khẩu song phương giữa các nước ASEAN và Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn từ quan điểm của các nước ASEAN, các biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc đã làm giảm thương mại song phương, tăng chi phí kinh doanh cho các nhà xuất khẩu ASEAN, giảm quy mô tiếp cận thị trường Trung Quốc Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chứng minh rằng việc xác định các biện pháp hạn chế thương mại cụ thể cho các ngành bị ảnh hưởng sẽ giúp xác định các ưu tiên chính sách trong bối cảnh ASEAN - Trung Quốc
2.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước
Tác giả Nguyễn Bích Ngọc (2019) trong bài báo “Đo lường tác động của biện pháp
phi thuế quan Việt nam đối với nhập khẩu nông sản” đã chỉ ra rằng các biện pháp phi thuế
quan đang dần thay thế biện pháp thế quan trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và các nước đang phát triển tập trung vào việc tìm ra giải pháp thích ứng với các biện pháp phi thuế quan do các nước phát triển đặt ra mà coi nhẹ vai trò của biện pháp phi thuế quan trong chính sách ngoại thương của quốc gia đó Trong nghiên cứu này, tác giả đo lường tác động của biện pháp phi thuế quan áp đặt bởi các nước đang phát triển đến dòng hàng hoá nhập khẩu Tác giả sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn cấu trúc, trong trường hợp nghiên cứu cụ thể tại thị trường Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu Kết quả ước lượng cho thấy phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (PPML) là phù hợp nhất với dữ liệu chéo theo sản phẩm Nghiên cứu chỉ ra rằng biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đang có tác động tạo thuận lợi thương mại với mức chưa đáng kể so với tác động của biện pháp thuế quan truyền thống
Trang 12Tác giả Huỳnh Thị Diệu Linh, Hoàng Thanh Hiền, Lê Ngọc Phương Trầm (2019)
trong bài báo “Tổng hợp phương pháp ước lượng thuế suất tương đương của các biện pháp
phi thuế qua trong thương mại quốc tế” đã cung cấp thông tin tổng quan về các phương
pháp có thể sử dụng nhằm định lượng tác động của các biện pháp phi thuế quan trong thương mại quốc tế Tuy rằng có các cách tiếp cận khác nhau trong việc ước tính thuế suất tương đương của các biện pháp phi thuế quan, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy rằng các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng rõ rệt đến kim ngạch thương mại song phương
Do đó, việc định lượng tác động của các biện pháp phi thuế quan là rất quan trọng trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là trong việc đàm phán và
ký kết các hiệp định thương mại tự do Trong bài viết, nhóm tác giả sẽ tổng hợp và trình bày mô hình cơ sở lý thuyết và các phương pháp tiếp cận trong tính toán ước tính thuế suất tương đương của các biện pháp phi thuế quan dựa trên các nghiên cứu gần đây trên thế giới Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng áp dụng mô hình và ước lượng ước tính thuế suất tương đương cho 22 ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam tới 53 đối tác thương mại chính Kết quả ước lượng phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới và đã cung cấp bằng chứng về tác động của các biện pháp phi thuế quan đến thương mại quốc tế
Tác giả Dương Thị Thanh Thái (2019) trong luận văn “Nghiên cứu triển vọng xuất
khẩu trái cây tươi Việt Nam sang thị trường Canada – Áp dụng mô hình trọng lực” đã chỉ
ra thực trạng tiêu biểu của xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam giai đoạn 2001-2017, đo lường được xu hướng và mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, tác giả chọn hướng tiếp cận bằng nghiên cứu định lượng ứng dụng
mô hình trọng lực Trong đó phương pháp hồi quy với bộ dữ liệu bảng gồm 17 quốc gia đối tác nhập khẩu trái cây tươi lớn nhất của Việt Nam qua 17 năm giai đoạn 2001-2017 Kết quả ước lượng bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) cho thấy: GDP Việt Nam, GDP Canada, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam, tỷ giá có tác động cùng chiều; khoảng cách địa lý, khoảng cách trình độ phát triển kinh tế có tác động nghịch chiều lên giá trị xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam sang Canada Căn cứ xu hướng
và mức độ tác động của các nhân tố trong mô hình tác giả kiến nghị giải pháp lên cấp Nhà
Trang 13nước, Cộng đồng doanh nghiệp và Người nông dân nhằm giúp đẩy mạnh xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam sang thị trường Canada đến năm 2023
Tác giả Đoàn Ngọc Thắng và Lê Thị An (2019) trong bài báo “Tác động của các
biện pháp phi thuế quan tới xuất khẩu của Việt Nam” đã sử dụng phương pháp nghiên cứu
định lượng là mô hình trọng lực để đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với 28 quốc gia thương mại lớn trong giai đoạn 1999 –
2017 Hai tác giả đã đo lường tác động của các biện pháp phi thuế quan thông qua ba chỉ số: độ bao phủ, độ thường xuyên và độ thịnh hành Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng để tăng cường xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam cần hạn chế các tác động của các biện pháp phi thuế quan
Tác giả Nguyễn Bích Ngọc (2020) trong luận án “Nghiên cứu tác động biện pháp
phi thuế quan của Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu” đã tiến hành đánh giá tác
động của biện pháp kiểm định động thực vật (SPS) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) thông qua hai phương pháp chính là phỏng vấn sâu và kiểm định Heckman hai bước Kết quả nghiên cứu cho thấy các BPPTQ được ban hành của Việt Nam đã tuân theo chuẩn mực quốc tế, tương thích khá cao với hệ thống BPPTQ hiện hành trên thế giới; tuy nhiên, các BPPTQ này lại bảo hộ quá chặt chẽ so với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam…
Từ đó, tác giả đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm quản lý hiệu quả hàng nông sản nhập khẩu như: hoàn thiện các văn bản pháp luật theo phương hương đơn giản, minh bạch, hài hòa giữa tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế; kiểm soát phòng ngừa rủi ro, thanh tra, kiểm tra giám sát, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc truy xuất nguồn gốc
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Trên thế giới, việc nghiên cứu và ước lượng tác động của biện pháp phi thuế quan chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây do không đủ các dữ liệu cơ sở phục vụ cho việc ước lượng Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của các biện pháp phi thuế quan đén thương mại đã tương đối đa dạng với nhiều phương pháp và mô hình lý thuyết khác nhau như: phương pháp tiếp cận về giá và tiếp cận về số lượng, phương pháp ước tính thuế suất tương đương, mô hình thương mại truyền thống tại quốc gia nhập khẩu tuân theo quy luật của hàm lợi ích với độ co giãn thay thế không đổi… Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều
Trang 14theo ba chủ đề chính là phân tích mối quan hệ giữa nước nhập khẩu áp đặt biện pháp phi thuế quan với nước xuất khẩu phải thực hiện các yêu cầu biện pháp phi thuế quan; vai trò của các biện pháp phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế; mức độ áp dụng biện pháp phi thuế quan tại các quốc gia
Các nghiên cứu trong nước hiện nay tập trung vào tác động của các biện pháp phi thuế quan tới xuất nhập khẩu của Việt Nam với chủ yếu là cac nước phát triển trên thế giới; trong đó tập trung vào các nước ký hiệp định ký hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với Việt Nam
Như vậy, có thể khẳng định lại rằng: các nghiên cứu trên còn hoặc là đang đi nghiên cứu về các rào cản chung hoặc là một, một vài rào cản cụ thể ở một số ngành hàng ở một thị trường nhất định Không có hoặc có rất ít nghiên cứu nghiên cứu sâu sắc, cụ thể về biện pháp phi thuế của Trung Quốc, áp dụng đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của bài nghiên cứu là làm rõ tác động của các biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc tới hoạt động xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam vào thị trường này; từ đó, đưa ra một số giải pháp ứng phó với các biện pháp phi thuế quan nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam sang Trung Quốc
3.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu chung, tác giả đề ra bốn mục tiêu cụ thể cho đề tài này:
- Hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến các biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam
- Phân tích thực trạng xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong những năm gần đây
- Đánh giá những thành tựu đạt được, những khó khăn mà Việt Nam gặp phải khi ứng phó với biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng phó với biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc cho các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam và các
cơ quan nhà nước
Trang 154 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp phi thuế quan mà Trung Quốc áp dụng đối với trái cây tươi nhập khẩu chính ngạch từ việt Nam
5.2 Phạm vi không gian
Bài nghiên cứu nghiên cứu biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc đối với trái cây tươi nhập khẩu từ Việt Nam
5.3 Phạm vi thời gian
Bài nghiên cứu tập trung vào khoảng thời gian từ năm 2014 – 2019
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ
liệu thứ cấp dựa trên cơ sở dữ liệu và số liệu thống kê của Việt Nam và Trung Quốc về cơ
sở lý luận về biện pháp phi thuế quan, tình hình thị trường, kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi, các quy định về biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc
Phương pháp phân tích dữ liệu: Bài nghiên cứu phân tích và tổng hợp các số liệu
thống kê đã qua xử lý và các biểu đồ để thấy rõ hơn đặc trưng, xu hướng, quy mô… của hiện tượng, nội dung, vấn đề nghiên cứu; bên cạnh đó, so sánh hoạt động xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc qua các năm, từ đó thấy rõ ảnh hưởng của các biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc tới hoạt động xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN
CỦA MỸ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TÔM 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về biện pháp phi thuế quan
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về biện pháp phi thuế quan (NTMs) Mỗi tổ chức
có một định nghĩa riêng về NTMs, trong đó có những khái niệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi của các tổ chức uy tín trên thế giới như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),… Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại
và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa , “các biện pháp phi thuế quan là các biện pháp chính
sách – khác với thuế quan thông thường – có khả năng có tác động kinh tế đối với thương mại hàng hóa quốc tế, thay đổi số lượng giao dịch hoặc giá cả hoặc cả hai.” Đây là một
định nghĩa tương đối rộng, xác định NTMs là bất kỳ biện pháp nào, có tác động tích cực hay tiêu cực lên việc trao đổi thương mại, hàng hoá giữa các quốc gia
Tuy nhiên, cũng có một số định nghĩa hẹp hơn về NTMs, trong đó chỉ tập trung đến khía cạnh tiêu cực của NTMs Ví dụ, OECD đưa ra định nghĩa về NTMs là các biện pháp
không phải các biện pháp thuế quan và “có tác động hạn chế thương mại” Định nghĩa này
đề cập đến NTMs như là rào cản hơn là biện pháp Bởi rất nhiều các biện pháp NTMs gây
ra rào cản với thương mại nên đôi khi còn được gọi là các rào cản phi thuế quan (non-tariff barriers - NTBs)
Nhìn từ lập trường lợi ích kinh tế chung của thế giới, nhà kinh tế học Baldwin đưa
ra một định nghĩa về rào cản phi thuế quan: “Một sự biến dạng phi thuế quan là bất kỳ một
biện pháp (thuộc khu vực nhà nước hay tư nhân) nào khiến các hàng hoá và dịch vụ trong mua bán quốc tế hoặc mọi nguồn lực dành cho việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ đó, sẽ được phân bổ theo cách như thế nào đó nhằm giảm tiềm năng thực sự của thế giới”
Như vậy, hiểu một cách đơn giản, biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới Trong khi đó "các hàng rào phi thuế quan là các biện pháp phi thuế
quan cản trở việc buôn bán mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học và tính công bằng"
Do vậy, sự khác biệt là NTMs bao gồm các biện pháp rộng hơn NTBs Các biện pháp này
Trang 18do Chính phủ ban hành, mang tính phân biệt đối xử để ưu tiên hơn cho nhà cung ứng trong nước so với nước ngoài Trong diễn biến ngày càng phức tạp của thương mại quốc tế ngày
nay, việc hiểu rõ và chính xác “thế nào là biện pháp phi thuế quan?” là một điều quan
trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu và tiến độ công việc của các doanh nghiệp có liên quan
1.1.2 Khái niệm về trái cây
Mặt hàng trái cây được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) định nghĩa như sau: Trái cây bao gồm các loại trái và quả mọng được đặc trưng bởi hương
vị ngọt ngào (trừ một số ngoại lệ) Hầu hết đều là cây trồng lâu năm, chủ yếu mọc từ cây, bụi rậm và cây bụi, cũng như dây leo hoặc từ cọ (như trái dừa) Quả và quả mọng mọc trên cành, thân hoặc thân cây, thường mọc đơn lẻ nhưng đôi khi nhóm thành chùm hoặc bụi Cây trồng thương mại thường được trồng trong các nông trại, đồn điều, nhưng một lượng lớn trái cây cũng được thu thập từ các cây mọc dại Dưa và dưa hấu dù thường được coi là trái cây nhưng FAO nhóm chúng với rau vì chúng là cây trồng và thu hoạch như rau Trái cây chứa hàm lượng nước rất cao, khoảng 70-90% trọng lượng; chứa nhiều vitamin, khoáng chất và axit hữu cơ; một số loại có hàm lượng chất xơ cao Trái cây rất dễ hỏng Thời hạn
sử dụng của chúng có thể được kéo dài thông qua sử dụng hóa chất ức chế phát triển và kiểm soát nhiệt độ, áp suất và độ ẩm môi trường sau khi được thu hoạch FAO liệt kê 36 loại cây ăn quả chính Mã và tên của mỗi loại được liệt kê dưới bảng sau đây:
Bảng 1.1: Các loại trái cây chính theo định nghĩa của FAO
Trang 19Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
Trong Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS CODE) – hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc tế của Tổ chức hải quan thế giới về tên gọi và mã số, với mục đích phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới– trái cây được phân vào Chương 8: Quả và quả hạch (Nuts) ăn được
Bảng 1.2: Trái cây theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa
Trang 20Nguồn: Tổ chức hải quan thế giới Trái cây nhiệt đới: Theo Tổ chức Trái cây nhiệt đới quốc tế (International Tropical
Fruit Network), trái cây nhiệt đới được định nghĩa là những loại được trồng ở vùng nóng
ẩm, trong khu vực nằm giữa Chí tuyến Bắc và Chí tuyến Nam Trái cây nhiệt đới được trồng bao phủ hầu hết các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, châu Phi, Trung
Mỹ, Nam Mỹ, Caribbean và châu Đại Dương, đa dạng các chủng loại như: Nhãn, vải, chôm chôm, thanh long, mít, me, mãng cầu, ổi, xoài, măng cụt, sầu riêng, chuối, dưa, dừa, dứa, mận, bưởi, chanh leo, đu đủ, khế ….Với mục đích cung cấp thực phẩm và chất dinh dưỡng, FAO và Tổ chức Y tế Thế giới kiến nghị tiêu thụ trái cây nhiệt đới cho chế độ ăn uống giúp cân bằng và phòng tránh các vấn đề về tim mạch, tiểu đường và một số loại ung thư
Trang 21Trái cây nhiệt đới chính được giao dịch toàn cầu như chuối, xoài, dứa, bơ và đu đủ,
ổi, chôm chôm, sầu riêng, mít, thanh long và chanh dây được trồng đại trà và phổ biến
Dữ liệu xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam sang các nước thu thập từ nghiên cứu này sẽ được lấy từ nguồn UN Comtrade dựa trên Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (phiên bản 1996) vì đây là hệ thống được thống nhất trên toàn thế giới sẽ cho ra kết quả
có ý nghĩa cao
1.2 Phân loại biện pháp phi thuế quan
UNCTAD phân các biện pháp NTM thành 2 nhóm: i) Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu và ii) Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến xuất khẩu Mỗi nhóm sau đó được phân chia thành các nhóm nhỏ hơn, được liệt kê ở bảng dưới đây Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: cách phân loại này không đánh giá tính hợp pháp, tính thỏa đáng, tính cần thiết hoặc tính phân biệt đối xử của bất kỳ hình thức can thiệp chính sách nào được
sử dụng trong thương mại quốc tế
Bảng 1.3: Phân loại các biện pháp phi thuế quan
Nguồn: UNCTAD (2018)
A Các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS)
B Các hàng rào kỹ thuật với thương mại (TBT)
C Kiểm tra trước khi giao hàng và các thủ tục khác
D Các biện pháp phòng vệ thương mại
E Cấp phép không tự động, hạn ngạch, biện pháp cấm và các biện pháp kiểm soát chất lượng khác với SPS hoặc TBT
F Các biện pháp kiểm soát giá, bao gồm các loại thuế và phí bổ sung
G Các biện pháp tài chính
H Các biện pháp ảnh hưởng đến cạnh tranh
I Các biện pháp liên quan đến thương mại
Trang 22Theo cuốn “International classification non-tariff measures” phiên bản 2019
(UNCTAD, 2019), các chương từ A đến P được chia thành những nhóm nhỏ, cụ thể như sau:
1.2.1 Các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS)
Các biện pháp được áp dụng để bảo vệ cuộc sống của con người hoặc động vật khỏi các rủi ro phát sinh từ các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, độc tố hoặc sinh vật gây bệnh trong thực phẩm, để bảo vệ cuộc sống của con người khỏi thực vật-hoặc các bệnh do động vật; để bảo vệ động vật hoặc thực vật khỏi sâu bệnh, bệnh tật hoặc gây bệnh sinh vật; để ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại khác đối với một quốc gia từ sự xâm nhập, thành lập hoặc lây lan của sâu bệnh; và để bảo vệ đa dạng sinh học Các biện pháp được phân loại theo mục A1 đến A6 là các quy định kỹ thuật, trong khi các biện pháp từ A8 là thủ tục đánh giá
sự phù hợp liên quan đến các quy định
A1 Cấm /hạn chế nhập khẩu đối với vệ sinh và lý do kiểm dịch thực vật (A11, A12, A13, A14, A15, A19)
A2 Giới hạn dung sai cho dư lượng và hạn chế sử dụng chất (A21, A22)
A3 Yêu cầu ghi nhãn, đánh dấu và đóng gói (A31, A32, A33)
A4 Yêu cầu vệ sinh liên quan đến vệ sinh và điều kiện kiểm dịch thực vật (A41, A42, A49) A5 Điều trị để loại bỏ sâu bệnh thực vật và động vật và các sinh vật gây bệnh trong sản phẩm cuối cùng hoặc cấm điều trị (A51, A52, A53, A59)
A6 Các yêu cầu khác liên quan đến sản xuất hoặc sau quy trình sản xuất (A61, A62, A63, A64, A69)
A8 Đánh giá sự phù hợp liên quan đến vệ sinh và điều kiện kiểm dịch thực vật (A81, A82, A83, A84, A85, A86, A89)
A9 Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật không phải nơi nào khác được chỉ định
1.2.2 Các rào cản kỹ thuật với thương mại (TBT)
Các biện pháp được phân loại theo chương B1 phải là kết quả của việc thực thi quy định kỹ thuật hoặc một thủ tục đánh giá sự phù hợp Các biện pháp được phân loại theo B2
Trang 23đến B7 là kỹ thuật quy định, trong khi những quy định dưới B8 là quy trình đánh giá sự phù hợp của họ Trong số quy định kỹ thuật, những quy định trong B4 có liên quan đến quy trình sản xuất, trong khi những quy định khác được áp dụng trực tiếp đến sản phẩm
B1 Ủy quyền nhập khẩu/ cấp phép liên quan đến các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (B14, B15, B19)
B2 Giới hạn dung sai đối với dư lượng và hạn chế sử dụng chất (B21, B22)
B3 Yêu cầu ghi nhãn, đánh dấu và đóng gói (B31, B32, B33)
B4 Yêu cầu sản xuất hoặc sau sản xuất (B41, B42, B49)
B6 Yêu cầu nhận dạng sản phẩm
B7 Yêu cầu về chất lượng, an toàn hoặc hiệu suất sản phẩm
B8 Đánh giá sự phù hợp liên quan đến các rào cản kỹ thuật đối với buôn bán (B81, B82, B83, B84, B85, B89)
B9 Rào cản kỹ thuật đối với các biện pháp thương mại không phải nơi nào khác được chỉ định
1.2.3 Kiểm tra trước khi giao hàng và các thủ tục khác
Đây là nhóm biện pháp kỹ thuật cuối cùng liên quan đến nhập khẩu Bao gồm: C1 Kiểm tra trước khi giao hàng
C2 Yêu cầu giao hàng trực tiếp
C3 Yêu cầu về nhập cảnh vào các cảng chỉ định
C4 Các biện pháp giám sát nhập khẩu và cấp phép nhập khẩu tự động là các biện pháp hành chính mà giám sát giá trị hoặc số lượng hàng nhập khẩu
C9 Các biện pháp chưa được phân loại cụ thể
1.2.4 Các biện pháp phòng vệ thương mại
Đây là các biện pháp được đặt ra để giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực từ thương mại không công bằng gồm các nhóm biện pháp nhỏ:
D1 Các biện pháp chống bán phá giá (D11, D12, D13)
D2 Các biện pháp chống trợ cấp (D21, D22, D23)
D3 Các biện pháp bảo hộ
Trang 241.2.5 Cấp phép không tự động, hạn ngạch, biện pháp cấm và các biện pháp kiểm soát chất lượng khác SPS hoặc TBT
E1 Các biện pháp cấp phép không tự động (E11, E12)
E2 Hạn ngạch (E21, E22, E23)
E3 Cấm (E31, E32)
E5 Hiệp định hạn chế xuất khẩu (E51, E59)
E6 Hạn ngạch thuế quan (E61, E62, E69)
E9 Các biện pháp kiểm soát số lượng khác
1.2.6 Biện pháp kiểm soát giá, bao gồm thuế và phụ phí
F1 Biện pháp hành chính ảnh hưởng đến giá trị hải quan (F11, F12, F19)
F2 Hạn chế giá xuất khẩu tự nguyện
F3 Phí biến đổi (F31, F32, F39)
F4 Phụ phí hải quan
F5 Nhiệm vụ theo mùa
F6 Thuế và phí bổ sung liên quan đến dịch vụ do Chính phủ cung cấp (F61, F62, F63, F64, F65, F66, F67, F68, F69)
F7 Thuế và phí nội bộ đánh vào hàng nhập khẩu (F71, F72, F73, F79)
F8 Định giá hải quan
F9 Các biện pháp kiểm soát giá, không được chỉ định ở nơi khác
1.2.7 Biện pháp tài chính
G1 Yêu cầu thanh toán trước (G11, G12, G13, G14, G19)
G2 Tỷ giá hối đoái đa dạng
G3 Quy định về phân bổ ngoại hối chính thức (G31, G32, G33)
G4 Các quy định của liên quan đến các điều khoản thanh toán cho hàng nhập khẩu G9 Các biện pháp tài chính khác
1.2.8 Biện pháp cạnh tranh ảnh hưởng
H1 Doanh nghiệp nhà nước, nhập khẩu; chọn lọc khác kênh nhập khẩu (H11, H19) H2 Sử dụng bắt buộc các dịch vụ quốc gia (H21, H22, H29)
Trang 25H9 Các biện pháp ảnh hưởng đến cạnh tranh khác
1.2.9 Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
I1 Các biện pháp về hàm lượng nội địa
I2 Các biện pháp cân bằng thương mại
I9 Các biện pháp khác
1.2.10 Hạn chế phân phối
J1 Hạn chế đối với việc bán sản phẩm (J21, J22)
J9 Các biện pháp hạn chế phân phối khác
1.2.11 Hạn chế dịch vụ sau bán hàng
K1 Các biện pháp hạn chế hoặc cấm tiếp cận các kênh dịch vụ sau bán hàng nội địa K2 Các biện pháp hạn chế hoặc cấm thiết lập các kênh dịch vụ sau bán của chính doanh nghiệp xuất khẩu
K9 Các biện pháp hạn chế dịch vụ sau bán khác
1.2.12 Trợ cấp (trừ trợ cấp xuất khẩu)
Một biện pháp hoặc thực hành bởi bất kỳ cấp chính phủ nào liên quan đến chuyển nhượng tài chính cho một người thụ hưởng hoặc một nhóm người thụ hưởng có thể tạo ra hoặc có khả năng tạo ra một lợi thế cho những người thụ hưởng Các biện pháp hoặc thực hành như vậy có thể được nhóm thành hai loại: hỗ trợ cho các doanh nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp gia đình (phần L1 đến L5) và hỗ trợ cho người tiêu dùng cuối cùng, cá nhân hoặc hộ gia đình (phần L6 đến L9)
L1 Chuyển quỹ (chuyển tiền) bởi Chính phủ cho một doanh nghiệp (L11, L12, L13, L14, L15)
L2 Quy định giá
L3 Chuyển rủi ro (từ doanh nghiệp) sang Chính phủ (L31, L32)
L4 Nguồn thu của Chính phủ (từ doanh nghiệp) bị mất hay không được thu (L41, L42)
L5 Chuyển giao bằng hiện vật (phi tiền tệ) (cho doanh nghiệp) (L51, L52, L53)
Trang 26L6 Chuyển quỹ (chuyển tiền) bởi Chính phủ (cho người tiêu dùng cuối cùng, cá nhân hoặc hộ gia đình) để mua hàng hóa cụ thể (L61, L62)
L7 Doanh thu chính phủ (bởi một người tiêu dùng cuối cùng, cá nhân hoặc hộ gia đình) đã bị mất hoặc không được thu thập (không có chuyển tiền) (L71)
L8 Mua hoặc cung cấp hàng hóa của Chính phủ (L81, L82)
L9 Hỗ trợ cho người tiêu dùng hoặc nhà sản xuất không phải nơi nào khác được chỉ định
M6 Tiêu chuẩn chất lượng (M61, M62, M63, M64, M69)
M7 Tiêu chuẩn đánh giá (M71, M72, M73, M79)
M8 Xem xét và cơ chế khiếu nại (M81, M82, M83, M84, M85, M86)
M9 Minh bạch và truy cập thông tin (M91, M92, M99)
1.2.14 Sở hữu trí tuệ
Chương này đề cập đến các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại và cũng mô tả khung pháp lý về tính đủ điều kiện và bảo trì, kiệt sức và việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ Chúng sẽ được thu thập trong cơ sở dữ liệu, không có mã sản phẩm
N1 Đủ điều kiện và bảo trì (N11, N12, N13, N14, N15)
N2 Ngăn chặn (N21, N22, N23, N24, N25)
N3 Cưỡng chế (N31, N32, N33, N34, N35)
N9 Sở hữu trí tuệ không được chỉ định ở nơi khác
1.2.15 Quy tắc xuất xứ
O1 Quy tắc ưu tiên xuất xứ (O11, O12, O13)
O2 Quy tắc xuất xứ không ưu đãi (O21, O22)
O9 Quy tắc xuất xứ không được chỉ định ở nơi khác
Trang 271.2.16 Các biện pháp liên quan đến xuất khẩu
Các biện pháp áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu của Chính phủ nước xuất khẩu P1 Các biện pháp xuất khẩu liên quan đến vệ sinh và kiểm dịch thực vật và các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (P11, P12, P13, P14, P15, P16, P17, P19)
Thứ nhất, biện pháp phi thuế quan giúp giải quyết những vấn đề toàn cầu liên quan
đến sức khoẻ con người, động thực vật và môi trường Các biện pháp phi thuế quan đóng
một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như xử lý khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm Trong những tình huống khủng hoảng kinh tế, những biện pháp khẩn cấp được áp dụng ngay lập tức và có hiệu quả tức thời nhằm ngăn chặn sự thiệt hại lây lan có hệ thống Với vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, các quốc gia, đặc biệt là những nước phát triển khuyến khích sử dụng các biện pháp phi thuế quan (nhất là biện pháp dịch động thực vật và quy chuẩn kỹ thuật) nhằm quản lý các tác nhân gây hại cho môi trường và hệ sinh thái trong quá trình khai thác, sản xuất như thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, nước thải… NTMs có thể được áp dụng do các nguyên nhân chính đáng như bảo vệ sức khoẻ, sự an toàn của con người và động thực vật Do được
sử dụng đơn thuần với mục đích phi thương mại như vậy nên nhiều biện pháp NTMs được
WTO và nhiều hiệp định Thương mại tự do công nhận
Thứ hai, biện pháp phi thuế quan gia tăng nhận thức của người tiêu dùng và thay đổi hành vi tiêu dùng liên quan đến thuộc tính an toàn, chất lượng sản phẩm Đời sống xã
hội được nâng cao, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng và độ an toàn của sản phẩm hơn là giá thành của nó Nhưng không chỉ là chất lượng, họ còn quan tâm đến quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, tác động trong quy trình sản xuất, tiêu dùng đến môi trường và phúc lợi xã hội Các biện pháp phi thuế quan một mặt đảm bảo những yêu
Trang 28cầu trên đối với sản phẩm khi đến với tay người tiêu dùng Mặt khác, chính người tiêu dùng
lại là đối tượng trực tiếp quy định những yêu cầu của biện pháp phi thuế quan
nhà sản xuất, xuất nhập khẩu nâng cao năng lực kinh doanh, phát triển sản xuất và có tác dụng tăng cường thương mại giữa các quốc gia Bởi vì khi quốc gia nhập khẩu yêu cầu tiêu
chuẩn cao với hàng hóa nhập khẩu, các công ty xuất khẩu cần nâng cấp việc sản xuất của
họ Kết quả là, sản phẩm của họ sẽ có chất lượng tốt hơn và có khả năng tiếp cận nhiều thị trường hơn và tạo ra nhiều hơn nhuận hơn (VCCI, 2019) Các nhà sản xuất phải gia tăng liên kết trong chuỗi cung ứng của mình nhằm đảm bảo yêu cầu về chất lượng đồng bộ cũng như các yêu cầu liên quan đến quy tắc xuất xứ Với xu hướng toàn cầu hoá và sản xuất trong một thời đại công nghệ, điều mà các doanh nghiệp nên hướng tới là tận dụng công nghệ thông tin và các kỹ thuật mới, tăng cường trao đổi thông tin cũng như phản hồi để đáp ứng được các NTM Thông qua đó, các nhà sản xuất đã tự nâng cao năng lực sản xuất, hiệu
quả hoạt động kinh doanh
"Thương mại và Đầu tư châu Á-Thái Bình Dương 2019" (APTIR), chỉ riêng chi phí cho các biện pháp NTMs đã lên tới 1,6% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), khoảng 1.400 tỷ USD trên toàn cầu (Uyên, 2019) Chi phí của doanh nghiệp tăng do việc phải chứng nhận an toàn của sản phẩm, chi phí sản xuất tăng để đáp ứng quy chuẩn, chưa kể vào đó các chi phí ngầm trong quá trình kiểm dịch và quy trình hải quan ở các nước khác nhau Trong điều kiện các
Trang 29quy định này chênh lệch giữa các quốc gia, việc vượt qua những biện pháp này càng khó khăn hơn nữa, điều đó cản trở khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp
Thứ hai, biện pháp phi thuế quan được áp dụng với mục đích bảo hộ thương mại
NTMs được sử dụng với vai trò tiếp tục bảo vệ các ngành kinh tế trọng điểm mặc dù tự do hóa thuế quan đang diễn ra sâu rộng trong các khuôn khổ hợp tác song phương, khu vực và
đa phương Sự gia tăng việc sử dụng NTMs hiện đang tạo ra những quan điểm khác nhau giữa tác động về kinh tế của các công cụ chính sách liên quan đến NTMs và những tác động tiềm ẩn của chính sách tới phát triển bền vững Các nhà hoạch định chính sách tại các nước đang phát triển cho rằng, NTMs có thể ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu và cần phải xây dựng chính sách “đáp trả” phù hợp Mặc dù việc áp dụng NTMs thông thường để giải quyết các quan ngại không mang tính thương mại như môi trường hay bảo vệ người tiêu dùng, nhưng các biện pháp này có thể chuyển hướng mang tính bảo hộ, phân biệt và hạn chế thương mại Quốc gia nhập khẩu cố tình làm cho những biện pháp phi thuế quan ngày càng trở trên phức tạp và khó dự báo hơn, mục đích cuối cùng là để các doanh nghiệp xuất khẩu không thể vượt qua được những rào cản đó và bảo hộ nền sản xuất trong nước Lý thuyết
về mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế
1.4 Đặc tính của trái cây tươi
Trái cây tươi Việt Nam khá phong phú và đa dạng Nhìn chung, trái cây tươi xuất khẩu của Việt Nam có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, trái cây chịu ảnh hưởng rất lớn từ điều kiện tự nhiên như thổ nhưỡng, khí
hậu, địa hình, nguồn nước… Do đây là những nhân tố tác động trực tiếp đến sinh trưởng
và phát triển, qua đó gián tiếp đến năng suất, hương vị, độ ngon và về sau là giá cả và khả năng cung ứng nguồn hàng
Thứ hai, sản xuất trái cây mang tính thời vụ Đối với từng loại trái cây, người nông
dân sẽ phải tiến hành gieo trồng, sản xuất và thu hoạch theo từng thời điểm để đảm bảo sinh trưởng và phát triển tốt nhất cho cây trồng đó Chất lượng trái cây cũng có sự biến động nhất định theo mùa vụ Vào chính vụ thì sản lượng lớn, hàm lượng dinh dưỡng cao, chất lượng đồng đều và giá thành rẻ hơn và ngược lại Đơn cử như trái thanh long là loại cây nhiệt đới, phù hợp khí hậu nắng nóng, giỏi chịu hạn, kém chịu úng, thích hợp trồng