1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam

120 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Tính Thanh Khoản Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Phan Thị Lương Hưng
Người hướng dẫn TS. Lại Tiến Đĩnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản, nghĩa là thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ LƯƠNG HƯNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ LƯƠNG HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LẠI TIẾN DĨNH

Trang 3

Nội dung và số liệu phân tích trong luận văn là kết quả nghiên cứu độc lập của học viên và chưa được công bố trên bất kỳ công trình khoa học nào

TP Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 05 năm 2014

Người cam đoan

-

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những đóng góp của đề tài 4

6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Cơ sở lý luận về thanh khoản và rủi ro thanh khoản 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 8

1.2 Cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản của NHTM 9

1.2.1 Cung – cầu thanh khoản 9

1.2.2 Nguyên tắc đánh giá trạng thái thanh khoản của NHTM 10

1.2.3 Tầm quan trọng của việc đánh giá trạng thái thanh khoản của NHTM 12

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá thanh khoản 12

1.4 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá thanh khoản theo các dấu hiệu từ thị trường 14

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NHTM 16

1.5.1 Lạm phát 16

Trang 5

1.5.4 Năng lực quản trị 17

1.5.5 Tâm lý khách hàng 18

1.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất 18

1.6.1 Tổng quan về các đề tài nghiên cứu trước đây 18

1.6.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 22

2.1 Tiêu chí lựa chọn các NHTM Việt Nam 22

2.2 Thực trạng về tình hình thanh khoản của các nhóm NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu đánh giá 23

2.2.1 Tình hình thanh khoản của các NHTM qua các số liệu báo cáo tài chính 23 2.2.2 Tình hình thanh khoản của các NHTM qua các tỷ số tài chính 31

2.3 Đánh giá chung về tính thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 38

2.3.1 Những kết quả đạt được 38

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

CHƯƠNG 3 : NGHIÊN CỨU TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 42

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 42

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 42

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 45

3.2 Cơ sở dữ liệu 46

3.3 Mô hình nghiên cứu 46

3.4 Phương pháp kiểm định 48

3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 48

3.4.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 48

3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 49

Trang 6

3.5 Kết quả nghiên cứu tình hình thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 49

3.5.1 Thống kê về mẫu khảo sát (Phương pháp thống kê mô tả) 49

3.5.2 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 50

3.5.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 52

3.5.4 Phân tích tương quan 55

3.5.5 Phân tích hồi quy 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

CHƯƠNG 4 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 60

4.1 Giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 60

4.1.1 Định hướng chung cho các giải pháp đối với hệ thống NHTM Việt Nam 60 4.1.2 Giải pháp cho các NHTM Việt Nam 60

4.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp 66

4.2.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 66

4.2.2 Đối với các doanh nghiệp 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 70

KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

NHTM Ngân hàng thương mại

Trang 8

Bảng 3.1 Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo nhân tố

ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng 50

Bảng 3.2 Kết quả phân tích EFA của thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng 52

Bảng 3.3 Phân tích EFA cho thang đo tính thanh khoản của ngân hàng 54

Bảng 3.4 Phân tích hệ số tương quan 55

Bảng 3.5 Hệ số xác định R2 56

Bảng 3.6 Phân tích phương sai ANOVA 57

Bảng 3.7 Hệ số của mô hình hồi quy 57

Trang 9

Biểu đồ 2.1 Tình hình tổng tài sản của các NHTM giai đoạn 2011-2013 23

Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng vốn tự có của các NHTM giai đoạn 2011-2013 25

Biểu đồ 2.3 Tình hình tiền mặt của các NHTM giai đoạn 2011-2013 27

Biểu đồ 2.4 Tình hình tiền gửi tại các tổ chức tín dụng của NHTM giai đoạn 2011-2013 28

Biểu đồ 2.5 Tình hình huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2011-2013 29

Biểu đồ 2.6 Tình hình cho vay của 15 NHTM giai đoạn 2011-2013 31

Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR của 15 NHTM Việt Nam 32

Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động của 15 NHTM Việt Nam 33

Biểu đồ 2.9 Chỉ số trạng thái tiền mặt của 15 NHTM Việt Nam 34

Biểu đồ 2.10 Chỉ số năng lực sử dụng vốn sinh lời của 15 NHTM Việt Nam 35

Biểu đồ 2.11 Chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng của 15 NHTM Việt Nam 36

Biểu đồ 2.12 Chỉ số chứng khoán thanh khoản của 15 NHTM Việt Nam 37

Biểu đồ 2.13 Chỉ số (Tiền mặt+ Tiền gửi tại các TCTD)/ Tiền gửi khách hàng 38

Biểu đồ 3.1 Đối tượng khảo sát nghiên cứu của đề tài 49

Sơ đồ 1.1 Đánh giá rủi ro thanh khoản theo các dấu hiệu thị trường 15

Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu hoạt động thanh khoản của NHTM 45

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tính đến tháng 12/2012, tại Việt Nam có 6 NHTM nhà nước, 38 ngân hàng TMCP, 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 53 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Hệ thống NHTM nói chung và hệ thống NHTM đang hoạt động tại Việt Nam nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế

vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh Đồng thời đóng góp tích cực cho việc duy trì tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục Hoạt động của các NHTM ở Việt Nam mặc dù đã và đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch

vụ Tuy nhiên tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động cho vay vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn thu của ngân hàng (chiếm từ 65-70%) Rủi ro từ hoạt động cho vay rất lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay ngân hàng cần phải tìm hiểu rõ về tư cách, năng lực pháp lý khách hàng, tình hình tài chính khách hàng ngay từ giai đoạn thẩm định khách hàng vay vốn

Năm 2011, lạm phát của Việt Nam vượt mức 18%, cao thứ hai thế giới Mức lạm phát cao đã làm lu mờ các tín hiệu trong tương lai của nền kinh tế, cũng như khiến nhiều doanh nghiệp phải từ bỏ ý định mở rộng sản xuất

Trước các diễn biến của nền kinh tế vĩ mô, NHNN đã buộc phải siết chặt nguồn tiền thông qua công cụ lãi suất; trong khi đó các ngân hàng lớn tăng lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng và ngân hàng nhỏ thì bị ép buộc phải bước vào cuộc đua lãi suất để bù đắp các thiếu hụt thanh khoản NHNN đã cảnh báo, kiểm tra và xử lý một vài trường hợp, song thực tế, vẫn có nhiều cách để các ngân hàng nhỏ lách luật Tình hình khó khăn tạm thời về thanh khoản của một số ngân hàng TMCP đã được NHNN ghi nhận ngay từ tháng 10/2011 và đây được cho là nguyên nhân chính gây biến động trên thị trường liên ngân hàng vào thời điểm đó Việc mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn,

Trang 11

ngân hàng chưa đủ bù đắp là các lý do khiến số các ngân hàng nói trên gặp khó khăn về thanh khoản, dù rằng là tạm thời NHNN đã phải thực hiện các biện pháp

hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở

Cho đến thời điểm cuối năm 2011, trong hệ thống ngân hàng đã tồn tại hai trạng thái:

(1) Trong lúc một số ngân hàng lớn đủ điều kiện tham gia thị trường mở có tín hiệu dư thừa thanh khoản

(2) Có không ít các ngân hàng nhỏ đang rơi vào giai đoạn rất khó khăn trong thanh khoản tiền đồng khi mà nhu cầu rút tiền trong dân tăng mạnh trong dịp Tết… Bước vào năm 2012 và năm 2013, vấn đề thanh khoản của các NHTM ở Việt Nam vẫn khá trầm trọng, nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ đổ vỡ và vấn đề ngân hàng lớn thừa thanh khoản, ngân hàng nhỏ thiếu thanh khoản vẫn diễn ra

Như vậy từ năm 2011 cho đến năm 2013, vấn đề thanh khoản của ngân hàng chưa bao giờ được giải quyết ổn thỏa, và luôn tiềm ẩn các nguy cơ đổ vỡ trong hệ thống; các ngân hàng nhỏ thì vẫn đang tìm mọi cách xoay sở đề bù đắp các thiếu hụt thanh khoản của mình; các ngân hàng lớn thì vẫn không dám cho vay hoặc phải nghe ngóng diễn biến thị trường và chỉ đạo của NHNN Thực trạng đó đòi hỏi NHNN, ngành ngân hàng và các nhà nghiên cứu về ngân hàng tài chính phải xem xét kỹ lưỡng về mặt lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra các giải pháp giải quyết căn bản vấn đề thanh khoản của ngân hàng Cùng chung quan điểm đó, tác giả đã tiến

hành lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các Ngân hàng

Thương mại Việt Nam ” làm luận văn nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả thực hiện đề tài này với ba mục tiêu cơ bản như sau:

(1) Xem xét vấn đề lý luận thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế

(2) Xem xét thực trạng vấn đề thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

(3) Nghiên cứu sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: 15 NHTM Việt Nam có chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại TP HCM với một số tiêu chí cụ thể được trình bày ở Chương 2, danh sách

cụ thể các ngân hàng ở Phụ lục 5

- Vấn đề tập trung nghiên cứu: diễn biến thanh khoản, chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản trong sự liên hệ so sánh, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản

- Giai đoạn nghiên cứu : từ năm 2011 đến 2013

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu gồm cả nghiên cứu định tính và định lượng

* Nghiên cứu định tính:

Dựa trên số liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên trên các trang web đáng tin cậy của Sở giao dịch Chứng khoán, NHNN, Chính phủ… để đánh giá tình hình thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011-2013, đồng thời so sánh đánh giá giữa các ngân hàng để có cái nhìn chung về hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu

* Nghiên cứu định lượng:

- Xây dựng thang đo để đo lường các biến độc lập là các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng

- Thiết lập bảng khảo sát các đối tượng là cán bộ, công nhân viên đang làm việc tại các NHTM Việt Nam

(Bảng câu hỏi xem Phụ lục 1 Danh sách ngân hàng xem Phụ lục 5)

- Lập mô hình nghiên cứu: Mô hình hồi quy đa bội trong đó:

+ Biến phụ thuộc: Tính thanh khoản của ngân hàng (Y)

Trang 13

đo từ đó loại các biến không phù hợp

- Phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định một lần nữa và rút trích các biến phù hợp tham gia vào mô hình

- Phân tích hồi quy với các biến đã được kiểm định và rút trích từ các bước trên; đồng thời làm các phân tích tương quan để dò tìm hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến

- Sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện các bước kiểm định và phân tích trên, từ đó ra kết quả và kết luận về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với tính thanh khoản của NHTM Việt Nam

(Quy trình nghiên cứu được trình bày chi tiết ở Chương 3)

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương chính sau: Chương 1: Tổng quan về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của NHTM

Chương 2: Thực trạng thanh khoản của các NHTM Việt Nam

Chương 3: Nghiên cứu tính thanh khoản của NHTM Việt Nam

Chương 4: Giải pháp nâng cao tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về thanh khoản và rủi ro thanh khoản:

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về thanh khoản:

Theo Duttweiler1: “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa bằng đơn vị tiền tệ quy định Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản.”

Ngoài ra ta có một số định nghĩa cụ thể hơn về thanh khoản2:

Thanh khoản ngắn hạn: là khả năng ngân hàng có thể thực hiện nghĩa vụ thanh

toán vào thời điểm và ngay khi chúng phát sinh (thanh khoản theo tình huống cụ thể) Đây là điều kiện thứ phát mạnh mẽ liên quan đến khả năng sinh lãi (quan điểm cổ điển liên quan đến tính thanh khoản)

Thanh khoản dài hạn: là khả năng vay đủ vốn dài hạn với lãi suất hợp lý nhằm

hỗ trợ cho việc tăng tài sản (thanh khoản theo cấu trúc) Điều này hiện rất được các ngân hàng chú trọng

Khả năng thương mại: là khả năng trao đổi thường trực của các sản phẩm trên

thị trường vốn mà không phải giảm giá quá mức Đây là trọng tâm của các giám sát viên và nghiên cứu học thuật trong thập niên 90

Thanh khoản thị trường: là khả năng của thị trường tạo cơ sở cho hoạt động

vay mượn tại các thị trường vốn và tiền tệ Điều này tập trung vào các mối nguy gây ra bởi những sự kiện đặc biệt

Như vậy ta có thể hiểu thanh khoản không phải là một số tiền nào đó Thay vào đó, nó thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng Trái ngược với nó là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là: ngân hàng

1 Rodolf Duttweiler, 2009.

2 Rodolf Duttweiler, 2009.

Trang 15

thiếu khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán Theo nghĩa này, thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng (Duttweiler,

Vậy thanh khoản có ý nghĩa như thế nào đối với ngân hàng?

Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng vì: Thứ nhất,

cần phải có thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi

những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả những biến động hằng ngày hoặc theo

mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài (với lãi suất cao) nên về cơ bản ngân hàng luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn Ngoài ra thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay Thanh khoản kém là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ

vỡ ngân hàng4

1.1.1.2 Khái niệm về rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro quan trọng đối với các tổ chức kinh tế nói chung và càng đặc biệt quan trọng với các tổ chức tài chính nói riêng, mà cụ thể là với các NHTM Thực tế không ít tổ chức tài chính có thể bị phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi bởi khả năng thanh toán Ở mức độ nhẹ hơn, rủi ro này gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh của tổ chức đó trong một thời điểm cụ thể

3 Rodolf Duttweiler, 2009

4 Công trình dự thi Giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên “Nhà kinh tế trẻ - năm 2010”, trang 7

Trang 16

Rủi ro thanh khoản là trường hợp không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán vào thời điểm khi chúng đến hạn thanh toán và theo đó việc không thể thực hiện này có thể gây ra những hậu quả không mong muốn5

Nói cách khác đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản, nghĩa là thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

Phân loại rủi ro thanh khoản:

Phân loại theo cấu trúc: rủi ro thanh khoản gồm 4 nhóm:

+ Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: những khoản tiền gửi có thể ồ ạt bị rút

+ Rủi ro thanh khoản thị trường: các điều kiện bất lợi của thị trường có thể làm

giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền mặt hoặc để tài trợ khi cần thiết

Phân loại theo nguồn gốc: rủi ro thanh khoản gồm 3 nhóm:

+ Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ: phát sinh khi người gửi tiền rút tiền

trước hạn hoặc đến hạn mà ngân hàng lại không có sẵn nguồn vốn để thanh toán Với một lượng tiền gửi lớn và đột ngột buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ với lãi suất cao, hoặc huy động vốn với chi phí cao, hoặc bán bớt tài sản với giá thấp hơn giá thị trường để chuyển hóa thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả

+ Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản có: chủ yếu phát sinh liên quan đến việc

thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay Đối với những cam kết tín dụng cho phép người vay vốn rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của

Trang 17

khách hàng ngay khi có yêu cầu, nếu không ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ mất

uy tín, thậm chí tình huống xấu hơn là nguy cơ mất khả năng thanh toán Lúc này, ngân hàng cũng phải huy động nguồn vốn khác với chi phí cao hoặc bán bớt tài sản với giá thấp tương tự như rủi ro rừ bên tài sản nợ

+ Rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng: phát sinh khi các nghĩa vụ

thanh toán bất thường – các hoạt động ngoại bảng – xảy ra, như: cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn Khi các cam kết, hợp đồng đó đến hạn, ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi

ro thanh khoản nếu không chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản dễ dàng chuyển thành tiền hoặc những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ

1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản:

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới vì thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng

Vậy thì do đâu mà ngân hàng lại rơi vào tình trạng này? Qua nghiên cứu và thực tế

có thể đúc kết lại rằng việc ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản là do các nguyên nhân chính như sau:

Thứ nhất, do sự mất cân xứng giữa dòng tiền thu về và dòng tiền chi ra: ngân

hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Do đó

đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi

từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn

Thứ hai, nguyên nhân từ sự thay đổi lãi suất: do tiền gửi ngân hàng rất nhạy

cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người rút

Trang 18

vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn Như vậy sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế

đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng (giải thích về trạng thái thanh khoản sẽ được trình bày ở phần sau) Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

Thứ ba, nguyên nhân chủ quan từ việc quản trị thanh khoản của ngân hàng:

do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả: các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả; hoặc nhà quản trị đánh giá không đúng về khả năng và nhu cầu thanh khoản của ngân hàng…

1.2 Cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản của NHTM:

1.2.1 Cung – cầu thanh khoản:

1.2.1.1 Cung thanh khoản

Cung thanh khoản (khả năng thanh khoản) là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:

- Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S 1 ): đây là nguồn cung thanh khoản quan

trọng nhất của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thường xuyên do đặc điểm thường gặp ở ngân hàng là dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản có dài hạn

- Doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ (S 2 ): ngoài thu nhập từ dịch vụ tín

dụng, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác như bảo lãnh, thanh toán, tư vấn…

- Các khoản tín dụng sẽ thu về (S 3 ): đây là nguồn cung quan trọng thứ hai của

ngân hàng vì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu, đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng

- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S 4 )

Trang 19

- Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S 5 ): diễn ra giữa các ngân hàng thương mại

hoặc giữa ngân hàng thương mại với NHNN để tăng nguồn cung vốn thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản vay mới, gia hạn, tuần hoàn nợ vay…

1.2.1.2 Cầu thanh khoản

Cầu thanh khoản (nhu cầu thanh khoản) là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng Thông thường trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra cầu về thanh khoản:

- Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D 1 ): đây là nhu cầu thanh khoản có tính

thường xuyên, tức thời, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút tiền trước hạn

- Đề nghị vay vốn của khách hàng (D 2 ): đây là các khoản tín dụng ngân hàng

cam kết cho khách hàng vay trong tương lai

- Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D 3 ): là khoản tiền mà ngân hàng

phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tổ chức tín dụng khác từ NHNN

- Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ (D 4 ): bao gồm các

khoản chi phí liên quan đến hoạt động quản lý, tiền lương, tiền bảo hiểm, các loại thuế…

- Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D 5 )

1.2.2 Nguyên tắc đánh giá trạng thái thanh khoản của NHTM:

Các hoạt động tại NHTM (gửi tiền, cho vay…v…v…) diễn ra thường xuyên do

đó ngân hàng sẽ luôn gặp phải một trong hai trường hợp: có nguồn vốn nhàn rỗi cần tìm nơi đầu tư sinh lợi, hoặc thiếu nguồn tài trợ cho các nhu cầu thanh khoản phát sinh, ta gọi đó là trạng thái thanh khoản của NHTM Nói rõ hơn thì trạng thái thanh khoản của NHTM là điểm gặp nhau của cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nào đó bất kỳ Từ đó ta có nguyên tắc đánh giá trạng thái thanh khoản của NHTM là căn cứ vào độ chênh lệch giữa tổng các khoản cung thanh khoản và tổng các khoản cầu thanh khoản, còn gọi là trạng thái thanh khoản ròng

Trang 20

Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position - NLPt): ở bất kỳ thời

điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng nhau và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và được xác định như sau:

Trạng thái

NLPt = (S1 + S2 + S3 + S4 + S5) - (D1 + D2 + D3 + D4 + D5)

Ở đây xảy ra 3 trường hợp:

NLPt > 0: nghĩa là cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, lúc này ngân

hàng đang ở tình trạng thặng dư thanh khoản (liquidity surplus) Đây là do việc

không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản có, chiếm giữ quá nhiều tài sản có

ở dạng trực tiếp hoặc gián tiếp không có khả năng sinh lời, hoặc có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả Lúc này nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này để mang lại hiệu quả tốt cho đến khi chúng được sử dụng để đáp ứng những nhu cầu thanh khoản trong tương lai

 Thanh khoản thừa thường được ngân hàng dùng để: Mua các chứng khoán

dự trữ thứ cấp đã bán trước đó; Cho vay trên thị trường tiền tệ với thời hạn phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa; Gửi tiền vào các tổ chức tín dụng…

NLPt < 0: nghĩa là cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, lúc này ngân

hàng đang ở tình trạng thâm hụt thanh khoản (liquidity deficit), nghĩa là ngân

hàng đang thiếu vốn để hoạt động Điều này làm cho ngân hàng mất cơ hội đầu tư, thậm chí mất khách hàng vay vốn, từ đó dẫn đến mất khách hàng tiền gửi do lòng tin đối với ngân hàng bị giảm làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, lúc này ngân hàng đang đối mặt với rủi ro thanh khoản Đối mặt với tình trạng này, nhà quản trị ngân hàng phải quyết định tìm nguồn tài trợ cho khoản thiếu hụt này: Nguồn ở đâu? Bao giờ có? Chi phí là bao nhiêu? sao cho chi phí là thấp nhất và kịp thời nhất

 Các biện pháp xử lý ngân hàng có thể áp dụng là: Sử dụng dự trữ bắt buộc dư

ra nếu có (do tiền gửi kỳ này giảm so với kỳ trước); Bán dự trữ thứ cấp (các

Trang 21

khấu tại NHNN; Huy động từ thị trường tiền tệ: phát hành chứng chỉ tiền gửi

có mệnh giá lớn để huy động vốn…

NLPt = 0: khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản, ngân hàng đạt trạng

thái cân bằng thanh khoản, tuy nhiên đây là trường hợp trong thực tế khó xảy ra

1.2.3 Tầm quan trọng của việc đánh giá trạng thái thanh khoản của NHTM

Sau khi nghiên cứu các trường hợp có thể xảy ra đối với trạng thái thanh khoản của ngân hàng, ta xem xét tiếp việc đánh giá trạng thái thanh khoản của ngân hàng Tại sao ngân hàng phải đánh giá trạng thái thanh khoản của mình? Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với ngân hàng?

Đánh giá trạng thái thanh khoản là công việc quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với bất kỳ NHTM nào Một thực tế thường xuyên xảy ra là hiếm khi cung thanh khoản và cầu thanh khoản lại bằng nhau tại một thời điểm nào đó; nghĩa là các ngân hàng thường xuyên ở trong trạng thái thặng dư thanh khoản hoặc thiếu hụt thanh khoản Chính điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải luôn nắm bắt và đánh giá được trạng thái thanh khoản của ngân hàng ở bất kỳ thời điểm nào để có thể nhanh chóng đưa ra những quyết định đúng đắn mang lại lợi nhuận tốt nhất cho ngân hàng từ nguồn vốn thặng dư (trong trường hợp ngân hàng thặng dư thanh khoản), hoặc tìm được nguồn tài trợ kịp thời cho những khoản thanh khoản thiếu hụt với mức chi phí hợp lý (trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản) Đánh giá tốt trạng thái thanh khoản cùng với những quyết định đúng lúc của nhà quản trị giúp cho ngân hàng một mặt tận dụng tốt nguồn vốn nhàn rỗi để tìm kiếm lợi nhuận, mặt khác giúp ngân hàng giải quyết tốt vấn đề thanh khoản, làm nâng cao tính thanh khoản cũng như uy tín của ngân hàng và tránh được việc ngân hàng rơi vào rủi ro thanh khoản

1.3 Chỉ tiêu đánh giá thanh khoản

Trang 22

bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như sau:

- Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả

- Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “ Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày)

Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động H1:

Vốn tự có Nguồn vốn huy động Chỉ số H1 phản ánh tính thanh khoản của ngân hàng thông qua tỷ lệ giữa mức vốn tự có và nguồn vốn huy động Chỉ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng tốt

Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có H2:

Tổng tài sản có Chỉ số này dùng để đánh giá mức độ rủi ro của tổng tài sản Có Chỉ số này càng cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt

Chỉ số trạng thái tiền mặt H3:

H3 = Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD khác

Tổng tài sản có Chỉ số này càng cao tức là ngân hàng có khả năng tốt hơn trong việc giải quyết nhu cầu tiền mặt tức thời Do đó, khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt

Chỉ số năng lực sử dụng vốn sinh lời H4:

Tổng tài sản có

Trang 23

dụng được xem là tài sản Có sinh lời có tính thanh khoản thấp nhất

Chỉ số Dư nợ/ tiền gửi khách hàng H5:

Tiền gửi khách hàng Chỉ số này đánh giá mức độ ngân hàng sử dụng tiền gửi khách hàng đầu tư vào hoạt động tín dụng Vì vậy, chỉ số này càng cao thể hiện khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp

Chỉ số chứng khoán thanh khoản H6:

Tổng tài sản có Chỉ số này nhằm so sánh những chứng khoán dễ tiêu thụ mà ngân hàng nắm giữ

so với tổng tài sản của ngân hàng Chỉ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt

Chỉ số (Tiền mặt+Tiền gửi tại các TCTD)/ Tiền gửi khách hàng

H7:

Tiền gửi khách hàng Chỉ số H7 phản ánh tỷ lệ tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD khác của ngân hàng

so với tiền gửi của khách hàng Do vậy, chỉ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng tốt

1.4 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá thanh khoản theo các dấu hiệu từ thị trường:

Theo Peter Rose, tác giả cuốn Commercial Banking Management, trong những năm gần đây, một số phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản đã được phát triển bao gồm: Phương pháp tiếp cận nguồn và sử dụng thanh khoản; phương pháp cung cầu thanh khoản; phương pháp chỉ số thanh khoản và một số phương pháp khác Điều kiện tiên quyết để quản trị thanh khoản là phải nhận dạng được rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm: Việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro,

Trang 24

kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng rủi ro phù hợp Không một ngân hàng nào có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng dự trữ thanh khoản của họ là hợp lý và đủ

để không bị rơi vào tình trạng RRTK nếu chưa vượt qua những thử thách của thị trường Những thử thách này được biểu hiện qua những dấu hiệu nhận dạng sau:sự cam kết, uy tín, rủi ro về tài sản, rủi ro lãi vay, giá trị cổ phiếu và tác sự quản lý nhà nước về tỷ lệ các khoản vay ngân hàng trung ương

Sơ đồ 1.1: Đánh giá rủi ro thanh khoản theo các dấu hiệu thị trường

Nguồn: Sách “Commercial Banking Management”– Tác giả: Peter Rose

- Sự tin tưởng của dân chúng: Khi ngân hàng có vấn đề về thanh khoản thì các khách hàng sẽ dần rút tiền gửi vì lo ngại ngân hàng không còn khả năng chi trả

- Tác động giá cổ phiếu: Giá cổ phiếu trên thị trường của ngân hàng giảm tức

là hoạt động kinh doanh của ngân hàng không cao, nhà đầu tư cho rằng ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản

- Rủi ro các khoản lãi của chứng chỉ tiền gửi và các khoản nợ vay khác: Khi ngân hàng chấp nhận huy động vốn và đi vay trên thị trường tiền tệ với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất thị trường tức là ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản

- Tổn thất từ việc bán vội vã các tài sản có với giá thấp: để giải quyết khó

Khoản vay từ ngân hàng trung ương

Không đáp ứng cam kết tín dụng

Tổn thất do bán tài

sản

Dấu hệu thị trường

Sự tin tưởng của dân chúng

Tác động của giá cổ phiếu

Rủi ro khoản lãi và khoản

nợ vay

Trang 25

- Việc đáp ứng các cam kết của ngân hàng đối với khách hàng vay: Ngân hàng không đáp ứng được đầy đủ các cam kết giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn hay không đúng thời hạn giải ngân, nhu cầu vay của khách hàng có hệ số tín nhiệm cao không được đáp ứng Có thể nói ngân hàng đang gặp vấn đề về thanh khoản.

- Khoản vay từ ngân hàng trung ương: Khi nhu cầu vay vốn từ ngân hàng trung ương của ngân hàng thường xuyên với số lượng lớn thì ngân hàng có thể đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thanh khoản

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NHTM:

1.5.1 Lạm phát:

Lạm phát tăng cao, NHNN phải thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất, phát hành tín phiếu bắt buộc nhằm rút bớt lượng tiền NHTM có thể cho vay trong lưu thông Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp

và là một nhân tố làm giảm khả năng thanh khoản của hệ thống NHTM

Lãi suất thị trường tiền tệ, lãi suất huy động vốn tăng cao có thể kiềm chế lạm phát, nhưng kèm theo đó là chi phí quản lý thanh khoản cũng tăng mạnh Trong điều kiện giá các mặt hàng thiết yếu tăng cao, người tiêu dùng phải bỏ nhiều tiền hơn cho cuộc sống, khả năng gửi tiền tiết kiệm cũng hạn chế Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh khoản của ngân hàng

Do lạm phát nên một vài lĩnh vực và thị trường trong nền kinh tế bị sụt giảm Do

đó, một số khoản dư nợ cho vay của NHTM đầu tư vào lĩnh vực này bị ảnh hưởng lớn, khả năng trả nợ của khách hàng kém, luồng tiền trở vào NHTM không như dự kiến làm cho thanh khoản trở nên yếu đi

1.5.2 Lãi suất:

Lãi suất tác động đến nhiều mặt của hệ thống ngân hàng Với mức lãi suất không ổn định sẽ ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, phát sinh các loại rủi ro, trong đó có rủi ro thanh khoản

Lãi suất huy động cao sẽ khiến cho các ngân hàng nhỏ gặp khó khăn trong huy động vốn Vì vậy, để đảm bảo nguồn cung tiền mặt, các ngân hàng nhỏ buộc phải đi vay mượn trên thị trường liên ngân hàng đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng cao hoặc đẩy lãi suất huy động lên cao làm tăng tính bất ổn của hệ thống ngân hàng, ảnh

Trang 26

hưởng tiêu cực đến tính thanh khoản của ngân hàng

Khi lãi suất giảm, khách hàng rút tiền ra khỏi ngân hàng chuyển sang ngân hàng khác để kiếm lãi suất cao hơn, các khách hàng đi vay tích cực tiếp cận các khoản vay do lãi suất giảm Khi đó, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để giữ khách hàng hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng với kỳ hạn ngắn Các ngân hàng lớn tăng lãi suất để giữ khách hàng, các ngân hàng nhỏ tăng lãi suất vì khó khăn trong huy động vốn Điều này tạo ra một cuộc chạy đua lãi suất trên thị trường Qua đó cho thấy lãi suất thay đổi đã ảnh hưởng không nhỏ đến luồng tiền vào và ra của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng

Bên cạnh đó, sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của những tài sản mà ngân hàng đem bán để đáp ứng nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

1.5.3 Chu kỳ kinh doanh:

Những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh là những biến cố hết sức quan trọng

có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thanh khoản của mỗi NHTM Theo thời vụ những tháng cuối năm phát sinh nhu cầu nguồn tiền lớn để các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết toán công nợ, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa…tạo nên một chu kỳ căng thẳng nguồn vốn vào những tháng cuối năm Trong từng ngân hàng, xu thế này có thể được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng tiền gửi chậm dần hoặc thậm chí giảm sút mức tiền gửi Như vậy, tình hình thanh khoản sẽ trở nên rất nghiêm trọng khi mà cầu về tín dụng gia tăng và lượng tiền gửi sụt giảm

1.5.4 Năng lực quản trị:

Cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản, sự tăng trưởng tín dụng quá nóng sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Chính những điều này đã ảnh hưởng lớn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng

Ngoài ra, năng lực quản trị, điều hành cũng như các công tác dự báo, phân tích thị trường của ngân hàng còn hạn chế dẫn đến thiếu thông tin hoặc thông tin cập nhật không chính xác Thị trường cạnh tranh không lành mạnh, lãi suất tăng cao

Trang 27

khoản trong hệ thống ngân hàng

1.5.5 Tâm lý khách hàng:

Sự bất ổn của nền kinh tế - chính trị, tham nhũng trong hệ thống tài chính hay các khoản nợ quá hạn dẫn đến mất khả năng thanh toán của ngân hàng đều gây

ra sự hoảng loạn đối với khách hàng gửi tiền Trong điều kiện các ngân hàng công

bố thông tin chưa minh bạch, tính chính xác không cao sẽ dẫn đến hiện tượng khách hàng rút tiền từ ngân hàng này chuyển sang ngân hàng khác, hay rút tiền mua vàng

để tích trữ…từ đó làm tăng tính bất ổn cho thị trường Nghiêm trọng hơn, hiện tượng khách hàng rút tiền hàng loạt từ các ngân hàng sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh khoản của ngân hàng

1.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất:

1.6.1 Tổng quan về các đề tài nghiên cứu trước đây

Hiện nay, đề tài nghiên cứu về quản trị rủi ro thanh khoản ở nước ngoài cũng khá đa dạng, điển hình là :

+ “ The Development of Liquidity Risk Management” của Baker Tilly

+ “ Liquidity Risk Management” của tác giả Leonard M.Matz

+ “ Banking Liquidity Risk Management Issues” của Rifki Ismal

- Tại Việt Nam, đã có nhiều đề tài ngiên cứu về tính thanh khoản và QTRRTK; mỗi đề tài mỗi phương pháp nghiên cứu và định hướng nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và giải pháp khác nhau nhưng nhin chung chưa thực sự hoàn thiện:

+ Đề tài “ Thực trạng thanh khoản của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Minh Ngà, Vũ Thị Hương Thảo, Bùi Thị Yên đạt giải khuyến khích cấp trường –Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội: các tác giả đã phân tích thực trạng vấn đề thanh khoản tại các NHTM Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích OLS bằng phầm mềm

Eview 6 các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản như : Lạm phát, lãi suất, tăng trưởng GDP , tỷ giá hối đoái, tăng trưởng cho vay/ huy động, vốn tự có/tổng tài sản

đưa ra các kết luận và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị thanh khoản

Trang 28

+ Đề tài “Tăng cường vai trò tính thanh khoản trong việc ổn định hệ thống tài chính” của tác giả Lê Hồng Hiếu: đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, đánh giá nhấn mạnh vai trò của tính thanh khoản đối với sự ổn định của hệ thống tài chính, đưa ra những hạn chế trong công tác quản lý kinh tế, công tác quản trị của các định chế tài chính và giám sát thị trường tài chính hiện nay, lập luận và đánh giá RRTK thông các hệ thống các chỉ số tài chính, đề xuất biện pháp khắc phục bằng những bài học của thế giới Tuy nhiên ở đây tác giả phân tích khái quát, đánh giá rất chung chung thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của hệ thống tài chính mà không hạn chế trong không gian, phạm vi các ngân hàng thương mại

+ Đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Nguyên Duy Sinh- Đại học Kinh tế TPHCM : đề tài đưa ra các hệ thống chỉ tiêu đánh giá RRTK và chiến lược quản trị thanh khoản của các NHTM, sử dụng mô hình hồi quy đa nhân tố và phương pháp kiểm định các giả thiết: Để phản ánh tính thanh khoản và mức độ an toàn trong 3 năm 2006,

2007, 2008 của các NHTM Việt Nam, tác giả tính các hệ số an toàn và chỉ số thanh khoản trung bình, bằng cách cộng hệ số, chỉ số của 3 năm, rồi chia ba Kiểm định

mô hình hồi quy chỉ số bằng sử dụng phần mềm SPSS, phiên bản 13.0 bao gồm: Hệ

số H1: Vốn tự có/Tổng nguồn vốn huy động; Hệ số H2: Vốn tự có/Tổng tài sản

“Có”; Chỉ số H3: (Tiền mặt+Tiền gửi tại các TCTD)/Tổng tài sản “Có”; Chỉ số H4:

Dư nợ/Tổng tài sản “Có”; Chỉ số H5: Dư nợ/Tiền gửi khách hàng; Chỉ số H6: (Chứng khoán kinh doanh+Chứng khoán sẵn sàng để bán)/Tổng tài sản “Có”; Chỉ

số H7: Tiền gửi và cho vay TCTD/Tiền gửi và vay từ TCTD; Chỉ số H8: (Tiền mặt+Tiền gửi tại TCTD)/Tiền gửi của khách hàng Từ kết quả phân tích tác giả đưa

ra các giải pháp ứng với mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và thực trạng thanh khoản của các ngân hàng Tuy nhiên trong đề tài này tác giả dựa trên các báo cáo tài chính để phân tích quản trị thanh khoản của NHTM mà chưa đề cập đến những vấn

đề khác tác động không nhỏ đến tính thanh khoản của các NHTM như chính sách kinh tế, năng lực quản lý, chính sách tín dụng của các NHTM

+ Đề tài “Nâng cao khả năng quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng

Trang 29

Hồng Trong phạm vi nghiên cứu của báo cáo, tác giả sẽ đi sâu phân tích thực trạng QTRRTK, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến RRTK, những tồn tại và khó khăn làm hạn chế hoạt động quản trị Xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng sử dụng

mô hình hồi quy đa nhân tố để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến

tính thanh khoản của ngân hàng như: Lạm phát, lãi suất, năng quản lý tín dụng, chu

kỳ kinh doanh Từ đó có những biện pháp thực tế để khắc phục và đưa ra giải pháp

QTRRTK trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay Đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đối với một ngân hàng cho nên tính bao quát rất hạn chế chưa có cơ sở để nhận định đánh giá chung về thực trạng thanh khoản của

hệ thống NHTM

1.6.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài

Khái niệm phân tích hồi quy

Phân tích hồi quy là nghiên cứu sự phụ thuộc của một biến (biến phụ thuộc hay còn gọi là biến được giải thích) vào một hay nhiều biến khác (biến độc lập hay còn gọi là biến giải thích) với ý tưởng cơ bản là ước lượng (hay dự đoán) giá trị trung bình của biến phụ thuộc trên cơ sở các giá trị đã biết của biến độc lập

Hàm hồi quy tổng thể (population regression function – PRF)

Hàm hồi quy PRF có dạng: E(Y/Xi) = α1+ α2Xi

Trong đó:

- E(Y|Xi) là trung bình (tổng thể) của phân phối của Y với điều kiện Xi

- α1, α2 là các tham số của mô hình còn được gọi là hệ số hồi quy

Hàm hồi quy tổng thể cho biết giá trị trung bình của biến Y sẽ thay đổi như thế nào khi biến X nhận các giá trị khác nhau

Hàm hồi quy mẫu (sample regression function – SRF)

Trong thực tế, ta thường phải ước lượng các hệ số hồi quy của tổng thể từ hệ số hồi quy của mẫu

Hàm hồi quy mẫu sử dụng khi chúng ta không thể lấy tất cả thông tin từ tổng thể

mà chỉ thu thập được từ các mẫu riêng lẻ từ tổng thể

Nếu hàm PRF có dạng tuyến tính (E(Y/Xi) = α1+ α2Xi, ta có SRF:

Yi = β1 + β2Xi

Trong đó: - Y

Trang 30

- β1 là ước lượng điểm của α1

- β2 là ước lượng điểm của α2

Dạng ngẫu nhiên của SRF: Yi = β0 + β1X1 + β2X2 + + βnXn + ei

Với ei là ước lượng điểm của Ui và gọi là phần dư hay sai số ngẫu nhiên

Cụ thể mô hình hồi quy trong bài nghiên cứu là :

và đánh giá đúng sức ảnh hưởng của những nhân tố này chính là chìa khóa để các nhà quản trị vạch ra những chiến lược quản trị thanh khoản hợp lý và đúng lúc

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1 Tiêu chí lựa chọn các ngân hàng thương mại Việt Nam

Hết năm 2013, bức tranh hệ thống ngân hàng đã được cải thiện đáng kể với không ít những mảng màu tươi hơn nhưng vẫn chưa đủ để che lấp những mảng màu xám do tích tụ từ những năm trước đây Năm 2013 là quãng thời gian khó khăn nhất trong nhiều năm qua đối với hệ thống ngân hàng Một số điểm nghẽn của nền kinh

tế vẫn chưa thông Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều bất

ổn nội tại Song, với những nỗ lực thường xuyên, liên tục, cả hệ thống đã bước đầu vượt qua những khó khăn Nhờ đó, không những rủi ro của hệ thống giảm bớt với những chuyển biến tích cực như thanh khoản khả quan hơn, lãi suất huy động đã giảm 2-3% và lãi suất cho vay giảm 3-5% - ngang bằng mức 2006, mà quá trình tái

cơ cấu và kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng đã có những cải thiện đáng kể Mặc dù đã vượt qua được những khó khăn bước đầu nhưng chặng đường đổi mới trước mắt của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhiều chông gai Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có tăng nhẹ, nhưng vẫn thấp so với khu vực (xếp thứ 70/148 quốc gia) Lạm phát được kiềm chế Tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã dồi dào hơn nhưng vẫn chưa ổn định, nợ xấu đã giảm nhưng còn ở mức cao,… Vì thế, những chướng ngại vật phía trước đang đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn tới

Để đánh giá thực trạng tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại, tác giả đã vận dụng cơ sở lý thuyết và lý luận thực tiễn hoạt động quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại để phân tích đánh giá đối với 15 NHTM với tiêu chí sau đây :

- Các ngân hàng được lựa chọn là ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng nhà nước có chi nhánh hoặc hội sở , cũng như có ít nhất 24 phòng giao dịch ứng với

24 quận Huyện trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

- Các báo cáo tài chính đầy đủ trong 3 năm từ 2011-2013 của các ngân hàng được công bố minh bạch trên các Webstie hay cổng thông tin điện tử: Cafef.vn, Vietstock, Website các ngân hàng, Website công ty chứng khoán

Trang 32

- Tỷ lệ ngân hàng niêm yết hay có công ty chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán chiếm trên 70% tổng số ngân hàng điều tra

- Các ngân hàng thỏa mãn về số lượng và chỉ tiêu trong giai đoạn 2011-2013, xét

về tổng tài sản các NHTM tại Việt Nam được chia làm 4 nhóm (các ngân hàng theo phạm vi nghiên cứu của đề tài): Nhóm 1: các ngân hàng có tổng tài sản trên

450 nghìn tỷ (4 ngân hàng), nhóm 2: các ngân hàng có tổng tài sản trên 150 nghìn tỷ (4 ngân hàng), nhóm 3: các nhân hàng có tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ (4 ngân hàng), và các ngân hàng dưới 100 nghìn tỷ (3 ngân hàng)

- Về phần nguồn vốn: 98% Ngân hàng được điều tra phải có vốn tự có trên 3000

nghìn tỷ (Danh sách các ngân hàng xem tại Phụ lục 5)

Biểu đồ 2.1.Tình hình tổng tài sản của các NHTM giai đoạn 2011-2013

Trang 33

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Tại nhóm 1 các ngân hàng TMCP nhà nước là các ngân hàng có tổng tài sản mạnh nhất khẳng định sức mạnh tài chính của những ngân hàng dẫn đầu thị trường ngân hàng tài chính tại Việt Nam, Qua đó cũng khẳng định vai trò của nhà nước trong hoạt động của các ngân hàng VIE, AGR, BIDV, VCB Trong nhóm ngân hàng này, Agribank là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất cụ thể theo các năm 2011-2013 lần lượt là 480,937 tỷ đồng ; 534,987 tỷ đồng; 562,245 tỷ đồng, thấp nhất là Vietcombank Dễ dàng nhận thấy với tổng tài sản đồ sộ như thế này thì khả năng thanh khoản, tính thanh khoản và điều kiện nâng cao tính thanh khoản của các ngân hàng này luôn chiếm ưu thế so với những ngân hàng nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 Tại nhóm 2 bao gồm những ngân hàng sau đây: MBB, ACB, TCB, STB Đây là những ngân hàng có uy tín và thương hiệu lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng, dẫn đầu trong nhóm này là 1 ngân hàng của quân đội, một ngân hàng trẻ trong hệ thống ngân hàng nhưng lại có tổng tài sản tương đối lớn cụ thể năm 2011-2013 thì tổng tài sản lần lượt là 138,314 tỷ đồng; 175,609 tỷ đồng; 180,432tỷ đồng, điều này có thể khẳng định rằng QĐND Việt Nam không chỉ hoạt động tốt trong công tác bảo vệ an ninh quốc phòng mà còn tham gia vào phát triển kinh tế xã hội đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của kinh tế xã hội nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, xếp cuối cùng trong nhóm này là STB - ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn thương tín Nhóm thứ 3 bao gồm các ngân hàng: SHB, VPB,MRB,OCB Trong nhóm này dẫn đầu là ngân hàng Sài Gòn- Hà Nội một ngân hàng trẻ ổng chủ là ông

Trang 34

bầu bóng đá nổi tiếng (Bầu Hiển) có tổng tài sản lần lượt là 70,989 tỷ đồng; 116,537

tỷ đồng; 143,740 tỷ đồng, thấp nhất trong nhóm là ngân hàng Phương Đông Nhóm cuối cùng gồm 3 ngân hàng BVB; SGB; NAB là hai ngân hàng có tổng tài sản thấp nhất Như vậy ta có thể nhận thấy rằng tính thanh khoản, khả năng thanh khoản, khả năng nâng cao thanh khoản được xếp theo thứ tự mạnh yếu theo thứ tự giảm dần từ nhóm 1 đến nhóm 4 Để cạnh tranh trong thị trường các ngân hàng trong nhóm 3, nhóm 4 cần cố gắng hoàn thiện, cũng như có chiến lược thu hút nhà đầu tư, cổ đông chiến lược, marketing và hạn chế rủi ro nợ xấu tín dụng hiệu quả hơn nữa

2.2.1.2 Tình hình vốn tự có của các NHTM

Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ

sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể vốn tự có là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn của ngân hàng Nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng (Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 thì một ngân hàng không được phép huy động vốn quá 20 lần so với vốn tự có vì nó ảnh hưởng đến năng lực chi trả của ngân hàng) Theo luật các tổ chức tín dụng của VN, một ngân hàng khi cho vay đối với một khách hàng thì tổng dư nợ cho vay cao nhất không được phép vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng

Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng vốn tự có của các NHTM giai đoạn 2011-2013

Trang 35

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Xét về phương diện vốn tự có của các ngân hàng, trong năm 201, 2012, 2013 thì BIDV, VIE, VCB, AGR là những ngân hàng có vốn tự có lớn nhất trong tổng số

15 NHTM nghiên cứu trong phạm vi đề tài Điều này cũng dễ hiểu vì những ngân hàng này là NHTM nhà nước quản lý, chiếm vai trò chủ đạo trong nguồn vốn, là cổ đông lớn nhất của các ngân hàng Tính thanh khoản của các ngân hàng này thường xuyên được đảm bảo, khả năng phá sản giải thể ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông, khách hàng hầu như là không có Đây là những ngân hàng dẫn đầu thị trường ngân hàng tài chính tại Việt Nam Nhóm ngân hàng tiếp theo khả năng vốn tự có xếp sau nhóm ngân hàng TMCP nhà nước trên là STB;MBB; TCB; ACB; SHB những ngân hàng này có vốn tự có cao trên 10 nghìn tỷ đồng trong đó STB là ngân hàng dẫn đầu trong nhóm này với số vốn tự có giai đoạn 2011-2013 lần lượt là14,546 tỷ đồng 13,698 tỷ đồng; 17,063 tỷ đồng, ngân hàng SHB có lượng vốn tự có thấp nhất trong nhóm này Nhóm ngân hàng vốn tự có trên 3,5 nghìn tỷ gồm những ngân hàng sau:MRB; VPB; OCB Trong nhóm này thì ngân hàng Hàng Hải có lượng vốn tự có lớn nhất trong giai đoạn 2011-2013 với giá trị là 6,327 tỷ đồng; 9,499 tỷ đồng; 9,090 tỷ đồng; OCB là ngân hàng có vốn tự có thấp nhất Nhóm cuối cùng gồm hai ngân hàng SGB, NAB, BVB các ngân hàng này đều có vốn tự có dưới 3,5 nghìn tỷ Như vậy xét về yếu tố để có thể nâng cao tính thanh khoản tốt nhất là nhóm ngân hàng nhà nước, tiếp nhóm các ngân hàng có thương hiệu lâu năm như Techcombank, ACB, Sacombank…Các ngân hàng như Sài Gòn Công thương, ngân hàng Nam Á ,

Trang 36

ngân hàng Bảo Việt là nhưng ngân hàng có thể nói khả năng nâng cao tính thanh khoản thấp nhất, các ngân hàng này cần có một tầm nhìn chiến lược đột phá thì mới

có thể cạnh tranh và tồn tại trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng cạnh tranh khốc liệt

2.2.1.3 Tình hình tiền mặt và tiền gửi các tổ chức tín dụng khác

Tiền mặt, tiền gửi các tổ chức tín dụng là hạng mục nằm trong tài sản có cảu ngân hàng, chỉ tiêu tiền mặt và tiền gửi các tổ chức tín dụng là khoản tiền mà ngân hàng dùng nhằm mục đích thanh toán trong trường hợp thiếu vốn và mất khả năng thanh khoản Dưới đây là tình hình về tiền mặt và tiền gửi các tổ chức của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2011-2013 :

Chỉ tiêu tiền mặt:

Biểu đồ 2.3 Tình hình tiền mặt của các NHTM giai đoạn 2011-2013 :

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Xét về chi tiêu tiền mặt tại quỹ của ngân hàng thì năm 2013 chứng khiến nhóm dẫn đầu là AGR; VCB; TCB; STB; BIDV nhóm ngân hàng có quỹ tiền mặt dồi dào nhất Nhóm ngân hàng có quỹ tiền mặt ít nhất là OCB; SGB; BVB Trong năm 2013 các NHTM top đầu có những đặc điểm sau đây: Trong nhóm này ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đứng đầu, cụ thể năm 2011 tiền mặt trong quỹ là7,295 tỷ đồng; sang năm 2012 đạt 8,579 tỷ đồng, kết thúc năm 2013 đạt 8,548 tỷ đồng, còn ngân hàng Đầu tư và phát triển đứng ở cuối cùng số tiền mặt tại quỹ của ngân hàng năm 2011 là 3,628 tỷ đồng, năm 2012 đạt 3,326 tỷ đồng, đạt

Trang 37

ngân hàng Đông Á là 4,702 tỷ đồng Nhóm ngân hàng có số tiền mặt tại quỹ ít nhất

là OCB; SGB; BVB quỹ tiền mặt năm 2013 của các ngân hàng này lần lượt là 219

tỷ đồng, 170 tỷ đồng, 108 tỷ đồng.Từ kết quả phân tích ở trên ta có thể thấy rằng các ngân hàng lớn, ngân hàng nhà nước quỹ tiền mặt luôn nằm trong top đầu, điều đáng chú ý là các ngân hàng ở nhóm dưới lại có quỹ tiền mặt đáng kể như VIE; ACB; VPB; MBB Những ngân hàng nằm trong nhóm 4 trên tất cả các chỉ tiêu vẫn

là ngân hàng có quỹ tiền mặt ít nhất, thanh khoản yếu nhất

Chỉ tiêu tiền gửi tại các tổ chức tín dụng:

Biểu đồ 2.4 Tình hình tiền gửi tại các tổ chức tín dụng của NHTM giai đoạn 2011-2013

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Đối với chỉ tiêu tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, năm 2011 nhóm ngân hàng

có chỉ tiêu tiền gửi cao nhất là VCB, ACB, BIDV, VIE, TCB, MBB, MRB trên 30.000 tỷ đồng Nhóm ngân hàng có tiền gửi ít nhất là NAB, DAB, SGB Trong năm 2012, nhóm ngân hàng dẫn đầu đó là VCB, VIE, BIDV,TCB,MBB, AGR Trong nhóm này Vietcombank đứng đầu với số tiền gửi là 65,712 tỷ đồng, đứng thứ

2 là Vietinbank với 65,451 tỷ đồng, thứ ba là BIDV với 53,770 tỷ đồng, TCB có số tiền gửi 43,190 tỷ đồng Nhóm ngân hàng có tiền gửi tại các tổ chức tín dụng ít nhất

là BVB, OCB, SGB Sang năm 2013 nhóm ngân hàng dẫn đầu chỉ tiêu có xu hướng xáo trộn thứ tự, cụ thể nhóm này là các ngân hàng sau đây VCB,VIE, BIDV,AGR, TCB, SHB.Trong nhóm này VCB, VIE là các ngân hàng đi gửi tiền tại ngân hàng khác nhiều nhất với 89,779 tỷ đồng và 47,658 tỷ đồng BIDV với khoản tiền gửi là

Trang 38

37,381 tỷ đồng, Agibank với 31,299 tỷ đồng, SHB có khoản tiền gửi là 30,262 tỷ đồng Nhóm ngân hàng gửi tiền tại các tổ chức tín dụng ít nhất là NAB, OCB, SGB Điều này cho thấy những ngân hàng như VCB, VIE, BIDV,AGR,TCB là những ngân hàng dư vốn kinh doanh cho nên gửi khoản tiền rất lớn tại ngân hàng khác, như vậy có thể nói tính thanh khoản của các ngân hàng này là tốt, khả năng tài chính mạnh là nguồn vốn vay đối với các ngân hàng nhóm dưới NAB, DAB, SGB, OCB

là những ngân hàng cần những khoản vay từ những khoản tiền gửi của các ngân hàng lớn này

2.2.1.4 Hoạt động huy động vốn

Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn vốn khác Bộ phận vốn huy động có ý nghĩa quyết định khả năng hoạt động của mỗi NHTM Để tồn tại và phát triển trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các ngân hàng phải chạy đua nhau từng ngày, có chiến lược marketing thay đổi phù hợp với thị trường với nhu cầu khách hàng, không nhưng thế các ngân hàng còn phải chạy đua với các khung lãi suất để thu hút khách hàng Dưới đây là tình hình huy động vốn của 15 NHTM :

Biểu đồ 2.5: Tình hình huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2011-2013

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Điều ta cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng phân cấp khả năng huy động vốn của các ngân hàng cũng được xếp trật tự theo khả năng mạnh yếu giảm dần từ nhóm

1 đến nhóm 4 (trong cơ cấu tổng tài sản) đối với khả năng huy động vốn giai đoạn

Trang 39

dẫn đầu trong nhóm này là Agribank với nguồn vốn huy động giai đoạn 2011-2013 lần lượt là 461,076 tỷ đồng, 506,290 tỷ đồng và 530,356 tỷ đồng Nhóm 2 : OCB, MBB, ACB, (trên 150 tỷ đồng): OCB dẫn đầu với nguồn vốn huy động được trong giai đoạn này là 21,677 tỷ đồng, 23,604 tỷ đồng, 288,304 tỷ đồng Nhóm 3 TCB, STB, SHB, MRB (Trên 100 tỷ đồng) : Trong nhóm này TCB dẫn đầu với khả năng huy động vốn 168,015 tỷ đồng,166,644 tỷ đồng, 144,976 tỷ đồng Nhóm 4 NAB, SGB, VPB, BVB (dưới 15.000 tỷ đồng) Cũng như tổng tài sản, khả năng huy động vốn cũng thể hiện sức mạnh và thương hiệu của ngân hàng, cũng như đánh giá khả năng thanh khoản, tính thanh khoản, khả năng nâng cao thanh khoản của các ngân hàng Khả năng nâng cao thanh khoản của các ngân hàng cũng xếp trật tự theo thứ

tự giảm dần theo các nhóm 1 đến nhóm 4

2.2.1.5 Hoạt động cho vay

Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại, đồng thời đó cũng là nghiệp vụ có quy trình kỹ thuật rất phong phú, phức tạp đòi hỏi nhà quản trị ngân hàng cũng như kế toán tín dụng phải nắm vững nghiệp vụ này để làm tốt công tác quản trị và kế toán Sau đây là một số nội dung cần chú ý trong nghiệp vụ tín dụng đứng trên góc độ kế toán và quản trị Trong bảng cân đối kế toán của NHTM, khoản mục tín dụng và đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản Có (khoảng 70% – 80%) Đây là khối lượng tài sản rất lớn của ngân hàng đầu tư vào nền kinh tế, nên với trách nhiệm của mình, kế toán phải ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác toàn bộ số tài sản này để cung cấp thông tin, phục vụ chỉ đạo nghiệp vụ tín dụng và bảo vệ an toàn tài sản Trong giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại lớn và nhỏ Chỉ tiêu đó được thể hiện bằng biểu đồ sau tính trong giai đoạn 2011-2013:

Trang 40

Biểu đồ 2.6 Tình hình cho vay của 15 NHTM giai đoạn 2011-2013

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính của các NHTM)

Xét về tiêu chí cho vay, trong nhóm 15 ngân hàng thì mức độ cho vay cũng chia làm 4 nhóm, nhóm thứ nhất là nhóm NHTM Cổ phần nhà nước bao gồm: AGR, BIDV, VIE, VCB Trong nhóm này thì khoản cho vay đều trên 250 nghìn tỷ đồng, Agribank là ngân hàng có khoản dư nợ lớn nhất, cụ thể trong giai đoạn 2011-

2013 ngân hàng đã giải ngân vốn vay lần lượt là 361,739 tỷ đồng, 420,419 tỷ đồng

và 434,675 tỷ đồng Nhóm ngân hàng thứ 2 là nhóm ngân hàng có dư nợ trên 70 nghìn tỷ đồng bao gồm những ngân hàng sau đây: STB, ACB, MBB, SHB Trong nhóm ngân hàng này Sacombank là ngân hàng có dư nợ tín dụng lớn nhất, cụ thể trong giai đoạn 2011-2013, ngân hàng Sacombank đã giải ngân được lần lượt là 79,726 tỷ đồng, 94,887 tỷ đồng,109,214 tỷ đồng Nhóm ngân hàng cho vay yếu nhất

là SGB, NAB, BVB Như vậy dặc điểm hoạt động tín dụng của 15 NHTM trong đề tài nghiên cứu thì ngân hàng nào có sức mạnh tài chính mạnh thì khả năng giải ngân cho vay lớn nhất, nhóm ngân hàng có dư nợ ít nhất vẫn là nhóm ngân hàng yếu về các tiêu chí đã phân tích và khả năng thanh khoản của những ngân hàng này là yếu nhất so với các ngân hàng còn lại

2.2.2.Tình hình thanh khoản của các NHTM thông qua các tỷ số tài chính

Với nguồn dữ liệu phân tích thu thập được từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính trong hai năm 2011-2013 của 15 NHTM Việt Nam, bài báo cáo phân tích tình

Ngày đăng: 16/07/2022, 20:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Frederic S.Mishkin, 2001. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính. Dịch từ tiếng Anh. Người dịch Nguyễn Quang Cư, 2001. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
4.Nguyễn Đắc Hưng, 2008. Trao đổi về quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại. Tạp chí ngân hàng số 24/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại
5.Nguyễn Đăng Dờn, 2009. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
6.Nguyễn Đăng Dờn, 2010. Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại. Nhà xuất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
7.Nguyễn Mạnh Hùng, 2013. Điểm lại quá trình điều chỉnh giảm lãi suất giai đoạn 2011 – 2013. Mục: Hoạt động Tiền tệ - Ngân hàng [online] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm lại quá trình điều chỉnh giảm lãi suất giai đoạn 2011 – 2013
8.Nguyễn Văn Tiến, 2009. Ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
9.Nguyễn Văn Tiến, 2010. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
10.Peter S.Rose, 2004. Quản trị ngân hàng thương mại. Dịch từ tiếng Anh. Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
11.Phan Thị Cúc, 2006. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
12.Phan Thị Thu Hà, 2009. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao
13. Rudolf Duttweiler, 2009. Quản lý thanh khoản trong ngân hàng: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống. Dịch từ tiếng Anh. Người dịch Thanh Hằng, 2010. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thanh khoản trong ngân hàng: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
14.Trần Huy Hoàng, 2011. Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
15.Trương Quang Thông. Phân tích tính thanh khoản của nhóm các ngân hàng lớn [pdf]&lt;http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-phan-tich-tinh-thanh-khoan-cua-nhom-cac-ngan-hang-lon-26669/&gt; [Ngày truy cập: ngày 20 tháng 06 năm 2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tính thanh khoản của nhóm các ngân hàng lớn
16.Xuân Thanh, 2013. Chính sách tiền tệ 2011 – 2013: Những nỗ lực không thể phủ nhận. Mục: Nghiên cứu trao đổi [online] &lt;http://www.sbv.gov.vn&gt; [Ngày truy cập:ngày 05 tháng 10 năm 2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nỗ lực không thể phủ nhận
19.Chỉ thị 03/CT-NHNN ngày 18/07/2013 của NHNN Việt Nam: Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng trong những tháng cuối năm 2013 [pdf] &lt;http://www.sbv.gov.vn&gt; [Ngày truy cập: ngày 05 tháng 10 năm 2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng trong những tháng cuối năm 2013
1.Charles W. Calomiris, Stanley D. Longhofer, and William Miles, The Foreclosure - House Price Nexus. Lessons from the 2007-2008 Housing Turmoil 2008, NBER Working Paper No. 14294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lessons from the 2007-2008 Housing Turmoil 2008
4.Niehans, Jrg. 1978. The theory of money. Baltimore. Johns Hopkins University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of money. Baltimore
5.Patinkin, Don, 1965. Money, interest, and prices: An integration of monetary and value theory. 2d ed. New York: Harper &amp; Row Sách, tạp chí
Tiêu đề: Money, interest, and prices: An integration of monetary and value theory. 2d ed
6.Rudolf Duttweiler, 2010. Quản lý thanh khoản trong ngân hàng. Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thanh khoản trong ngân hàng
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
7.Tobin, James, 1882. The Commercial Banking Firm: A Simple Model. Journal of Economics, 84(4) pp495-530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Commercial Banking Firm: A Simple Model

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1.3 Tình hình tiền mặt và tiền gửi các tổ chức tín dụng khác - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
2.2.1.3 Tình hình tiền mặt và tiền gửi các tổ chức tín dụng khác (Trang 36)
Biểu đồ 2.4. Tình hình tiền gửi tại các tổ chức tín dụng của NHTM giai đoạn 2011-2013 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
i ểu đồ 2.4. Tình hình tiền gửi tại các tổ chức tín dụng của NHTM giai đoạn 2011-2013 (Trang 37)
Biểu đồ 2.5: Tình hình huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2011-2013 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
i ểu đồ 2.5: Tình hình huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2011-2013 (Trang 38)
Biểu đồ 2.6. Tình hình cho vay của 15 NHTM giai đoạn 2011-2013 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
i ểu đồ 2.6. Tình hình cho vay của 15 NHTM giai đoạn 2011-2013 (Trang 40)
Bảng 2.1. Tổng số vốn kinh doanh của Công ty (2002-2004) - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 2.1. Tổng số vốn kinh doanh của Công ty (2002-2004) (Trang 41)
-Bảng khảo sát thực tế đối với các nhân viên ngân hàng - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng kh ảo sát thực tế đối với các nhân viên ngân hàng (Trang 55)
Mơ hình nghiên cứu đề xuất: - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
h ình nghiên cứu đề xuất: (Trang 57)
3.5.Kết quả nghiên cứu tình hình thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 3.5.1.Thống kê về mẫu khảo sát (Phương pháp thống kê mô tả) - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
3.5. Kết quả nghiên cứu tình hình thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 3.5.1.Thống kê về mẫu khảo sát (Phương pháp thống kê mô tả) (Trang 58)
Bảng 3.1: Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.1 Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng (Trang 59)
Bảng 3.2: Kết quả phân tích EFA của thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.2 Kết quả phân tích EFA của thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng (Trang 61)
Các hệ số tương quan (bảng 3.4) cho thấy mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc tính thanh khoản của ngân hàng - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
c hệ số tương quan (bảng 3.4) cho thấy mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc tính thanh khoản của ngân hàng (Trang 64)
Bảng 3.4: Phân tích hệ số tương quan - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.4 Phân tích hệ số tương quan (Trang 64)
Nhằm kiểm định sự phù hợp của mơ hình đề nghị trong chương 3, tác giả tiến  hành  chạy  hồi  quy  với  biến  phụ  thuộc  (Dependent)  là  tính  thanh  khoản  của  ngân  hàng  và  5  biến  độc  lập  (Independent)  là  chính  sách  kinh  tế,  chính  sách  c - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
h ằm kiểm định sự phù hợp của mơ hình đề nghị trong chương 3, tác giả tiến hành chạy hồi quy với biến phụ thuộc (Dependent) là tính thanh khoản của ngân hàng và 5 biến độc lập (Independent) là chính sách kinh tế, chính sách c (Trang 65)
3.5.5.1 Kiểm định sự phù hợp của mơ hình - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
3.5.5.1 Kiểm định sự phù hợp của mơ hình (Trang 65)
Ta sử dụng kiểm định F để kiểm định các giả thuyết về sự phù hợp của mơ hình nhằm chỉ ra mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp nâng cao tính thanh khoản tại các ngân hàng thương mại việt nam
a sử dụng kiểm định F để kiểm định các giả thuyết về sự phù hợp của mơ hình nhằm chỉ ra mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w