CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN1.1 Tổng quan về NHTM 1
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VINH HIỂN
HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh h - Năm 2014
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VINH HIỂN
HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ÐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ÐỊNH HƯỚNG XHCN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào
Thành phố Hồ Chí Minh , Tháng 8/2014
Nguyễn Vinh Hiển
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, đồ thị Trang
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN 14
1.1 Tổng quan về NHTM : 14
1.1.1 Quan điểm của một số tác giả về tư bản tài chính và ngân hàng 14
1.1.2 Khái niệm Ngân hàng : 16
1.1.3 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện đại 18
1.1.4 Chức năng của NHTM trong thể chế kinh tế thị trường : 21
1.1.4.1 Chức năng trung gian tín dụng 21
1.1.4.2 Chức năng trung gian thanh toán 21
1.1.4.3 Chức năng tạo tiền 21
1.1.5 Các nghiệp vụ tín dụng tại NHTM : 22
1.1.6 Hệ thống NHTM Việt Nam : 25
1.2 Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường : 26
1.2.1 Khái niệm hành lang pháp lý : 26
1.2.2 Khái niệm ,đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật 26
1.2.2.1 Khái niệm : 26
1.2.2.2 Đặc điểm : 26
1.2.3 Một số vấn đề khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật 27
1.2.3.1 Thời gian hiệu lực : 27
1.2.3.2 Phạm vi, đối tượng áp dụng 28
1.2.3.3 Nguyên tắc lựa chọn áp dụng 29
1.2.4 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam : 29
1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của hành lang pháp lý trong sự phát triển của tín dụng NHTM 30
1.3 Nhiệm vụ của Nhà nước và NHNN trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường 32
1.3.1 Nhiệm vụ của nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường 32
1.3.1.1 Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển; 32
1.3.1.2 Phân phối lại thu nhập quốc dân 34
1.3.1.3 Bảo vệ môi trường 35
1.3.2 Nhiệm vụ của NHNN trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường 38
1.4 Kinh nghiệm nước Mỹ và bài học cho Việt Nam trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM : 39
Trang 51.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ 39
1.4.2 Bài học cho Việt Nam : 42
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HÀNH LANG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC TA 45
2.1 Khái quát thực trạng hành lang pháp lý trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta45 2.1.1 Các thành tựu đạt được : 45
2.1.2 Các hạn chế 50
2.2 Thực trạng hành lang pháp lý điều chỉnh mối quan hệ tín dụng NHTM ở nước ta 53
2.2.1 Các kết quả đã đạt được : 53
2.2.1.1 Về huy động vốn : 54
2.2.1.2 Về cho vay : 56
2.2.1.3 Về các hình thức cấp tín dụng khác 64
2.2.2 Các hạn chế, nhược điểm: 66
2.2.2.1 Chưa bao quát hết các quan hệ cần điều chỉnh: 66
2.2.2.2 Sự chồng chéo, chưa đồng bộ của các quy định 74
2.2.2.3 Sự chưa thống nhất, mâu thuẫn của các quy định 76
2.2.2.4 Sự chưa hợp lý, thiếu khả thi của các quy định 77
2.2.2.5 Sự thiếu ổn định 79
2.3 Những vấn đề đặt ra cho hành lang pháp lý trong mối quan hệ với thực tiễn tín dụng NHTM 79
2.3.1 Những vấn đề đặt ra 79
2.3.2 Nguyên nhân của các vấn đề trên : 81
2.3.3 Hậu quả của việc chậm khắc phục các vấn đề trên : 82
3.1 Yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM ở nước ta ……… 83
3.1.1 Bối cảnh kinh tế : 83
3.1.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới : 83
3.1.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước : 84
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước 85
3.1.3 Chính sách tín dụng của Nhà nước 87
3.1.4 Các định hướng cho tín dụng NHTM 87
3.1.5 Các yêu cầu của hành lang pháp lý cho tín dụng NHTM 88
3.1.5.1 Tính bao quát, toàn diện : 88
3.1.5.2 Tính đồng bộ 89
3.1.5.3 Tính thống nhất 89
3.1.5.4 Tính khả thi, công khai, minh bạch 89
3.1.5.5 Tính ổn định 89
3.1.5.6 Phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế 90
3.2 Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý 90
3.2.1 Nhóm giải pháp cụ thể về các quy định pháp luật 90
3.2.1.1 Ban hành các quy định còn thiếu : 90
3.2.1.2 Bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện các quy định : 95
3.2.2 Nhóm kiến nghị đối với các cơ quan có thẩm quyền về quá trình xây dựng hành lang pháp lý 101
3.2.2.1 Về quy trình xây dựng hành lang pháp lý : 101
3.2.2.2 Về nhân lực trong xây dựng hành lang pháp lý 102
Trang 63.2.2.3 Bảo đảm các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật : ……103 KẾT LUẬN 104Tài liệu tham khảo
Các phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
BĐS : Bất động sản
GCNQSH : Giấy chứng nhận quyền sở hữu
LĐ-TB&XH : Lao động thương binh xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân
UBTVQH : Ủy ban thường vụ quốc hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ , ĐỒ THỊ
Trang
Bảng 1.1 : Bảng cân đối kế toán (tóm lƣợc) của một NHTM 14
Bảng 1.2 : Bảng liệt kê các loại văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam 22
Bảng 2.1: Bảng liệt kê Luật, Pháp lệnh quốc hội thông qua từ năm 1987 đến nay 38
Biểu 2.2 : Số lƣợng Luật và Pháp lệnh thông qua của Quốc hội các khóa 39
Biểu 2.3 : Số lƣợng Luật và pháp lệnh của Quốc hội các khóa còn hiệu lực 39
Biểu 2.4 : Tỷ lệ Luật và pháp lệnh liên quan đến dân sự và kinh tế trong tổng số
Luật và pháp lệnh Quốc hội các khóa thông qua 39
Bảng 2.5 : Bảng liệt kê các văn bản pháp luật về huy động vốn 46
Bảng 2.6: Bảng kê các văn bản pháp luật quy định thể lệ cho vay, quy chế cho vay
qua các thời kỳ 49
Trang 9đó có khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố sản xuất quan trọng nhất như lao động, vốn, đất đai, tài sản, khoa học công nghệ…Về vấn đề này,Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Nghị quyết đã đánh giá thực trạng của hệ thống pháp luật nước ta, nguyên nhân, định hướng và các giải pháp thực hiện chiến lược
Tín dụng nói chung và tín dụng NHTM nói riêng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế.Tín dụng NHTM có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối với nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế còn phát triển chủ yếu dựa vào vốn Tín dụng NHTM là một mối quan hệ kinh tế nên cần phải
có một hành lang pháp lý Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM là toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia vào mối quan hệ tín dụng NHTM … Tín dụng là mối quan hệ dựa
trên sự chuyển giao tài sản, mục đích sử dụng tài sản, thế chấp, cầm cố, xử lý thu hồi
nợ Do đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất, minh bạch để tín dụng NHTM có thể vận hành một cách thông suốt, mang lại lơi ích cho nền kinh tế Nhà nước ta trong gần ba mươi năm đổi mới đã đạt nhiều thành công trong việc tạo lập hệ thống pháp luật cho thể chế kinh tế thị trường vận hành và phát triển Trong
đó hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM cũng từng bước được hoàn thiện
Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của
Trang 10còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu tính thống nhất, có quy định còn chưa khả thi, chưa theo kịp thực tiễn như về điều kiện cho vay, thế chấp, cầm cố tài sản, xử lý
tài sản để thu hồi nợ…
Một khi hành lang pháp lý còn nhiều vấn đề như trên, các NHTM sẽ lúng túng trong áp dụng luật pháp khi thẩm định các khoản tín dụng, việc thu hồi nợ khi
có rủi ro xảy ra gặp nhiều khó khăn…ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động tín dụng của NHTM
Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều kẽ hở thì sẽ rất khó khăn cho Ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Với những văn bản pháp luật đầy đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực này Đây là
cơ sở pháp lý để Ngân hàng xử lý các khiếu nại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra Điều
đó giúp Ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay Do đó nếu chậm được hoàn thiện, hành lang pháp lý sẽ là rào cản trong việc phát triển tín dụng NHTM, gây
ra nhiều vấn đề pháp lý cần phải giải quyết, gây ách tắc trong hoạt động tín dụng NHTM, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của đất nước
Từ những lý do trên đây, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”làm đề tài luận văn thạc sĩ – chuyên ngành Kinh tế chính trị
các NHTM tại Việt Nam cũng như đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quan hệ tín dụng giữa NHTM với các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Giải Pháp Mở Rộng và Phát Triển Hình Thức Tín Dụng Ngân Hàng trong Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Lê Minh Vũ - TP.HCM : Trường
Đại Học Kinh Tế, 2001 Với công trình này, ngoài những lý luận cơ bản, một số thực
Trang 11trạng về hoạt đông tín dụng tại các NHTM tại Việt Nam, tác giả đưa ra các giải pháp
mở rộng và phát triển các hình thức tín dụng Ngân hàng ở Việt Nam
- Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam : Luận văn thạc sĩ - Trần Thị Ngọc Hạnh ; người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị
Loan - TP.HCM : Trường Đại Học Kinh Tế, 2012 Trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - PGS, TS Hà Hùng Cường, 2008, Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích thực trạng chung và các giải pháp hoàn thiện
hệ thống pháp luật nói chung của nước ta
- Thực trạng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt nam - TS Đinh Văn Ân, 2006, Cổng thông tin Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế Trung ương Một số vấn đề về xây dựng pháp luật cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được tác giả phân tích
Tuy nhiên các công trình trên chưa đi sâu phân tích thực trạng cũng như đề ra các
giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của các NHTM
Trong luận văn của này, tác giả kế thừa những thành quả của những nghiên cứu
trước, đồng thời cố gắng làm rõ những lý luận cơ bản , hệ thống hóa các vấn đề về thực trạng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM tại Việt Nam cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là những vấn đề cơ bản thuộc về
khung pháp lý mà Nhà nước đã ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ tín dụng giữa các NHTM và khách hàng
3.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn
Luận văn nghiên cứu thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật dưới góc độ tín dụng của các NHTM Tín dụng ngân hàng là hoạt động trung gian tài chính huy động vốn của
Trang 12xã hội để cấp tín dụng đối với nền kinh tế Cấp tín dụng của NHTM bao gồm nhiều nghiệp vụ như : cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá và một số nghiệp vụ khác được quy định tại Luật các TCTD 2010 Luận văn sẽ nghiên cứu các vấn đề của hành lang pháp lý cho hoạt động huy động vốn và các hình thức cấp tín dụng của các NHTM
4 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vai trò của Nhà nước trong việc ban hành khung pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ tín dụng; về hệ thống pháp luật; về tín dụng NHTM, từ đó đề xuất phương hướng, quan điểm và các giải
pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng các NHTM
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản như vai trò của Nhà nước trong việc ban hành hệ thống pháp luật trong thể chế kinh tế thị trường ; hành lang pháp lý ở nước ta cho tín dụng NHTM
- Phân tích thực trạng hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta điều chỉnh mối quan hệ tín dụng NHTM ở nước ta từ năm 1986 đến nay
Trên cơ sở những phân tích về lý luận, thực tiễn có những đề xuất phương hướng, quan điểm và các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng các NHTM ở nước ta
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên nền tảng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nguyên lý
của kinh tế chính trị Mác - Lênin
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích so sánh và suy luận logic để tổng hợp các dữ liệu, sự kiện nhằm xác định kết quả phù hợp
- Phương pháp tổng hợp các phần nghiên cứu để đưa luận điểm khoa học
- Phương pháp thống kê mô tả
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về NHTM và hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng
Trang 14CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Quan điểm của một số tác giả về tư bản tài chính và ngân hàng
Theo V.I.Lê nin, sự tập trung sản xuất, cách tổ chức độc quyền sinh ra từ sự tập trung đó Sự hợp nhất hay sự hợp vào nhau giữa ngân hàng và công nghiệp đó là lịch sử phát sinh tài chính và là nội dung của khái niệm tư bản tài chính Như vậy tư bản tài chính là sự dung hợp, thâm nhập vào nhau giữa tư bản độc quyền ngân hàng
và tư bản độc quyền công nghiệp
Song song với tích tụ và tập trung trong sản xuất, còn có sự tích tụ và tập trung trong ngân hàng Khi sản xuất phát triển và mở rộng, các nhà tư bản công nghiệp có trong tay một số tư bản nhàn rỗi rất lớn nhờ thu từ quỹ khấu hao, quỹ lương của công nhân chưa đến hạn trả và khoản giá trị thặng dư tích lũy được Số tiền này nhà tư bản chưa sử dụng cho nên có nhu cầu có gởi vào ngân hàng để sinh lời Nhưng các ngân hàng nhỏ không còn đủ tiềm lực và uy tín để thu nhận khoản tiền lớn này, chỉ có ngân hàng mới mỗi đáp ứng nhu cầu này Ngoài ra, do qui mô sản xuất ngày càng lớn, các nhà tư bản công nghiệp không đủ vốn để mở rộng sản xuất, cho nên có nhu cầu vay tiền ở ngân hàng Với số tiền vay lớn như vậy ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực cho sự kinh doanh của các xí nghiệp công nghiệp nữa, chỉ có ngân hàng lớn mới có thể đáp ứng được Do đó trong ngành ngân hàng diễn ra tình trạng các ngân hàng nhỏ phải tự sát nhập vào các ngân hàng mạnh hơn hoặc phải chấm dứt sự tồn tại của mình trước sự cạnh tranh khốc liệt Từ đó , các tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời, trở thành những tổ chức độc quyền vạn năng, sử dụng được hầu hết tổng số tư bản tiền tệ của các nhà tư bản công nghiệp gởi vào Khi tổ chức độc quyền ngân hàng
ra đời nó có sức mạnh hết sức to lớn có thể can thiệp vào sản xuất để mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất, liên kết hàng ngàn, hàng vạn những doanh nghiệp tản mạn thành một đơn vị thống nhất mà ngân hàng là trung tâm thần kinh Từ đó một hình thức tập trung sản xuất kiểu mới ra đời, hình thức gắn kết các ngành công nghiệp đa dạng lại
Trang 15bằng chất keo tài chính, và cũng từ đó những tư bản riêng lẻ mới trở thành những tư bản tập thể Đây là quá trình cơ bản của sự chuyển biến chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa độc quyền tư bản Với qui mô lớn này ba những mối liên hệ chằng chịt, dày đặc thì tư bản tài chính biến những chức năng nghiệp vụ thuần túy thành chức năng điều tiết và khống chế nền sản xuất xã hội
Giữa các độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp có sự gắn bó quan
hệ chặt chẽ với nhau thể hiện 2 điểm sau:
Một là, khi tổ chức độc quyền ngân hàng đáp ứng cho tổ chức độc quyền công nghiệp vay tiền thì các nhà tư bản ngân hàng xuất vốn để mua một số cổ phần của xí nghiệp vay tiền, sau đó cử người đại diện tham gia vào hội đồng quản trị xí nghiệp nhằm kiểm soát và chi phối trực tiếp những xí nghiệp đó
Hai là, trước sự khống chế và chi phí ngày càng siết chặt của ngân hàng, thì một quá trình xâm nhập tương ứng của các xí nghiệp công nghiệp vào ngân hàng đồng thời cũng diễn ra Có nghĩa là tập đoàn độc quyền công nghiệp khi đã có vốn lớn gởi vào ngân hàng cũng tìm cách bỏ ra một số tư bản để mua một số cổ phiếu của các ngân hàng, sau đó cửa người đại diện tham gia vào Hội đồng quản trị của ngân hàng
để kiểm soát và chi phối hoạt động của ngân hàng.Quá trình xâm nhập vào nhau giữa ngân hàng và các xí nghiệp công nghiệp là một bước phát triển hơn nữa của các quá trình tích tụ và tập trung Sản xuất diễn ra dưới dạng động lực của lợi ích kinh tế , của việc đưa nhau chạy theo lợi nhuận độc quyền cao Chính sự quyện vào nhau, sự dung
hợp với nhau về logic đó đã nảy sinh một tư bản mới đó là tư bản tài chính
Do nắm cả tư bản sản xuất và tư bản tiền tệ, tư bản tài chính có thể thống trị được toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó xác lập được sự thống trị và chế độ độc quyền vững chắc hơn, bộc lộ đầy đủ bản chất hơn Tư bản tài chính ra đời làm cho tư bản sở hữu và tư bản chức năng tách rời cao độ, sự tách rời này là cơ sở cho việc ra đời mọi loại chứng khoán và mở rộng thị trường cho vậy Đây là bước phát triển và chín mùi hơn nữa của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Sự ra đời của tư bản tài chính đã biến một nhóm nhỏ những nhà tư bản tài chính có thế lực và sức mạnh nhất thành nhà trùm sỏ tài chính Là tư bản tài chính được nhân cách hóa, bọn trùm sỏ tài chính trực tiếp nắm và khống chế toàn bộ sự phát
Trang 16triển của nền kinh tế quốc dân Chúng chi phối bằng thông qua chế độ tham dự, tức là chúng bỏ một số tư bản ra để nắm lấy một số cổ phiếu đủ sức khống chế các công ty
cổ phần Ngày nay nó còn có chế độ ủy nhiệm, cho phép huy động vốn trong nhân dân Bọn trùm sỏ tài chính mặc dù không có lượng vốn lớn lắm nhưng chi phí vốn lớn
Các tác giả hiện đại rất xem trọng vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế Trong học thuyết của mình, J.M.Keynes đã đánh giá cao vai trò của công cụ chính sách tiền tệ và lãi suất đối với chính phủ Đồng thời trong thực tế, các chính phủ đều
đã có sự vận dụng công cụ và chính sách tiền tệ để tác động tới nền kinh tế Chính sách tiền tệ được thể hiện tập trung thông qua việc ngân hàng trung ương thay đổi mức cung tiền và tỷ lệ lãi suất, nhờ đó đã tác động vào lượng tiền mặt và lãi suất trên thị trường, đồng thời tác động tới tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế, nâng cao
“cầu có hiệu quả” nhằm chống khủng hoảng và suy thoái kinh tế
Còn theo P A Samuelson, chức năng chính của ngân hàng là cung cấp tài khoản thanh toán cho khách hàng Ngân hàng tiết kiệm cung cấp tài khoản tiết kiệm Các công ty bảo hiểm bán bảo hiểm Ngân hàng du lịch bán séc du lịch
Các NHTM, hội tiết kiệm và cho vay nhận tiền tiết kiệm hoạc tiền quỹ của một nhóm này và cho nhóm khác vay lại hình thành các tổ chức môi giới tài chính Những tổ chức này cung cấp cho những người gởi tiền nhiều sản phẩm tài chính như hình thức tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm, các chứng chỉ tiền gởi và cho các nhóm khách hàng khác vay những khoản tiền huy động được nói trên Các NHTM ngày nay có một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế nhờ chức năng tạo tiền Đó là sự mở rộng nhiều lần của tiền gởi ngân hàng thông qua việc cho vay ra
và tạo những khoản tiền gởi mới Chức năng này của NHTM sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau
1.1.2 Khái niệm Ngân hàng
Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính của nền kinh tế mà hoạt động
cốt lõi, mang bản chất ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thanh toán
Từ khi ra đời từ thế kỷ thứ 15 cho đến nay, thuật ngữ ngân hàng không cố định
mà có sự thay đổi theo thời gian và không gian Khi mới hình thành khái niệm ngân
Trang 17hàng dùng để chỉ các tổ chức chuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để cho vay Sự phát triển của nền kinh tế đã cho ra đời nhiều loại hình tổ chức khác nhau có phương thức kinh doanh tiền tệ đa dạng phong phú nên thuật ngữ “Ngân hàng” trở nên hạn hẹp, không bao trùm hết được, vì vậy xu hướng trên thế giới sử dụng thuật ngữ “ Tổ chức tài chính” có phạm vi rộng hơn, bao quát hơn
Tổ chức tài chính được hiểu là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là các tài sản tài chính, các hình thức trái quyền như cổ phiếu, trái phiếu các khoản vay…
Có thể khái quát về ngân hàng thông qua các điểm sau :
Thứ nhất : Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính của nền kinh tế (cần phân biệt các khái niệm định chế tài chính-trung gian tài chính) Tuy nhiên là loại trung gian tài chính quan trọng nhất ( so sánh về số lượng cũng như quy mô phát triển)
Thứ hai : Hoạt động cốt lõi, mang bản chất ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thanh toán Đây là hoạt động có tính truyền thống hình thành lâu đời, thể hiện đặc trưng riêng biệt của ngân hàng
Theo thời gian , hoạt động của các ngân hàng ngày càng mở rộng hơn so với các hoạt động cốt lõi mang tính truyền thống của nó trở thành loại hình ngân hàng đa năng, cung cấp những sản phẩm đa dạng, từ việc nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ thanh toán, cho vay thương mại, cho vay xuất nhập khẩu cho đến tài trợ các vụ mua bán, sát nhập công ty , tư vấn đầu tư giám hộ, mua bán kinh doanh chứng khoán (tự doanh), bảo hiểm
Luật về ngân hàng tại Việt nam không sử dụng thuật ngữ Tổ chức tài chính mà thay thế bằng thuật ngữ Tổ chức tín dụng Theo đó các loại hình tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Trong số đó ngân hàng là loại hình phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ đông đảo nhất Luật các TCTD (2010) quy định Ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm : ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã và cũng theo luật này thì : Ngân hàng thương mại
là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Trang 181.1.3 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện đại
Với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa rủi ro, ngân hàng thương mại
có những đặc trưng cơ bản sau đây :
Thứ nhất, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh có điều kiện
So với những hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực khác, có thể nói kinh doanh ngân hàng phải tuân thủ những điều kiện khắt khe về vốn pháp định, về bộ máy tổ chức hoạt động, về phạm vi các nghiệp vụ kinh doanh được phép, không được phép thực hiện…Có thể lý giải điều này là vì lĩnh vực tài chính tiền tệ là một lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế Ngân hàng được ví như hệ thần kinh của nền kinh tế, bởi bất kỳ một biến động nào của hệ thống ngân hàng cũng có ảnh hưởng theo hai chiều ngược lại đối với toàn bộ nền kinh tế Mặt khác hoạt động ngân hàng có tính lan truyền rất cao Vì vậy những quy định khắt khe trong kinh doanh ngân hàng là cần thiết nhằm tạo ra một môi trường lành mạnh, không chỉ có lợi cho từng tổ chức tín dụng/ ngân hàng mà còn cho sự ổn định chung của hệ thống và nền kinh tế
Những điều kiện cơ bản quy định trong kinh doanh ngân hàng gồm có :Quy định về
mức vốn pháp định khi thành lập ngân hàng; Quy định về các mức đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng; Quy định về phạm vi hoạt động được phép của ngân hàng
Thứ hai, đối tượng kinh doanh của ngân hàng là các tài sản tài chính
Thực chất kinh doanh ngân hàng là việc sản xuất, buôn bán, quản lý , lưu thông và sử dụng tiền cùng các tài sản tài chính
Tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hóa dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các giấy tờ có giá…Các loại tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể là những dữ liệu trong máy tính sổ sách
Cụ thể hơn, tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội dung vật chất của nó (giống như bất động sản gồm nhà cửa, đất đai) mà dựa vào các quan hệ trên thị trường, chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác
Thứ ba, Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất trung gian
Trang 19Tính chất trung gian (intermediaries) trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ việc ngân hàng làm trung gian giữa người gửi tiền (Depositor) và người vay tiền (Borrowers) Có thể phân tích tính chất này trên nhiều khía cạnh khác nhau cụ thể,
Đó là :
Trung gian về mệnh giá : ngân hàng là tổ chức tín dụng thu thập nhiều khoản tiền tiết kiệm nhỏ lẻ…của nhiều tầng lớp, chủ thể trong nền kinh tế , hình thành nên quỹ cho vay và có thể cung cấp những khoản tín dụng quy mô lớn cho các chủ thể như công ty, chính quyền…
Trung gian về kỳ hạn : quỹ cho vay của ngân hàng được hình thành từ những khoản tiền gửi có các loại kỳ hạn khác nhau, thậm chí không có kỳ hạn, đã được ngân hàng chuyển thành những khoản cho vay ra với các kỳ hạn khác nhau thỏa mãn nhu cầu người sử dụng, đặc biệt là những khoản vay trung dài hạn mà thời hạn có thể lên tới vài chục năm Điều này dĩ nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro ngân hàng.Tuy nhiên bằng nhiều kỹ thuật quản trị hiện đại, các ngân hàng có hóa giải được mâu thuẫn này để thực hiện vai trò trung gian kỳ hạn của mình Với tính chất này, ngân hàng đã hóa giải được mâu thuẫn tồn tại tất yếu từ hai phía khách hàng: người gửi tiền thì hầu hết muốn gửi tiền có kỳ hạn ngắn, trong khi người vay tiền thì muốn sử dụng trong thời gian dài
Trung gian lãi suất: Ngân hàng được xem là các tổ chức kinh doanh chênh lệch lãi suất Lãi suất ngân hàng trả cho người gửi tiền là lăi suất đầu vào còn lãi suất ngân hàng là lãi suất đầu ra.Những chi phí hoạt động ngân hàng bỏ ra, phí bù đắp cho rủi ro khi cho vay và lợi nhuận của ngân hàng nằm trong khoản chênh lệch giữa lãi suất ngân hàng thu được và lãi suất ngân hàng phải trả cho người gửi tiền
Trung gian thanh khoản: thanh khoản là yêu cầu của con người đối với hầu hết các loại tài sản đang nắm giữ.Tuy nhiên nhu cầu thanh khoản của mọi người lại không giống nhau Với người gửi tiền, có thể thỏa thuận gửi tiền theo kỳ hạn, nhưng có thể thay đổi theo thời gian bởi các biến cố không dự kiến được từ nền kinh tế, từ xã hội
họ vẫn muốn rút ra bất kỳ lúc nào, thậm chí chấp nhận chịu phạt hoặc không được hưởng lãi Người đi vay do đầu tư vào các dự án, phương án kinh doanh nên chỉ muốn
Trang 20hoàn trả khi dự án, phương án kinh doanh kết thúc và có lợi nhuận, thậm chí nhiều khi muốn tiếp tục xoay vòng vốn, trì hoãn việc trả nợ…
Ngoài các nội dung trên, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động trung gian thông tin, trung gian rủi ro…
Thứ tư, Hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường kinh
doanh
Hoạt động của các ngân hàng liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trong phạm
vi một nước mà liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế đối ngoại;
do vậy kinh doanh trong hệ thống ngân hàng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước như : hệ thống pháp luật, khả năng tài chính của các khách hàng… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó có công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Mặt khác , xu thế hội nhập quốc tế buộc các ngân hàng phải hiểu rơ về tập quán kinh doanh của các nước, thông lệ quốc tế, trong
đó các quy định của ủy ban Basel (Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng) là không thể thiếu được
Thứ năm, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh đặc biệt có rủi ro hệ
thống cao
Mặc dù ngân hàng cũng là một doanh nghiệp , mục đích sau cùng là hướng tới lợi nhuận, hoạt động của ngân hàng lại có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế , đặc biệt, hoạt động cấp tín dụng không chỉ đơn thuần vì túi tiền của riêng ngân hàng mà quan trọng hơn nó được xem là đòn bẩy phát triển kinh tế, chính vì thế chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của pháp luật
So với các ngành kinh doanh khác, kinh doanh ngân hàng có mức độ tập trung rất cao.Đặc trưng này thể hiện tất cả các quốc gia trên thế giới, không loại trừ Việt nam Mỗi một ngân hàng thường có một tổ chức rộng rãi với hội sở và mạng lưới nhiều chi nhánh lan tỏa khắp nơi Điều này vừa tạo thuận lợi vừa gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình quản trị mạng lưới hoạt động của mình sao cho hiệu quả nhất
Như mọi ngành dịch vụ khác, sản phẩm của ngân hàng là sản phẩm vô hình, khách hàng không thể cân đọng đo đếm mà chỉ “cảm nhận” được chất lượng của nó
Trang 21Vì vậy, sự thành công trong kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào long tin dân chúng Do tài chính, tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bới rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý truyền thống văn hóa … vì vậy , sự thay đổi dù nhỏ nhất của bất kỳ một nhân tố nào cũng đều ảnh hưởng rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung của ngân hàng, gây đổ
vỡ luôn chính ngân hàng này do tác động dây chuyền
1.1.4 Chức năng của NHTM trong thể chế kinh tế thị trường
1.1.4.1 Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngýời gửi tiền và ngýời đi vay
1.1.4.2 Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ
để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
1.1.4.3 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của m nh đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Trang 22Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn
1.1.5 Các nghiệp vụ tín dụng tại NHTM :
Tại các NHTM có nhiều nghiệp vụ ngân hàng, bao gồm :
Bảng 1.1 : Bảng cân đối kế toán (tóm lược) của một NHTM Tài sản Tài sản nợ và vốn
1.Dự trữ tiền 1 Tiền gửi khách hàng
Tiền mặt Tiền gửi giao dịch
Tiền gửi tại ngân hàng trung ương Tiền gửi phi giao dịch
Tiền gửi tại các TCTD 2 Vay thị trường tài chính
2 Cho vay khách hàng 3.Vốn chủ sở hữu
Trang 23Tuy nhiên xu hướng của các ngân hàng hiện đại là sẽ giảm dần tỷ trọng của khoản mục này, nhằm hạn chế những hậu quả xấu bởi các rủi ro tất yếu do tín dụng mang lại các yếu tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ này là: đặc điểm thị trường, nguồn vốn, qui định của Nhà nước về hoạt động tín dụng ngân hàng, vị thế cạnh tranh và lãi suất mà ngân hàng áp dụng
Ở đây cần dành ít thời gian để làm rõ khái niệm Tín dụng và Tín dụng ngân hàng Theo quan điểm kinh tế học chính trị Mác – Lê nin thì: Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, là hình thức vận động của vốn cho vay Tín dụng phản ánh quan
hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức Tín dụng trong tiếng Anh là Credit Theo nhiều cuốn Từ điển tiếng Việt thì hầu hết được giải thích là việc cho vay và mượn tiền Theo mục Tín dụng trang vi.wikipedia.org thì ”Tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất”.Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì ”Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một chi phí nhất định” và ”Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó
có thể là quan hệ cho vay của ngân hàng đối với hoặc quan hệ gởi tiền của khách hàng vào ngân hàng ”
Còn theo Luật các TCTD (2010) thì không có giải thích từ tín dụng mà chỉ giải thích cụm từ cấp tín dụng: ” Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc
có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Thông thường trong các giáo trình , các nhà soạn sách thường đồng nhât tín dụng với cho vay, còn các nghiệp
vụ chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng sẽ được trình bày ở các phần khác không thuộc phần tín dụng Như vậy từ nghĩa ban đầu là cho vay, đến nay nghĩa của từ tín dụng đã được mở rộng sang một số nghiệp vụ khác của Ngân hàng
Trang 24Tín dụng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, được thể hiện
trên các phưong diện:
Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời đầu tư phát triển kinh tế
Do quá trình tái sản xuất xã hội là thưòng xuyên và liên tục nên nhu cầu về vốn thường xuyên ở mức độ cao Trong khi đó lại có tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời trong một thời gian nhất định Bên cần vốn thì có thể vay được vốn với chi phí thấp và kịp thời để hoàn thành công việc của mình, bên có vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình không dùng tới khoản vốn đó Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cho mọi tầng lớp dân cư khi cần vốn
Thông qua tín dụng ngân hàng các nguồn vốn được tập trung và các nguồn vốn
đó được đưa vào quá trính sản xuất kinh doanh Điều này khiến đầu tư cho nền kinh tế được mở rộng góp phần thúc đẩy, kích thích tăng trưởng kinh tế
Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất
Tín dụng ngân hàng là hoạt động đi vay để cho vay, làm nhiệm vụ đưa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho ngân hàng đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
Trong quá trình đầu tư, tín dụng ngân hàng không chia đều cho mọi chủ thể có nhu cầu mà việc đầu tư được thực hiện một cách tập trung chủ yếu vào những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu vừa đảm bảo tránh rủi ro, vừa thúc đẩy được quá trình tăng trưởng kinh tế
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, tiền tệ, điều tiết trong lưu thông và kiểm soát lạm phát
Tín dụng ngân hàng sẽ làm cho hàng hóa , dịch vụ được tiêu thụ nhanh hơn, nhiều hơn Qua đó thúc đẩy luân chuyển hàng hóa , tiền tệ Việc điều hoà vốn tín dụng trong nền kinh tế không chỉ là giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà
Trang 25còn tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt và hạn chế việc
sử dụng tiền mặt, từ đó tiết kiệm được chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào việc điều hoà và ổn định lưu thông tiền tệ, đồng thời kiểm soát được lạm phát
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước đều gắn liền với thị trường thế giới Tín dụng ngân hàng được mở rộng sẽ kéo theo quan hệ đầu tư trong nền kinh tế tăng khiến cho các quan hệ thương mại khác cũng tăng theo Thông qua quá trình nhận và cho vay, tài trợ, xuất nhập khẩu của các nước cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh toán quốc tế Đồng thời tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển
và làm mối quan hệ giữa các nước trở nên tốt đẹp
- Tiền gởi
Đây là các khoản tiền của các tổ chức, của dân cư gửi vào ngân hàng với những mục tiêu an toàn, hưởng lãi, hoặc hưởng các tiện ích của dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Nguồn tiền gửi được xem là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng nhất là NHTM nên tính ổn định của nguồn tiền gửi có ý nghĩa hết sức quan trọng với các
NH
- Vay trên thị trường tài chính và liên ngân hàng
Đây là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng, thông qua các hoạt động như tái chiết khấu, vay qua đêm, với mục tiêu chủ yếu là tăng khả năng thanh toán cho các ngân hàng.Trên thực tế một số ngân hàng nhỏ do thiếu khả năng huy động nguồn tiền gửi có thể dung vốn vay để sử dụng vào hoạt động tín dụng Trong khi các ngân hàng qui mô lớn, có thương hiệu lâu đời dùng nguồn huy động của mình để cho vay lại các ngân hàng nhỏ Đây là một hạn chế trong hoạt động đi vay và cho vay của các ngân hàng cần được quản lý
Một số nghiệp vụ khác như bảo lãnh, chiết khấu
1.1.6 Hệ thống NHTM Việt Nam
Hệ thống NHTM Việt Nam được thành lập từ sau nghị định 53-HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày 26/3/1988, Trải qua hơn 35 năm hoạt động, các NHTM ngày
Trang 26càng trưởng thành và phát triển Hiện nay có các loại hình NHTM nhà nước , cổ phần , vốn nước ngoài và liên doanh Nhìn chung các NHTM của Việt Nam có hệ thống quản trị rủi ro còn chưa đáp ứng được yêu cầu thể hiện qua tình trạng nợ xấu trầm trọng hiện nay trong nền kinh tế Các NHTM chưa phát huy vai trò trung tâm thanh toán vì tình trạng thanh toán không dùng tiền mặt vẫn chưa phát triển Các NHTM chưa phát huy tốt vai trò điều phối, cung ứng vốn cho nền kinh tế thể hiện qua hiện tượng lúc thiếu vốn ( cách đây vài năm ) lúc thừa vốn ( hiện nay )
Theo trang vi.wikipedia.org ngày 15/3/2014 thì danh sách các NHTM Việt Nam ( Bao gồm cả các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, chi nhánh NH Liên doanh ) như tại Phụ lục 1
1.2 Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường
1.2.1 Khái niệm hành lang pháp lý :
Hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM là toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia vào mối quan hệ tín dụng của các NHTM
1.2.2 Khái niệm ,đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
1.2.2.1 Khái niệm
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự chặt chẽ , trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đây là hình thức pháp luật được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trên thế giới
1.2.2.2 Đặc điểm
Từ khái niệm này ta thấy văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau :
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định
Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước có thể ban hành hoặc phối hợp ban hành nhiều văn bản khác nhau, nhưng không phải văn bản nào cũng được xem là văn bản
Trang 27pháp quy mà chỉ có những văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành với những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, tên gọi, ngôn ngữ , thẩm quyền được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 mới được gọi là văn bản quy phạm pháp luật
- Nội dung của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung đối với mọi chủ thể pháp luật mà nó điều chỉnh
Các quy phạm pháp luật chứa trong các văn bản này có giá trị điều chỉnh chung đối với các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản đó, Điều này cũng có nghĩa
là văn bản quy phạm pháp luật không có giá trị áp dụng cá biệt cho một cá nhân , tổ chức nào cụ thể mà được áp dụng cho bất kỳ cá nhân tổ chức nào được pháp luật quy định
- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện trên thực tiễn : Pháp luật là do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật
tự và định hướng của Nhà nước.Vì thế , khi ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật , Nhà nước dùng các công cụ cưỡng chế của mình để đảm bảo cho các văn bản đó được thực hiện đúng như Nhà nước đã mong muốn khi ban hành
1.2.3 Một số vấn đề khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1.2.3.1 Thời gian hiệu lực
Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị thi hành của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định Hiệu lực này được xác định bằng từ ngày có hiệu lực đến ngày kết thúc hiệu lực của văn bản.Theo quy định tại điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành Trường hợp trong tình trạng khẩn cấp thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đưang ngay trên trang điện tử của cơ quan ban hành, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chậm nhất sau 2 ngày làm việc kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, văn bản quy phạm pháp luật không đăng
Trang 28Công báo thì không có hiệu lực thi hành trừ trương hợp văn bản thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp trong tình trạng khẩn cấp Theo quy định tại điều 51 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2004 thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày và phải được đăng trên công báo cấp tỉnh chậm nhất là 5 ngày; cấp huyện có hiệu lực sau 7 ngày và phải được niêm yết chậm nhất là 3 ngày; cấp xã có hiệu lực sau 5 ngày và phải được niêm yết chậm nhất là 2 ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn
Các trường hợp văn bản hết hiệu lực được quy định tại điều 81 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Về mặt nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có giá trị pháp lý từ thời điểm có hiệu lực trở đi đến tương lai theo đúng quy luật thời gian Tuy nhiên, v một số lư do nhất định, một văn bản có thể có giá trị tác động đối với những hành vi, những vụ việc xảy ra trước ngày văn bản đó có hiệu lực
Đó gọi là hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật hay gọi cách khác là hiệu lực hồi tố Điều này được quy định tại điều 79 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Còn theo điều 51 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 thì không quy định hiệu lực hồi tố đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi
có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.3.2 Phạm vi, đối tượng áp dụng
Văn bản chỉ có giá trị áp dụng trong phạm vi và đối tượng áp dụng của mình, đa
số tất cả văn bản đều có quy định về nội dung này tại phần đầu văn bản Do đó, trước khi áp dụng bất kỳ quy định nào trong văn bản, nên xem lại thật kỹ phần phạm vi và đối tượng áp dụng, để tránh được các rủi ro đáng tiếc Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi cả nước được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức mà văn bản đó quy định Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi
Trang 29nhất định đơn vị hành chính địa phương đó, áp dụng cho các cá nhân, tổ chức tham gia các quan hệ xã hội được văn bản đó điều chỉnh
1.2.3.3 Nguyên tắc lựa chọn áp dụng
Pháp luật Việt Nam còn chưa được hoàn thiện, nhiều nội dung chồng chéo lên nhau là thực tế mà không chuyên gia nào trong lĩnh vực pháp luật phủ nhận Do đó, đương nhiên có những trường hợp có nhiều văn bản cùng điều chỉnh một vấn đề, lúc
đó phải có sự cân nhắc phù hợp đề tìm ra luật áp dụng:
- Áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn
- Áp dụng văn bản mới hơn
- Trường hợp văn bản có giá trị pháp lý như nhau thì luật riêng ưu tiên hơn luật chung; luật nào sát với lĩnh vực của vấn đề th ưu tiên hơn các lĩnh vực khác
1.2.4 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay bao gồm các loại văn bản theo bảng 1.2 :
Trang 30Bảng 1.2 : Bảng liệt kê các loại văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam
1 Hiến pháp, luật, nghị quyết Quốc hội
2 Pháp lệnh, nghị quyết Uỷ ban thường vụ Quốc hội
3 Lệnh, quyết định Chủ tịch nước
4 Nghị định Chính phủ
5 Quyết định Thủ tướng Chính phủ
6 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
7 Thông tư Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
8 Thông tư Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
9 Quyết định Tổng Kiểm toán Nhà nước
10 Nghị quyết liên tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa
Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
11 Thông tư liên tịch Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ
12 Văn bản quy phạm pháp luật Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
( Nguồn : Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 )
1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của hành lang pháp lý trong sự phát triển của tín dụng NHTM
Tín dụng NHTM là mối quan hệ dựa trên sự chuyển giao tài sản, mục đích sử dụng tài sản, thế chấp, cầm cố, xử lý thu hồi nợ Với những văn bản pháp luật đầy
đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh,
Trang 31cạnh tranh trong lĩnh vực này Đây là cơ sở pháp lý để Ngân hàng xử lý các khiếu nại,
tố cáo khi có tranh chấp xảy ra Điều đó giúp Ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay Do đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đầy đủ , thống nhất, minh bạch để tín dụng NHTM có thể vận hành một cách thông suốt, mang lại lơi ích cho nền kinh
tế Do đó hành lang pháp lý cho tín dụng NHTM có vai trò rất quan trọng
- Là một trong những công cụ để cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế quản lý hoạt động tín dụng NH thương mại
NHTM cũng là một doanh nghiệp trong nền kinh tế Tín dụng NHTM cũng là một hoạt động kinh tế, chưa kể đó là một hoạt động kinh doanh rất quan trọng trong nền kinh tế Do đó, NHTM và hoạt động tín dụng NHTM phải được quản lý Cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ , tín dụng và ngân hàng ở nước ta là NHNN Việt Nam Vị thế của NHNN được xác bằng pháp luật và đến lượt nó, NHNN phải ban hành các văn bản pháp luật để hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra hoặc xử lý các NHTM trong lĩnh vực tín dụng NHTM
- Là công cụ điều chỉnh mối quan hệ tín dụng giữa NHTM và các khách hàng
Tín dụng NHTM là một hoạt động kinh doanh Mối quan hệ trong tín dụng này là giữa bên cho vay và bên vay Hành lang pháp lý sẽ quy định, tư cách pháp lý, điều kiện, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, cách xử lý khi có các trường hợp phát sinh xảy ra, các thủ tục khi tiến hành mối quan hệ Tín dụng còn là mối quan hệ lồng ghép mối quan hệ khác như bảo đảm tài sản, bảo lãnh nên càng phải có một hành lang pháp lý đầy đủ để điều chỉnh các mối quan hệ này Hơn nữa tiền của NHTM là tiền của công chúng nên các bên tham gia tín dụng NHTM phải tuân thủ các quy tắc xử sự nhất định để tránh thất thoát, lãng phí của cải của xã hội
- Là công cụ điều chỉnh mối quan hệ kinh tế, quan hệ tiêu dùng tạo nên nhu cầu cần
sử dụng vốn trong tín dụng giữa NHTM và các khách hàng
Việc cho vay là đưa tiền ra lưu thông nhằm thỏa mãn nhu cầu dùng tiền của bên vay vốn Các nhu cầu này phải là nhu cầu sử dụng vốn hợp pháp Nghe ra thật đơn giản nhưng muốn thực hiện được yêu cầu này cần phải có những văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để đối chiếu Đồng thời sau khi giải ngân xong một thời gian, các NHTM phải kiểm tra sử dụng vốn vay, khách hàng sẽ phải căn cứ các văn bản quy
Trang 32phạm pháp luật để thực hiện các hơp đồng kinh tế hoặc việc mua sắm và sẽ lưu lại các bằng chứng để chứng minh việc sử dụng vốn của mình là hợp pháp, đúng mục đích lúc đề nghị vay, các nhu cầu vay của mình không bị pháp luật cấm
- Là công cụ Nhà nước xây dựng chính sách tín dụng NHTM về cơ cấu tín dụng, ngành nghề cần khuyến khích đầu tư
Muốn thực hiện việc can thiệp vào thị trường hoặc định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế, nhà nước cần thiết phải khuyến khích xã hội đưa thêm vào hoặc rút bớt vốn ở một lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào đó Tín dụng NHTM là một kênh quan trọng để xã hội đầu tư vốn vào nền kinh tế Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật , Nhà nước có thể khuyến khích tín dụng đầu tư vào lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, có thể do ưu tiên tăng trưởng kinh tế, có thể do ưu tiên chăm lo đời sống nhân dân hoặc có thể do các ưu tiên ngắn hạn như chống lạm phát, chống tăng trưởng nóng, chống lại sự mất cân đối trong sự phát triển giữa các ngành nghề, giữa các vùng, các
khu vực kinh tế
1.3 Nhiệm vụ của Nhà nước và NHNN trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường
1.3.1 Nhiệm vụ của nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường
Thị trường có những khuyết tật và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, ví dụ như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường, v.v Để khắc phục các hiện tượng này , nhà nước phải tham gia quản
lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế.Với các tư cách đó, nhà nước thực hiện các nhiệm vụ :
1.3.1.1 Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển
Nhà nước phải đảm bảo sự ổn định về kinh tế chính trị và xã hội, xây dựng cơ sở
hạ tầng vật chất và cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
Đó là sự ổn định về kinh tế chính trị và xã hội, hệ thống luật pháp, hệ thống chính sách Đó còn là ổn định về tài chính, tiền tệ, thị trường, giá cả ít biến động, lạm phát thấp, cạnh tranh lành mạnh giảm thiểu mâu thuẫn xã hội, hạn chế thất nghiệp,đảm bảo đời sống nhân dân, tạo môi trường xã hội thuận lơi, tạo niềm tin của nhân
Trang 33dân.Nhà nước phải xây dựng hệ thống cơ quan hành chính công và hệ thống cơ quan
sự nghiệp dịch vụ công cộng (giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao); cung cấp và phát triển các dịch vụ công cộng Nhà nước phải bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Nhà nước tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng một số biện pháp cần thiết khi thị trường trong nước hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn Nhà nước phải bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia
Nhà nước định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch và
cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường Thông qua công tác qui hoạch, kế hoạch phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội Việc xây dựng luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm cho các chủ thể trong nền kinh tế
và sẽ là căn cứ xử lý những hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể kinh tế Hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện sẽ làm giảm thiểu những vụ phạm pháp và tranh chấp, tạo sự an tâm cho các chủ thể kinh tế Vì thị trường là luôn biến động nên pháp luật cũng phải được Nhà nước thường xuyên xây dựng,bổ sung và hoàn chỉnh cho phù hợp
Cơ chế nguyên tắc vận hành cơ bản của thể chế kinh tế thị trường là cạnh tranh tự
do Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh Cạnh tranh là một cuộc chơi Có người chơi, có sân chơi thì phải có luật chơi Do đó, Nhà nước có một nhiệm vụ là phải cung cấp một hành lang pháp lý đầy đủ rõ ràng cho sự vận hành của cơ chế cạnh tranh Cho dù xây dựng kinh tế thị trường theo mô hình nào trong lịch sử thì Nhà nước cũng phải thực hiện nhiệm vụ có tầm quan trọng bậc nhất làcung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường Trong đó có khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố sản xuất quan trọng nhất như lao động, vốn, đất đai, tài sản, khoa học công
Trang 34nghệ Với chức năng quản lý kinh tế , nhà nước còn dùng khun pháplý này như một công cụ để điều tiết thị trường , phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của của kinh tế thị trường.Việc xây dựng khung pháp lý cho thể chế kinh tế thị trường là một quá trình lâu dài Với các nước đã trải qua hàng trăm năm kinh tế thị trường thì luật pháp của họ cũng phải thường xuyên thay đổi với thực tiễn Ta sẽ thấy rõ điều này khi nghiên cứu về kinh nghiệm của nước Mỹ khi xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của tín dụng và đầu tư của các NHTM ở phần 4 sau đây Một hành lang pháp
lý cho kinh tế thị trường bao trùm mọi mặt của hoạt động kinh tế có thể khái quát trong các lĩnh vực sau :
- Xác định các chủ thể pháp lý, tạo cho họ các quyền ( năng lực pháp lý ) và hành động ( năng lực hành vi, khả năng kinh doanh mang tính thống nhất )
- Quy định các quyền về kinh tế ( quyền sở hữu,quyền sử dụng, quyền chuyển
định về mặt xã hội có Luật bảo hiểm xã hội
- Về Luật kinh tế đối ngoại
Nhà nước còn có vai trò hỗ trợ phát triển như xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, có chính sách khuyến khích sản xuất kinh doanh, phát triển văn hóa xã hội Cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội được đẩu tư xây dựng tốt thì kinh tế thị trường sẽ phát triển Nhiệm vụ của nhà nước là phải xây dựng ngày càng nhiều hạ tầng với chất lượng tốt để hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế thị trường Mặt khác, nhà nước phải đảm nhiệm các nhiệm vụ chung cho cả quốc gia như bảo vệ đất nước, ngoại giao, truyền thông, y tế, giáo dục, phát triển hệ thống đường giao thông
và mạng lưới phân phối điện ở nông thôn v.v… cho cả quốc gia Đó là các hàng hóa, dịch vụ công mà không thể giao cho bất kỳ một chủ thể nào khác
1.3.1.2 Phân phối lại thu nhập quốc dân
Trang 35Nền kinh tế thị trường chắc chắn dẫn đến mức độ phân hóa thu nhập và tiêu dùng cao không chấp nhận được Mức độ phân hóa thu nhập vừa là vấn đề do lịch sử để lại vừa là vấn đề phát triển mà quốc gia nào cũng vấp phải.Sự chênh lệch thu nhập quá mức giữa các tầng lớp dân cư tạo ra áp lực đòi hỏi nhà nước phải thực hiện sự phân phối lại thu nhập theo hướng lấy một phần thu nhập của người giàu trợ giúp cho người nghèo có lý do chính đáng Nhà nước phải làm cho nền kinh tế thị trường càng ngày càng mang tính xã hội, làm dịu các mâu thuẫn xã hội thông qua phân phối lại thu nhập quốc dân Do đó nhà nước có nhiệm vụ giúp đỡ những người nghèo trong xã hội
do thất nghiệp, bất hạnh, không may, tàn tật, neo đơn có điều kiện tham gia vào thị trường bằng nhiều giải pháp Theo hướng đó, hệ thống thuế của nhà nước là vô cùng quan trọng.Thuế thu nhập lũy tiến là một công cụ phân phối lại quan trọng được hầu hết các nước áp dụng Nhà nước cũng thường áp dụng hệ thống trợ cấp để hỗ trợ cho những người thu nhập thấp hoặc đầu tư vào hệ thống trường học công, bệnh viện công… cũng tạo cơ hội cho người nghèo có thể tiếp cận
1.3.1.3 Bảo vệ môi trường
Kinh tế thị trường có thể gây ra các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường do đó nhà nước phải có chính sách sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải;xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường;đầu tư bảo vệ môi trường , xây dựngvà phát triển ngành công nghiệp môi trường; hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ
và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển
Trong lý thuyết ”Điều chỉnh nền kinh tế của nhà nước” J.M.Keynes cho rằng nhà nước cần phải can thiệp sâu để điều tiết nền kinh tế Trong các biện pháp có sử dụng
hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ Ông cho rằng phải kích thích niềm tin, tính lạc quan của các nhà đầu tư , tăng thêm khối lượng tiền lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh Đổi lại, nhà nước phải chấp nhận lạm phát có mức độ Ông cũng khuyến khích việc chi tiêu của nhà nước kể cả bằng cách in tiền để bù đắp sự thiếu hụt ngân sách nhà nước , dùng công
cụ thuế để điều tiết kinh tế như giảm thuế cho sản xuất kinh doanh, tãng thuế thu nhập
Trang 36của người lao động để tập trung nguồn vốn cho ngân sách nhà nước để mở rộng đầu
về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày
23 tháng 9 năm 2008, Chính phủ Việt Nam mới có nghị quyết số 22/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện nghị quyết 21-NQ/TW
Theo Đinh Văn Ân ( 2006 ), ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trường hiện được
hiểu là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các
bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v Các yếu tố cấu thành của hệ thống thể chế đó bao gồm: các quy tắc, chuẩn mực về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường; bản thân các bên tham gia thị trường với tư cách là các chủ thể thị trường ; cách thức tổ chức thực hiện các quy tắc, chuẩn mực thị trường, nhằm đạt được mục tiêu, hay kết quả mà các bên tham gia thị trường
mong muốn; và hệ thống các thực thể thị trường vật chất, tức là bản thân các “thị
trường”- với tư cách là các địa điểm, là “sân chơi”, là các đầu mối giao dịch, nơi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên cơ sở cung cầu, quy định của “luật chơi”
Theo nhận thức từ nghị quyết 21-NQ/TW thì thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc trưng sau:
Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa
có sự điều tiết của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được tôn trọng, các mạch
Trang 37máu kinh tế và các ngành trọng yếu (khai mỏ, ngân hàng, quốc phòng ) được nhà nước quản lý Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp lý Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa
Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội nhập kinh
tế thành công
Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; công bằng
xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách phát triển
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế
Một đặc trưng quan trọng nói trên là sự điều tiết của nhà nước pháp quyền XHCN Nhà nước pháp quyền là khái niệm đã được nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đúc kết
Ở nước ta Nhà nước pháp quyền XHCN có những đặc trưng riêng như sự lãnh đạo của Đảng, sự tập trung thống nhất quyền lực có sự phân công giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp…
Hiện nay vẫn còn một số vấn đề về thể chế kinh tế ở nước ta đang tồn tại cũng cần nghiên cứu giải quyết như : Do nhà nước (thông qua các doanh nghiệp nhà nước) nắm quyền chi phối phần lớn tài nguyên của nền kinh tế bao gồm đất đai, khoáng sản, tín
Trang 38dụng, ưu đãi chính sách.v.v nên các chính sách chống tham nhũng, chống lãng phí.v.v nếu không chặt chẽ sẽ dẫn đến tiêu cực: cán bộ tham nhũng ngày càng tinh vi
và hệ thống phải gồng mình tập trung chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, thay vì tập trung toàn lực cho sản xuất Hay vấn đề quản lý kém hiệu quả các nguồn tài nguyên kinh tế và tham nhũng thất thoát cao trong hệ thống dẫn đến đầu tư công vào nền kinh tế đạt hiệu quả thấp Hay việc Nhà nước quản lý, điều tiết giá một số hàng hóa được cho là chiến lược như điện, nhiên liệu Nếu sự điều tiết này là tăng quá lớn thì làm đảo lộn tất cả các hoạch định, tính toán hiệu quả của các kế hoạch, dự án, thậm chí làm phá sản Nhưng nếu Nhà nước không điều tiết thì có doanh nghiệp sẽ bị
lỗ (như ngành điện chẳng hạn) và các thành phần kinh tế khác hưởng lợi…
Tóm lại, áp dụng thể chế kinh tế thị trường không làm giảm nhẹ sự quản lý của nhà nước.Vấn đề là phương thức quản lý của nhà nước như thế nào để vừa đảm bảo đầy đủ các quy luật khách quan của bản thân nền kinh tế thị trường vừa đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh Do đó bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển, Nhà nước còn phải làm thật tốt các nhiệm vụ phân phối lại thu nhập quốc dân theo hướng công bằng, dân chủ và làm tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường
1.3.2 Nhiệm vụ của NHNN trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM trong thể chế kinh tế thị trường
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về tiền tệ , hoạt động ngân hàng và ngoại hối Điểm 4 điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước (2010) cũng đã quy định : NHNN có nhiệm vụ ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tuyên truyền , phổ biến và kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
Điều này có nghĩa NHNN có vai trò là trung tâm tham mưu, phản biện cho các cơ quan có thẩm quyền là Quốc hội, Chính phủ, Tòa án , các Bộ ngành trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, không để xảy ra sự chồng chéo, mâu thuẫn gữa các văn bản pháp luật NHNN còn có vai trò là cầu nối giữa các NHTM , hiệp hội
Trang 39NH với các cơ quan có thẩm quyền để các cơ quan này nắm bắt t nh h nh thực tế về hoạt động ngân hàng.NHNN sẽ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thýờng vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chýõng trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Ngân hàng Nhà nước đã được phê duyệt; trình Thủ týớng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các vãn bản khác thuộc lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước quản lý hoặc theo phân công; ban hành thông tư, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng
Thực tiễn , NHNN Việt Nam cũng đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng nhiều văn bản hướng dẫn nghiệp vụ như quy chế cho vay, cho thuê tài chính, các nghiệp vụ huy động vốn, quy chế bảo lãnh ngân hàng…
1.4 Kinh nghiệm nước Mỹ và bài học cho Việt Nam trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Nước Mỹ là một nước có hệ thống NHTM phát triển bậc nhất trên thế giới Lịch
sử phát triển của NHTM Mỹ đã trải qua hàng trăm năm Ngân hàng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng phản ánh lưu chuyển tiền tệ của cuộc sống, do đó luôn nảy sinh các tình huống pháp lý đòi hỏi Quốc hội và Chính phủ Mỹ phải tạo lập một hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và thường xuyên được tu chính để có thể theo kịp cuộc sống năng động của kinh tế thị trường.Từ những năm 1930, các nhà lãnh đạo
Mỹ đã đưa ra các hoạt động điều tiết với mục đích thừa nhận vị trí đặc biệt mà ngân hàng nắm giữ
Thứ nhất, bảo hiểm tiền gửi của chính phủ nhằm bảo vệ người gửi tiền và giúp
duy trì ổn định hệ thống ngân hàng bằng cách giảm nguy cơ người gửi tiền ồ ạt rút tiền khỏi ngân hàng Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, rất nhiều người gửi tiền lo sợ ngân hàng nơi mình gửi tiền tiết kiệm đổ vỡ nên đã tìm cách rút tất cả tiền gửi vào cùng một lúc Nhiều ngân hàng, kể cả những ngân hàng hoạt động rất thận trọng, đã sụp đổ bởi vì họ không thể kịp chuyển tài sản của mình đủ nhanh ra tiền mặt để thỏa
Trang 40mãn ý định rút tiền của người gửi Bảo hiểm tiền gửi được xây dựng nhằm ngăn ngừa trường hợp đổ dồn tới ngân hàng như vậy Chính phủ tuyên bố bảo hiểm cho những khoản tiền gửi tới một mức nhất định - hiện nay là 100.000 USD Bây giờ, nếu ngân hàng gặp khó khăn về tài chính thì người gửi không có gì phải lo lắng Cơ quan bảo hiểm ngân hàng của chính phủ, còn gọi là Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang, sẽ thanh toán hết cho người gửi bằng quỹ bảo hiểm được hình thành từ tiền đóng bảo hiểm của chính các ngân hàng
Thứ hai, kinh nghiệm trong việc kiểm soát lãi suất : Sau chiến tranh, chính phủ chú trọng tới việc tăng cường quyền sở hữu nhà ở, do vậy đã góp phần tạo ra một lĩnh vực hoạt động ngân hàng mới - “tiết kiệm và cho vay” (S&L) - để tập trung vào các khoản vay thế chấp nhà cửa dài hạn, còn gọi là các khoản vay thế chấp Hoạt động tiết kiệm và cho vay đối mặt với một vấn đề cơ bản: các khoản vay thế chấp thường kéo dài 30 năm với lãi suất cố định, trong khi đó hầu hết các khoản tiền gửi có thời hạn ngắn hơn nhiều Khi lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn của các khoản vay thế chấp, hoạt động tiết kiệm và cho vay có thể sẽ bị lỗ Để bảo vệ các tổ chức tín dụng tiết kiệm và cho vay và ngân hàng tránh khỏi sự cố này, các nhà điều tiết quyết định kiểm soát lãi suất tiền gửi
Trong một khoảng thời gian, hệ thống này vận hành rất tốt Vào các thập kỷ 1960
và 1970, hầu hết người Mỹ sử dụng hình thức tài chính S&L để mua nhà ở Tỷ lệ lãi suất trả cho tiền gửi tại các tổ chức tín dụng S&L được giữ ở mức thấp, nhưng hàng triệu người Mỹ vẫn gửi tiền của mình vào đây bởi vì bảo hiểm tiền gửi đã làm cho các
tổ chức này trở thành một nơi đầu tư cực kỳ an toàn Tuy nhiên, đầu thập kỷ 1960, các mức tỷ lệ lãi suất chung bắt đầu tăng cùng với lạm phát Vào thập kỷ 1980, nhiều người gửi tìm cách nâng cao thu nhập bằng việc chuyển tiền tiết kiệm của mình vào những quỹ thị trường tiền tệ và những tài sản không thuộc ngân hàng khác Điều này
đã đặt ngân hàng và các quỹ tiết kiệm và cho vay vào tình trạng kiệt quệ về tài chính, không có khả năng thu hút các khoản tiền gửi mới để trang trải cho danh mục đầu tư lớn của mình với những món nợ dài hạn
Để giải quyết các vấn đề của họ, vào thập kỷ 1980 chính phủ bắt đầu rút bỏ dần trần lãi suất đối với tiền gửi ngân hàng và các tổ chức tín dụng S&L