1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRIẾT HỌC HIỆN SINH GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ VAI TRÒ CỦA TRÀO LƯU TRIẾT HỌC NÀY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC

25 22 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 431,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC  BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI TRIẾT HỌC HIỆN SINH GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ VAI TRÒ CỦA TRÀO LƯU TRIẾT HỌC NÀY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN TS TẠ THỊ VÂN HÀ NGƯỜI THỰC HIỆN DƯƠNG THỊ TUYẾN MÃ HỌC VIÊN 22AM0404015 LỚP HỌC PHẦN TRHO28AN2 Hà Nội, 62022 MỤC LỤC A Lời mở đầu 2 B Nội dung 3 1 Tiền đề thực tiễn và tiền đề lý luận ra đời Triết học Hiện sinh 3 2 Nội dung cơ bản của Triết học Hiện sinh tr.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS TẠ THỊ VÂN HÀ NGƯỜI THỰC HIỆN: DƯƠNG THỊ TUYẾN

MÃ HỌC VIÊN: 22AM0404015 LỚP HỌC PHẦN: TRHO28AN2

Hà Nội, 6/2022

Trang 2

MỤC LỤC

A Lời mở đầu 2

B Nội dung 3

1 Tiền đề thực tiễn và tiền đề lý luận ra đời Triết học Hiện sinh 3

2 Nội dung cơ bản của Triết học Hiện sinh trong trào lưu triết học Phương Tây hiện đại 7

3 Những giá trị và hạn chế và ảnh hưởng của triết học Hiện sinh đối với sự pháttriển của triết học 113.1 Những giá trị của Triết học Hiện sinh 113.2 Hạn chế của Triết học hiện sinh 153.3 Ảnh hưởng của trào lưu triết học Hiện sinh đối với sự phát triển của triết học 19

C Kết luận 20

D Tài liệu tham khảo 21

Trang 3

A Lời mở đầu

“Triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít ra đời từ khoảng cuốithế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tạo thành một giai đoạn mới trong tiến trìnhlịch sử triết học thế giới Cho đến nay, không thể phủ nhận những đóng góp

to lớn của nó vào kho tàng tri thức của nhân loại Là một trong những tràolưu triết học có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống văn hoá - xã hội phươngTây và nhiều nước khác trên thế giới trong thế kỷ XX Chủ nghĩa hiện sinhkhông chỉ được đề cập, bàn luận sôi nổi trong các công trình nghiên cứutriết học, trong các tác phẩm văn học nghệ thuật mà còn thâm nhập vào đờisống, tạo nên một lối sống khá được ưa chuộng ở nhiều nước phương Tâysau đại chiến thế giới lần thứ II.”

Do đó, nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít là cầnthiết, quan trọng nhằm phát triển trình độ tư duy lí luận và nâng cao nănglực nhận thức của con người, hơn thế nữa là chắt lọc những giá trị văn hoácủa nhân loại Triết học phương Tây ngoài mácxít phát triển rất đa dạng,phong phú và phức tạp với nhiều khuynh hướng chủ đạo Trong dòng chảycủa triết học phương Tây hiện đại ấy, chủ nghĩa hiện sinh là một trongnhững trào lưu triết học nhân bản phi lí tính, nổi trội, tiêu biểu, cần phảiđược nghiên cứu Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học rất phứctạp Quan điểm của những đại biểu triết học này thường có sự khác nhau rấtlớn Tuy nhiên, tất cả những người theo chủ nghĩa hiện sinh đều coi sự hiệnsinh của cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học của mình, đều coi sựhiện sinh của cá nhân là nội dung cơ bản của triết học là sự cảm thụ chủquan, sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi lý tính của cá nhân.”

“”Ở Việt Nam, trong nhiều thập kỷ trước đây, triết học phương Tâyhiện đại nói chung và chủ nghĩa hiện sinh nói riêng chưa thực sự được chúý và nghiên cứu đúng mức Trong các công trình nghiên cứu về các trào lưutriết học phương Tây, nhiều tác giả trước đây chỉ tập trung vào việc phê

Trang 4

phán những hạn chế, chưa thấy được những giá trị và đóng góp của các tràolưu triết học này cho lịch sử triết học cũng như lịch sử tư tưởng nhân loại.”

“Bàn về thực trạng nghiên cứu các tư tưởng ngoài mác xít, Nghịquyết 01 ngày 28/3/1992 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảngkhoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “trong nhiều năm qua nộidung đào tạo đội ngũ cán bộ lý luận hầu như chỉ bó hẹp trong các bộ mônkhoa học Mác – Lênin, chưa coi trọng việc nghiên cứu các trào lưu khác vàtiếp nhận các thành tựu khoa học của thế giới Hậu quả là số đông các cán

bộ lý luận thiếu hiểu biết rộng rãi về kho tàng tri thức của loài người, do đókhả năng bị hạn chế.” [Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII]

“Có thể khẳng định rằng triết học hiện sinh ra đời là sự phản ánh hiệnthực xã hội châu Âu nửa đầu thế kỷ XX Nội dung cốt lõi của chủ nghĩahiện sinh là con người Chủ nghĩa hiện sinh đã lấy con người làm trung tâmnghiên cứu và khẳng định sự tự do của con người là tất yếu khách quan.Các nhà hiện sinh cũng đề cập về thân phận con người trong mối quan hệvới tha nhân Nếu gạt bỏ đi những hạn chế nhất định thì chủ nghĩa hiện sinhvẫn có những giá trị nhất định như: Chủ nghĩa hiện sinh mang tính nhânvăn và thời sự cấp thiết, chủ nghĩa hiện sinh đã và đang có tác động nhấtđịnh đến đời sống con người trên thế giới.”

Đó là tất cả lý do, em chọn chủ đề “Triết học Hiện sinh – giá trị và hạn chế và vai trò của trào lưu triết học này đối với sự phát triển của triết học” làm đề tài tiểu luận.

B Nội dung

1 Tiền đề thực tiễn và tiền đề lý luận ra đời Triết học Hiện sinh

“Trước khi đi sâu phân tích những nhân tố quyết định sự ra đời vàphát triển triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh, chúng ta cần khẳngđịnh rằng, chủ nghĩa hiện sinh trước hết và trên hết là trào lưu tư tưởngphản ánh về những mặt tiêu cực xét trên phương diện nhân văn của xã hội

Trang 5

công nghiệp hiện đại như những hệ quả bắt nguồn từ văn hóa duy lý, lốisống duy lý.”

Theo tác giả Nguyễn Tiến Dũng đã cho rằng: “chủ nghĩa hiện sinhthể hiện là sự đối lập, sự phản kháng chống lại chủ nghĩa duy lý thái quádẫn tới hình thức hiện đại của “tha hóa”, của “nô lệ” - “tha hóa”, “nô lệ” vềtinh thần, về ý thức Đây là chủ đề chung của hàng loạt trào lưu tư tưởngtriết học phương Tây hiện đại (triết học cuộc sống, hiện tượng học, triết họcngôn ngữ ) bắt nguồn từ triết học Kierkegaard Cũng vì vậy, việc phân tíchcác điều kiện và tiền đề cho sự ra đời triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiệnsinh cần phải làm sáng tỏ cội nguồn dẫn tới “tha hóa tinh thần” của con

người phương Tây hiện đại, cũng như thực chất của tha hóa ấy” ”

“Trào lưu triết học chủ nghĩa hiện sinh là bắt nguồn trực tiếp từ mâuthuẫn của xã hội tư bản Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chạy theolợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hóa đến cùng cực, lấy

đi của họ vị trí làm người đích thực Chiến tranh thế giới tàn phá cùng vớinhững tệ nạn xã hội đã đẩy con người vào cuộc khủng hoảng sâu sắc trongđời sống tinh thần Mặt khác, việc các nước phương Tây quá coi trọng vaitrò của khoa học kĩ thuật đã khiến con người rơi vào tình trạng bị bỏ rơihoặc xem nhẹ mặt đời sống tinh thần Chủ nghĩa hiện sinh lấy đối tượngtrung tâm phản ánh là tồn tại xã hội của con người cá nhân, quan tâm tới sốphận của con người trong xã hội hiện đại Chính điều đó đã khiến nó nhanhchóng thu hút sự quan tâm của giới khoa học với những tên tuổi tác giả tiênphong trong chủ nghĩa hiện sinh như Heidegger, Xactơrơ, Giapxpơ,Macxen…

Như vậy,“cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phương thức sản xuất Tưbản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận, mọi cái bị cuốn đồng tiền tối đa Điềunày đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá cùng cực, lấy đi của họ cái vịtrí làm người đích thực Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủngkhiếp từ hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đẩy con người

Trang 6

vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần Xã hội lúc bấygiờ sùng bái tuyệt đối hoá vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật đã hạthấp, bỏ rơi con người hoặc chỉ quan tâm đến mặt vật chất mà xem nhẹ mặttâm hồn, đời sống tình cảm.”

“Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất định trong việc làmcho các nước phương Tây đạt được những thành tựu vượt bậc trong chinhphục tự nhiên bằng khoa học, công nghệ hiện đại Đồng thời khoa học kỹthuật cũng bắt con người phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về môitrường, xã hội, sinh thái, sức khoẻ Một xã hội phương Tây giàu có về vậtchất lại nghèo nàn về văn hoá, tinh thần, tăng trưởng nhanh về kinh tế lạisuy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn

có lý khi họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của khoahọc khi họ vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nền tảng củavăn minh phương Tây Nhưng họ đã mắc sai lầm khi chỉ thừa nhận vai tròcủa cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang phía chủ quan phi duylý.”

Do vậy, triết học hiện sinh đã đề cập nội dung trong triết học hiệnsinh đã thể hiện tư tưởng nổi loạn trong xã hội lúc bấy giờ, các tư tưởng lên

án chống lại, nhằm lên án xã hội và bảo vệ con người Với những điều kiệnthực tiễn của xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã dẫnđến sự ta đời của trào lưu triết học hiện sinh

Một số tác giả tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh

Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở: “Soren Kierkegaard SorenKierkegaard (1813 –1855) là triết gia, nhà thần học, nhà thơ, nhà phê bình

xã hội, và tác giả người Đan Mạch thế kỷ 19 Kierkegaard là nhà triết họcphê phán triết học Hegel trong thời đại ông Phần lớn nội dung các tácphẩm của Kierkegaard tập trung vào các vấn đề tôn giáo như bản chất củađức tin, định chế của giáo hội, đạo đức và thần học Cơ Đốc, tình cảm vàcảm xúc của mỗi cá nhân khi đối diện với những chọn lựa trong cuộc sống

Trang 7

Kierkegaard chọn lựa phương cách để độc giả tự khám phá thông điệp và ýnghĩa các tác phẩm của ông Do đó, nhiều người đã tìm cách giải thíchKierkegaard như là người có khuynh hướng hiện sinh, tân chính thống, hậuhiện đại, nhân bản, chủ nghĩa cá nhân… Vượt quá ranh giới của triết học,thần học, tâm lý học, và văn chương, Kierkegaard được nhìn nhận là mộtnhân vật quan trọng có nhiều ảnh hưởng trên ý thức hệ đương đại”.

Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở thông tin của nhà triết học:

“Friedrich Wilhelm Nietzsche Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844 – 1900)là một nhà triết học người Phổ Ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữvăn học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóađương thời, và triết học Các tác phẩm của Nietzsche nổi bật với phongcách viết của ông, thường mang tính ẩn dụ (aphorism) và nhiều nghịch lýhơn là mức độ thông thường của các bài luận triết học Nietzsche khôngđược đánh giá cao bởi những người đương thời trong suốt cuộc đời củaông, nhưng đầu thế kỉ 20, ông đã được giới trí thức ở Đức, Pháp và Anhcông nhận Ông bắt đầu bị mang tiếng xấu khi Đảng Quốc xã của Đức chọnông là một tiền bối, mặc dù Nietzsche có quan điểm chống chủ nghĩa bài

Do Thái và chủ nghĩa dân tộc Đức Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, triếtgia Walter Kaufmann bắt đầu một cố gắng bền bỉ nhằm khôi phục lại danhtiếng của Nietzsche trong các nước nói tiếng Anh, và vào nửa sau của thế kỉ

20 Nietzsche đã được xem là một nhân vật quan trọng có ảnh hưởng lớntrong triết học hiện đại.”

- Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở: “Martin HeidergerMartin Heiderger (1889 – 1976), là một triết gia Đức Ông chịu ảnh hưởngcủa triết học Brentano, sau khi nghiên cứu, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩacủa khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người Ông từng là họctrò và là trợ giảng cho Huxec, sau đó đã kế tục Huxec giảng dạy triết họctại đại học tổng hợp Freiburg Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: "Tồn tạivà thời gian" đây là tác phẩm đã đưa ông trở nên nổi tiếng được xuất bản

Trang 8

năm 1927, " Kant và vấn đề siêu hình học", "Nhập môn siêu hình học"(1935), " Học thuyết Platon về chân lý" (1942), "Bức thư về chủ nghĩa nhânđạo" (1947), "Những con đường rừng" (1950), Những bài thuyết trình vànhững bài viết (1952), "Tư duy là gì" (1954), "Nietzsche" (1961) ”

- Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở: “Albert Camus AlbertCamus là một nhà triết học hiện sinh, nhà báo, nhà văn, tác giả và đạo diễnkịch bản, người được giải thưởng Nobel về văn học năm 1957 A Camussinh ngày 7–11-1913 ở Mondavi, Angiêri, tốt nghiệp đại học năm 1935 vàcao học năm 1936 Tư tưởng hiện sinh của Camus chủ yếu được trình bàythông qua tư tưởng, hành động của những nhân vật trong tiểu thuyết hoặckịch bản Đặc điểm tư tưởng chủ yếu của Camus là chứng minh sự phi lý(absurdity) của sự hiện hữu của con người và kêu gọi sự nổi loạn (revolt) đểchống lại cái phi lý”

- Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở: “Paul Sartre Paul Sartre (1905 – 1980) là nhà triết học hiện sinh, nhà soạn kịch, nhà biênkịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người Pháp Ông là mộttrong những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của chủ nghĩa hiệnsinh, và một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nền triết họcPháp thế kỷ 20 và chủ nghĩa Marx Tác phẩm của ông cũng đã ảnh hưởngđến xã hội học, lý thuyết phê bình, lý thuyết hậu thuộc địa, phê bình vănhọc, và vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến các ngành này Sartre cũng có mốiquan hệ với nhà lý thuyết nữ quyền nổi tiếng là Simone de Beauvoir Satređược trao giải Nobel Văn học vào năm 1964 nhưng ông từ chối, ông nóirằng ông luôn từ chối những danh hiệu chính thức và "một nhà văn khôngnên cho phép mình trở thành người của một tổ chức"”

- Theo Wikipediar Bách khoa toàn thư mở: “Simone de BeauvoirSimone de Beauvoir (1908 - 1986) là một nhà văn, nhà triết học và một nhàđấu tranh cho nữ quyền người Pháp Bà viết các tiểu thuyết, chuyên đề vềtriết học, chính trị và các vấn đề xã hội, các bài luận, tiểu sự, tự truyện

Trang 9

Hiện nay bà được biết đến nhiều nhất với các tác phẩm tiểu thuyết trừutượng, bao gồm She Came to Stay và The Mandarins, tác phẩm viết năm

1949 Le Deuxième Sexe, một tác phẩm phân tích về sự áp bức phụ nữ vàđề tài bình đẳng giới Bà được trao Giải Jerusalem năm 1975 Năm 1978,bà được trao Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu”

2 Nội dung cơ bản của Triết học hiện sinh trong trào lưu triết học Phương Tây hiện đại

Một nội dung lớn trong trào lưu triết học hiện sinh đề cập đến đó là Triết học hiện sinh lấy con người làm trung tâm

“Con người độc đáo với hai mặt hữu thể (hữu thể người) và hiện hữu(hiện hữu của con người) Hai mặt này được xem như là vấn đề trung tâm,

cơ bản và là khởi nguyên của triết học hiện sinh.”

“Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, mọi cá nhân có một định mệnh độcđáo riêng, không ai giống ai do vậy, có bao nhiêu con người trên trái đất thì

có bấy nhiêu nhân vị Trên quan điểm hiện hữu có trước bản chất, các nhàhiện sinh còn chỉ ra rằng, hiện hữu thống nhất với bản chất, sự hiện hữu vàbản chất của con người là một, là đồng nhất với nhau Bản chất con ngườiluôn biểu hiện trong tính cụ thể, con người hiện sinh như thế nào thì cũngtạo thành bản chất như thế ấy và bản chất con người được thể hiện thôngqua sự hiện sinh của anh ta Tư tưởng này đã khẳng định vị thế của conngười, con người tồn tại như một nhân vị tự do, con người là một chủ thểsáng tạo con người không hành động theo những công thức rập khuôn sẵn

có mà là không ngừng hiện hữu, không ngừng tạo ra những sắc thái riêngcủa mình Trên quan điểm đó, chủ nghĩa hiện sinh đã chỉ ra rằng, sự tồn tạicủa con người có trước bản chất và chủ nghĩa hiện sinh là một triết họchành động, nhấn mạnh tính năng động, sáng tạo của con người.”

“Theo các nhà hiện sinh chủ nghĩa, con người không có một bản chấtvốn có nào cả, không có bản chất của con người nói chung Mỗi cá nhân trởthành cái gì là do ý thức của nó, do sự hiện sinh của nó, nghĩa là mỗi cá

Trang 10

nhân hiện sinh tự tạo ra cho mình một bản chất riêng Đây cũng là một luậnđiểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh có vai trò quyết định đối với quanniệm về tự do cá nhân.”

Quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh về sự tự do của con người

“Nhìn chung, các triết gia hiện sinh đều tự cho rằng, triết lý hiện sinhquan tâm đến thân phận con người và đề cao sự tự do của mọi cá nhân Cácnhà hiện sinh quả cho rằng, chỉ có triết học hiện sinh là thứ triết lý duy nhấtcoi trọng sự tự do đích thực của mọi cá nhân.”

“Tự do là một đặc tính của con người, tự do là cơ sở của cá tính và làđiều kiện của sự vươn tới Có tự do mới có cá tính, không có tự do conngười sẽ không có nhân cách mà chỉ là cái bóng của những lực lượng tựnhiên Các nhà hiện sinh cho rằng, con người vốn dĩ là một thực thể tự do

vì con người không phải như các đồ vật, không phải như thế giới cái nhiên.Trong thế giới cái nhiên, mọi đồ vật đều phải tuân theo những quy luật củathiên nhiên Con người là một thực thể có đời sống tinh thần, có ý thức màcác triết gia hiện sinh gọi là thức giác, trực giác.”

Vì vậy, một mặt họ thừa nhận con người cũng bị ràng buộc bởi nhiềumối liên hệ với thế giới khách quan, mặt khác nhờ có ý thức nên vẫn tự do.Bản chất của con người là tự do Tính người đích thực chủ yếu cũng là tự

do Nhưng khi đi vào cuộc sống ở đời là sống với, là quan hệ với ngườikhác, với thế giới nên họ bị người khác và thế giới lấy mất đi tự do củamình Họ cho rằng, con người mất tự do được xuất phát từ sự chi phối củathế giới đồ vật và của những quan hệ giữa người với người trong xã hội.Con người sống phụ thuộc vào thế giới đồ vật, vào cuộc sống của ngườikhác là con người sống không tự do, là sống đấy nhưng lại là không sống.”

Sartre nói “Sống ở đời là đi thăm hỏi đời mà không bị đời dính dáp,lôi cuốn” Sartre viết “Con người trước hết là một dự phóng sống hoàn toàntheo chủ quan, sống cho mình, để thay vì là một đám rêu xanh, một cái gìhôi thối, hoặc một chiếc bắp cải” Chỉ có tự do là cái mình muốn “Tự do

Trang 11

không có một mục đích nào khác, ngoài mục đích muốn tự thể hiện” Nhưvậy, Sartre cho rằng, con người có quyền được lựa chọn bất kỳ cái gì vàhành động theo những điều mình lựa chọn, đó chính là tự do.”

“Bên cạnh Sartre thì Beauvoir cũng là nhà triết học rất đề cao sự tự

do, thậm chí Beauvoir không muốn hy sinh một chút gì cho những quy ướccủa xã hội Beauvoir cho rằng, tự do chính là người phụ nữ tự giải phóngtheo vòng đời và sẽ trở thành những nhà tư tưởng lớn, tự do là tích cựctham gia các phong trào kháng chiến mà Sartre và Camus đã góp phần khởixướng Các nhà hiện sinh xem tự do ở đây là tự do vượt ra ngoài mọi conđường, mọi mẫu có sẵn Giới hạn của tự do, nếu có, lại nằm ngay trong sựtự do tức ngay trong chủ quan của tôi chứ nó không có một giới hạn nàongoài nó cả Sartre viết: Không có giới hạn nào do bên ngoài đặt ra ngănchặn sự tự do, nhưng giới hạn đó nằm ngay trong bản chất của sự tự do.”

“Quan niệm về tự do tuyệt đối trong chủ nghĩa hiện sinh thực sự làtrung tâm, là linh hồn của thứ triết lý này nên nó thực sự đóng vai trò nềntảng để xây dựng những thuyết đề khác trong chủ nghĩa hiện sinh Đó là sựtự do là sự tự do lựa chọn, chứ không phải là tự do không lựa chọn Quảthế, không lựa chọn là chọn việc không lựa chọn và đó là tính cách phi lýcủa sự tự do.”

“Tự do được bảo tồn trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nó biểu hiện ở khảnăng lựa chọn quan hệ của mình với thế giới, trong sự “liên hệ với”, “chungsống với” tha nhân, tôi muốn mình tự do thì phải tôn trọng sự tự do của kẻkhác, tự do của tôi”

Sartre viết: “Tôi phải đồng thời muốn sự tự do cho tôi và muốn sự tự

do cho kẻ khác Tôi không thể lấy sự tự do của tôi làm mục đích nếukhông lấy sự tự do của tha nhân làm mục đích Jaspers cho rằng, “tự do làtự quyết và tự chọn vì tự do là đặc tính của iện sinh, và cũng như hiện sinhtự do là cái chúng ta chỉ có thể chứng nghiệm và không có thể giải nghĩacho người chưa tự do”

Trang 12

“Các nhà hiện sinh đề cập đến trách nhiệm với xã hội, trách nhiệm xãhội gắn với tự do lựa chọn Trách nhiệm của con người là trách nhiệm đốivới tự do, nhưng tự do phải gắn liền với trách nhiệm đạo đức Mọi cá nhânphải có ý thức, trách nhiệm trước bản thân mình, trước người khác khi đưa

ra sự lựa chọn của mình chứ không phải chịu trách nhiệm trước một đốitượng nào đó như pháp luật, chuẩn mực xã hội, chuẩn mực đạo đức, Thếnào là tự do? Đó là người ta phải có ý chí tự gánh vác trách nhiệm đối vớibản thân Theo quan điểm của các nhà hiện sinh, mọi giá trị đạo đức khôngphải là cái có sẵn, tất yếu quy định, ràng buộc con người, mà tất cả mọi giátrị đều là kết quả của sự lựa chọn của mọi cá nhân, là sự sáng tạo nhờ tự docủa mọi người Sức sáng tạo ra các giá trị của con người là vô cùng, bởimọi cá nhân là một thế giới tâm hồn phong phú, đa dạng.”

Quan niệm của các nhà hiện sinh về thân phận con người trong mối quan hệ tha nhân

“Các nhà hiện sinh cho rằng, con người sống trong xã hội sẽ thuộc về

xã hội và chịu sự ràng buộc của xã hội Mối quan hệ giữa cá nhân và xãhội, theo cách lý giải của chủ nghĩa hiện sinh, chính là mối quan hệ giữa cánhân và tha nhân Có thể nói mối quan hệ cá nhân – tha nhân là một nộidung quan trọng của thuyết này Theo các nhà hiện sinh, triết học truyềnthống đã gạt vấn đề tha nhân sang một bên một cách kì lạ mà chỉ đặc biệtchú trọng đến tri thức luận, vũ trụ ngoại giới, bản ngã, hồn và xác, vật chấtvà tinh thần, Thượng đế, cán vấn đề tương quan giữa ta và người khác ítđược đặt ra (có chăng chỉ đến chủ nghĩa Mác).”

“Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh không phải là lần đầu tiên trong lịch

sử đặt ra vấn đề này mà chỉ là sự tiếp tục giải quyết vấn đề này Song triếthọc hiện sinh đã đưa vấn đề tha nhân lên hàng những vấn đề chính yếu Cácnhà hiện sinh nhấn mạnh, tha nhân là nguồn gốc của loài người và gắn chặtvới con người Vì tha nhân hiện hữu nên tôi phải sống với sự hiện hữu củahọ, nghĩa là chia sẻ những dự phóng, những cảm tính của họ Sự hiện hữu

Ngày đăng: 16/07/2022, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w