Bảng 3.1: Các thành phần trong công thức tính VAICBảng 3.2: Định nghĩa và cách lấy giá trị các biến Bảng 3.3: Tóm tắt kỳ vọng chiều tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Bảng
Trang 1HỒ PHAN KHÁNH LINH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
VÀ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP – BẰNG CHỨNG TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH
ĐANG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Doanh nghiệp
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ HẢI LÝ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2HỒ PHAN KHÁNH LINH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
VÀ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP – BẰNG CHỨNG TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH
ĐANG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và các kết quả trìnhbày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.Nếu phát hiện bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng.
TP.HCM, tháng 02 năm 2015
Tác giả luận văn
Hồ Phan Khánh Linh
Trang 4Bảng 3.1: Các thành phần trong công thức tính VAIC
Bảng 3.2: Định nghĩa và cách lấy giá trị các biến
Bảng 3.3: Tóm tắt kỳ vọng chiều tác động của các biến độc lập
đến biến phụ thuộc
Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu của 130 doanh nghiệp niêm yết trên 2 sàn chứng khoán
Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các cặp biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 4.3: Tóm tắt kết quả hồi quy của 4 mô hình
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định hiện tượng Phương sai thay đổi
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng Tự tương quan chuỗi
Bảng 4.6: Kiểm định Hausman Test – Biến phụ thuộc là VAIC
Bảng 4.7: Kiểm định Hausman Test – Biến phụ thuộc là Tobin’s Q
Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả hồi quy theo phương pháp GMM
Bảng 4.9: Kiểm định hiện tượng tự tương quan bậc 1 của mô hình
có biến phụ thuộc là VAIC
Bảng 4.10: Kiểm định hiện tượng tự tương quan bậc 1 của mô hình có biến phụ thuộc là
Trang 5phần thuộc sở hữu cá nhân của thành viên HĐQT độc lập và thành
2.3 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và
2.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm vai trò CEO
của Chủ tịch Hội đồng Quản trị và thành quả hoạt động của doanh
2.5 Lý thuyết đo lường năng lực của công ty dựa trên nguồn lực trí
3.2 Các phương pháp đo lường kết quả hoạt động hay năng lực của
3.3 Định nghĩa các biến và cách lấy giá trị các biến 14
Trang 6Tóm tắt
Nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc Hội đồng quản trị và thành quảhoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó, thành quả hoạt động củadoanh nghiệp được đại diện bởi đại lượng H iệu quả giá trị tăng thêm (V.AEffeciency) của các nguồn lực của doanh nghiệp, bao gồm nguồn lực về tri thức củacon người (intellectual resourse) và nguồn lực vật chất (physical resource) Đạilượng giá trị tăng thêm này được đo lường bằng phương pháp VAIC (Value AddedIntellectual Coefficient) được phát triển bởi nhà khoa học người Úc – Ante Pulicdựa trên lý thuyết về nguồn vốn trí tuệ (Intellectual Capital) Bên cạnh đó, do thước
đo VAIC còn khá mới mẻ, tác giả cũng sử dụng thêm chỉ số Tobin’s Q vốn được sửdụng khá nhiều trong các nghiên cứu cùng chủ đề để đại diện cho giá trị của doanhnghiệp Cấu trúc Hội đồng quản trị của các doanh nghiệp được nghiên cứu qua bốnbiến: tỷ lệ thành viên độc lập/tổng số thành viên của Hội đồng quản trị OUTDIR, sốthành viên Hội đồng Quản trị BRDSIZE, tỷ lệ sở hữu cổ phần của các thành viênINSOWN và sự kiêm nhiệm c ủa CEO với vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trịDUALITY Với mẫu là 130 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên hai sànHOSE và HNX, mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương thông thường nhỏnhất (OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên(REM) và mô hình moment tổng quát GMM, bài nghiên cứu đã chỉ ra: phương pháphồi quy FEM và REM cho thấy tại thị trường Việt Nam, quy mô của Hội đồng quảntrị hay tỷ lệ thành viên độc lập có tác động đến thành quả hoạt động của doanhnghiệp Các đặc điểm riêng của công ty như ROA, đòn cân nợ, quy mô vốn hóa củadoanh nghiệp đều có mức ý nghĩa cao Tuy nhiên, sau khi kiểm định tính vững của
mô hình và kiểm soát hiện tượng nội sinh bởi mô hìn h GMM, các nhân tố thuộc vềcấu trúc Hội đồng quản trị không còn ý nghĩa Nghĩa là thành quả hoạt động haynăng lực của một doanh nghiệp không chịu tác động của cấu trúc Hội đồng quản trị.Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của M Babajide Wintoki, James S.Linck, và Jeffry M Netter (2009) tại thị trường Mỹ Tuy nhiên, mô hình GMM chỉ
ra rằng thành quả hoạt động trong quá khứ, cụ thể là 1 năm trước có ảnh hưởng tớithành quả hoạt động trong năm hiện tại của một doanh nghiệp
Keywords: Intellectual Capital, Board Structure, Corporate Performance, Value
Trang 71 GIỚI THIỆU
Gần một thập kỷ qua, trên thế giới, có một vấn đề được rất nhiều nhà khoa học kinh
tế tập trung nghiên cứu, đó là vấn đề về tác động của cấu trúc của Hội đồng quản trịđến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp Mối quan tâm này được bắt đầubằng thực tế rằng: sau những sự kiện giảm giá cổ phần, thậm chí là sự sụp đổ củacác tập đoàn lớn như Enron, Worldcom, Global Crossing hay Lehman Brothers,giới phân tích cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng là các doanhnghiệp đã không coi trọng hoặc thiếu thận trọng trong việc đánh giá vai trò của Hộiđồng quản trị, để có thể đưa ra một cấu trúc Hội đồng quản trị tối ưu nhằm tối đahóa giá trị của doanh nghiệp
Liên quan đến vấn đề này, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhàkinh tế học trên khắp thế giới, nghiên cứu tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khácnhau Các nghiên cứu nổi tiếng về đề tài này phải kể đến là các nghiên cứu củaEinsenberg et al (1998), Bhagat and Black (2002), Yermack (1996), Coles etal.(2001), Abdullah và S.N (2004), Dehaena at al (2001), Chen et al (2005)…
Trong khi các biến đại diện cho cấu trúc Hội đồng quản trị khá phổ biến như sốlượng thành viên HĐ QT, số lượng thành viên đ ộc lập, tỷ lệ nắm giữ cổ phần củacác thành viên trong HĐQT, sự kiêm nhiệm vị trí CEO của thành viên HĐQT….thìbiến thành quả hoạt động lại được đo lường bằng nhiều thước đo khá phong phú
Để đo lường thành quả hoạt động của công ty, các nghiên cứu thường lấy các chỉ sốROA, ROS, Tobin’s Q để làm nhân tố đại diện Một số nghiên c ứu còn lấy các chỉ
số như MVA (Market Value Added), EVA (E conomic Value Added), mức tăngtrưởng của dòng tiền, lợi nhuận trên một cổ phiếu (EPS), thậm chí là mức độ hàilòng của khách hàng làm chỉ số thể hiện thành quả hoạt động của doanh nghiệp Cóthể nói không có thước đo chuẩn cho việc lấy chỉ số nào để thể hiện chính xác giátrị hay thành quả hoạt động của công ty Tuy nhiên, việc đưa ra một thước đo để cóthể đánh giá một cách toàn diện và thực tế hơn về thành quả hoạt động cũng như
Trang 8tiềm lực của một doanh nghiệp cần phải được xem xét dựa trên các nguồn lực cả vềvật chất/tài sản hữu hình và nguồn lực con người.
Năm 1998, Ante Pulic – nhà Kinh tế học người Úc đã đề xuất một thư ớc đo về giátrị của doanh nghiệp, dựa trên Hiệu ứng Giá trị tăng thêm (Value Added Efficiency)của doanh nghiệp khi tính toán về nguồn lực vật chất hay là tài sản của doanhnghiệp và cả nguồn lực trí tuệ con người Thước đo này được đặt tên là VAIC(Value Added Intellectual Coefficient) Năm 2009, cũng dựa trên lý thuyết về giá trịtăng thêm khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc HĐQT và giá trị doanhnghiệp, các nhà nghiên cứu đến từ Malaisia là Abidin, Kamal và Jusoff (2009) đãtìm thấy những bằng chứng khá thuyết phục chứng minh các nhân tố thuộc đặcđiểm cấu trúc của Hội đồng quản trị có quan hệ với thành quả hoạt động của cácdoanh nghiệp tại thị trường Malaisia Đặc biệt hơn, các bằng chứng này ủng hộ cácchính sách của các nhà quản lý
Ứng dụng thước đo mới mẻ trên, bài nghiên cứu thực hiện khảo sát theo dữ liệubảng đối với 130 công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sốliệu được thu thập trong 6 năm, từ 2008 đến 2013 Với các phương pháp hồi quybình phương nhỏ nhất OLS, mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởngngẫu nhiên (REM) và phương pháp moments tổng quát (GMM), nghiên cứu đã chỉ
ra các vấn đề sau: (i) Không tìm thấy mối quan hệ nào giữa cấu trúc của Hội đồngquản trị và thành quả hoạt động của doanh nghiệp (ii) Thành quả hoạt động trongquá khứ của công ty (1 năm về trước) có tác động thuận chiều với thành quả hoạtđộng trong năm hiện tại của doanh nghiệp
Các phần còn lại của bài nghiên cứu bao gồm các phần sau: Chương 2 – Cơ sở lýluận Phần này trình bày các khung lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đâyliên quan đến chỉ số VAIC, Tobin’s Q, mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc củaHội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công ty; Phần 3 – Mô tả dữ liệu vàphương pháp nghiên cứu; Phần 4 – Mô tả kết quả nghiên cứu; Phần 5 – Kết luận
Trang 92 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TRƯỚC ĐÂY
2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị
độc lập và thành quả hoạt động của doanh nghiệp:
Lý thuyết chi phí đại diện được đề xuất bởi Jensen và Mackling (1976) và sau đó làFama và Jensen (1983), Shleifer và Vishny (1997) cho rằng: các doanh nghiệp có tỷ
lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập cao sẽ có thành quả hoạt động tốt hơn cácdoanh nghiệp có tỷ lệ này thấp, vì số l ượng thà nh viên Hội đồng quản trị độc lậpcao sẽ giúp hạn chế được mâu thuẫn giữa cổ đông và các nhà quản trị, và do đó giántiếp hỗ trợ việc quản trị trở nên hiệu quả hơn Các nghiên cứu thực nghiệm trướcđây đã đưa ra các bằng chứng khác nhau về việc hỗ trợ hoặc phản bác đề xuất này.Chẳng hạn như nghiên cứu của Weisbach (1988) đã cho thấy mối quan hệ thuậnchiều giữa tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập và thành quả hoạt động củadoanh nghiệp Lập luận của Weisbach là: các thành viên độc lập càng giữ vai tròquan trọng trong việc điều hành trong công ty thì sẽ càng giúp nâng cao thành quảhoạt động của công ty đó Tương tự, Roseinsten và Wyatt (1990) cũng tranh luậnrằng: càng có nhiều thành viên quản trị độc lập thì càng làm gia tăng giá trị cho cổđông Bên cạnh đó, một hội đồng quản trị có tỷ lệ thành viên độc lập cao thì sẽ càngquyết đoán trong việc sa thải các CEOs có hiệu quả làm việc thấp Nghiên cứu củaBaysinger và Butler (1985) cũng ủng hộ quan điểm này Ngoài ra, nghiên cứu củaDehaene và các cộng sự (2001) tại thị trường Bỉ cung cấp các bằng chứng về việc tỷ
lệ thành viên độc lập cao sẽ giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp
Ngược lại với các nghiên cứu trên, Agrawal và Knoeber (1996) lại cho thấy mốiquan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ thành viên độc lập với năng lực của doanh nghiệp
Họ lập luận rằng: đôi khi, việc thêm các thành viên độc lập vào hội đồng quản trị làbởi các lý do liên quan đến chính trị nhiều hơn là vì lợi ích kinh tế của cổ đông Cácthành viên này thường ít có kinh nghiệm trong việc điều hành quản trị, và do vậytạo ra ảnh hưởng tiêu cực lên thành quả hoạt động của công ty Erickson và cáccộng sự (2005) cũng cho rằng: các doanh nghiệp có thành quả hoạt động yếu
Trang 10thường sẽ lấy tỷ lệ thành viên độc lập cao làm công cụ để an ủi những c ổ đôngkhông hài lòng về kết quả của doanh nghiệp Nghiên cứu của Bhagat và Black(1999) thêm một lần nữa đưa ra nhận định về mối quan hệ nghịch chiều của 2 đạilượng này.
Ngoài ra, cũng có một nhóm các nghiên cứu không tìm thấy tác động nào của tỷ lệthành viên độc lập lên thành quả của doanh nghiệp Tiêu biểu đó là nghiên cứu củaHermalin và Weisbach (1991), nghiên cứu của Bhagat và Black (1999) và nghiêncứu của M Babajide Wintoki, James S Linck, và Jeffry M Netter (2009) tại thịtrường Mỹ
2.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ của tỷ lệ nắm giữ cổ phần thuộc sở hữu cá nhân của thành viên Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của doanh nghiệp:
Nằm trong khuôn khổ công trình nghiên cứu về chi phí đại diện, Jensen vàMeckling (1976) cho rằng tỷ lệ sở hữu của các thành viên trong HĐQT có tỷ lệthuận với thành quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, trái ngược với quanđiểm này, nghiên cứu của Morck và các cộng sự (1988) cung cấp bằng chứng chứngminh việc các nhà quản trị nắm giữ cổ phần cao sẽ làm giảm kết quả hoạt động tàichính của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, một số nghiên cứu không tìm ra tác độngcủa tỷ lệ sở hữu của thành viên Hội đồng quản trị lên giá trị của doanh nghiệp, điểnhình như nghiên cứu của M Babajide Wintoki, James S Linck, và Jeffry M Netter(2009) hay nghiên cứu của Zubaidad Zainal Abidin, M Babajide Wintoki, James S.Linck, và Jeffry M Netter (2009) tại thị trường Mỹ
2.3 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công ty:
Theo Pearce II và Zahra (1992) và Dalton và các cộng sự (1999) thì yếu tố quy môcủa Hội đồng quản trị là yếu tố rất quan trọng quyết định hiệu quả điều hành quảntrị của một công ty Họ lập luận rằng: một mặt, một Hội đồng quản trị có quy môlớn có thể nâng cao năng lực điều hành quản trị, nhưng mặt khác, sự gia tăng chiphí do mức giao tiếp ít và khả năng đưa ra quyết định liên quan tới số đông sẽ bị
Trang 11hạn chế sẽ phần nào làm giảm lợi ích từ ưu thế quy mô lớn Theo đó, Lipton vàLorsch (1992) cho rằng: một Hội đồng quản trị quy mô lớn có thể sẽ phải đối diệnvới vấn đề về mức độ hợp tác, đoàn kết kém do “chín người mười ý” Họ đề xuấtcon số hoàn hảo cho một Hội đồng quản trị là từ 9 -10 người, con số tối đa là 10người trong một Hội đồng quản trị.
Yermack (1996) tìm thấy bằng chứng rằng: các doanh nghiệp có ít thành viên Hộiđồng quản trị thường có giá trị vốn hóa thị trường cao hơn các doanh nghiệp cónhiều Thành viên Hội đồng quản trị Ông cũng nhận thấy rằng: trước và sau nhữngngày mà doanh nghiệp công bố giảm số lượng th ành viên Hội đồng quản trị xuốngthì suất sinh lợi bất thường của doanh nghiệp trở nên cao hơn Tương tự, Eisenberg
và các cộng sự (1998) ghi nhận mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô của Hộiđồng quản trị với thành quả hoạt động của doanh nghiệp tại thị t rường Phần Lan.Ngược lại với các nghiên cứu trên, một nhóm các nghiên cứu thực tế lại đưa ra nhậnđịnh về mối quan hệ thuận chiều giữa Quy mô Hội đồng quản trị và thành quả củacông ty Điển hình, đó là nghiên cứu của Dalton và các cộng sự (1999), Yameesri
và Herath (2010), Kiel và Nicholson (2003), Jackling và John (2009), Abidin,Kamal và Jusoff (2009), Mohammad Badrun Muttakin, Arifur Khan, NavaSubramaniam (2012)
Gần đây, nghiên cứu của M Babajide Wintoki, James S Linck, và Jeffry M Netter(2009) tại thị trường Mỹ lại kết luận rằng: không tìm thấy mối quan hệ nào giữa Sốlượng thành viên hội đồng quản trị và Thành quả hoạt động của công ty
2.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm vai trò CEO của Chủ tịch Hội đồng Quản trị và thành quả hoạt động của doanh nghiệp
Theo lý thuyết chi phí đại diện, một người không nên cùng một lúc nắm giữ cả 2 vịtrí là CEO và Chủ tịch Hội đồng quản trị, bởi vì điều này sẽ làm giảm hiệu quả quảntrị của Hội đồng quản trị, và tạo ra mâu thuẫn giữa ban điều hành v à Hội đồng quảntrị Theo Finkelstien và D’Aveni (1994), mâu thuẫn này nếu phát sinh sẽ dễ dẫncông ty tới một kết quả hoạt động không hiệu quả
Trang 12Kang và Zardkoohi (2005) lập luận rằng: việc kiêm nhiệm vai trò CEO của Chủ tịchHội đồng quản trị sẽ làm giảm thành quả hoạt động của công ty vì sự bảo thủ củaCEO và sự giảm sút trong mức độ độc lập của Hội đồng quản trị Thêm vào đó, việckiêm nhiệm này sẽ mang tới cho CEO quyền được thương lượng với Hội đồng quảntrị, sẽ tạo cơ hội cho CEO được bảo vệ quyền lợ i cá nhân của mình, đây là vấn đềliên quan đến chi phí đại diện Các nghiên cứu cung cấp bằng chứng ủng hộ quanđiểm này là nghiên cứu của Brickley và các cộng sự (1997), Goyal và Park (2002)
và Yermack (1996) Fosberg và Nelson (1999) cũng phát hiện ra rằng: các doanhnghiệp tách bạch 2 vai trò này sẽ có một kết quả kinh doanh khá tiến triển
Trái ngược với trường phái ủng hộ lý thuyết chi phí cơ hội, trường phái ủng hộ lýthuyết nguồn lực phụ thuộc (resource dependency theory) lại tranh luận rằng: sựkiêm nhiệm chức danh CEO có thể làm tăng thành quả hoạt động của doanh nghiệp,bởi vì điều này làm tăng sự tự do trong q uá trình ra quyết định của CEO (Hambrick
và Finklenstien, 1987) Pfeffer và Salancik (1978) cho rằng: việc kiêm nhiệm chứcdanh CEO làm cho việc phản ứng với các sự kiện bên ngoài trở nên nhanh hơn,đồng thời làm tăng tốc độ ra quyết định của CEO, góp phần làm tăng hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp Thêm vào đó, Boyd (1995) tranh luận rằng: việc kiêmnhiệm chức danh CEO và Chủ tịch Hội đồng Quản trị tạo điều kiện thuận lợi hơnrất nhiều cho CEO, đặc biệt là ở các môi trường phức tạp, mang tính cạnh tranhkhốc liệt
Các nghiên cứu của Pearce và Zahra (1991), Daily và Dalton (1992), Boyd (1995)đều đã tìm thấy các bằng chứng cho thấy tác động theo tỷ lệ thuận của việc kiêmnhiệm chức danh CEO lên thành quả hoạt động của các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, có các nghiên cứu về mối quan hệ này nhưng lại không tìm ra cácbằng chứng có ý nghĩa, tiêu biểu là nghiên cứu của Rechner và Dalton (1989), M.Babajide Wintoki, James S Linck, và Jeffry M Netter (2009)
2.5 Lý thuyết đo lường năng lực của công ty dựa trên nguồn lực trí tuệ con
người (Intellectual Capital):
Trang 13Nguồn lực về trí thức được hiểu một cách đơn giản nhất là tất cả các nguồn lựcngoài các tài sản hữu hình, nhưng không phải chỉ là số liệu về tài sản vô hình đượcphản ánh trên bảng cân đối kế toán Đã có rất nhiều định nghĩa cho khái niệm nàyđược đưa ra nhưng định nghĩa của Itami (1991) được các nhà nghiên cứu sử dụngrộng rãi nhất Itami định n ghĩa khái niệm nguồn lực trí tuệ là các tài sản vô hình củacông ty bao gồm công nghệ, thương hiệu, danh tiếng, thông tin khách hàng và vănhóa doanh nghiệp Trong nghiên cứu của Roos and Roos (1997), các tác giả đã địnhnghĩa nguồn lực trí tuệ con người ( intellectual capital) là “tổng của các tài sản bị
“ẩn” và không được phản ánh đầy đủ trên bảng cân đối kế toán” Hiểu một cách đơngiản nhất thì nó là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, trí tuệ của tất cả các thành viêntrong một tổ chức, một doanh nghiệp, và là những gì sẽ ở lại với doanh nghiệp khi
họ ra đi Các tác giả cho rằng đây là nguồn lực quan trọng nhất vì mang tính cạnhtranh nhất đối với một tổ chức so với các tổ chức khác Nguồn lực này được xemxét trên 2 khía cạnh: (i) khía cạnh về con người (Human Capital) và khía cạnh về kỹnăng tổ chức/cấu trúc công ty (Structural Capital) Khái niệm human capital thiên
về các hiểu biết, kỹ năng, nhiệt huyết, năng lực của nhân viên trong công ty nhằmmang lại những giải pháp tối ưu cho khách hàng Trong khi đó, khái niệm Structuralcapital thiên về kỹ năng tổ chức, điều hành bộ máy hoạt động để đáp ứng tốt nhấtcác yêu cầu của thị trường Cooper (2000) cho rằng: nguồn lực trí tuệ con ngườichính là thứ chất liệu mang trí tuệ nhằm tạo ra những giá trị tăng thêm cho tài sảncủa công ty Chính vì vậy, giá trị tăng thêm của doanh nghiệp là giá trị của các tàisản mà doanh nghiệp đã tạo ra bằng cách ứng dụng các nguồn lực sản xuất cốt lõicủa mình, trong đó có nguồn lực con người Barsky và Marchant (2000) thì chorằng việc đánh giá các doanh nghiệp chỉ dựa trên các chỉ số suất sinh lời hay EPS đểbáo cáo với nhà đầu tư hay để quản trị doanh nghiệp là một thiếu sót, bởi vì các chỉ
số này chỉ phản ánh được một phần hoạt động của doanh nghiệp Các chỉ số đókhông nói lên được giá trị của các tài sản có hàm lượng chất xám rất lớn của conngười Không đo lường được nguồn vốn về trí tuệ con người, nhiều công ty đãkhông quản lý được các giá trị trí tuệ trong các tài sản của mình, hoặc tệ hơn nữa là
Trang 14phá hủy chúng vì các nhà quản lý đã không nhận biết được chúng Ho và Williams(2003) trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc Hội đồng quản trị vàthành quả hoạt động của doanh nghiệp tại các thị trường Anh Quốc, Thụy Điển,Nam Phi đã sử dụng đại lượng hiệu quả Giá trị t ăng thêm (Value Added Efficiency)đại diện cho biến thành quả hoạt động của các công ty, để phản ánh nguồn lực trítuệ Thước do này được tính toán dựa trên phương pháp VAIC (Value AddedIntellectual Coefficient) phát triển bởi Ante Pulic năm 1998.
3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu:
Luận văn của tác giả chủ yếu tham khảo mô hình gốc trong nghiên cứu “Cấu trúc
Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của doanh nghiệp tại Malaysia”
đăng trên tạp chí International Journal of Economics and Fi nance tháng 2/2009 củacác tác giả Abidin, Kamal và Jusoff (2009) Theo đó, mối quan hệ giữa Cấu trúcHội đồng Quản trị và thành quả hoạt động của các doanh nghiệp được thực khảo sátthông qua phương trình sau:
VAIC = β 0 + β 1 OUTDIR it + β 2 INSOWN it + β 3 DUALITY it + β 4 BRDSIZE it +
β 5 ROA it + β 6 LEV + β 7 DIV it + β 8 RD it + β 9 FRMSIZE it + ε i (1)
Trong đó:
ß0là Hệ số chặn
ß1-9 là hệ số hồi quy của các biến độc lập
εilà sai số ngẫu nhiên
Bên cạnh đó, do thước đo thành quả hoạt động VAIC còn khá mới mẻ, nên n goàiVAIC, tác giả còn khảo sát mô hình trên bằng một thước đo phổ biến hơn rất nhiềutrong các nghiên cứu cùng đề tài trước đây, đó là Tobin’s Q
Trang 153.2 Các phương pháp đo lường thành quả hoạt động hay năng lực của một
doanh nghiệp:
Phương pháp đo lường dựa trên các chỉ số cơ bản:
Theo các phương pháp truyền thống, thành quả hoạt động hay năng lực của mộtdoanh nghiệp thường được đo lường dựa trên các cách tiếp cận và các chỉ số cơ bản
cụ thể sau:
- Trên phương diện kế toán - tài chính, các nhà kinh tế học lấy các chỉ số tínhtoán dựa trên số liệu kế toán và việc lập kế hoạch tài chính của công ty để làmthước đo về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Các chỉ số này bao gồm:các chỉ số về khả năng sinh lời của doanh nghiệp như chỉ số suất sinh lời trêntổng tài sản (ROA – Returns On Assets), suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu(ROE – Returns On Equity), suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROC – Returns OnCapital) (Dehaene et al., 2001), chỉ số tăng trưởng của dòng tiền (Cash FlowGrowth), chỉ số lợi nhuận trên một cổ phần (EPS – Earning Per Shares), tăngtrưởng của tài sản (Asset Growth), tăng trưởng cổ tức (Dividend Growth),tăng trưởng doanh thu (Sales Growth) (Coles et al., 2001, Abdullah, S.N.,2004) Ưu điểm của các thước đo này là dễ dàng tính toán, tuy nhiên, chúngcũng có một số nhược điểm đáng kể sau: (i) không tính đến các rủi ro mà công
ty phải đối mặt (ii) sử dụng dữ liệu trong quá khứ nên không mang tính dự báocho tiềm năng của công ty trong tương lai (iii) chỉ đơn thuần kết hợp các sốliệu ghi sổ mà chưa tín h đến giá trị thị trường của công ty (iv) trong một sốtrường hợp, do nhà quản lý bị áp lực thành tích nên có xu hướng chỉ quan tâm
để tăng các chỉ số này trong ngắn hạn mà ít quan tâm đến việc phát triển trongdài hạn
- Trên phương diện thị trường: để khắc phục một số hạn chế của các thước đodựa trên suất sinh lợi, các thước đo hướng tới giá trị thị trường được sử dụng.Các chỉ số Giá trị thị trường giá tăng (MVA – Market Value Added) và Giá trịkinh tế gia tăng (EVA – Economic Value Added) đại diện cho thước đo theo
Trang 16giá trị thị trường , được đề xuất bởi Stern Stewart và các cộng sự (1981), sau
đó được Coles và các cộng sự (2001) sử dụng trong nghiên cứu của họ Cácthước đo này hiện tại cũng đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ,
và được nhiều doanh nghiệp áp dụng
- Trên phương diện phi tài chính: Judge et al (2003) khi nghiên cứu về thước
đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ngoài các chỉ số về suất sinh lợi, ôngcòn sử dụng các hệ số như Mức độ hài lòng của Khách hàng, chất lượng sảnphẩm dịch vụ, tính hữu dụng và phát triển của quy trình sản xuất…làm thước
đo về năng lực của doanh nghiệp
- Chỉ số Tobin’s Q: hệ số Tobin’Q được phát minh bởi nhà kinh tế học người
Mỹ James Tobin vào năm 1969 Tobin’s Q là tỷ số giữa giá trị thị trường vàgiá trị thay thế của một tài sản hữu hình, được tính theo công thức:
Tobin’s Q =
Tổng giá trị thị trường của doanh
nghiệp
=
Tổng nợ + giá thị trường của (CP
thường + CP ưu đãi)
Tổng giá trị sổ sách của tài sản Tổng giá trị sổ sách của tài sản
Ý nghĩa của Tobin’s Q là: Nếu hệ số Q cao, công ty nên đầu tư nhiều hơn vìviệc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phíhuy động thêm vốn Ngược lại, nếu hệ số Q thấp, công ty sẽ không gia tăngđầu tư vì chi phí huy động thêm vốn khá đắt
Chỉ số Tobin’s Q được giới học giả đánh giá cao về ý nghĩa kinh tế vĩ mô Đốivới một doanh nghiệp riêng biệt, chỉ số này cũng là kim chỉ nam để công ty racác quyết định tài trợ và đầu tư dựa trên sức khỏe tài chính của mình Chính vìvậy, trong các nghiên cứu cần sử dụng thước đo là thành quả hoạt động củacông ty, chỉ số này vẫn thường được các nhà khoa học ưu ái sử dụng
Trang 17 Phương pháp đo lường VAIC của Ante Pulic (1998):
VAIC đo lường giá trị tăng thêm của doanh nghiệp xét trên 3 loại nguồn vốn: nguồnvốn về con người (human capital), nguồn vốn về cấu trúc tổ chức (structural capital)
và nguồn vốn vay mượn (capital employed) Cũng sử dụng dữ liệu kế toán sổ sáchnhưng VAIC tập trung vào các giá trị tăng thêm của doanh nghiệp được tạo dựng từcác nguồn lực, hơn là tập trung vào chi phí (Pulic 2000, Boremann 1999, Firer andWilliams 2003)
Công thức tính VAIC:
VAIC (Value Added Intellectual Coefficient) = CEE + HCE + SCE
Bảng 3.1: Các thành phần trong công thức tính VAIC
HCE (Human capital
efficiency coefficient)
Hiệu quả đến từ nguồn lựctri thức (inlellectual)nhưng xét ở khía cạnh conngười (human capital,nhấn mạnh kiến thức, kỹnăng, tinh thần, khả năngcủa mỗi cá nhân để đemtới những giải pháp tối ưu
HCE = VA/ HC
HC = tổng chi phí lươngcủa doanh nghiệp
Trang 18M = Lợi ích của cổ đôngthiểu số trong thu nhậpthuần (Equity of minority
Trang 19Các chỉ số Định nghĩa Công thức tính
shareholders in netincome of subsidiaries)
R = Lợi nhuận giữ lại(Retained profits)
Như phần 3.1 đã đề cập, trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng thước đoVAIC để khảo sát tác động của cấu trúc Hội đồng quản trị lên giá trị của công ty xét
ở khía cạnh trí tuệ con người Đồng thời, do thước đo này còn khá mới mẻ, tác giả
sử dụng thêm công cụ thông dụng hơn là chỉ số Tobin’s Q để dễ dàng đối chứng
3.3 Định nghĩa các biến và cách lấy giá trị các biến:
Bảng 3.2: Định nghĩa và cách lấy giá trị các biến
Biến Định nghĩa Công thức tính
Các nghiên cứu trước
đây tìm thấy mối quan
hệ giữa biến độc lập với thành quả hoạt động của doanh nghiệp
Giá trị sổ sách của
Trang 20Biến Định nghĩa Công thức tính
Các nghiên cứu trước
đây tìm thấy mối quan
hệ giữa biến độc lập với thành quả hoạt động của doanh nghiệp
Tổng tài sản
Biến độc lập
OUTDIR
Tỷ lệ thành viênHĐQT độc lập/
Tổng số TV HĐQT
(Số thành viên HĐQTđộc lập/tổng số thànhviên HĐQT) * 100%
- Dehaene và cộng sự(2001)
- Dahya và Mc Connell(2003)
- Lee và các cộng sự(1999)
- Agrawal và Knoeber(1996)
- Bhagat và Black (1999)
- Chen và Jaggi (2000)
- Jensen và Meckling(1976)
- Weisbach (1988)
Trang 21Biến Định nghĩa Công thức tính
Các nghiên cứu trước
đây tìm thấy mối quan
hệ giữa biến độc lập với thành quả hoạt động của doanh nghiệp
INSOWN
Tỷ lệ nắm giữ cổphần công ty của cácthành viên HĐQT
(Tổng số cổ phiếu phổthông được nắm giữbởi các thành viênHĐQT/ tổng số cổphiếu phổ thông đanglưu hành) * 100%
- Morck và các cộng sự(1988)
- Jensen và Meckling(1976)
DUALITY
Biến dummy – có sựkiêm nhiệm vị tríCEO của Chủ tịchHĐQT hay không
1= Có kiêm nhiệm
0 = Không kiêmnhiệm
- Fosberg và Nelson(1999)
- Dehaene và các cộng
sự (2001)
- Kang và Zardkoohi(2005)
- Brickley và các cộng sự(1997)
- Goyal và Park (2002)
BRDSIZE Tổng số thành viê n
HĐQT của công ty
Tổng số thành viênHĐQT của công ty
- Yermack (1996)
- Eisenberg và các cộng
Trang 22Biến Định nghĩa Công thức tính
Các nghiên cứu trước
đây tìm thấy mối quan
hệ giữa biến độc lập với thành quả hoạt động của doanh nghiệp
sự (1998)
- Dalton và các cộng sự(1999)
- Yameesri và Herath(2010)
- Kiel và Nicholson(2003)
- Sheehan Rahman vàJashim Uddin Ahmed(2012)
- Kiel và Nicholson(2003)
LEV Đòn bẩy tài chính Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở - Guthrie, J và Petty, R
Trang 23Biến Định nghĩa Công thức tính
Các nghiên cứu trước
đây tìm thấy mối quan
hệ giữa biến độc lập với thành quả hoạt động của doanh nghiệp
- Judge, Naoumova vàKoutzevoi (2003)
- Laing và Weir (1999)
RD
Công ty có phân rõchi phí R&D trongbáo cáo thường niêncủa họ không?
1 = Có phân biệt rõ
0 = Không phân biệtrõ
- Mohame Abdullar(2003)
- Guthrie, J và Petty, R.(2000)
FRMSIZE Quy mô của doanh
nghiệp Ln (doanh thu cả năm)
Trang 24 Tỷ lệ Thành viên Hội đồng Quản trị độc lập
Biến được đo lường bằng tỷ lệ giữa thành viên độc lập không điều hành đáp ứngđầy đủ các yêu cầu thông quy định tại Thông tư số 121/2012/TT -BTC của Bộ Tàichính trên số lượng Thành viên trong Hội đồng Quản trị của công ty Như đã trìnhbày tại phần lý thuyết khung, liên quan đến lý thuyết về chi phí đại diện (agencytheory), do sự tách bạch trong việc sử hữu cổ phần và công tác quản trị, các nhàquản lý có khuynh hướng ra các quyết định nhắm đến lợi ích riêng của mình màkhông đặt lợi ích của cổ đông lên đầu (Jensen và Meckling, 1976) Các thành viênđộc lập không điều hành sẽ làm tăng khả năng kiểm soát và ra quyết định đúng đắncủa các nhà quản lý, gián tiếp làm tăng giá trị của doanh nghiệp Đây chính là lý dotại các quốc gia, các cơ quan quản lý thị trường niêm yết hầu hết đều có quy định về
1 tỷ lệ nhất định các thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị của các công ty.Các nghiên cứu trước đây, một số chỉ ra tác động thuận chiều của tỷ lệ thành viênđộc lập không điều hành lên thành quả hoạt động của công ty, tuy nhiên cũng cómột số nghiên cứu có kết quả ngược lại Tại luận văn của tác giả, tác giả kỳ vọngbiến này có thể có quan hệ thuận chiều hoặc nghịch chiều với biến phụ thuộc
Tỷ lệ sở hữu của các Thành viên trong Hội đồng Quản trị:
Biến này được đo lường bằng tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần cá nhân (không tính phần
cổ phần đại diện) của tất cả các thành viên trong Hội đồng Quản trị, được thu thập
từ báo cáo thường niên qua các năm của các công ty Do các thành viên Hội đồngQuản trị cũng là các cổ đông sở hữu một phần doanh nghiệp, do đó, họ cũng sẽ luôn
nỗ lực để đưa ra các quyết định đúng đắn nhằm tối đa hóa giá trị của công ty, cũng
là gián tiếp làm gia tăng cho tài sản của cá nhân mình (theo Jensen và Meckling,1976) Tuy nhiên, theo Morck và các cộng sự (1998), một tỷ lệ sở hữu cổ phần quácao của các thành viên Hội đồng Quản trị cũng có thể làm sức khỏe tài chính củamột doanh nghiệp yếu đi, lý do là với tỷ lệ sở hữu quá cao như vậy, họ có thể lờ đihoặc không quan tâm lắm đến lợi ích của các cổ đông khác Trong bài nghiên cứunày, tác giả cũng kỳ vọng biến tỷ lệ sở hữu cá nhân của các thành viên Hội đồng
Trang 25Quản trị có thể tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều với thành quả hoạt động củadoanh nghiệp.
Việc kiêm nhiệm vị trí trong Hội đồng Quản trị của CEO
Đây là một biến giả (dummy) được xem xét với 2 khả năng: nếu công ty có TổngGiám đốc (CEO) kiểm nhiệm vai trò thành viên HĐQT thì giá trị của biến là 1, nếuCEO không kiêm nhiệm thì giá trị của biến này là 0 Khi CEO đồng thời tham giaHội đồng Quản trị, nó sẽ hạn chế được các mặt tiêu cực của lý thuyết chi phí đạidiện, đó là CEO không thể lợi dụng quyền hạn để trục lợi cho mình mà không quantâm đến lợi ích của cổ đông khi ra các quyết định điều hành công ty Bên cạnh đó,
sự tham gia của CEO vào Hội đồng quản trị cũng sẽ giới hạn lại việc lơ là lợi íchcủa các cổ đông khác của nhóm thành viên Hội đồng Quản trị nắm giữ quá cao tỷ lệ
sở hữu cổ phần Một số tác giả như Fosberg và Nelson (1999), Dehaene và các cộng
sự (2001) đã tìm thấy tác động thuận chiều của biến này lên thành quả hoạt độngcủa các doanh nghiệp Tuy nhiên, một số tác giả khác như Rechner và Dalton(1989) lại tìm ra bằng chứng là không có sự khác biệt trong thành quả hoạt độngcủa các công ty có CEO kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm vai trò thành viên Hộiđồng Quản trị Bài nghiên cứu của tác giả cũng kỳ vọng về việc sự kiêm nhiệm củaCEO có thể tác động thuận chiều/ngược chiều với biến phụ thuộc
Số lượng thành viên Hội đồng Quản trị
Biến này đơn giản là số lượng thành viên tham gia Hội đồng Quản trị của công tytrong từng năm Hiện tại một số quốc gia trên thế giới có quy định số lượng tốithiểu/tối đa của Hội đồng Quản trị các công ty niêm yết, một số quốc gia thì không
có quy định này Một Hội đồng quản trị có số lượng lớn có thể được kỳ vọng là mộtnhân tố ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của công ty vì có nhiều người sẽ có tậphợp được nhiều trí tuệ, kinh nghiệm, ý tưởng khác nhau để cùng xây dựng cho công
ty Tuy nhiên, nếu mối quan hệ của các thành viên không tốt đẹp, hoặc cách tổ chứchoạt động của hội đồng quản trị không hợp lý thì việc có số lượng lớn chưa hẳn sẽ
là một lợi thế Bài viết kỳ vọng hướng tác động của biến này là có thể thuận hoặcnghịch chiều với biến phụ thuộc
Trang 26 Các biến kiểm soát được đưa vào là các biến liên quan đến đặc tính
của doanh nghiệp.
Các biến kiểm soát bao gồm: suất sinh lợi trên tài sản ROA, đòn bẩy tài chính LEV,
tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt DIV, chi phí nghiên cứu và phát triển RD, quy môcông ty FRMSIZE được lựa chọn dựa để đưa vào mô hình là các biến được kiểmđịnh bởi các nghiên cứu khác về tác động của đặc điểm doanh nghiệp lên thành quảhoạt động của doanh nghiệp, chẳng hạn như là nghiên cứu của Vafeas vàTheodorou (1998), do đó, cần phải đưa vào mô hình đ ể kiểm soát Theo Wahab vàcác cộng sự (2004), việc thêm biến kiểm soát vào mô hình cũng giúp giảm được rủi
ro mô hình bị sai do bỏ sót biến
Bảng 3.3: Tóm tắt kỳ vọng chiều tác động của các biến độc lập
đến biến phụ thuộc
STT Biến độc lập Chiều tác động
theo lý thuyết
Kỳ vọng nghiên cứu
1 Tỷ lệ thành viên HĐQT
+/-2
Tỷ lệ cổ phần sở hữu cánhân của Thành viênHĐQT (INSOWN)
+/-3
Việc kiêm nhiệm chứcdanh thành viên HĐQTcủa CEO (DUALITY)
+/-4 Số lượng thành viên của
Hội đồng Quản trị
Trang 27+/-STT Biến độc lập Chiều tác động
theo lý thuyết
Kỳ vọng nghiên cứu
+/-3.4 Dữ liệu nghiên cứu:
Luận văn sử dụng số liệu được tổng hợp từ báo cáo thường niên, báo cáo tàichính giai đoạn 2008-2013 của các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán TP.Hồ Chí Mình (HOSE) và Hà Nội (HNX) Các doanh nghiệp không
có đầy đủ số liệu cần tìm sẽ bị loại trừ khỏi mẫu
Tổng số lượng mã chứng khoán niêm yết trên 2 sàn tại thời điểm thu thập dữ liệu là:
692 mã (HOSE: 303 mã, HNX: 389 mã) Trong đó, số lượng các công ty thuộcngành tài chính là: 37 công ty (Chứng khoán: 21 mã , Ngân hàng – Bảo hiểm: 16
Trang 28mã), số lượng công ty không có đầy đủ số liệu theo bộ biến và bị loại bỏ là: 525công ty Như vậy, mẫu quan sát còn lại đáp ứng đầy đủ các điều kiện của bộ biến là
130 công ty Các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên được thu thập từ cácwebsite của các công ty, website www.cafef.vn www.vietstock.vnwww.vcbs.com.vn, www.cophieu68.vn Dữ liệu được thu thập theo dạng bảng(Panel Data)
3.5 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên mô hình gốc của Abidin, Kamal và Jusoff (2009) và một số lập luận sẽtrình bày dưới đây, luận văn thực hiện hồi quy bằng 4 phương pháp phổ biến đượccác nhà nghiên cứu lựa chọn là phương pháp bình quân nhỏ nhất (OLS), phươngpháp mô hình tác động cố định (FEM), phương pháp mô hình tác động ngẫu nhiên(REM) và phương pháp moment tổng quát (GMM)
Theo mô hình gốc, Abidin, Kamal và Jusoff (2009) sử dụng phương pháp hồi quybội (multiple regression analysis) thông qua phương pháp bình quân nhỏ nhất(OLS) để khảo sát mối tương quan giữa cấu trúc Hội đồng quản trị và thành quảhoạt động của doanh nghiệp OLS là phương pháp phổ biến thường được các nhànghiên cứu sử dụng để thực hiện hồi quy, kiểm định mối quan hệ giữa biến phụthuộc và biến độc lập Ưu điểm của mô hình này là đơn giản và mang lại nhiều ướclượng hiệu quả Tuy nhiên, để các ước lượng được hiệu quả, không chệch(unbiased) và vững (consistent) thì mô hình sử dụng phương pháp OLS phải đảmbảo các điều kiện:
- E (ui/X2i,…,Xki) = 0: không có sai số hệ thống
- Var (ui/X2i,…,Xki) = σ2với mọi i: phương sai không đổi
- Cov(ui,uj) = 0 với mọi i khác j => hệ số tương quan của các phần dư = 0 =>không có hiện tượng tự tương quan
Trang 29- Không có đa cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến Xj
- Biến Xj là phi ngẫu nhiên, nếu ngẫu nhiên thì phải độc lập với Ui
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về chuỗi dữ liệu thời gian, rất khó để thỏa mãn các giảđịnh của OLS vì các hệ số như tung độ gốc, độ dốc và sai số đều có thể thay đổitheo thời gian và/hoặc theo từng quan sát hoặc theo cả thời gian và theo từng quansát Khi đó, kết quả kiểm định sẽ bị bóp méo và việc sử dụng đưa vào phân tích sẽkhông còn đúng nữa Một trong những vi phạm hay gặp phải trong việc sử dụngphương pháp này là hiện tượng tự tương quan của các biến trong mô hình và hiệntượng nội sinh, tức các biến có tương quan với phần dư Mô hình OLS hiện nay bịphản bác bởi nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái dữ liệu bảng
Để hạn chế các nhược điểm nêu trên của phương pháp OLS, các nhà nghiên cứu nóichung và các nghiên cứu trước đây về đề tài tương tự đề tài của luận văn nói riêngthường sử dụng thêm 2 mô hình là mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tácđộng ngẫu nhiên (REM) Cả REM và FEM đều là các công cụ hữu hiệu để kiểmsoát hiện tượng phương sai thay đổi (heterogeneity) Mô hình FEM là mô hình cótính đến đặc trưng riêng của mỗi đơn vị chéo, vì mô hình này giả định độ dốc khôngthay đổi (đặc tính của mỗi đơn vị chéo không thay đổi theo thời gian) nhưng tung
độ gốc thay đổi hay là khác nhau giữa các thực thể hay các đơn vị chéo Sự thay đổi
có thể là theo các đơn vị chéo và/hoặc theo thời gian Nói cách khác, với giả địnhmỗi thực thể đều có những đặc điểm riêng ảnh hưởng đến các biến giải thích, FEMphân tích mối tương quan này giữa phần dư của mỗi thực thể đến các biến giảithích, qua đó kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng (không thay đổitheo thời gian) ra khỏi các biến giải thích để có thể ước lượng những tác độ ng thựccủa biến giải thích lên biến phụ thuộc Mô hình chung được thể hiện ngắn gọn nhưsau:
Yit= Ci+ βXit + uit (*)
Trang 30Trong đó,
I = 1,2….130
T là thời gian (năm)
Y là là biến phụ thuộc theo các phương pháp đo lường
X là ma trận các biến độc lập bao gồm OUTDIR, INSOWN, DUALITY,BRDSIZE và các biến kiểm soát
Mô hình FEM cũng được ứng dụng rộng rãi khi phân tích dữ liệu bảng do đặc tính
dễ sử dụng Mặc dù vậy, việc sử dụng FEM cũng có một vài điểm cần lưu ý sau:
- Nếu đưa vào mô hình quá nhiều biến giả (do mẫu khá lớn), mô hình đôi khikhông ước lượng đúng được số bậc tự do để đưa ra các tính toán ước lượngđúng
- Với quá nhiều biến trong mô hình, luôn luôn xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến,gây khó khăn cho việc ước lượng chính xác một hoặc nhiều hơn một thông số
Trang 31- Nếu mô hình có các biến số mà bản chất nó là bất biến theo thời gian như màu
da, giới tính, sắc tộc…thì FEM không có khả năng xác định tác động của cácbiến số bất biến theo thời gian
Nếu như FEM giả định các đặc tính của mỗi thực thể không thay đổi theo thời giannhưng khác nhau giữa các thực thể và sự biến động này có ảnh hưởng đến biến độclập thì mô hình REM giả định các biến động đó là ngẫu nhiên và không ảnh hưởngđến các biến giải thích Trong mô hình REM, phần dư của mỗi thực thể (khôngtương quan với biến giải thích) được xem là một biến giải thích mới
Từ mô hình (*) nhưng thay vì Ci là cố định thì REM giả định rằng nó là một biếnngẫu nhiên với trung bình là C Hệ số chặn vì vậy được mô tả lại như sau:
Ci = C + εi(i = 1,…n)
εi: sai số ngẫu nhiên có trung bình bằng 0 và phương sai là
Thay vào mô hình (*) ta có:
Yit= C + βXit+ εi+ uit (**)
εilà sai số thành phần của từng thực thể trong mẫu quan sát
uit là sai số thành phần kết hợp của đặc điểm riêng theo từng thực thể và theo thờigian
Để xác định mô hình REM hay FEM là mô hình thích hợp hơn cho nghiên cứu, ta
sử dụng kiểm định Hausman Với giả thiết H0 là REM là mô hình thích hợp, tác làcác thay đổi không tác động đến biến độc lập, nếu p_value < 5% thì bác bỏ H0, tức
là thừa nhận H1, chọn mô hình FEM là mô hình thích hợp, và ngược lại
Mặc dù cả 2 phương pháp REM và FEM đều có thể đã giải quyết được vấn đềphương sai thay đổi trong mô hình nghiên cứu, tuy nhiên, 2 phương pháp này có thểchưa giải quyết được hiện tượng nội sinh của mô hình Hiện tượng nội sinh