Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu sự biến động của nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM tại Việt Nam và bốn nhân tố kinh tế vĩ mô: chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, cung tiền và
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số : : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI KIM YẾN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CUẢ
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu thực sự của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Bùi Kim Yến
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua Các số liệu sử dụng, một số nhận xét, đánh giá của một số bài nghiên cứu khoa học, các bài báo,…tất cả đều có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Một lần nữa, tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI 1
1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG 1
1.2.1 Đối với nền kinh tế .1
1.2.2 Đối với Ngân hàng thương mại 2
1.2.3 Đối với khách hàng 2
1.3 CÁC HÌNH THỨC CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG 3
1.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn 3
1.3.2 Tiền gửi có kỳ hạn 3
1.3.3 Tiền gửi tiết kiệm 4
1.3.4 Phát hành giấy tờ có giá 5
1.3.5 Các nguồn vốn huy động khác 6
1.4 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG 6
1.4.1 Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 6
1.4.2 Chi phí huy động vốn 6
1.5 CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .9
Trang 51.5.4 Chỉ số giá chứng khoán 13
1.6 MÔ HÌNH VÉC – TƠ HIỆU CHỈNH SAI SỐ VECM 13
1.6.1 Kiểm định tính dừng của các biến 15
1.6.2 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình 15
1.6.3 Kiểm định đồng liên kết 15
1.6.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 15
1.7 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2.1 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 22
2.1.1 Năm 2007 22
2.1.2 Năm 2008 23
2.1.3 Năm 2009 24
2.1.4 Năm 2010 25
2.1.5 Năm 2011 26
2.1.6 Năm 2012 28
2.1.7 Năm 2013 29
2.1.8 Năm 2014 29
2.2 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 32
2.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng – CPI 32
2.2.2 Lãi suất 38
Trang 6ĐẾN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM 58
2.3.1 Chính sách kinh tế vĩ mô 58
2.3.2 Thói quen sử dụng tiền mặt và dự trữ vàng của người dân 59
2.3.3 Thị trường chứng khoán phát triển nóng 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 3.1 DỮ LIỆU VÀ MÔ TẢ CÁC BIẾN 62
3.1.1 Thu thập và mô tả dữ liệu 62
3.1.2 Mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 63
3.2 MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH 64
3.2.1 Kiểm định tính dừng của các biến 64
3.2.2 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình 65
3.2.3 Kiểm định đồng liên kết 65
3.2.4 Kết quả mô hình kiểm định 65
3.2.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình .66
3.2.6 Đánh giá sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô lên nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM tại Việt Nam 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70 CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Trang 74.1.2 Mục tiêu 72
4.2 MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH VỀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 73
4.2.1 Đối với chính sách kinh tế vĩ mô 73
4.2.2 Đối với chính sách tiền tệ 75
4.2.2.1 Về chính sách cung tiền .75
4.2.2.2 Về chính sách lãi suất .76
4.2.3 Đối với thị trường chứng khoán 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 80 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
INTEREST: Lãi suất tiền gửi ngân hàng
M2: Cung tiền M2
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng Trung Ương
NVHD: Nguồn vốn huy động
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước
Trang 9NHTM Việt Nam 37
Bảng 2.2 Quan hệ giữa lãi suất huy động và nguồn vốn huy động 44
Bảng 2.3 Quan hệ giữa M2 và nguồn vốn huy động 51
Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 63
Bảng 3.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 64
Bảng 3.3 Tóm tắt kết quả của mô hình nghiên cứu 65
Trang 10Hình 2.2: Tăng trưởng huy động vốn theo loại tiền năm 2011 27
Hình 2.3: Huy động vốn từ nền kinh tế giai đoạn 2006 – 2014 30
Hình 2.4: Diễn biến chỉ số CPI và tốc độ tăng trưởng DEPOSIT 32
Hình 2.5: Diễn biến của lãi suất và tốc độ tăng trưởng DEPOSIT 38
Hình 2.6: Diễn biến của cung tiền M2 và tốc độ tăng trưởng DEPOSIT 44
Hình 2.7: Diễn biến của VNINDEX và tốc độ tăng trưởng DEPOSIT 51
Trang 11Ngày nay, hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt ở các nước phát triển tập trung chủ yếu vào khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế Do đó, để có được nguồn vốn cho vay lớn phụ thuộc khá nhiều vào khả năng thu hút nguồn vốn huy động Công tác huy động vốn đã có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Một ngân hàng muốn hoạt động thì trước tiên cần phải
có vốn Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng đã góp phần khá lớn trong việc thu hút một lượng vốn khá lớn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, Việt Nam là một trong các nước trên thế giới cũng bị ảnh hưởng khá lớn: tình hình sản xuất bị trì trệ, giá cả không ổn định, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, hàng nghìn doanh nghiệp đóng cửa, nguồn vốn huy động giảm Tốc độ tăng trưởng giảm sút đáng kể, lạm phát và các bất ổn kinh tế đang là vấn đề được nhà nước quan tâm để ổn định kinh tế và từng bước phục hồi Trong các ngành kinh tế phải đối mặt với khó khăn này, ngành ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng khá lớn và là ngành then chốt quyết định đến sự phát triển của toàn ngành kinh tế Trong thời gian này, ngân hàng nhà nước phải đưa ra các chính sách ổn định lãi suất để ổn định thị trường tiền tệ, giảm lạm phát, chính sách hỗ trợ lãi suất để đưa nguồn vốn vay đến các doanh nghiệp để kích thích sản xuất Trước những biến động về nền kinh tế vĩ mô, công tác huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại đã trở nên quan trọng và cần thiết
Sự gia tăng trong công tác này giúp hỗ trợ cho các hộ gia đình, doanh nghiệp cần vốn có thể tiếp cận vốn dễ dàng thông qua ngân hàng Vậy để tìm hiểu rõ hơn về các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến nguồn vốn huy động và khả năng thu hút vốn dưới các tác động của các nhân tố này, tôi quyết định chọn đề tài “Sự ảnh
Trang 122 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích tình hình huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam và ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến nguồn vốn huy động này và
đề ra một số gợi ý chính sách về kinh tế vĩ mô nhằm gia tăng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của hệ thống
ngân hàng thương mại và các nhân tố kinh tế vĩ mô
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu sự biến động của nguồn vốn huy
động của hệ thống NHTM tại Việt Nam và bốn nhân tố kinh tế vĩ mô: chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, cung tiền và chỉ số giá chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu về không gian: nghiên cứu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
huy động của hệ thống NHTM bao gồm 05 ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ), 33 ngân hàng thương mại cổ phần và 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2007 đến
tháng 12/2014
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích,… của tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động và các nhân tố kinh tế vĩ mô được thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2007 – 2014 Đồng thời thực hiện nghiên cứu định lượng bằng mô
Trang 13vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam và các nhân tố kinh tế vĩ mô
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về các nhân
tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động cuả hệ thống ngân hàng Thông qua phân tích thực trạng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đề tài chỉ ra mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến nguồn vốn huy động cuả hệ thống NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 -2014 Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề ra một số kiến nghị về kinh tế vĩ mô để phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong đó có nguồn vốn huy động
6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài được chia làm bốn phần chính như sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH
TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ, vốn huy động, vốn vay và các vốn khác Trong đó vốn huy động có vai trò quan trọng và then chốt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các Ngân hàng thương mại và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn huy động là tài sản bằng tiền của khách hàng mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả phù hợp với thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng Ngân hàng thương mại được huy động dưới các hình thức sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác của các tổ chức, cá nhân và các Tổ chức tín dụng khác
- Huy động qua phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu từ nguồn vốn trong nước và ngoài nước,…
1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG
1.2.1 Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế, vốn là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia Vốn vừa là phương thức đồng thời là điều kiện để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, vốn tạo ra khả năng huy động, sử dụng và khai thác hiệu quả mọi nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế xã hội Trong chiến lược xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa thì vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện chiến lược này Do đó thông qua hoạt động huy động vốn của hệ thống Ngân hàng thương mại, các nguồn vốn nhàn rỗi từ xã hội đã được tập trung tối đa, biến các nguồn vốn nhàn rỗi này thành nguồn vốn lớn
Trang 16cho nền kinh tế Với chi phí huy động thấp và tập trung được nguồn vốn lớn và nhanh, nguồn vốn huy động đã góp phần quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ dàng hơn, tạo nên tính ổn định bền vững cho sự phát triển của nền kinh tế
Bên cạnh đó, hoạt động huy động vốn giúp Ngân hàng nhà nước kiểm soát được lượng tiền tệ trong lưu thông, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ : lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ giá, lãi suất chiết khấu,… Ví dụ để kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả, Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất cơ bản, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm bớt lượng tiền trong lưu thông hoặc ngược lại
1.2.2 Đối với Ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản và không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại, vốn tự có của ngân hàng chiếm một tỷ trọng khá nhỏ, dưới 10% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu tài trợ cho tài sản cố định, máy móc thiết bị, Vốn vay chiếm khoảng 10- 15% tổng nguồn vốn, dùng để đáp ứng mục tiêu thanh khoản tạm thời Do đó nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng nhất chiếm tỷ trọng 70% - 80% tổng nguồn vốn để đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh khác như cấp tín dụng và các dịch vụ của ngân hàng Tuy nguồn vốn huy động không đem lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng có thể gia tăng quy mô vốn của ngân hàng, tăng sức cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín và tạo niềm tin đối với khách hàng Như vậy nghiệp vụ huy động vốn đã góp phần trong việc giải quyết vấn đề đầu vào cho ngân hàng
1.2.3 Đối với khách hàng
Khi hệ thống ngân hàng phát triển, nghiệp vụ huy động vốn đã phát triển mạnh, thu hút được khá lớn nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế Đây là kênh tiết kiệm và đầu tư sinh lời của cá nhân và tổ chức và cũng là nơi an toàn để cất trữ và tích lũy
Trang 17vốn bằng cách gửi tiền vào ngân hàng Nhận được lãi từ khoản vốn gửi vào ngân hàng giúp cho khách hàng gia tăng thu nhập, tăng khả năng tiêu dùng, đồng thời có thể tiếp cận được các tiện ích của ngân hàng khi sử dụng các dịch vụ thanh toán Khi có nhu cầu về vốn để đáp ứng cho công việc kinh doanh hay tiêu dùng khách hàng có thể sử dụng dịch vụ cấp tín dụng của ngân hàng một cách nhanh chóng
1.3 CÁC HÌNH THỨC CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG
Vốn huy động tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và được ngân hàng thương mại huy động bằng nhiều nguồn khác nhau, cụ thể là:
1.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi được dùng với mục đích thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng Nguời gửi tiền sử dụng các tiện ích của ngân hàng như chi trả, thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các khoản phí phát sinh bằng cách
mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn hay còn được gọi là tài khoản thanh toán Với loại tiền gửi này, khách hàng có thể sử dụng một cách chủ động và linh hoạt, có thể rút tiền bất cứ khi nào mà không cần báo trước với ngân hàng Do tính chất không
ổn định nên lãi suất của loại tiền gửi này không cao, chủ yếu đáp ứng được các tiện ích thanh toán do ngân hàng cung cấp Vì vậy khách hàng thường duy trì số dư không lớn, nhưng với số lượng khách hàng nhiều cũng giúp cho tổng nguồn huy động của loại tiền gửi này chiếm một lượng đáng kể
Đối với ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền có chi phí thấp nhất do lãi suất huy động từ tiền gửi không kỳ hạn thấp Vì vậy các ngân hàng luôn cạnh tranh
và thu hút nguồn vốn này để hiệu quả kinh doanh đạt cao hơn Ngoài ra, việc thanh toán không dùng tiền mặt còn tạo được nguồn thu cho ngân hàng thông qua các phí dịch vụ, giảm được rủi ro khi dùng tiền mặt trong nền kinh tế
1.3.2 Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi có sự thỏa thuận về lãi suất và kỳ hạn gửi tiền, chủ yếu áp dụng cho đối tượng là tổ chức kinh tế Người gửi
Trang 18tiền chỉ có thể rút ra khi đáo hạn tuy nhiên trong trường hợp cần thiết, khách hàng vẫn có thể rút trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi suất rút trước hạn Khi người gửi xác định được nguồn tiền của mình không được sử dụng trong một thời gian nhất định, họ sẽ quyết định gửi với hình thức có kỳ hạn để được hưởng lãi suất cao Do vậy, đây là loại tiền gửi có tính ổn định tương đối và có chi phí khá cao, thường được các ngân hàng sử dụng vào mục đích cho vay trung, dài hạn
1.3.3 Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi của cá nhân vào ngân hàng, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, hưởng lãi suất theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi và được bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không thực hiện được các giao dịch thanh toán hay phát hành séc như tài khoản thanh toán Nguồn vốn này tập trung thu hút nguồn tiền gửi nhàn rỗi từ dân cư và có tính ổn định Với nguồn vốn này, ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc sử dụng để cấp tín dụng hoặc đưa vào đầu tư Đây là nguồn vốn được xem là quan trọng của Ngân hàng thương mại Để thu hút được nguồn vốn này, với nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng, các ngân hàng thương mại phải đa dạng hóa các hình thức huy động và lãi suất huy động hấp dẫn
Có hai loại tiền gửi tiết kiệm:
Tiết kiệm không kỳ hạn: là loại tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân không xác định được thời gian sử dụng trong tương lai nhưng muốn gửi vào ngân hàng để đảm bảo an toàn và có thể sinh lợi Với hình thức này, người gửi tiền có thể rút bất
cứ khi nào mà không cần báo trước cho ngân hàng Do tính không ổn định nên loại này thường có lãi suất thấp giống như tiền gửi không kỳ hạn
Tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân có sự thỏa thuận về thời gian và kỳ hạn gửi tiền, nguời gửi xác định được kế hoạch sử dụng trong tương lai, có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời Lãi suất của loại tiền gửi này cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn và thay đổi tùy theo kỳ hạn gửi, hình thức nhận lãi và loại ngoại tệ Tiết kiệm tiền gửi có nhiều kỳ
Trang 19hạn khác nhau tùy theo nhu cầu của người gửi tiền như: kỳ hạn ngày, tuần, tháng và với các hình thức nhận lãi khác nhau như lĩnh lãi đầu kỳ, lĩnh lãi cuối kỳ hoặc lĩnh lãi định kỳ hàng tháng, quý hoặc 6 tháng một lần
1.3.4 Phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động vốn trong
đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và khách hàng
Giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành có thể là: kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng… Những người mua các loại giấy tờ có giá này chỉ được ngân hàng hoàn vốn khi đáo hạn Do lãi suất của loại phát hành này cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn nên thường thu hút được khách hàng nhiều hơn Đặc biệt nguồn vốn này không tự động đáo hạn như tiền gửi có kỳ hạn Phát hành giấy tờ có giá là những phương pháp hữu hiệu để ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn Đây là loại nguồn vốn ổn định nhất của NHTM
Giấy tờ có giá có thể phân thành nhiều loại khác nhau:
Căn cứ theo quyền sở hữu, chia thành 2 loại giấy tờ có giá sau:
- Giấy tờ có giá ghi danh: là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có tên người sở hữu
- Giấy tờ có giá vô danh: là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Loại này thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ nó
Căn cứ vào thời hạn, giấy tờ có giá chia làm 2 loại sau:
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: có thời hạn dưới 1 năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
- Giấy tờ có giá dài hạn: có thời hạn từ một năm trở lên bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác
Trang 20Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá của NHTM được thực hiện tập trung theo từng đợt, phục vụ nhu cầu vốn theo mục tiêu của ngân hàng Hình thức huy động này thường có lãi suất và chi phí phát hành cao và phải được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước
1.3.5 Nguồn vốn huy động khác
Các ngân hàng thương mại có thể huy động các nguồn khác như:
- Tiền gửi ký quỹ
- Tiền gửi đảm bảo thanh toán
- Tiền tạm giữ, tiền đang chuyển
1.4.1 Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động:
Tổng vốn HD năm sau – Tổng vốn HD năm trước Tổng NVHD năm trước
Trang 21quà tặng về các chương trình tiền gửi, việc hạ thấp chi phí huy động là vấn đề không dễ dàng đối với các ngân hàng Do đó việc lựa chọn phương pháp xác định chi phí huy động vốn rất hữu ích cho ngân hàng để xây dựng chính sách kinh doanh
Phương pháp chi phí bình quân
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động được trong quá khứ và xem xét cẩn thận mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn vốn huy động được Công thức được tính chi phí bình quân như sau:
Chi phí lãi bình quân =
Phương pháp này đưa ra một thước đo trong quyết định cho vay và đầu tư như thế nào để có thể bù đắp được chi phí trả lãi cho nguồn vốn huy động và đầu tư có lời Bên cạnh các ưu điểm, phương pháp này còn có một số nhược điểm thường gặp Phương pháp này mới chỉ đưa ra được giá vốn của nguồn vốn huy động, còn nhiều chi phí khác phát sinh trong quá trình huy động vốn vẫn chưa được đề cập đến như chi phí quảng cáo, khuyến mãi, mức dự trữ bắt buộc theo quy định, chi phí quản lý gián tiếp, tiền lương, Bên cạnh đó, một vài loại hình nguồn vốn được đem đầu tư vào các tài sản không có sinh lời như dự trữ bắt buộc, tài sản cố định, dự trữ thanh toán, đóng phí bảo hiểm bắt buộc Do vậy, các ngân hàng khắc phục các nhược điểm này bằng cách sử dụng tài sản sinh lợi làm cơ sở tính toán chi phí, tức là so sánh chi phí lãi và phi lãi trong huy động vốn với lượng tài sản sinh lợi của ngân hàng được tính toán theo công thức như sau:
Tổng chi phí trả lãi Tổng nguồn vốn huy động bình quân
Trang 22Tỷ suất sinh lời tối thiểu để bù đắp chi phí =
Ta thấy được thu nhập từ các tài sản sinh lời phải tối thiểu bằng với tỷ lệ này để
bù đắp được tổng chi phí huy động vốn đã bỏ ra Ngoài ra sẽ xuất hiện chi phí vốn chủ sở hữu khi các chủ sở hữu, cổ đông tham gia góp vốn vào ngân hàng vì đây là chi phí cơ hội thể hiện lợi nhuận kỳ vọng của những người góp vốn vào ngân hàng
Để tính chi phí này, cần ước tính một tỷ suất sinh lời cần thiết mà các cổ đông cần thiết sẽ duy trì mức vốn hiện tại Như vậy, tỷ suất sinh lời tối thiểu cần thiết phát sinh từ toàn bộ các nguồn vốn huy động và vốn sở hữu của ngân hàng là:
Tỷ suất sinh lợi tối thiểu = Tỷ suất sinh lợi tối thiểu để bù đắp chi phí + suất sinh lời trước thuế cho cổ đông
Phương pháp chi phí huy động vốn biên tế
Đối với phương pháp chi phí bình quân tuy có ưu điểm là đơn giản hơn nhưng chỉ số chủ yếu của quá khứ để xem xét chi phí và tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đã thực hiện của ngân hàng Trong khi đó phần lớn các quyết định kinh doanh của các nhà quản trị ngân hàng được thực hiện trong hiện tại và tương lai Phương pháp này nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp chi phí bình quân dựa trên nguyên giá Chi phí biên là chi phí bỏ ra để có thêm một đồng vốn huy động Căn cứ vào chi phí biên, ngân hàng xác định mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ những tài sản có thêm từ các nguồn vốn này
Chi phí dự kiến bình quân gia quyền
Đây là chi phí dự kiến bình quân gia quyền của tất cả các nguồn vốn làm kết quả ước đoán chi phí biên huy động, để từ đó xác định mức lãi cần có đối với tài sản có sinh lời Phương pháp này có ích cho nhà quản trị Nó giúp cho ngân hàng theo dõi chi phí huy động vốn bình quân theo thời gian, xem có xảy ra chiều hướng nào ngược lại hay không, và mức chi phí lãi bình quân cung cấp một chuẩn mực tương đối cho việc quyết định nên cho vay và đầu tư như thế nào
(Tổng chi phí lãi + phi lãi ) Tổng tài sản có sinh lời
Trang 23Việc lựa chọn nguồn tiền gởi hoặc phi tiền gởi của ngân hàng tùy thuộc không chỉ vào chi phí tương đối của mỗi nguồn mà còn phụ thuộc rủi ro của chúng đối với ngân hàng Những nguồn vốn có chi phí thấp có thể có rủi ro cao cho ngân hàng và
do vậy, sẽ tạo khả năng thiệt hại nghiêm trọng hơn Nhà quản trị phải đương đầu với việc lựa chọn giữa chi phí và rủi ro, tức là việc đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn Nguồn vốn chi phí thấp có thể phải chịu rủi ro cao về lãi suất, thanh khoản hay là vốn sở hữu Như thế, mỗi khi phải huy động vốn mới, nhà quản trị phải lựa chọn một vị trí về tương quan ưu tiên giữa rủi ro và lợi nhuận trên bảng đối chiếu giữa rủi ro và chi phí theo từng cách phối hợp giữa các nguồn vốn
Việc định giá nguồn vốn đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện những mục tiêu của ngân hàng Giá cả chính là công cụ mà mỗi ngân hàng có thể chọn để nhằm đạt được mức và kết cấu nguồn vốn cho phép ngân hàng nâng cao khả năng sinh lời và các mục tiêu khác Việc định giá các nguồn vốn tác động sâu sắc đến chi phí của ngân hàng cũng như đến loại và tư cách khách hàng
mà ngân hàng chọn giao dịch Giá cả của nguồn vốn huy động có ảnh hưởng tới qui
mô, kết cấu và mức lãi chênh lệch của tất cả các nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng Sau khi cân nhắc tác động của từng loại nguồn vốn khác nhau dựa trên chi phí huy động vốn hay chính sách huy động vốn để định hướng cho hành động cụ thể Nói cách khác, ngân hàng sử dụng quan điểm marketing để xác định nhu cầu của khách hàng và thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Như vậy, một chiến lược huy động vốn thành công (huy động được một lượng vốn cần thiết cho hoạt động của đơn vị mình) khi nó thu hút sự quan tâm của khách hàng
1.5 CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.5.1 Lạm phát
Lạm phát là việc giá cả các hàng hóa tăng lên so với mức giá thời điểm trước Mức giá là giá cả chung của các hàng hóa và dịch vụ, không riêng một loại hàng hóa cá biệt nào Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
Trang 24giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác
Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer price Index – CPI) là cơ sở để tính lạm phát CPI là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế… Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, do mối quan hệ gần gũi giữa hai chỉ số này nên chỉ số giá thường được đại diện cho lạm phát trong phần lớn các nghiên cứu và cũng được chọn để nghiên cứu trong luận văn này
Lạm phát tác động đến tâm lý của người gửi tiền Khi lạm phát tăng, nền kinh tế
có dấu hiệu của một nền kinh tế bất ổn, đặc biệt là khi Chính phủ không thể tác động để kiềm hãm lạm phát Lúc này, đồng tiền bị mất giá nhanh, người gửi tiền sẽ chuyển hướng sang tích trữ các tài sản không bị mất giá khác như vàng Lúc này kênh huy động vốn trở nên kém hấp dẫn hơn so với kênh đầu tư vào vàng vì vào thời điểm này đầu tư vào vàng có thể giữ được giá trị hơn so với tiền mặt trong môi trường bất ổn kinh tế Tuy nhiên, khi lạm phát tăng các ngân hàng cũng sẽ có xu hướng tăng lãi suất Nếu mức tăng lãi suất của ngân hàng lớn hơn mức tăng lạm phát thì người gửi tiền có thể nhận được mức lãi suất thực dương từ việc gửi tiền tại ngân hàng, ngược lại sẽ nhận được mức lãi suất thực âm Nếu lãi suất thực âm, người gửi tiền sẽ chuyển qua kênh đầu tư khác để bảo toàn như vàng, ngoại tệ, bất động sản,… Đây là những loại tài sản thường sẽ tăng giá tương ứng hoặc cao hơn so với lạm phát
Tóm lại, lạm phát và nguồn vốn có quan hệ cùng chiều với nhau khi ngân hàng đưa ra được mức lãi suất thực dương cho người gửi tiền Ngược lại, khi lạm phát tăng, ngân hàng cũng tăng lãi suất nhưng chưa cao hơn được mức tăng của lạm phát, người gửi tiền sẽ nhận được mức lãi suất âm , do đó lạm phát và nguồn vốn có quan hệ trái chiều nhau Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại
Trang 251.5.2 Lãi suất
Lãi suất là một công cụ đo lường trên thị trường tài chính, nó có thể xem là chi phí sử dụng vốn khi đi vay hoặc thu nhập đầu tư khi gửi vào ngân hàng Nó vận động theo quy luật cung cầu, xác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn và cung về vốn trên thị trường
Lãi suất còn là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia được thực thi bởi Ngân hàng trung ương Tùy theo sự phát triển của thị trường tài chính, Ngân hàng trung ương có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành chính sách tiền
tệ để kiểm soát lãi suất bằng cách quy định các loại lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn (áp dụng trong một thị trường tiền tệ có trình độ phát triển thấp, năng lực cạnh tranh của các NHTM còn yếu kém), hoặc áp dụng lãi suất được hình thành theo quy luật cung cầu và can thiệp gián tiếp vào thị trường thông qua các chính sách như: công bố lãi suất cơ bản, công bố lãi suất thị trường mở kết hợp với công cụ tái cấp vốn để điều chỉnh thị trường (phù hợp với cơ chế thị trường và trong nền kinh tế có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại)
Lãi suất có thể phân thành nhiều loại khác nhau Nếu phân theo nghiệp vụ ngân hàng, lãi suất được phân thành 2 loại:
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất do các ngân hàng đưa ra để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội Hiện nay các ngân hàng phải đối mặt với sự cạnh tranh thu hút khách hàng, ngân hàng phải đưa ra một lãi suất tiền gửi đủ lớn để có thể thu hút
và duy trì sự ổn định trong hoạt động huy động vốn của mình
Lãi suất cho vay: là lãi suất mà người đi vay của ngân hàng căn cứ vào đó để trả lãi vay cho ngân hàng Lãi suất tiền vay có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau, mức độ rủi ro khác nhau
Lãi suất tiền gửi ngân hàng càng cao sẽ thu hút nhu cầu gửi tiền vào hệ thống ngân hàng càng nhiều Khi mức sinh lời gửi tiền cao hơn, nhà đầu tư sẽ lựa chọn kênh đầu tư có thể mang lại nhiều lợi nhuận trên đồng vốn của mình, lúc này họ sẽ
Trang 26gửi tiền vào ngân hàng thay vì lựa chọn các kênh đầu tư khác như: chứng khoán, vàng, bất động sản,…Vì vậy, lãi suất tiền gửi ngân hàng và nguồn vốn huy động vốn có quan hệ cùng chiều nhau
Ngoài ra lãi suất cũng ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn nên sẽ tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho doanh thu giảm xuống dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp bị ảnh hưởng Điều này khiến cho kênh đầu tư vào cổ phiếu của các doanh nghiệp trở nên kém hấp dẫn Do đó, gửi tiền vào ngân hàng sẽ trở thành kênh đầu tư hấp dẫn với lãi suất cao cho người gửi tiền
1.5.3 Cung tiền
Cung tiền là khái niệm dùng để chỉ lượng tiền tệ cung cấp cho nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản… của các cá nhân và tổ chức Tiền cơ sở (Money base – MB): Tổng lượng tiền mặt do ngân hàng trung ương phát hành bao gồm tiền đang được lưu thông và tiền dự trữ
Cung tiền (Money supply – M2): Tổng lượng tiền trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng Cung tiền do Ngân hàng trung ương kiểm soát Ngân hàng trung ương kiểm soát tiền cơ sở và do đó sẽ kiểm soát cung tiền của một quốc gia
Khi cần điều tiết vĩ mô, Ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh cung tiền bằng cách: in thêm tiền, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại và mua bán giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở Khi Ngân hàng trung ương phát tín hiệu thay đổi cung tiền thì thị trường tiền tệ sẽ phản ứng khác nhau Nếu Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích tăng trưởng nền kinh tế bằng cách tăng cung tiền, lúc đó lãi suất sẽ giảm Lãi suất thấp sẽ làm chi phí đầu tư rẻ, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay để thực hiện dự án kinh doanh, mang lại lợi nhuận kỳ vọng khi đầu tư vào công ty đó và giá
cổ phiếu sẽ tăng lên Do đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng có khuynh hướng
sẽ chuyển sang kênh đầu tư khác có lãi suất cao hơn thay vì gửi vào ngân hàng Ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng nóng cần hạ nhiệt, ngân hàng trung ương sẽ
Trang 27thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách giảm cung tiền, tăng lãi suất, lúc này kênh huy động vốn của ngân hàng thu hút được một lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhiều hơn so với các kênh đầu tư khác Tóm lại, cung tiền và nguồn vốn huy động của ngân hàng có quan hệ ngược chiều nhau: khi nới lỏng cung tiền để kích thích tăng trưởng kinh tế thì nguồn vốn huy động giảm, và ngược lại khi thắt chặt cung tiền để hạ nhiệt thì nguồn vốn huy động tăng
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường Chỉ số chứng khoán tể hiện sự phát triển kinh tế của một nước và mức độ kỳ vọng của nhà đầu tư
về sự phát triển của đất nước Nếu nhà đầu tư lạc quan kỳ vọng về khả năng phát triển của nền kinh tế, họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán với mức kỳ vọng lợi nhuận cao hơn là sẽ gửi tiền vào ngân hàng Lúc này nguồn vốn huy động của ngân hàng sẽ giảm và ngược lại Như vậy chỉ số chứng khoán và nguồn vốn huy động của ngân hàng có quan hệ ngược chiều nhau
1.6 MÔ HÌNH VÉC – TƠ HIỆU CHỈNH SAI SỐ VECM
Để đánh giá tác động của tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động đến các biến kinh tế vĩ mô: chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, cung tiền, chỉ số giá chứng khoán,
Trang 28bài nghiên cứu đã tham khảo các bài nghiên cứu trước đây ở các nước làm cơ sở nghiên cứu của tác giả Bằng phương pháp kiểm định trong mô hình véc – tơ tự hồi qui (VAR), các phương pháp kiểm định đồng liên kết và sai số hiệu chỉnh được thực hiện Bước đầu tiên của mô hình phân tích là cần phải kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bằng kiểm định ADF (Augmented Dickey –Fuller ) Khi chuỗi dữ liệu dừng, bước tiếp theo cần tiến hành là kiểm định tính đồng liên kết Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy có quan hệ đồng liên kết giữa các biến, do đó bài nghiên cứu được kiểm định bằng mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số VECM (Vector Autoregressive Error Correction Model) Mô hình VECM là một dạng của mô hình VAR tổng quát, được sử dụng trong trường hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và chứa đựng mối quan hệ đồng liên kết
Phương pháp này có ưu điểm vượt trội bởi mô hình VECM hàm chứa mọi mối quan hệ tương hỗ tác động theo thời gian giữa các biến, theo đó, phân tích được tác động trong ngắn hạn, cũng như quá trình điều chỉnh đến quan hệ ổn định trong dài hạn Ngoài ra, phương pháp phân tích dãy số theo thời gian (time series analysis) cũng tránh được một số yếu điểm của phương pháp OLS đơn thuần như hồi quy giả (spurious regression) hoặc tự tương quan Quy trình xử lý của mô hình này được thực hiện với trình tự bốn bước và có dạng sau:
Trong đó:
được biết như là thành tố hiệu chỉnh sai số
Trang 29Phương trình trên cho thấy một sự biến đổi trong y được giải thích một phần bởi thay đổi của x trong cùng kỳ, và một phần được giải thích bởi tác động điều chỉnh
về mối quan hệ trong dài hạn
1.6.1 Kiểm định tính dừng của các biến
Việc kiểm định tính dừng là điều kiện tiên quyết khi đưa ra kết luận có ý nghĩa trong phân tích đối với chuỗi thời gian, do các biến trong mô hình là các số liệu chuỗi thời gian thường không ổn định nên việc kiểm định tính dừng của các biến là cần thiết để đảm bảo tính ổn định, tăng độ chính xác và mức độ đáng tin cậy của mô hình phân tích trong dài hạn Để kiểm định tính dừng của dãy số liệu, tác giả sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị - ADF Đối với dãy số liệu gốc không dừng, sẽ được lấy sai phân cho đến khi dãy số liệu dừng trước khi đưa vào mô hình
1.6.2 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình
Thực hiện một số kiểm tra để loại bỏ các độ trễ không phù hợp làm cho mô hình không đạt được sự ổn định và tối ưu, đồng thời thực hiện kiểm định đồng liên kết Johasen để loại bỏ những độ trễ làm cho mô hình không có quan hệ đồng liên kết Sau đó dựa vào mức ý nghĩa và sự phù hợp của mô hình để xác định độ trễ tối ưu của mô hình nghiên cứu
1.6.3 Kiểm định đồng liên kết
Nhằm để hạn chế hiện tượng hồi quy giả, do đó kiểm định này dùng để kiểm tra xem có tồn tại hay không mối quan hệ dài hạn giữa các biến tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động, chỉ số giá tiêu dùng CPI, lãi suất, cung tiền và chỉ số giá chứng khoán và nhằm đảm bảo tính phù hợp và ổn định của mô hình nghiên cứu
1.6.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Sau khi đã thực hiện kiểm định đồng liên kết thì nếu các chuỗi có quan hệ dài hạn, nghĩa là có ít nhất một mối quan hệ đồng liên kết, thì mô hình VECM được sử dụng để phân tích mối quan hệ của hai biến trong mô hình
Trang 30Sau đó thực hiện kiểm định quan hệ nhân quả Granger để xem có tồn tại mối quan hệ giữa các biến trong mô hình hay không Và thực hiện kiểm định tính đúng đắn của mô hình đã xây dựng bằng kiểm định nghiệm đơn vị đối với phần dư thu được từ mô hình, nếu phần dư thu được là chuỗi dừng thì mô hình là phù hợp và được sử dụng để phân tích
Nếu mô hình đạt được sự ổn định và tối ưu sau khi kiểm tra thì thực hiện phân tích hàm phản ứng xung để đánh giá sự phản ứng của biến nguồn vốn huy động đối với sự biến động của tất cả các biến trong mô hình, đồng thời phân tích phân rã phương sai để đánh giá phần đóng góp của cú sốc từ các biến trong mô hình đến phương sai của sai số trong dự báo với biến nguồn vốn huy động
1.7 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Dựa trên cơ sở lý thuyết, các nhà nghiên cứu đã thực hiện các nghiên cứu nhằm kiểm chứng về mối quan hệ của các biến số kinh tế vĩ mô đến tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động Sau đây là một số nghiên cứu về mối quan hệ này của hệ thống ngân hàng ở các nước
Tại hệ thống ngân hàng ở Ấn Độ, Loayza và Shankar (2000) sử dụng phương pháp kiểm tra tính đồng liên kết để đo lường mối quan hệ dài hạn giữa tiền gửi tiết kiệm ở Ấn Độ và các nhân tố như lãi suất thực, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ tiết kiệm chính phủ và tỷ trọng của thành phần nông nghiệp trong GDP Kết quả cho thấy tiền gửi tiết kiệm có mối quan hệ cùng chiều với lãi suất thực, thu nhập bình quân đầu người và tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP; trái chiều với sự phát triển tài chính, lạm phát và chỉ số người phụ thuộc Athukorala và Sen (2003) cũng nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy các yếu tố chỉ số phát triển, lãi suất huy động vốn của ngân hàng, sự mở rộng mạng lưới, dịch vụ của các ngân hàng và lạm phát có mối tương quan thuận với tiết kiệm Quin (2003) xem xét hành vi tiết kiệm của người lục địa Trung Quốc và nhận thấy rằng nguồn tiền gửi tiết kiệm tiềm năng là nhân tố chính trong các nhân tố tác động đến nguồn huy động vốn của ngân hàng Tương tự, lãi suất cũng là nhân tố quan trọng đối người lục địa Trung Quốc về khả năng huy
Trang 31động vốn Bên cạnh đó, sự thận trọng cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy họ tiết kiệm
Nghiên cứu về hành vi gửi tiết kiệm cũng được nghiên cứu bởi Hondroyiannis (2004) Ông sử dụng phương pháp đồng liên kết để xem xét hành vi gửi tiết kiệm của hộ gia đình ở Hy Lạp và nhận thấy rằng trong dài hạn, nguồn gửi tiết kiệm khá nhạy cảm với sự thay đổi trong dân số, tỷ số người phụ thuộc, lãi suất thực, tính thanh khoản và tài chính quốc gia
Mặt khác, Athukorala và Tsai (2003) sử dụng phương pháp vòng đời chuẩn để
dự đoán tác động của dân số, sự gia tăng của thu nhập khả dụng, khả năng góp phần
an ninh xã hội, và các vấn đề tài chính và tín dụng sẵn có lên nguồn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng Kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy sự phát triển của thu nhập, độ tuổi dân số, sự thay đổi trong công tác góp phần an ninh xã hội và các sự sẵn có tín dụng là các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả của khả năng huy động vốn Trong khi lãi suất có tác động dương thì lạm phát dường như là nhân tố có tác động trái chiều với tiền gửi tiết kiệm
Cũng có một số bài nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên cơ sở so sánh chéo giữa các quốc gia Như bài của Doshi (1994), Masson et al (1998), Loayza et
al (2000), Agrawal (2001), Dựa trên mô hình vòng đời, Doshi (1994) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ gia tăng dân số (đo lường bởi chỉ số tuổi thọ và cơ cấu tuổi), tốc độ gia tăng sản lượng (đo lường bởi tổng sản phẩm quốc gia ròng) và GDP (sự phát triển) lên nguồn vốn tiết kiệm của 129 nước Nghiên cứu này cho thấy tuổi thọ có ảnh hưởng cùng chiều với nguồn tiền tiết kiệm ở một số ít các nước phát triển, trái lại ở các nước có thu nhập cao thì mối quan hệ trên có quan hệ ngược chiều Khi các biến dân số có tác động quan trọng đến chỉ số tiền gửi tiết kiệm ở Châu Á, thu nhập bình quân đầu người ở Châu Phi, và sự phát triển thu nhập ở Châu Mỹ La Tin cũng được các nhà nghiên cứu tìm thấy Những nhân tố tác động đến hành vi tiết kiệm tư nhân của các nước đang phát triển và các nước công nghiệp cũng được nghiên cứu bởi Masson et al (1998) và họ nhận thấy rằng các nhân tố
Trang 32như tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất thực và sự thay đổi trong kim ngạch xuất nhập khẩu đều có mối quan hệ cùng chiều với tiền gửi tiết kiệm
Trong khi đó, Loayza et al (2000) thì nghiên cứu các biến chính sách và các biến phi chính sách tác động lên nguồn gởi tiết kiệm và đưa ra kết luận rằng:
- Tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm tư nhân có tương quan cao theo từng kỳ;
- Tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm với mức độ và tốc độ tăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người và sự ảnh hưởng của thu nhập có tương quan dương lớn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển
- Với giả thuyết vòng đời được đưa ra cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa chỉ số người phụ thuộc và tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm
- Với tính thận trọng, người dân đã chọn tiền gửi tiết kiệm để hạn chế các rủi
ro, do đó lạm phát được nghiên cứu cho thấy có tác động cùng chiều với tiền gửi tiết kiệm
- Chính sách tài khóa là công cụ hiệu quả đáng kể để nâng mức tiết kiệm quốc gia lên
Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự phát triển ở 7 nước Châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malysia, Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ) cũng được nghiên cứu bởi Agrawal (2001) Tác giả cho thấy cả 2 nhân tố sự gia tăng tốc độ tăng trưởng của thu nhập bình quân trên đầu người và chỉ số về độ tuổi người phụ thuộc càng giảm sẽ tác động đến một tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm gia tăng Đối với nhân tố lãi suất
có quan hệ cùng chiều với tiền gửi tiết kiệm ở Malaysia và Thái Lan nhưng trái chiều ở Indonesia
Theo nghiên cứu của Sudin Haron và Wan Nursofiza Azmi (2008), tác giả sử dụng mô hình VECM để kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến kinh tế
vĩ mô như chỉ số chứng khoán ở Malaysia – KLCI, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cung tiền M3, lãi suất cho vay cơ bản (BLR) và lãi suất tiền gửi trên hai hệ hai hệ thống ngân hàng không theo tín ngưỡng và ngân hàng
Trang 33thuộc Hồi giáo ở Malaysia để đánh giá tác động của các biến này lên nguồn vốn huy động của hai hệ thống ngân hàng này Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến kinh tế như lãi suất cho vay căn bản (BLR), bộ chỉ số tổng hợp Kuala Lumpur, CPI, cung tiền M3 và tổng sản phẩm quốc nội (GDP), có mối tương quan trong dài hạn với tiền gửi huy động của khách hàng tại 2 hệ thống ngân hàng Trong hệ thống ngân hàng không theo tín ngưỡng các biến đều có tác động đáng kể lên nguồn tiền huy động của ngân hàng ngoại trừ CPI Trong nghiên cứu này, chỉ số CPI – chỉ số tiêu biểu cho chỉ số lạm phát, cho thấy mối quan hệ ngược chiều với nguồn vốn huy động và các công cụ huy động tiền gửi có kỳ hạn ở hệ thống ngân hàng không tín ngưỡng, biến BLR, M3 và chỉ số tổng hợp Kuala Lumpur cũng có mối quan hệ ngược chiều, riêng biến lãi suất tiền gửi thì có mối quan hệ cùng chiều với nguồn vốn huy động của ngân hàng Còn đối với ngân hàng thuộc Hồi giáo, ngoại trừ chỉ
số BLR, các biến kinh tế khác có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với nguồn vốn huy động của ngân hàng
Từ kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy nguồn vốn huy động ngân hàng chịu sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô như chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, cung tiền, chỉ số chứng khoán, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, chỉ số người phụ thuộc trong gia đình và tỷ trọng nông nghiệp trong GDP,… tại một số hệ thống ngân hàng ở nước ngoài, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng và mức ý nghĩa của các biến trên mỗi hệ thống có thể khác nhau
Từ những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ảnh hưởng của các biến số kinh tế
vĩ mô đến nguồn vốn huy động ngân hàng, cùng với cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng cuả các nhân tố kinh tế vĩ mô này, tác giả sẽ sử dụng mô hình của Haron và Wan Nursofiza Azmi (2008) để làm cơ sở thực hiện nghiên cứu này Tuy nhiên, chỉ số sản xuất công nghiệp của Việt Nam, chỉ số thể hiện cho chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP), bị hạn chế do Tổng cục Thống kê thay đổi phương pháp tính từ năm
2011 nên chỉ có số liệu từ 2011 đến 2014 đáng tin cậy trong khi số liệu từ năm 2007 – 2010 chỉ có giá trị tham khảo nên tác giả sẽ bỏ qua nhân tố này Dựa trên cơ sở này, tác giả thực hiện phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô là chỉ số
Trang 34giá tiêu dùng, cung tiền, lãi suất tiền gửi và chỉ số giá chứng khoán đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam với
dữ liệu được lấy theo tháng trong giai đoạn 2007 – 2014
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về nguồn vốn huy động ngân hàng, về mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và nguồn vốn huy động ngân hàng, đồng thời cũng cho thấy được sự tác động và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng ở các nước thông qua một số nghiên cứu thực nghiệm Từ các nghiên cứu trong quá khứ, có thể thấy rằng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng chịu nhiều tác động từ các nhân tố kinh tế vĩ mô Trong bài nghiên cứu này, tác giả có tham khảo các bài nghiên cứu trước đây, đặc biệt là bài nghiên cứu của Sudin Haron và Wan Nursofiza Azmi (2008) sẽ được dùng làm cơ sở để tác giả thực hiện nghiên cứu xem những nhân tố kinh tế vĩ mô nào tác động nhiều nhất đến nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM Việt Nam và nghiên cứu thu thập dữ liệu theo tháng trong giai đoạn 2007 – 2014
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ
VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
2.1 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014
2.1.1 Năm 2007
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nước ta, đánh dấu sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngành ngân hàng cũng đã đạt được những kết quả khả quan và có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế Nhiều cơ chế chính sách tiền tệ, tín dụng đã đi vào cuộc sống, nhiều đổi mới về tổ chức và mạng lưới đã được triển khai, sự hợp tác, liên kết chiến lược với các đối tác trong và ngoài nước đã được đẩy mạnh, các ngân hàng thương mại đã ký kết hợp tác với nhiều tập đoàn kinh tế, với các ngân hàng trong và ngoài nước Vốn pháp định của các NHTMNN và NHTMCP đã được tăng lên vượt bậc, nhiều NHTMCP đã gần đạt được mức vốn pháp định cho năm 2010 Nhiều loại hình dịch vụ tiền tệ, ngân hàng
đã được phát triển Đặc biệt trong năm 2007, công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng đã phát triển vượt bậc, thanh toán thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt
đã tăng mạnh Tốc độ tăng tổng tài sản của các NHTMCP đã đạt trên 30%, lợi nhuận của các NHTM đạt cao hơn nhiều năm trước đó Cụ thể, tăng trưởng huy động vốn của toàn hệ thống năm 2007 đạt 47,64%, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 36,53% của năm 2006 và 32,08% của năm 2005 Trong đó, huy động vốn bằng VND tăng 55,99%, tăng mạnh so với mức 41,15% của năm 2006; huy động ngoại tệ đạt 29,66% tăng so với mức 25,31% của năm 2006 Trước những áp lực cạnh tranh với các kênh huy động vốn khác như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, các ngân hàng đã có nhiều giải pháp tăng cường huy động vốn như
Trang 37đa dạng hóa các hình thức huy động thông qua việc tăng lãi suất, mở tài khoản thanh toán, dịch vụ thẻ, khuyễn mãi hấp dẫn Ngoài ra, việc mở rộng mạng lưới, chi nhánh, phòng giao dịch của hệ thống ngân hàng cũng đã góp phần thu hút được khá lớn lượng tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và trong dân cư Đây là năm có tốc độ tăng huy động vốn cao nhất so với các năm trước đây
Hình 2.1: Huy động vốn từ nền kinh tế giai đoạn 2001 - 2007
Nguồn: Ngân hàng nhà nước, BCTN năm 2007
2.1.2 Năm 2008
Năm 2008, thế giới cũng như Việt Nam đã chứng kiến diễn biến phức tạp và những hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc liên minh Châu Âu cũng đã lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế, thương mại thế giới, thị trường chứng khoán thế giới sụt giảm; giá cả quốc tế biến động bất thường, hàng loạt các định chế tài chính lớn trên thế giới phá sản, giải thể hoặc sáp nhập… Với
Trang 38độ mở cửa nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu tác động bởi những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới Kinh tế vĩ mô trong nước phải đối mặt với nhiều yếu tố không thuận lợi như tình trạng lạm phát tăng mạnh, tăng trưởng kinh tế chậm lại, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do kinh tế toàn cầu suy giảm, thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm Trong bối cảnh đó, nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo
an sinh xã hội Trước tình hình phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, NHNN
đã có những phản ứng chính sách kịp thời, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô Các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế và thị trường, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường Năm 2008 là năm hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Cụ thể, tăng trưởng huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng chỉ đạt 22,87% thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng 47,64% của năm 2007 Trong đó, huy động vốn bằng VND tăng 21,38% giảm mạnh so với mức tăng trưởng 53,99% của năm 2007 Huy động ngoại
tệ tăng 27,74% giảm nhẹ so với mức 29,66% của năm 2007
2.1.3 Năm 2009
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu năm 2008 đã kéo dài và tác động lên hầu hết các nước trên thế giới Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng này Mặt khác thiên tai và dịch bệnh liên tiếp xảy ra làm trầm trọng thêm những khó khăn của nền kinh tế Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thực hiện được các giải pháp cấp bách và giữ vững được ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước cũng đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và nới lỏng thận trọng thông qua các giải pháp giảm lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc và giảm giá đồng Việt Nam ở mức hợp lý; thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với doanh nghiệp vay vốn,… Việc điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động
Trang 39ngân hàng đã góp phần quan trọng và tích cực đối với nền kinh tế, lưu thông tiền tệ
và hoạt động của các tổ chức tín dụng được đảm bảo an toàn và hiệu quả Với sự can thiệp và điều hành của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước, trước tình hình căng thẳng của nền kinh tế, đặc biệt là chính sách hỗ trợ lãi suất của NHNN tạo đà cho tăng trưởng kinh tế đã tạo cú hích cho tăng trưởng tín dụng đồng thời dẫn đến tình trạng căng thẳng trong huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là vào cuối năm 2009 Kết quả cho thấy, tăng trưởng huy động vốn năm 2009 cũng đã đạt được khả quan so với năm 2008, cụ thể huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 29,88% (cao hơn mức 22,87% của năm 2008) Trong đó huy động bằng VND tăng 30,07%, huy động bằng ngoại tệ tăng 29,29% (
so với năm 2008: VND tăng 21,8% và ngoại tệ tăng 27,74%) Huy động vốn tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm, đạt mức bình quân trên 3%/ tháng Tuy nhiên tốc độ huy động vốn tăng chậm lại trong 6 tháng cuối năm, bình quân 1,67%/ tháng
2.1.4 Năm 2010
Qua 2 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm 2010 nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5% chủ yếu nhờ sự phục hồi của cầu nội địa và thương mại toàn cầu, song sự phục hồi này chưa vững chắc do tình hình chính trị xã hội còn bất ổn ở nhiều quốc gia, khủng hoảng nợ Châu Âu ngày càng diễn biến phức tạp Giá cả hàng hóa thiết yếu có xu hướng tăng so với năm 2009 gây áp lực lạm phát ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế mới nổi và đang phát triển Nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều khởi sắc và đạt tốc độ tăng trưởng gần 7%, cao hơn mục tiêu đặt ra 6,5% Tuy nhiên, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, kinh tế tăng trưởng chưa thật bền vững, hiệu quả đầu
tư còn thấp, lạm phát tăng cao Chính phủ Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách điều hành linh hoạt nhằm giảm bớt các tác động xấu từ các yếu tố bên ngoài đến các ngành kinh tế Trong năm này, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận và theo hướng giảm dần, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một loạt các chính sách được ngân hàng đưa
Trang 40ra để bình ổn thị trường tiền tệ như ban hành mới Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng nhằm hoàn thiện hệ thống tiền tệ và hoạt động của ngân hàng, hướng tới chuẩn mực mới, phù hợp hơn với các thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam
Ngày 25/05/2010 thông tư 13-NHNN ra đời quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, cụ thể tỷ lệ an toàn vốn – CAR tăng từ 8% - 9%, và yêu cầu tỉ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động theo tỷ lệ 80%/ 85%,… Việc ban hành thông tư này nhằm nâng cao các tiêu chuẩn an toàn, siết chặt việc sử dụng các nguồn vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển an toàn và bền vững
Năm 2010 cũng là năm các ngân hàng thương mại phải tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 3000 tỷ, quy định về siết chặt kinh doanh vàng của NHNN, chính thức đóng cửa các sàn giao dịch vàng, hoạt động huy động và cho vay vàng của các ngân hàng cũng bị thu hẹp,… Trước các biến động trên thị truờng tiền tệ, việc điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động của ngân hàng đã góp phần tích cực đối với kết quả đạt được của nền kinh tế, lưu thông tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại được đảm bảo an toàn hiệu quả Kết quả đạt được của hệ thống ngân hàng thương mại trong năm 2010 với tỷ lệ tăng trưởng của hoạt động huy động vốn tăng 36,24% (đạt tốc độ bình quân 3,02%/ tháng) cao hơn mức tăng của năm 2009 Xét
về cơ cấu đồng tiền, huy động vốn VND tăng 41%, huy động vốn ngoại tệ tăng 20,95% Huy động VND có tốc độ tăng trưởng nhanh dần từ tháng 2/2010, đến tháng 6/2010 thì đạt tốc độ tăng là 6,47% và đặc biệt cuối năm tốc độ này tăng cao nhất đạt 6,89% trong tháng 12/2010
2.1.5 Năm 2011
Bức tranh toàn cảnh của kinh tế thế giới năm 2011 với diễn biến phức tạp và rủi
ro gia tăng, tăng trưởng kinh tế chậm lại trong khi áp lực lạm phát vẫn tăng cao, tạo những thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương các nước, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi tình trạng tăng trưởng thấp đi