Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới. Ngay từ đầu, nó đã là những ngành có trình độ tích tụ tư bản cao, đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới, đó là những xí nghiệp lớn, sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ và đã phát triển rất mạnh. Mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao dộng, tăng sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Việc nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn, tăng tích tụ tư bản và sản xuất. Hai là, cạnh tranh tự do. Một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích tụ tư bản. Mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh làm cho quá trình tích tụ tư bản tăng lên. Vì vậy, xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp. Điển hình nhất là vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát, v.v. đã tạo ra sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện ra hoá chất mới như axit sulfuric (H2S04), thuốc nhuộm, v.v.; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay, v.v.; phát triển những phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thuỷ, xe điện, máy bay, v.v. và đặc biệt là đường sắt. Ba là, khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản; một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất. Bốn là, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và
Trang 1S 15
LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA
TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN VÀ LIÊN HỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC TẬPKinh tế Chính trị (Trường Đại họĐc BOáÀchNkhUUoaN,
Trang 2STT MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM ĐIỂM BTL BTL CHÚ GHI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH
TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN
VÀ LIÊN HỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TẬP ĐOÀN UNILIVER
LỚP: CC02 NHÓM: Nhóm F
HK211
GVHD: Nguyễn Trung Hiếu
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 31
Trang 4STT Mã số SV Họ và tên
Nhiệm vụ được phân công
% Điểm BTL
Điểm
1 2053325 Trần Trang Kỳ Phong 1.3, 2.2.1, 1.2 100%
2 1852287 Giang Liễu Dinh Mở đầu, 1.1 80%
3 2052644 Trần Duy Phát Kết luận, 2.3 100%
4 2052277 Nguyễn Mỹ Tiên 2.3, 2.2 100%
5 2052285 Phạm Hồng Minh Trang 2.1, 2.2.2 100%
Họ và tên nhóm trưởng:Trần Trang Kỳ Phong
Số ĐT: 0903029234
Email: phong.tranwindyfeng@hcmut.edu.vn
Nhận xét của GV:
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Trần Trang Kỳ Phong
2
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN 1.1 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền 5
1.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền 6
1.3 Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền ngày nay 7
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN UNILIVER 2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của tập đoàn UNILIVER 10
2.2 Thực trạng phát triển của tập đoàn UNILIVER 12
2.2.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân của nó 12
2.2.1.1 Những thành tựu đạt được 12
2.2.1.2 Nguyên nhân của những thành tựu 16
2.2.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó 17
2.2.2.1 Những hạn chế, tồn tại 17
2.2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 20
2.3 Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn UNILIVER theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh trong thời gian tới 21
2.3.1 Định hướng nhằm thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn UNILIVER theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh trong thời gian tới 21
2.3.2 Giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn UNILIVER theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh trong thời gian tới 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
3
Trang 7Downloaded by Le Khoa (lkvietnam.technology@gmail.com)
MỞ ĐẦU
Tiếp theo giai đoạn cạnh tranh tự do, chủ nghĩa tư bản phát triển lên giai đoạn cao hơn
là giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền và sau đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhànước Đây là những nấc thang mới trong quá trình phát triển và điều chỉnh của chủnghĩa tư bản về cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thích ứng với những biếnđộng mới trong tình hình kinh tế -chính trị thế giới cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XXcho đến nay
Từ những luận điểm trên, nhóm chúng em xin chọn đề tài "Lý luận của VI.Lênin vềChủ nghĩa tư bản độc quyền và liên hệ với sự phát triển của các tập đoàn đa quốc giahiện nay (MNC), tập đoàn xuyên quốc gia (TNCS)" để làm sáng tỏ hơn về vấn đề này.Mục tiêu chính của bài tiểu luận:
Một là, làm sáng tỏ luận điểm, khái niệm chuyên của C.Mác về phạm trù hàng hoá,sức lao động và thị trường lao động
Hai là, phân tích thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) trên thế giớihiện nay
Ba là, đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất và nângcao thị trường lao động trong thời gian tới đây
4
Trang 8Chương 1: LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN
1.1 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Sự xuấthiện quá trình tích tụ sản xuất và dẫn tới ra đời tư bản độc quyền do những nguyênnhân chủ yếu sau đây:
Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học – kỹthuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới Ngay từ đầu, nó đã là những ngành cótrình độ tích tụ tư bản cao, đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới, đó là những xínghiệp lớn, sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ và đã phát triển rất mạnh.Mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao dộng, tăng sản xuất giá trị thặng dư tươngđối Việc nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã mở rộng khả năng tích lũy
tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn, tăng tích tụ tư bản và sản xuất
Hai là, cạnh tranh tự do Một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng quy
mô tích tụ tư bản Mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuậtkém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vữngtrong cạnh tranh làm cho quá trình tích tụ tư bản tăng lên Vì vậy, xuất hiện một số xínghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp.Điển hình nhất là vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuậtmới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát, v.v đã tạo ra sảnlượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện ra hoá chất mới như axit sulfuric(H2S04), thuốc nhuộm, v.v.; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máytiện, máy phay, v.v.; phát triển những phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thuỷ,
xe điện, máy bay, v.v và đặc biệt là đường sắt
Ba là, khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản; một sốsống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tậptrung sản xuất
Bốn là, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩalàm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và
Trang 9tập trung tư bản Do điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của cácquy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích luỹ,v.v ngày càng mạnh mẽ, vì vậy đã dẫn đến những cuộc cạnh tranh khốc liệt buộc cácnhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích luỹ để thắng thế trong cạnhtranh Đồng thời, cạnh tranh gay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còncác nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngàycàng to lớn Từ đó, tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng, trở thành đòn bẩy mạnh mẽthúc đẩy quá trình tích tụ sản xuất trong nền kinh tế tăng cao hơn Trong điều kiện lúcbấy giờ, những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh tranhvới nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, làm nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ
đó hình thành các tổ chức độc quyền Các tổ chức độc quyền xuất hiện phổ biến vàthống trị toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia đã tạo ra thời đại của CNTB độc quyền
1.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền
5 Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền:
1.2.1 Tích tụ tập trung sản xuất và sự hình thành độc quyền.
- Cạnh tranh thúc đẩy tích tụ tập trung tự bản dẫn đến tập trung sản xuất, sản xuất tậptrung được biểu hiện:
+ Số lượng công nhân, sản phẩm trong các xí nghiệp quy mô lớn chiếm tỷ trọng lớntrong tổng lực lượng lao động xã hội
+ Sản xuất tập trung vào một số xí nghiệp quy mô lớn thì chúng có khuynh hướngliên minh thỏa thuận với nhau, dẫn đến hình thành tổ chức độc quyền
1.2.2 Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính.
- Sự hình thành độc quyền trong ngân hàng và vai trò mới của Ngân hang
- Tư bản tài chính và đại diện cho nó là bọn đầu sỏ tài chính, chúng lũng đoạn cả vềkinh tế và chính trị:
+ Về kinh tế: Bằng cổ phiếu khống chế để nắm công ty mẹ, chi phối các công ty con,các chi nhánh
6
Trang 10+ Về xã hội: Bằng sức ép tập đoàn để nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhànước.
1.2.3 Xuất khẩu tư bản.
Xuất khẩu tư bản là đưa tư bản ra nước ngoài để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao:
- Trong giai đoạn cạnh tranh tự do, xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hàng hóa, tức làđưa hàng ra nước ngoài để thực hiện giá trị
- Trong giai đoạn độc quyền, xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hoạt động từ nhữngnước phát triển đến những nước đang phát triển hoặc kém phát triển ở những quốc gianhân công, nguyên liệu rẻ, hậu quả xuất khẩu tư bản là dẫn đến nền kinh tế phụ thuộc,cạn kiệt tài nguyên
1.2.4 Sự hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế và phân chia ảnh hưởng kinh tế.
Xu hướng tòan cầu hóa diễn ra cạnh tranh quyết liệt, cạnh tranh giữa các quốc gia, cáctập đoàn, dẫn đến hình thành các liên minh kinh tế quốc tế rất đa dạng (liên minh vềthương mại, thuế quan, sản xuất, …)
Các liên minh này phân chia nhau khu vực ảnh hưởng kinh tế
1.2.5 Các cường quốc phân chia lãnh thổ thế giới.
- Do sự hoạt động của quy luật phát triển không đều trong giai đoạn độc quyền thì mộtnước đang phát triển có thể đuổi kịp, vượt một nước đã phát triển
- Sự phát triển không đều về kinh tế dẫn đến không đều về quân sự, chính trị làm thayđổi tương quan lực lượng và đòi phân chia lại lãnh thổ thế giới dẫn đến xung đột quân
sự để chia lại lãnh thổ thế giới, đó là nguyên nhân dẫn đến 2 cuộc chiến tranh thế giới(1914 - 1918 và 1939 - 1945)
1.3 Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền ngày nay.
1.3.1 Tập trung sản xuất và hình thức độc quyền mới: sự xuất hiện những công
ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ
Hiện tượng liên kết đa dạng tiếp tục phát triển, sức mạnh của các consơn vàcônglômêrát ngày càng được tăng cường Cách mạng khoa học và công nghệ dường
7
Trang 11như biểu lộ thành hai xu hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xuhướng tập trung và xu hướng phi tập trung hóa.
Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do
1.3.1.1 Thứ nhất.
Việc ứng dụng các thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ cho phép tiêu chuẩnhóa và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng, dẫn tới hình thành hệ thống giacông, nhất là trong những ngành sản xuất ô tô, máy bay, đồ điện, cơ khí, dệt, may mặc,
đồ trang sức, xây dựng nhà ở
Nhìn bề ngoài, dường như đó là hiện tượng «phi tập trung hóa», nhưng thực chất đóchỉ là một biểu hiện mới của sự tập trung sản xuất, trong đó các hãng vừa và nhỏ lệthuộc và chịu sự chi phối của các chủ hãng lớn về công nghệ, vốn, thị trường, v.v
1.3.1.2 Thứ hai.
Những ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường
1.3.2 Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chinh.
Thích ứng với sự biến đổi mới, hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tàichính đã thay đổi Sự thay đổi diễn ra ngay trong quá trình liên kết và thâm nhập vàonhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp
Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn
Vai trò kinh tế và chính trị của tư bản tài chính ngày càng lớn, không chỉ trong khuônkhổ quốc gia mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước khác trên thế giới
Trùm tài chính không chỉ tăng cường địa vị thống trị về kinh tế mà còn tăng cường sựkhống chế và lợi dụng chính quyền nhà nước Trong chính phủ, họ có nhiều người đạidiện hơn, hơn nữa, việc tự mình đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủngày càng phổ biến
1.3.3 Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của độc quyền quốc tế sau chiến tranh, nhưng quy mô, chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới
8
Trang 12Có sự tăng trưởng rất nhanh của việc xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát triển.Nguyên nhân của quy mô xuất khẩu tư bản ngày càng lớn, một mặt, là do cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ mới đã thúc đẩy sự phát triển của việc phân công quốc
tế, việc quốc tế hoá sản xuất và việc tăng nhanh tư bản «dư thừa» trong các nước; mặtkhác là do sự tan rã của hệ thống thuộc địa cũ sau chiến tranh
Từ những năm 70, của thế kỷ XX đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua chảy lại giữacác nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau
– Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình chínhtrị thiếu ổn định Thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyêngia, cán bộ khoa học – kỹ thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và tích luỹ
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân ít, không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nướcngoài
Các công ty này cắm chi nhánh ở nhiều nước, nhưng phần lớn chi nhánh của chúng đặt
ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Để vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch
và khắc phục những trở ngại do việc hình thành các khối liên kết như EU, NAFTA…các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trong các khối đó để phát triển sản xuất.Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh, Pháp, Hà Lan… đã vượt qua cả lệnh cấmvận của Mỹ để đầu tư vào các nước đang phát triển
1.3.4 Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vục hóa nền kinh tế
Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc quyền xuyên quốc gia tăng lêncàng thúc đẩy xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phân chia phạm vi ảnhhưởng giữa chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc hình thành chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước quốc tế
Ngày càng có nhiều nước tham gia vào các Liên minh Mậu dịch tự do hoặc các Liênminh Thuế quan FTA là khu vực trong đó các nước thành viên cam kết xoá bỏ hàngrào thuế quan đối với hàng hóa của nhau
9
Trang 13CU là liên minh trong đó các nước thành viên có mức thuế chung đối với hàng hóanhập khẩu từ các nước ngoài khối.
1.3.5 Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới
Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực dân mới đã suy yếu,nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm ngầm, lúc công khai, vẫn tranhgiành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện «Chiến lược biên giới mềm», rasức bành trướng «biên giới kinh tế» rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi phối cácnước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trịvào các cường quốc
Những cuộc tấn công của Mỹ và đồng minh vào ápganixtan, Irắc… chứng tỏ chủnghĩa đế quốc vẫn là một đặc điểm trong giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa tưbản
Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tưbản độc quyền mà thôi
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN UNILIVER 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tập đoàn UNILIVER
2.1.1.1 Giới thiệu về tập đoàn Unilever.
Unilever là một tập đoàn đa quốc gia, được thành lập bởi hai nước Hà Lan và AnhQuốc, được thành lập vào năm 1930 bởi sự sáp nhập của hai doanh nghiệp MagarineUnie (doanh nghiệp sản xuất bơ thực vật ở Hà Lan) và Lever Brothers (công ty sảnxuất xà bông tại Anh) Hiện nay, Unilever tập trung vào sản xuất và cung cấp các mặthàng tiêu dùng như dầu gội, hoát chất giặt tẩy, mỹ phẩm, thực phẩm, … với nhiềucông ty con trên toàn thế giới, hơn 400 nhãn hiệu nổi tiếng thuộc vào tập đoànUnilever, trong đó có thể kể đến một số nhãn hiệu như: OMO, Surf, Lux, Dove, KnorrComfort, Vaseline, Hazeline, Ponds, P/S, Signal, Close Up, AXE, Rexona, Vim, Cif(Jif), Sunsilk, Sunlight, Trụ sở chính của tập đoàn được đặt hai nơi là London và
10
Trang 14Rotterdam Doanh nghiệp đặt ra sứ mệnh là: “To add vitality to life” (Tiếp thêm sinhkhí cho cuộc sống).
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tập đoàn Uniliver
Tiền thân của tập đoàn Unilever chính là công ty Lever Brothers, một công ty sản xuất
xà phòng được sáng lập bởi William Hesketh Lever tại Anh Quốc Năm 1980, ông mởrộng quy mô kinh doanh của mình ra các nước khác trên thế giới như Úc, Thụy Sĩ,Canada, … Năm 1911, công ty của ông chiếm phần lớn thị phần sản phẩm ngành xàphòng trong môi trường tiêu thụ Công ty Lever Brothers đã mua lại một số công tykhác để bánh trường thị trường của mình như Vinolia, Hudson’s, Pears, … Năm 1930,công ty Lever Brothers kí kết sáp nhập với doanh nghiệp chuyên sản xuất bơ thực vậtMagarine Unie ở Hà Lan Từ đây tập đoàn liên doanh Unilever được ra đời, đánh dấumột sự thay đổi mang tính thế kỉ
Khi nền kinh tế thế giới mở rộng, Unilever đã bắt đầu vạch ra một chiến lược tung rathị trường các sản phẩm mới và một loạt kế hoạch mua lại các thương hiệu khác Công
ty mới sau khi sáp nhập đã tạo ra những bước tiến mới ở nhiều lĩnh vực sản phẩm khácnhau Trong đó, Unilever đặc biệt chú trọng đến sự đa dạng hóa của các sản phẩmđược chế xuất từ chất béo và dầu, ở nửa sau của những năm thế kỉ 20 Những năm sau
đó, nhiều thương hiệu đã được Unilever mua lại như Lipton (1971), Brooke Bond(1984), Best Food (2000), Dollar Shave (2016), … Từ năm 2015, doanh thu bắt đầutăng trưởng mạnh, dưới sự lãnh đạo của Paul Polman, doanh nghiệp chuyển hướngphát triển đến các thương hiệu làm đẹp và chăm sóc sức khỏe và tiến đến các mặt hàngkhác như nước giải khát, gia vị nấu ăn, … Unilever là tập đoàn dẫn đầu trong việc pháttriển bền vững Hiện tại, Unilever sỡ hữu hơn 500 công ty con có mặt ở 90 quốc giatrên toàn thế giới với doanh thu mỗi năm được tính theo đơn vị chục tỷ Euro, là tậpđoàn tiêu biểu nhất trong lĩnh vực sản xuất mặt hàng chăm sóc sức khỏe người tiêudùng, và được dự đoán sẽ còn tăng trưởng mạnh trong tương lai
2.2 Thực trạng phát triển của tập đoàn UNILIVER.
2.2.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân của nó.
2.2.1.1 Những thành tựu đạt được.
11
Trang 152.2.1.1.1 Giá trị thương hiệu.
Ra đời trong khoảng thời gian chủ nghĩa tư bản đang trên đà phát triển trong lòng xãhội châu Âu, Unilever đã vươn lên trở thành một trong những tập đoàn đa quốc giahàng đầu với lượng sản phẩm có sẵn ở hơn 190 quốc gia trên thế giới Hiện nay,Unilever đã có mặt ở hầu hết các thị trường hàng hóa như: kem đánh răng, các sảnphẩm chăm sóc da và tóc, chất tẩy rửa, gia vị… Có đến 14 nhãn hàng của tập đoàn lọtvào top 50 nhãn hàng toàn cầu của Kantar Bên cạnh đó, mạng lưới phân phối củaUnilever cũng khá dày đặc với khoảng 25 triệu nhà bán lẻ trên toàn cầu
Unilever vẫn luôn nổi tiếng với giá trị cốt lõi là hội nhập, tôn trọng, trách nhiệm vàtiên phong Unilever đã đưa những giá trị này vào những hoạt động thực tiễn của tậpđoàn, từ đó tạo nên cơ sở để giúp tập đoàn đưa ra những lựa chọn phù hợp và đúngđắn Vì vậy, Unilever luôn cam kết mang đến những sản phẩm với chất lượng cùng giá
cả ổn định và hơn hết là an toàn với người tiêu dùng
Bên cạnh đó, giá trị thương hiệu của Unilever gắn liền với hình ảnh một tập đoàn thânthiện với môi trường Cụ thể, lượng khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính từ mỗi sản phẩm
đã được tập đoàn cắt giảm khoảng 3% (2018), 8% (2019) và 10% (2020) so với năm
2010 Trong tương lai, tập đoàn cũng hướng đến mục tiêu giảm được 50% lượng khíthải gây hại này vào năm 2030 Đặc biệt, tại Việt Nam, các nhà máy của Unilever đãchuyển đổi hoàn toàn sang sử dụng nguồn năng lượng tái tạo thay vì năng lượng hóathạch (đốt cháy nhiên liệu) Unilever cũng thể hiện sự quan tâm về môi trường thôngqua việc lựa chọn, sử dụng và tiết kiệm nguồn nước trong dây chuyền sản xuất của tậpđoàn Mặc dù, Unilever chưa đạt được chỉ tiêu do chính mình đề ra trong năm 2020nhưng tập đoàn đã cắt giảm được lượng nước sử dụng trong sản xuất xuống khoảng49% so với năm 2008 Bằng chương trình quản lý lượng nước trong quá trình sản xuất,
từ năm 2013, Unilever Ấn Độ đã tiết kiệm được 50 tỷ lít nước Nhờ vào kết quả tíchcực này, Unilever cũng đã xem xét và bàn luận với chính phủ một số quốc gia nhưBrazil, Việt Nam, Bangladesh để tiến hành thực hiện chương trình tiết kiệm nước này.Ngoài ra, độ thân thiện với môi trường của các loại bao bì sản phẩm cũng là một vấn
đề Unilever quan tâm Vào những năm 2019-2020, tổng lượng bao bì các sản phẩm
12