1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay

200 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Kiến Thức Pháp Luật Cho Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Ở Các Phường Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận Án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1 Lý do chọn đề tài luận án Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan ng

Trang 1

1. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật BDKTPL

2 Cải cách hành chính Nhà nước CCHCNN

6 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam MTTQVN

7 Phổ biến, giáo dục pháp luật PBGDPL

Trang 2

1 1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 11

1 2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án 14

1 3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề đặt ra

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHẤT

LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34

2 1 Đội ngũ cán bộ chủ chốt phường và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho

đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội 34

2 2 Những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng bồi

dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các

Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN

3 1 Thực trạng chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán

bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội 86

3 2 Nguyên nhân của thực trạng và một số kinh nghiệm bồi dưỡng kiến thức pháp

luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội 104

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN

4 1 Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng bồi dưỡng

kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa

4 2 Những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội

ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 127

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận án

Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ

sở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan ngoạigiao và các tổ chức quốc tế; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, vănhóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của quốc gia Các phường trên địa bàn thànhphố Hà Nội là cơ sở, nền tảng của hệ thống chính trị Thành phố, có vai trò quantrọng trong quán triệt, thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, chính quyền các cấp vàphát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở

Đội ngũ cán bộ và cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn TPHN là lựclượng nòng cốt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ gìn an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh Để hoànthành chức trách, nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ và CBCC nhất thiết phải có kiến thứctoàn diện, có hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước Bồi dưỡng nâng cao KTPL có vai trò rất quantrọng, trực tiếp nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật vànăng lực thực thi pháp luật của đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ CBCC ởcác phường trên địa bàn TPHN góp phần tạo sự chuyển biến tích cực về năng lựclãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ sở; nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; vận động nhân dânchấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật củaNhà nước, nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp ủy, chính quyền địa phương cáccấp; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; góp phần quan trọngxây dựng hệ thống chính quyền ở cơ sở và xây dựng Nhà nước pháp quyền, xâydựng cấp ủy, chính quyền vững mạnh toàn diện

Nhận thức được điều đó, những năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng,CBCC và cơ quan, ban ngành chức năng các cấp của TPHN, thường xuyênquan tâm bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật (KTPL) cho đội ngũ

Trang 4

CBCC ở các phường và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thiết thực gópphần nâng cao phẩm chất, năng lực, phong cách công tác và ý thức, nănglực thực thi pháp luật của đội ngũ này Qua đó, góp phần phòng ngừa, ngănchặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quanliêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cơ sở và vi phạm kỷ luật, pháp luậtcủa một bộ phận cán bộ, đảng viên Đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo,sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý, điềuhành của chính quyền; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơsở; thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, TTATXH trên địa bàn TPHN

Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban ngành vàcán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt các cấp chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về

ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác phổ biến giáo dục phápluật; chưa thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng bồidưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ CBCC ở các phường Nội dung, hìnhthức, biện pháp BDKTPL còn chậm đổi mới, chất lượng, hiệu quả chưa cao,nên kiến thức pháp luật và hiểu biết về đường lối, quan điểm của Đảng, Hiếnpháp, pháp luật của Nhà nước, ý thức, thói quen chấp hành và năng lực thựcthi pháp luật của không ít CBCC ở các phường còn hạn chế; tác phong côngtác còn biểu hiện chủ quan, tùy tiện; cá biệt vẫn còn tình trạng “phép vua thua

lệ làng”, cố tình làm trái đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước Đặc biệt, trước tác động bởi mặt trái của cơ chế kinh tế thịtrường và các tệ nạn xã hội tiêu cực, một số CBCC ở các phường đã giảm sútniềm tin, phai nhạt lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống; vi phạm kỷ luậtđảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cấp ủy, chính quyền địa phương; lợidụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm, tham ô, tham nhũng,lãng phí, quan liêu, hách dịch làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dânvới cấp ủy, chính quyền địa phương

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biếnnhanh chóng, phức tạp, khó lường; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn

Trang 5

giáo, sắc tộc diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp gay gắt Tranh chấp chủquyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo tiềm ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn định,cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, chiến tranh thương mại, tranhgiành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ giữa các nước ngày càngquyết liệt hơn Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triểnmạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang lại cả thời cơ và thách thứcđối với mọi quốc gia, dân tộc Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế

và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của ViệtNam ngày càng được nâng cao, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạonhững tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, nềnkinh tế phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh thấp, bốn nguy cơ màĐảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến gay gắt, phức tạp hơn;nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn là thách thức lớn Tình hìnhBiển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường, cuộc đấu tranh bảo vệ chủquyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go, phức tạp,lâu dài Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống Đảng, Nhànước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

và yêu cầu đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thốngchính trị các cấp trong sạch vững mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiếnđấu của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăngcường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng,quan liêu, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảngviên, củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước, cấp ủy,chính quyền địa phương đang đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết phải nâng caochất lượng BDKTPL cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ CBCC ở

TPHN Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và

Chính quyền Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn

Trang 6

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn; đề xuấtnhững giải pháp nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở cácphường trên địa bàn TPHN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và xácđịnh những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn chất lượng và nângcao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Đánh giá đúng thực trạng chất lượng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một sốkinh nghiệm BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Xác định yêu cầu, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượngBDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn chất lượng

và nâng cao chất lượng bồi dưỡng KTPL; đề xuất những giải pháp nâng caochất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN đápứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về lý luận, thực tiễn và thực trạng chấtlượng, xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng BDKTPLcho đội ngũ CBCC ở các phường của 12 quận trên địa bàn TPHN hiện nay

Tập trung tiến hành điều tra, khảo sát ở các phường thuộc 12 quậntrên địa bàn TPHN; kết quả điều tra, khảo sát của tác giả ở các phường trênđịa bàn TPHN Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn được sửdụng trong luận án chủ yếu từ năm 2016 đến nay Những giải pháp nângcao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bànTPHN có giá trị vận dụng thực tiễn đến năm 2030 và những năm tiếp theo

Trang 7

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng, chỉnh đốnĐảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về cán bộ và công táccán bộ; các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, BộChính trị, Ban Bí thư và chính sách, pháp luật của Nhà nước về PBGDPL

Cơ sở thực tiễn

Là toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện củacác chủ thể, các lực lượng và kết quả nâng cao chất lượng BDKTPL cho độingũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN; các nghị quyết, chỉ thị, quy định,quy chế, báo cáo tổng kết về công tác xây dựng Đảng; về cán bộ và công táccán bộ; về PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức ; kết quả điều tra, khảosát thực tế của tác giả ở các phường trên địa bàn TPHN; đồng thời, kế thừachọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liênquan đến đề tài luận án

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án

sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành Trong đó coi trọng sử dụng các phương pháp: lôgic và lịch sử; phântích và tổng hợp; thống kê và so sánh, tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học vàphương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng quan niệm chất lượng và xác định yếu tố quy định chất lượngBDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Rút ra một số kinh nghiệm BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phườngtrên địa bàn TPHN

Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, khả thi nhằm tạo sự chuyểnbiến về nhận thức, trách nhiệm, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp

Trang 8

ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng; xác định và thực hiện đúng nộidung, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp nâng cao chất lượngBDKTPL của đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lýluận, thực tiễn về chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trênđịa bàn TPHN Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cấp ủy, chính quyền, cơ quanchức năng các cấp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũCBCC ở các phường trên địa bàn TPHN Kết quả của luận án có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Nhà nước vàPháp luật, môn Giáo dục quốc phòng, an ninh, ngành Xây dựng Đảng và Chínhquyền Nhà nước ở các học viện, nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân,nhất là bậc đại học và sau đại học

7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án gồm: mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mụccác công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận

án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1 1 1 Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ vàcán bộ chủ chốt

Ních Khăm (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp Phụ nữ ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới

[52] Tác giả luận án cho rằng, “cán bộ làm công tác lãnh đạo Hội Liên hiệpphụ nữ các cấp vừa có tính mềm dẻo để lôi cuốn quần chúng phụ nữ và biếtquản lý, biết cách sử dụng, bố trí những cán bộ nữ có năng lực, có trình độ”[52, tr 43] Tác giả đã đánh giá thực trạng cán bộ lãnh đạo các cấp của HộiLiên hiệp phụ nữ Lào qua các thời kỳ cách mạng cả về số lượng, chất lượng

và cơ cấu Tác giả nhận định, số đông cán bộ lãnh đạo Hội các cấp giữ đượcphẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với Đảng,với quần chúng nhân dân Tuy nhiên, có một số cán bộ tỏ ra bi quan daođộng, trình độ năng lực còn nhiều mặt chưa ngang tầm; tỷ lệ cán bộ nữ thamgia lãnh đạo, quản lý chưa xứng đáng với vai trò, vị trí, khả năng cống hiếncủa đội ngũ cán bộ nữ và chưa tương xứng với lực lượng phụ nữ của Cộnghòa dân chủ nhân dân Lào Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Lào, việc xây dựng chấtlượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạođức, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Lào trongthời kỳ mới phải có những giải pháp đồng bộ bộ, tập trung vào: cơ cấu và quyhoạch cán bộ gắn liền với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng các quy chế công táchội phụ nữ (quy chế về tuyển chọn, đánh giá cán bộ, đào tạo bồi dưỡng; phâncông, phân cấp quản lý cán bộ, sử dụng cán bộ; bầu cử, chất vấn…); xây dựng vàthực hiện chính sách cán bộ Hội phụ nữ (chính sách về: xây dựng đội ngũ cán bộ;

sử dụng tuyển chọn, đánh giá và bố trí cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng)

Trang 10

Khăm-phăn Phôm-ma-thắt (2005), Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới [73] Tác giả quan niệm:

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở Lào

là những người giữ các chức vụ cao trong hệ thống chính trị, có số lượngđông đảo, có chất lượng và cơ cấu hợp lý, có chế độ quản lý, sử dụng vàđào tạo bồi dưỡng thống nhất do Trung ương quy định [73, tr 42] Đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt nhằm xây dựng một đội ngũcán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý thành một đội ngũmạnh, đông đảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chắc chắn về chất lượng đểđáp ứng nhu cầu củng cố, kiện toàn bộ máy trong nước về trước mắt và trongtương lai; không ngừng nâng cao vai trò, chất lượng lãnh đạo của Đảng, nănglực quản lý của Nhà nước, tổ chức và hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chínhtrị - xã hội trong hệ thống chính trị dân chủ nhân dân Trên cơ sở phân tích, làm

rõ các khái niệm, phạm trù về cán bộ, cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ lãnh đạochủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnhđạo chủ chốt; phân tích thực trạng, chỉ ra kinh nghiệm trong đào tạo bồi dưỡngđội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý Theo tác giả,cần tiếp tục khảo sát, đánh giá cán bộ và xác lập hệ thống quy hoạch, kế hoạchđào tạo bồi dưỡng cho từng đối tượng cụ thể; cải tiến chương trình và nội dungđào tạo bồi dưỡng cán bộ; kết hợp đào tạo bồi dưỡng qua trường và qua hoạtđộng công tác; tăng cường vai trò và năng lực hoạt động của Ban Tổ chức Trungương và Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia; tiếp tục nghiên cứu và hoànthiện các chính sách và hệ thống quy chế tổ chức quản lý trong đào tạo bồidưỡng; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ

Sa-mut Thong-sổm-pa-nít (2018), Hệ thống chính trị Lào và vấn đề nhất thể hoá các vị trí chủ chốt giữa Đảng và Nhà nước [101] Từ Đại hội IX đến

nay, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thực hiện chế độ kiêm nhiệm hai chức

vụ trong hệ thống hành chính, đồng chí bí thư đồng thời là tỉnh trưởng, huyện

Trang 11

trưởng hoặc trưởng bản Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định: kiêmchức cả Đảng và Nhà nước là thể hiện tính đặc thù khách quan của nước Lào,tạo cho bộ máy gọn nhẹ, triển khai công việc được thuận lợi và nhanh chóng

1 1 2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ và cán bộ chủ chốt

Súc-ni-lăn Đon-kun-lạ-vông (2014), Giáo dục pháp luật trong các trường đào tạo bồi dưỡng của Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [33] Theo tác giả, giáo dục pháp luật trong các trường đào tạo bồi dưỡng

của Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là quá trình giáo dụctác động có tính định hướng, tổ chức, cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡngtình cảm và hành vi hợp pháp cho cán bộ, chiến sĩ an ninh nhân dân nhằmmục đích hình thành ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phùhợp với pháp luật, góp phần xây dựng và vận hành Nhà nước pháp quyền củadân, do dân và vì dân ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Quan điểmgiáo dục pháp luật trong các trường đào tạo bồi dưỡng của Bộ An ninh nướcCộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bao gồm: đây là một bộ phận của giáo dụcchính trị, tư tưởng; không tách rời nhiệm vụ giáo dục pháp luật trong nhàtrường với đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và giáo dục đạo đức cách mạngCác giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong các trường đào tạobồi dưỡng của Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bao gồm: Đổimới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giảng dạy pháp luật trong cáctrường đào tạo bồi dưỡng của Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;xây dựng đội ngũ giáo viên giảng dạy pháp luật đảm bảo chất lượng trong cáctrường đào tạo bồi dưỡng; tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo cho giảng dạy phápluật; tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế nhằm nâng cao chất lượng giáodục pháp luật trong các trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ; tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác giáo dục pháp luật trong các trường đào tạo bồi dưỡngcủa Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Vi-lay Phi-la-vong (2017), Giáo dục pháp luật cho công chức hành chính ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay [72] Trong luận án,

tác giả quan niệm:

Trang 12

“Giáo dục pháp luật cho công chức hành chính Lào là những tác động

có tổ chức, có định hướng, có chủ định của chủ thể giáo dục để cungcấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp chocông chức hành chính nhằm mục đích hình thành cho họ có ý thứcpháp luật đúng đắn, tạo niềm tin vào pháp luật và thói quen hành độngphù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành” [72, tr 35]

Giáo dục pháp luật cho công chức hành chính có vai trò góp phầntrang bị hệ thống kiến thức pháp luậtvà nâng cao ý thức pháp luật; gópphần hình thành niềm tin và phát triển thói quen hành động theo quy địnhpháp luật; xây dựng thái độ tôn trọng đối với Nhà nước và các quy tắc đờisống xã hội, hình thành những hiểu biết về chính trị; đấu tranh chốngnhững hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhànước, quản lý xã hội; kiềm chế hành vi vi phạm pháp luật và nâng cao ýthức phục vụ nhân dân của công chức hành chính Các nội dung giáo dụcpháp luật được tác giả xác định là: kiến thức về nhà nước và pháp luật,những kiến thức về pháp luật hành chính, dân sự, kinh tế…; quy định củapháp luật mới ban hành và văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt độngquản lý chuyên môn nghiệp vụ; hệ thống pháp luật của các quốc gia kháctrong khu vực và của quốc tế,… Các hình thức giáo dục pháp luật như nóichuyện pháp luật, tổ chức câu lạc bộ pháp luật, hội thảo, tủ sách, thi tìmhiểu, tổ chức hoà giải, tư vấn, trợ giúp pháp lý Trên cơ sở các vấn đề lýluận, tác giả đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho công chức hànhchính Lào, từ đó xác định phương hướng, giải pháp tăng cường giáo dụcpháp luật trong tình hình mới

1 2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

1 2 1 Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ và cán bộ chủ chốt

Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [89] Tác giả quan niệm, “cán bộ lãnh đạo chủ

chốt cấp tỉnh là những người giữ vị trí trọng yếu nhất trong bộ máy đảng,

Trang 13

chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh” [89, tr 41] Qua đánh giá thựctrạng xây dựng, tác giả cho rằng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị để xác địnhmục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp công tác cán bộ; quán triệt quanđiểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường bản chấtgiai cấp công nhân trong xây dựng; gắn với xây dựng, củng cố và đổi mới

tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạochủ chốt cấp tỉnh thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạngcủa quần chúng; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của cơquan chủ quản cán bộ kết hợp với quá trình rèn luyện, phấn đấu của bảnthân cán bộ Tác giả luận án đã xây dựng được tiêu chí cụ thể đối vớiCBCC cấp tỉnh Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải có sựthống nhất cao về động cơ, mục đích hoạt động, quan điểm giải quyếtnhiệm vụ chính trị; có sự tương hợp về trình độ năng lực lãnh đạo giữa cácthành viên và khả năng phối hợp hành động trong lãnh đạo toàn diện thựchiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương

Vũ Văn Hiền (Chủ biên, 2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [42] Cuốn sách là công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng đội ngũ

cán bộ Theo tác giả, nếu khẳng định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt thìviệc xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý là cốt lõi của các vấn đề thenchốt Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần chútrọng hàng đầu vì đây là đội ngũ đặc biệt quan trọng Trên cơ sở quán triệtquan điểm của Đảng về công tác cán bộ, phải tăng cường đoàn kết, phát huydân chủ trong toàn Đảng và trong xã hội để xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức,

đủ tài cho đất nước Phải nắm vững tiêu chuẩn cán bộ, giải quyết mối quan hệgiữa tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ Đánh giá đúng và sử dụng đúng cán bộ,nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý Tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, siếtchặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với việc tạo môi trường thuận lợi và động lực để

Trang 14

đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ, đổi mới, sáng tạoChính sách cán bộ phải nhất quán, thực sự dân chủ, công bằng

Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc [17] Các tác giả nhận thấy, để phát

triển thuận lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang những dấu ấnđặc sắc của Trung Quốc, đẩy mạnh công cuộc cải cách, mở cửa, vấn đềxây dựng đội ngũ cán bộ có tố chất cao, có tri thức, nắm vững nghiệp vụ,hoàn thành tốt trọng trách được giao, trung thành với chủ nghĩa Mác, kiêntrì con đường xã hội chủ nghĩa; biết lãnh đạo, quản lý đất nước, xã hội,đặc biệt là quản lý nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa… được Đảng

và Nhà nước Trung Quốc rất quan tâm Các tác giả nghiên cứu, phân tíchcác vấn đề liên quan đến công tác cán bộ như chế độ cán bộ, công việc;việc cải cách thể chế chính trị; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; việcnâng cao tố chất, năng lực đối với cán bộ lãnh đạo; công tác đào tạo bồidưỡng cán bộ; tiến cử, lựa chọn, đề bạt, sử dụng, nhận xét, đánh giá, quản

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, khả năng tiếp nhận những trithức khoa học khác; nâng cao khả năng nhận thức thực tiễn, vận dụng sángtạo lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao năng lựctổng kết thực tiễn; nâng cao năng lực dự báo, khả năng xử lý thông tin trên cơ

sở đó có định hướng đúng đắn, quyết định kịp thời, chính xác; xây dựngphương pháp làm việc khoa học, tác phong dân chủ,… Quá trình nâng cao tưduy lý luận cho đội ngũ CBCC cần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; đổimới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; tăng cường công tác đào tạo bồi

Trang 15

dưỡng cán bộ; thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặtcủa đội ngũ CBCC cấp huyện

Trịnh Thanh Tâm (2012), Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức là nữ của

hệ thống chính trị các xã ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [91]

Luận án đã khảo sát và phân tích đội ngũ CBCC là nữ của hệ thống chính trị ởcác xã của 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng, gồm: Bắc Ninh, Hà Nam, HảiDương, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc; về cơ cấu

độ tuổi, chức vụ đảm nhiệm, thành phần dân tộc thiểu số, tôn giáo, thời giancông tác, thâm niên giữ chức vụ hiện tại và các chức vụ đảm nhiệm; về phẩm chấtchính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, phong cách lãnh đạo, quản lý Trên cơ sở làm

rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp: nâng caonhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, các tổ chức có liên quan; tiếp tục cụ thể hoátiêu chuẩn CBCC của hệ thống chính trị xã và nâng cao chất lượng quy hoạch,đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm cơ sở để xây dựng đội ngũ CBCC là nữ; nâng caochất lượng quản lý, đánh giá, tuyển chọn, bổ nhiệm CBCC là nữ; phát huy mạnh

mẽ tinh thần tự học tập, rèn luyện của CBCC là nữ và thực hiện tốt chính sách cán

bộ nữ; phát huy vai trò của đảng uỷ, đảng bộ, các tổ chức trong hệ thống chính trị

xã và nhân dân, coi trọng vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ xã trong xây dựng độingũ CBCC là nữ hệ thống chính trị xã

Cao Khoa Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban Thường

vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay [8] Tác giả quan

niệm: đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý lànhững cán bộ lãnh đạo, quản lý, CBCC trong hệ thống bộ máy đảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấpthành phố; các quận, huyện, thị uỷ; các đảng bộ cấp trên cơ sở trực thuộcThành uỷ; các sở, ban, ngành và các đơn vị hiệp quản trên địa bàn TPHNĐội ngũ cán bộ này có vị trí, vai trò quan trọng và là nhân tố quyết địnhđối với sự thành bại của sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô Tác giả

đã xác định cụ thể thành phần; vị trí, vai trò; chức trách; nhiệm vụ; tiêu

Trang 16

chuẩn về trình độ kiến thức, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, nănglực, tuổi đời, sức khoẻ; đặc điểm; thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộdiện Ban Thường vụ Thành uỷ quản lý Trên cơ sở đó, tác giả luận án chỉ raphương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ Trong đó, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức trong hệthống chính trị; của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân; tiếp tục xây dựng,

bổ sung, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh cán bộ, các quy chế, quy trình vềcông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; đổi mới đồng bộ một số khâu cơbản của công tác cán bộ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; tăng cườngcông tác giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống,gắn với tiếp tục thực hiện đồng bộ, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung vàhoàn thiện hệ thống chính sách; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo củaThành uỷ đối với công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ

Đồng Xuân Trường (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay [110], tác

giả luận án quan niệm:

“Xây dựng đội ngũ cán bộ xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủyquản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước ta là toàn bộ hoạt động có mục đíchcủa cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan chức năng các cấp tác động vàoquy trình công tác cán bộ, nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ gồm nhữngngười đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cấp ủy đảng, chínhquyền xã ở các tỉnh Tây Bắc đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý; cóphẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ học vấn, năng lực,phương pháp tác phong công tác bảo đảm sự chuyển tiếp vững chắcgiữa các lớp cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, củng cố quốc phòng - an ninh của các xã hiện nay” [110, tr 53] Tác giả đã xây dựng tiêu chí đánh giá xây dựng đội ngũ cán bộ xãthuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước ta,

bao gồm: Một là, nhóm tiêu chí đánh giá về nhận thức, trách nhiệm của chủ

Trang 17

thể, lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ xã thuộc diện ban thường

vụ huyện ủy quản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước ta Hai là, nhóm tiêu chí về

đánh giá việc thực hiện quy trình, nội dung biện pháp xây dựng đội ngũ cán

bộ xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước

ta Ba là, nhóm tiêu chí đánh giá kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở các tỉnh Tây Bắc nước ta Bốn là,

nhóm tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũcán bộ xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở các tinh Tây Bắcnước ta gắn với kết quả phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương

Nguyễn Ngọc Ánh (2013), “Hà Nội xây dựng đội ngũ bí thư đảng ủyphường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới” [1] Tác giả cho rằng,phường là cấp cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng Bí thư đảng uỷ phường làngười đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ

sở trên địa bàn đô thị; là nhân tố có vai trò quan trọng trong lãnh đạo thựchiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở phường, góp phầnxây dựng và phát triển đô thị văn minh, hiện đại Để xây dựng đội ngũ bí thưđảng uỷ phường, cần làm tốt công tác cán bộ; gắn chặt công tác cán bộ vớithực hiện các nhiệm vụ chính trị của phường; đề cao trách nhiệm của các cấp

ủy, lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp là cấp ủy quận; phải được tiến hành thườngxuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp giữa đào tạo bồi dưỡng vàrèn luyện trong thực tiễn, đề cao quá trình tự học, tự rèn luyện; phải gắn liềnvới xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và xây dựng đảng bộ trong sạch,vững mạnh; tăng cường dân chủ, phát huy vai trò của MTTQVN, các đoànthể và nhân dân tham gia xây dựng, giám sát bí thư đảng uỷ phường

Lê Hương Giang (2016), Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo xây dựng

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh từ năm 2004 đến năm 2011 [38] Tác giả

đưa ra quan niệm: CBCC là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng,

có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của mộtcấp nhất định, người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnhđạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao,

Trang 18

chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giaoCBCC cấp tỉnh là những cán bộ giữ vai trò trọng yếu nhất trong bộ máyĐảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh; trực tiếp lãnh đạo điềuhành tổ chức thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống chính trị cấp tỉnh, tổ chứcđộng viên quần chúng tham gia tích cực thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc trên địa bàn tỉnh Từ thực tiễn xây dựng đội ngũ CBCC của Đảng bộtỉnh Điện Biên, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm: Đảng bộ Tỉnh có chiếnlược trong xây dựng, đào tạo cán bộ và sử dụng hiệu quả đội ngũ CBCC củaTỉnh; phát huy tính chủ động của đội ngũ CBCC cấp tỉnh trong việc nắm bắt cơhội để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao nhận thức của đảng

bộ, chính quyền tỉnh Điện Biên về tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũCBCC cấp Tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh giáo dục phẩm chất cách mạng gắnvới công tác kiểm tra, giám sát quản lý cán bộ và đổi mới hệ thống chính sáchCBCC ở Tỉnh; thường xuyên nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm xây dựngđội ngũ CBCC của Tỉnh và đẩy mạnh việc học tập kinh nghiệm của một số địaphương trong cả nước; cần tạo bước đột phá mang tính chất đặc thù trong việcxây dựng đội ngũ CBCC cấp tỉnh

Phạm Hồng Kiên (2018), Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015 [56]

Tác giả cho rằng, đội ngũ CBCC giữ vị trí quan trọng, là cầu nối giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp giải quyết các công việc cho nhândân và là nhân tố quyết định chất lượng thực hiện mục tiêu phát triển kinhtế- xã hội, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở Tác giảluận án tập trung nghiên cứu 4 chức danh chủ chốt cấp cơ sở, gồm: bíthư đảng uỷ, phó bí thư đảng uỷ, chủ tịch HĐND và chủ tịch UBND xã,phường, thị trấn; làm rõ chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh BìnhDương chỉ đạo xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở trên các nội dungxây dựng tiêu chuẩn cán bộ và quy hoạch cán bộ, công tác đào tạo bồidưỡng và tạo nguồn cán bộ, công tác bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ,

Trang 19

công tác quản lý cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ Luận án khẳngđịnh, công tác xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở phải gắn với quyhoạch và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, với xu thế pháttriển của các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

và gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế

Nguyễn Thanh Hùng (2018), Quản lý bồi dưỡng cán bộ chủ chốtcấp huyện trong bối cảnh đổi mới [47] Luận án đã làm rõ khái niệm quản lý bồi dưỡng

CBCC cấp huyện trong bối cảnh đổi mới; đánh giá thực trạng, phát hiện ưu điểm,nhược điểm, góp phần tổng kết thực tiễn về bồi dưỡng, quản lý bồi dưỡng CBCCcấp huyện Theo tác giả, để nâng cao chất lượng bồi dưỡng CBCC cấp huyệntrong bối cảnh đổi mới, cần chú trọng quản lý tất cả các khâu trong quá trình bồidưỡng CBCC cấp huyện theo mô hình CIPO, điều tiết ảnh hưởng của bối cảnhcần thực hiện xây dựng quy định về chế độ bồi dưỡng CBCC cấp huyện; chỉ đạoxây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng, rèn luyện đạt chuẩn đối với CBCC cấphuyện trong tình hình mới; chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡngCBCC cấp huyện; chỉ đạo đánh giá người học sau quá trình bồi dưỡng nhằm hoànthiện nội dung, chương trình bồi dưỡng CBCC cấp huyện

Đỗ Thái Huy (2018), Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Hồng hiện nay [48] Tác giả cho rằng, đội ngũ CBCC cấp xã là những người đứng

đầu, giữ vị trí trọng yếu nhất trong hệ thống chính trị cấp xã, có ảnhhưởng quyết định đến việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng vàchính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo, tổchức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Đểphát huy vai trò nhân tố chủ quan trong xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã ởđồng bằng sông Hồng, theo tác giả, cần nâng cao nhận thức về tầm quantrọng của việc xây dựng đội ngũ CBCC; tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của Nhà nước, đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt độngcủa đội ngũ CBCC; công tác tuyển dụng, quy hoạch gắn với đào tạo cán bộnâng cao trình độ đối với đội ngũ CBCC; chính sách sử dụng, đánh giá, đãi

Trang 20

ngộ; phát huy tính tích cực trong hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã ởđồng bằng sông Hồng

Nguyễn Viết Thảo (2018), “Bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho cán bộlãnh đạo, quản lý trong tình hình mới” [100] Thực hiện chế độ bồi dưỡng,cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã góp phầnnâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; rèn luyện nănglực tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược, năng lực lãnh đạo, quản lý, tổchức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Thực tiễn cho thấy,bồi dưỡng kiến thức kịp thời là một nhu cầu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý trong toàn hệ thống chính trị, bảo đảm cho họ được học tập thườngxuyên trong công tác Nội dung các chuyên đề bồi dưỡng phải đáp ứng cácvấn đề lý luận và thực tiễn mà công tác lãnh đạo, quản lý đang cần đượcluận chứng, phân tích, lý giải; bảo đảm sự gắn kết giữa bồi dưỡng lý luậnvới kiến thức thực tiễn cho người học; tạo tiền đề cho các chức danh lãnhđạo, quản lý đáp ứng các điều kiện cho phù hợp thực tiễn

1 2 2 Các công trình nghiên cứu về kiến thức pháp luật, giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ công chức

Đào Duy Tấn (2000), Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luậtở Việt Nam hiện nay [93] Theo tác giả, “tuyên truyền, phổ biến, giáo

dục pháp luật là phương thức gián tiếp, cá nhân thông qua “khâu trung gian” đểlĩnh hội các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp luật, từ đó hình thành và nâng cao ýthức pháp luật của bản thân” [93, tr 67] Để nâng cao ý thức pháp luật, cần xã hộihoá công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: mở rộng và quản lý chặtchẽ các loại hình, các tổ chức tư vấn pháp luật; cải tiến nội dung, phương pháp vàhình thức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho phù hợp với từng loạiđối tượng, từng vùng dân cư; quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo bồi dưỡngđội ngũ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; có sự phối hợp chặt chẽtrong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Nguyễn Quốc Sửu (2010), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

Trang 21

nghĩa Việt Nam [90] Tác giả cho rằng: “Giáo dục pháp luật cho cán bộ

công chức hành chính là hoạt động có định hướng, có tổ chức, thông quacác phương pháp đặc thù và bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tớicung cấp, trang bị cho cán bộ công chức hành chính những tri thức, hiểubiết về pháp luật nói chung, các vấn đề pháp luật cụ thể liên quan đến hoạtđộng hành chính - công vụ nói riêng” [90, tr 48]

Giáo dục pháp luật cũng góp phần trang bị cho họ các kỹ năng xây dựng,thực hiện và vận dụng pháp luật, nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tìnhcảm pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hiện hành, đòihỏi đặc thù của lĩnh vực hoạt động hành chính Luận án đã làm rõ vai trò, đặctrưng, mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức, các yếu

tố tác động tới giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chínhBên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

ở một số nước trên thế giới, chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt NamTác giả cho rằng, về cơ bản, đa số cán bộ công chức hành chính đã nhận thứcđược tầm quan trọng của những kiến thức, hiểu biết pháp luật trong thực thicông vụ; có sự tích cực trong việc học tập, cập nhật thông tin pháp luật; đã vậndụng được kiến thức pháp luật vào giải quyết công việc hành chính - sự vụ;giáo dục pháp luật nghề nghiệp từng bước được hình thành và củng cố Đểnâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ công chức, cầnnâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của chủ thể, đối tượng; đổi mới nộidung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật; đảm bảo điều kiện cầnthiết về kinh tế, chính trị, văn hoá và pháp luật

Tạ Ngọc Hải (2012), Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước [41] Pháp luật công chức, công vụ là

bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tượng, phạm vi điều chỉnh

là các vấn đề về công chức và hoạt động thực thi công vụ nhà nước của côngchức với hình thức thể hiện trước hết và chủ yếu là văn bản quy phạm phápluật; có phương pháp điều chỉnh kết hợp giữa điều chỉnh chung với điều

Trang 22

chỉnh chuyên ngành, khách thể mà pháp luật công chức, công vụ hướng tới

là xây dựng, phát triển đội ngũ công chức đáp ứng ngày một tốt hơn yêucầu công chức hành chính nhà nước (CCHCNN) Tác giả đã đánh giá thựctrạng pháp luật công chức, công vụ hiện hành Trong đó, đối với quy định

về đào tạo, bồi dưỡng công chức, tác giả cho rằng, quy định còn dàn trảinhiều vấn đề, thiếu sự tập trung vào khâu yếu hiện nay trong đào tạo là đàotạo kỹ năng thực thi công vụ Xuất phát từ sự khuyết thiếu trên phươngdiện lý luận và từ những tồn tại hạn chế trong điều chỉnh pháp luật,CCHCNN đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện pháp luật công chức, công vụTheo đó, cần tiếp tục thực hiện rà soát, hệ thống hoá nhằm phát hiện cácmâu thuẫn, trùng chéo, những nội dung cần sửa đổi, bổ sung; tổng kết đánhgiá việc thực hiện các quy định của pháp luật công chức, công vụ; sửa đổi,

bổ sung, ban hành mới quy định về công chức, công vụ; nghiên cứu kinhnghiệm của các nước để vận dụng phù hợp với cải cách chế độ công chức,công vụ ở Việt Nam

Nguyễn Thị Thu Hường (2012), Vai trò pháp luật trong xây dựng đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay [50] Tác giả đánh giá, pháp

luật đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng, củng cố, bảo vệ bồi đắp giá trị đạođức cách mạng; góp phần phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộctrong xây dựng đạo đức cách mạng; từng bước xoá bỏ những phong tục, tập quán,những quan điểm đạo đức lạc hậu, xây dựng đạo đức mới góp phần củng cố đạođức cho cán bộ lãnh đạo chính trị; góp phần ngăn chặn sự thoái hoá, xuống cấp vềđạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh đạo chính trị

Công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật có chuyển biến tốt, trình độvăn hoá pháp lý của con người và của xã hội đã có những bước phát triển tácđộng tích cực đến việc nâng cao đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính trị Tuynhiên, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, còn nhiều khe hở, chưa phản ánh kịp thờiđời sống pháp luật và đời sống đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, là môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa cá nhân phát triển

Trang 23

Việc kiểm sát pháp luật còn yếu, tình hình thực thi pháp luật chưa nghiêm minh,việc luật hoá các quan niệm, tư tưởng đạo đức còn chưa rõ ràng, chưa phát huytác dụng trong xây dựng đạo đức làm ảnh hưởng đến việc phát huy vai tròpháp luật trong việc xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay

Để phát huy vai trò pháp luật trong việc xây dựng đạo đức người cán bộlãnh đạo chính trị hiện nay, theo tác giả, cần nâng cao nhận thức về vị trí, vaitrò pháp luật và quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng đạo đứccủa người cán bộ lãnh đạo chính trị; nâng cao tính tự giác rèn luyện hành vipháp luật, rèn luyện đạo đức; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát chấphành pháp luật của người cán bộ lãnh đạo chính trị; thực hiện đồng bộ, thốngnhất hệ thống pháp luật trong đấu tranh chống tham nhũng, chống chủ nghĩa

cá nhân; xử lý nghiêm minh những cán bộ lãnh đạo chính trị thoái hoá biếnchất; đổi mới công tác cán bộ theo hướng coi trọng yêu cầu hiểu biết, vậndụng và thực thi nghiêm minh pháp luật nhằm xây dựng cán bộ lãnh đạochính trị vừa “hồng” vừa “chuyên”

Trần Hải Minh (2012), Vận dụng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng đội ngũ công chức nhà nước ở Việt Nam hiện nay [67]

Tác giả đã làm rõ sự tương đồng, khác biệt, sự tác động lẫn nhau giữa đạođức và pháp luật; từ đó xác định yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức vừa

có đạo đức cách mạng vừa có ý thức pháp luật cao; có trách nhiệm đạo đứctrong thực thi pháp luật; có ý thức pháp luật góp phần định hướng, bảo vệ

và củng cố đạo đức của người công chức xã hội chủ nghĩa; biết vận dụnglinh hoạt mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong thi hành công vụ vàtrong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp; tuân theo yêu cầu của pháp luật

về công chức Tác giả đã đánh giá thực trạng đội ngũ công chức và đề xuấtmột số phương hướng, giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả mối quan hệ giữađạo đức và pháp luật trong xây dựng đội ngũ công chức nhà nước Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với đội ngũ côngchức Luận án đề cập biện pháp quan tâm đến công tác đào tạo bồi dưỡng

Trang 24

công chức Nhà nước trước và sau khi tuyển dụng, bổ nhiệm; tăng cườngbồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp làm việc khoa học, hiện đại

Nguyễn Hữu Phúc (Chủ nhiệm, 2017), Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho học viên các trường sĩ quan quân đội hiện nay [74] Từ cách tiếp cận về

kiến thức và pháp luật, các tác giả đã đưa ra quan niệm: “kiến thức phápluật là trình độ hiểu biết pháp luật, khả năng nhận thức và kỹ năng địnhhướng hành vi xử sự của chủ thể phù hợp với các quy định của pháp luật”[74, tr 15] Kiến thức pháp luật được cấu thành bởi kiến thức lý thuyếtpháp luật và kiến thức thực hành pháp luật Các tác giả cho rằng, kiến thứcpháp luật là cơ sở, tiền đề để hình thành, củng cố, phát triển ý thức phápluật, hình thành văn hoá pháp luật

Nguyễn Thu Thuỷ (2006), “Chất lượng giáo dục pháp luật và các tiêu chíđánh giá” [105] Trong bài viết, tác giả đánh giá các tiêu chí về nội dung, chủthể, hình thức, phương pháp, kết quả, điều kiện hỗ trợ, phục vụ cho công tácgiáo dục pháp luật Nội dung giáo dục pháp luật là những tri thức pháp lý cầnđược truyền đạt đến đối tượng của giáo dục pháp luật Tiêu chí về nội dunggiáo dục pháp luật được xem ở mức độ phù hợp của nội dung tri thức phápluật với đối tượng pháp luật, lượng tri thức pháp luật phù hợp với khả năngnhận thức, tâm lý và nhu cầu của đối tượng giáo dục, đáp ứng được đòi hỏicủa mục tiêu giáo dục pháp luật; mức độ thống nhất về nội dung giáo dụcpháp luật giữa các cấp độ giáo dục và mức độ thống nhất giữa nội dunggiáo dục pháp luật dành cho các đối tượng; nội dung giáo dục pháp luậtđược bổ sung, cập nhật hoặc sửa đổi phù hợp với sự thay đổi của pháp luậthiện hành Tiêu chí về chủ thể được xem xét ở mức độ tương thích giữatrình độ chuyên môn của chủ thể giáo dục với mục tiêu giáo dục phápluật, nhu cầu của đối tượng giáo dục pháp luật Tiêu chí về hình thức vàphương pháp giáo dục thể hiện ở phương pháp, hình thức giáo dục phápluật phải phù hợp với từng đối tượng, hình thức được tổ chức hợp lý phùhợp với nội dung chương trình, phương pháp linh hoạt sáng tạo, bám sátyêu cầu thực tiễn Tiêu chí nhận thức của đối tượng giáo dục pháp luật

Trang 25

được xác định ở mức độ tri thức pháp luật mà đối tượng tiếp thu được quahoạt động giáo dục pháp luật

Nguyễn Tấn Diễn (2009), “Một số biện pháp tăng cường công tác phổbiến giáo dục pháp luật trong tình hình mới” [18] Từ tầm quan trọng củacông tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềuchủ trương, chính sách tổ chức thực hiện nhằm nâng cao ý thức chấp hànhpháp luật cho cán bộ, nhân dân Đánh giá về trình độ kiến thức, hiểu biếtpháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, tác giả cho rằng, về cơbản, đa số cán bộ công chức hành chính đã nhận thức được tầm quan trọngcủa những kiến thức, hiểu biết pháp luật trong thực thi công vụ; có sự chủđộng, tích cực trong việc học tập, cập nhật thông tin pháp luật; đã vận dụngđược kiến thức pháp luật vào giải quyết các công việc hành chính - sự vụ;giáo dục pháp luật nghề nghiệp từng bước được hình thành và củng cố Đểnâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ công chức, cầnnâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của chủ thể, đối tượng; đổi mới nộidung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật; đảm bảo các điều kiệncần thiết về kinh tế, chính trị, văn hoá và pháp luật

Doãn Thị Chín (2016), “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật chosinh viên” [15] Tác giả cho rằng, “giáo dục pháp luật ở Việt Nam có vaitrò to lớn, góp phần bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, tạo ra sự đồng thuậntrong nhận thức và thực hiện Hiến pháp và pháp luật một cách hữu hiệu”[15, tr 37] Giáo dục pháp luật làm cho trật tự pháp lý của quốc gia ổn định,làm cho đường lối, quan điểm của Đảng được thực thi; tạo ra những điềukiện cho công dân thực thi quyền tự do, dân chủ trong đời sống xã hội; nắmđược các kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, vai trò của nhà nước vàpháp luật trong lịch sử, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền

và lợi ích của công dân Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật,tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật chosinh viên ở các trường đại học nhằm góp phần đào tạo lực lượng sinh viên có

Trang 26

phẩm chất đạo đức tốt, ý thức kỷ luật nghiêm, tích cực học tập rèn luyện, saukhi ra trường thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ

Hồng Đăng Quang (2020), “Kết quả bước đầu đổi mới công tác đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ” [83] Bài viết đã khái quát: Trong những năm qua,

công tác đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) cán bộ, công chức, viên chức luôn đượcĐảng, Nhà nước ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đào tạođược đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, trình độ đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ Đồng thời tác giả quán triệt nhất quán quan điểm chỉ đạo của Đảng, đặt

ra yêu cầu tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, tài liệu, phương thức bồi dưỡng,tránh trùng lặp về nội dung chương trình, tập trung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu vị tríviệc làm, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mộtcách thực chất; xây dựng các công cụ đánh giá năng lực của cán bộ, công chức,viên chức làm căn cứ xây dựng quy hoạch, kế hoạch ĐTBD Xác định rõ vai trò,chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức củacác bộ, ngành, địa phương và nhiệm vụ tổ chức thực hiện ĐTBD của các cơ sởĐTBD Lấy người học làm trung tâm và giảm tối đa các loại chứng chỉ bồi dưỡngkhông thiết thực, bảo đảm quyền được ĐTBD nâng cao trình độ chính trị, chuyênmôn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức

Hồng Thế Vinh (2022), “Hoàn thiện pháp luật về đạo đức công vụ ởViệt Nam hiện nay” [119] Tác giả quan niệm: Đạo đức công vụ là một trongnhững yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến thành công của sựnghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, doNhân dân, vì Nhân dân Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng, hoàn thiệnpháp luật về đạo đức công vụ là rất cần thiết, nhằm góp phần nâng cao thái độtôn trọng, tận tâm phục vụ Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, chịu sựgiám sát của Nhân dân; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư tronghoạt động công vụ; nâng cao hơn nữa tinh thần hợp tác, tôn trọng pháp luật,tôn trọng đồng nghiệp trong thực thi công vụ của công chức

Trang 27

Nguyễn Minh Đoan (2022), “Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăngcường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứXIII” [35] Tác giả đã luận giải vấn đề nhận thức về thực hành dân chủ, tăngcường pháp chế, kỷ cương xã hội và mối quan hệ giữa chúng Tác giả khẳngđịnh “nhà nước phải quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bằngpháp luật, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật; tất cả các tổ chứckhác nhau đều phải có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện pháp luật” [35, tr 4]Đồng thời tác giả đã tổng hợp một số nhận định, đánh giá của Đảng về thựchành dân chủ, tăng cường pháp chế, kỉ cương xã hội ở nước ta hiện nay

1 3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn

đề đặt ra luận án tập trung nghiên cứu

1 3 1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan

Một là, giá trị về lý luận

Kết quả tổng quan các công trình, đề tài, sách chuyên khảo, tham khảo,luận án, báo khoa học đã công bố ở trong nước và nước ngoài có liên quanđến đề tài luận án có giá trị quan trọng về phương diện lý luận, đã góp phần

bổ sung, làm sâu sắc và phát triển toàn diện hơn lý luận về cán bộ, CBCC vàđội ngũ CBCC trong cơ quan đảng, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị -

xã hội các cấp; về KTPL và BDKTPL cho cán bộ, công chức, viên chức nhànước, nhất là đội ngũ CBCC trong hệ thống chính trị ở cơ sở Dưới nhiều góc

độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau, các công trình đã đi sâu nghiên cứu luậngiải làm sáng tỏ nhiều vấn đề hết sức cơ bản, như: quan niệm về đội ngũCBCC; cơ cấu thành phần; chức trách, nhiệm vụ; yêu cầu phẩm chất, nănglực, phương pháp, tác phong công tác; đặc điểm, vai trò của đội ngũ CBCC

ở cơ sở xã, phường, thị trấn Một số, công trình, đề tài đã đi sâu khái quát,luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao phẩmchất chính trị, đạo đức, kiến thức, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên vàđội ngũ CBCC các cấp Đưa ra quan niệm, luận giải làm rõ nội hàm quanniệm về xây dựng đội ngũ CBCC, nội dung, hình thức, biện pháp, những vấn

Trang 28

đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá thực trạng xây dựng, bồi dưỡngnâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, KTPL và năng lực của đội ngũ CBCC

Giá trị lý luận của các công trình đề tài là nguồn tri thức quý giá đốivới nghiên cứu sinh, giúp nghiên cứu sinh tham khảo, học tập, nghiên cứunâng cao trình độ kiến thức toàn diện của bản thân, nhất là kiến thức về xâydựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và kiến thức về CBCC và độingũ CBCC; về KTPL và BDKTPL cho đội ngũ CBCC nói chung CBCC ở

cơ sở xã, phường, thị trấn nói riêng Đồng thời, đây cũng là cơ sở, điềukiện thuận lợi giúp nghiên cứu sinh có thể chọn lọc kế thừa, phát triểnnhững hạt nhân hợp lý trong quá trình xây dựng luận án, nhất là những vấn

đề, về: quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp BDKTPL và nâng caochất lượng BDKTPL, những vấn đề có tính nguyên tắc BDKTPL, tiêu chíđánh giá chất lượng BDKTPL cho cán bộ, đảng viên và đội ngũ CBCC cáccấp trong hệ thống chính trị Đồng thời, khắc phục sự trùng lặp về hướngnghiên cứu đối với các công trình đã công bố

Hai là, giá trị về thực tiễn:

Các công trình, đề tài khoa học đã nghiệm thu công bố ở trong nước vànước ngoài đã điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân,rút ra một số kinh nghiệm; xác định yêu cầu và đề xuất những giải phápnâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị,đạo đức, kiến thức, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên và CBCC ở cơ

sở hiện nay Một số công trình đi sâu đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyênnhân, tổng kết rút ra một số kinh nghiệm BDKTPL và xác định yêu cầu và

đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC

ở xã, phường, thị trấn hiện nay

Kết quả nghiên cứu trên có giá trị hết sức to lớn về mặt thực tiễn,

đã được các đảng cầm quyền, các nhà nước, các nhà khoa học, nhà giáodục ở nhiều quốc gia tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn công tác xâydựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền, nhất là giáo dục pháp luật

Trang 29

và BDKTPL cho công chức, viên chức nhà nước Vì thế, đã tạo được sựchuyển biến tích cực, rõ nét trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ,đảng viên nói chung và nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở

cơ sở nói riêng

Mặt khác, trên phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của cáccông trình đã nghiệm thu công bố có ý nghĩa hết sức thiết thực đối vớinghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu, xây dựng luận án Một mặt,giúp nghiên cứu sinh có cách nhìn tổng quan, bao quát toàn diện bức tranhhiện thực về hoạt động xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, độingũ CBCC nói riêng và BDKTPL cho đội ngũ CBCC Đồng thời, thôngqua học tập, tiếp thu các tư liệu, số liệu và cách nhận định đánh giá, phântích thực tiễn giúp cho nghiên cứu sinh học tập phương pháp xem xét,đánh giá khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ về thể thực trạng, nguyênnhân, rút ra kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ CBCC và BDKTPL cho độingũ CBCC Đây là cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo trong xác địnhyêu cầu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng BDKTPL cho độ ngũCBCC ở các phường thuộc địa bàn TPHN hiện nay

Như vậy, kết quả tổng quan các công trình cho thấy, với nhiều góc

độ nghiên cứu, tiếp cận khác nhau, các công trình đã công bố ở trongnước và ngoài nước đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn hếtsức cơ bản về đội ngũ CBCC và BDKTPL cho đội ngũ CBCC , đây lànguồn tư liệu, tài liệu rất quý để nghiên cứu sinh tham khảo trong quátrình xây dựng luận án Song, do giới hạn bởi mục đích, nhiệm vụ, đốitượng, phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình, nên đến nay chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, hệ thống dưới góc độ

chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước về vấn đề “Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” Vì vậy,

nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề này làm đề tài luận án là vấn đề có ý

Trang 30

nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, có hướng nghiên cứu độc lập, khôngtrùng lặp với các công trình đã nghiệm thu, công bố

1 3 2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Một là, nghiên cứu luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất

lượng và nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trênđịa bàn TPHN Trên cơ sở xây dựng quan niệm, luận giải làm rõ cơ cấu, thànhphần, đặc điểm, vai trò đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN; tậptrung trọng tâm vào khái quát, luận giải làm rõ những vấn đề KTPL và BDKTPLcho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Hai là, xây dựng quan niệm và luận giải làm rõ những yếu tố quy định

chất lượng; xác định tiêu chí đánh giá chất lượng BDKTPL cho đội ngũCBCC ở các phường trên địa bàn TPHN; xây dựng quan niệm nâng cao chấtlượng BDKTPL, luận giải làm rõ nội hàm quan niệm, chỉ rõ nội dung, hìnhthức, biện pháp nâng cao, xác định những vấn đề có tính nguyên tắc nâng caochất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN

Ba là, điều tra, khảo sát thực tiễn, thu tập tư liệu, số liệu, trên cơ sở đó

đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, khuyếtđiểm và rút ra một số kinh nghiệm BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở cácphường trên địa bàn TPHN

Bốn là, phân tích có tính chất dự báo những yếu tố tác động và xác định

yêu cầu nâng cao chất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trênđịa bàn TPHN hiện nay; đề xuất và luận giải làm rõ những giải pháp nâng caochất lượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN hiệnnay

Trang 31

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án chothấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước bàn vềvấn đề CBCC và xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu chức trách nhiệm

vụ trong tình hình mới Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đãtổng quan đã có những đóng góp quan trọng cả về lý luận và thực tiễn vàoviệc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, CBCC nóichung và bồi dưỡng nâng cao KTPL cho đội ngũ CBCC ở cơ sở nói riêngNhững công trình nghiên cứu đó, bước đầu đề cập đến một số nội dung cơbản có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án; đây là những tài liệu,những đơn vị kiến thức cơ bản có giá trị cả về lý luận và thực tiễn để nghiêncứu sinh tiếp thu, kế thừa và tiếp tục nghiên cứu, khám phá, tìm kiếm, tìm racái mới công bố trong luận án của mình

Mỗi công trình, có mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu cụ thể

về xây dựng đội ngũ CBCC và PBGDPL cho đội ngũ cán bộ công chức,viên chức đáp ứng yêu cầu tình hình mới Tuy nhiên, cho đến nay chưa cócông trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích, luận giải một cách cơ bản, hệthống về BDKTPL cho đội ngũ CBCC cấp xã, phường ở TPHN dưới góc

độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước Kế thừa kếtquả nghiên cứu của các tác giả đi trước, bám sát mục đích, nhiệm vụnghiên cứu, dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền

Nhà nước, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay”, nhằm góp phần nghiên cứu, làm rõ

những vấn đề lý luận và thực tiễn BDKTPL cho đội ngũ CBCC của cácphường ở TPHN; đánh giá ưu điểm, hạn chế; làm rõ nguyên nhân ưu điểm,hạn chế; rút ra kinh nghiệm BDKTPL cho đội ngũ CBCC cấp xã, phườngTrên cơ sở đó, xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chấtlượng BDKTPL cho đội ngũ CBCC của các phường trên địa bàn TPHNhiện nay

Trang 32

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI

2 1 Đội ngũ cán bộ chủ chốt phường và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 1 1 Các phường và đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội

* Các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở các

cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội vàcác cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế; đồng thời là một trung tâm lớn vềkinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của cả nước Vớidiện tích 3 358,6 km2, dân số đạt 8 418 883 người (tính đến tháng 7/2021), HàNội là thành phố có diện tích lớn của Việt Nam, đồng thời cũng là thành phốđông dân và có mật độ dân số cao thứ hai trong 63 đơn vị hành chính cấp tỉnhcủa Việt Nam; có trình độ phát triển cao về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

so với các địa phương trong cả nước

Hiện nay, thành phố Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm:

12 quận, 17 huyện, 01 thị xã trực thuộc với tổng số 584 đơn vị hành chính cấp

xã, phường, thị trấn (386 xã, 177 phường, 21 thị trấn)

Hệ thống chính trị của các phường ở TPHN, gồm có: đảng bộ, chính

quyền, MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội phường Trong đó, đảng

bộ phường là đảng bộ cơ sở 2 cấp (đảng ủy phường và các chi bộ cơ quan,đơn vị hành chính sự nghiệp, chi bộ tổ dân phố, chi bộ trường học, chi bộtrạm y tế, chi bộ quân sự và chi bộ công an) Đảng ủy phường có số lượng từ11- 15 ủy viên, ban thường vụ có số lượng từ 03 - 05 ủy viên Hầu hết các

Trang 33

chi bộ trực thuộc đảng ủy phường đều có chi ủy (số lượng từ 05 - 07 ủyviên) Đảng bộ phường là một bộ phận của hệ thống chính trị và là lực lượnglãnh đạo hệ thống chính trị phường

Hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQVN, các cơ quan,ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng luôn quán triệt,thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp ủy, chính quyền cấptrên; đồng thời phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quyđịnh, chất lượng, hiệu quả hoạt động không ngừng được nâng cao, góp phầnthực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố

Tình hình kinh tế của các phường trên địa bàn TPHN Hiện nay, kinh tế

của các phường ở TPHN đang có sự phát triển mạnh mẽ về dịch vụ thươngmại, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch Tỷ trọng ngành côngnghiệp và dịch vụ tăng từ 85,77% năm 2015 lên 86,71% năm 2020; kinh tếthương mại, dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng với nhiều ngành nghề phongphú góp phần tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho hàng ngàn laođộng mỗi năm Nhiều phường trên địa bàn TPHN vẫn duy trì các ngànhnghề truyền thống, nhất là các phường vốn là các xã trên địa bàn của tỉnh

Hà Tây trước đây Các phường ven đô đang tập trung phát triển các khucông nghiệp tập trung, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và khuchung cư cao tầng kết hợp chức năng nhà ở với các loại hình dịch vụ và ưutiên phát triển hạ tầng xã hội

Về văn hóa - xã hội của các phường trên địa bàn TPHN Những năm

qua, cấp ủy, chính quyền các cấp của TPHN đã đầu tư hàng chục ngàn tỷđồng để xây dựng mới và nâng cấp hệ thống trường học, bệnh xá, các trungtâm văn hóa - thể thao, sân vận động đến nay đã có 100% trường mầm non,trường tiểu học, trung học phổ thông công lập cơ bản đạt tiêu chí trường họcchuẩn quốc gia; 100% số phường đã có kết nối internet Hệ thống thiết chế

Trang 34

văn hóa của các phường được quan tâm đầu tư, sửa chữa, nâng cấp phục vụsinh hoạt cộng đồng của các tổ dân phố Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏenhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc và bảo vệ trẻ em cónhiều đổi mới và tiến bộ Các phường đã và đang tích cực triển khai thựchiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khudân cư”, “xây dựng văn hóa công sở” và “xây dựng người Hà Nội thanh lịch,văn minh” gắn với các phong trào hành động cách mạng do Đảng, Nhànước, cấp ủy, chính quyền các cấp tổ chức phát động, góp phần xây dựngnếp sống văn hóa, thanh lịch, văn minh trong từng tổ dân phố

Về quốc phòng, an ninh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở các phườngtrên địa bàn TPHN được cấp ủy, chính quyền các cấp của TPHN thường xuyên quan

tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả Công tác bồi dưỡng, giáo dụckiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ cơ sở và học sinh, sinh viên được thựchiện có nền nếp Công tác tuyển chọn, động viên công dân nhập ngũ thực hiệnnghĩa vụ quân sự hằng năm đều hoàn thành chỉ tiêu, bảo đảm chất lượng; công táchuấn luyện và nâng cao chất lượng lực lượng dân quân, tự vệ có những chuyểnbiến tích cực Thường xuyên đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh với cácloại tội phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống các loạitội về ma túy, tệ nạn xã hội tiêu cực Nhìn chung, những năm qua, tình hình anninh chính trị, TTATXH ở các phường trên địa bàn TPHN cơ bản ổn định, tạomôi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân

* Đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội

Quan niệm đội ngũ CBCC phường

Cán bộ, theo Từ điển Tiếng Việt: là người làm công tác chuyên môn

trong cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội

Chủ chốt, theo Từ điển tiếng Việt là “quan trọng nhất, có tác dụng làm

nòng cốt” [113, tr 227] Cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước là những ngườinắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức đảng, chính quyền, ban,

Trang 35

ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, là lực lượng nòng cốt, nhân tốquyết định thành bại của cách mạng Các phường trên địa bàn TPHN là các địaphương cơ sở trực thuộc quận và thị xã Sơn Tây của TPHN

Theo các quy định tại văn bản của các cấp có thẩm quyền về cán bộ,công chức phường nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng; thựchiện Quyết định số 19/2020/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội ngày07/9/2020 về việc quy định số lượng và một số nội dung về cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội, theo đó:

Cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn TPHN là những người giữ

cương vị, trọng trách lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị phường; chịu tráchnhiệm trước cấp trên và cấp uỷ cấp mình về việc thực hiện chức trách, nhiệm vụđược giao; lực lượng nòng cốt quán triệt, cụ thể hóa và triển khai tổ chức thựchiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị,nghị quyết của cấp trên, tình hình địa phương cơ sở; nghiên cứu, đề xuất để cấp uỷ,chính quyền quyết định những chủ trương, chương trình, kế hoạch phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở phường; trực tiếp điều hành mọihoạt động của đảng ủy, chính quyền, ban ngành, MTTQVN và các đoàn thể chínhtrị - xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là tập hợp CBCC thành một lực lượng có số lượng,

chất lượng, cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, chức năng, hoạtđộng của một tổ chức chính trị - xã hội nhất định Đội ngũ cán bộ phường là tậphợp cán bộ trong hệ thống chính trị của phường; là những cán bộ, đảng viên phụtrách một lĩnh vực công tác cụ thể theo sự phân công của cấp ủy, tổ chức đảng,chính quyền, ban ngành chức năng, MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hộicủa phường

Theo đó, có thể quan niệm đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn

TPHN là tập hợp những cán bộ đảm nhiệm cương vị trọng trách lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị phường; lực lượng nòng cốt nghiên cứu, đề

Trang 36

xuất để cấp uỷ, chính quyền quyết định những chủ trương, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh ở phường; trực tiếp quán triệt, triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp mình

và cấp trên; điều hành mọi hoạt động của đảng ủy, chính quyền, ban ngành,

Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng nguyên tắc, quy chế, quy định

Theo đó, đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN, bao gồm:người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đảng ủy, UBND, người đứngđầu MTTQVN và trưởng các ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội ở cácphường; có số lượng, cơ cấu, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định, phù hợp tìnhhình cụ thể trên từng cơ sở địa phương Thành phần CBCC ở các phường, gồm:

bí thư, phó bí thư đảng ủy phường; chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dânphường; chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường; bí thư đoàn phường; chủtịch Hội Liên hiệp Phụ nữ phường, chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường;trưởng công an và chỉ huy trưởng quân sự phường

Chức trách, nhiệm vụ của CBCC ở các phường

Theo quy định, tại Điều 5 của Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV banhành ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ quy định về tiêu chuẩn đốivới cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, CBCC ở các phường trên địa bànTPHN có chức trách, nhiệm vụ như sau:

Bí thư đảng uỷ phường

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách công tác đảng ở đảng bộ phường, có

trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện nhiệm vụ của đảng bộ, cùng tậpthể đảng uỷ lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn phường

Nhiệm vụ cơ bản: Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và đường lối,

chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị

Trang 37

của cấp trên và chức năng nhiệm vụ của đảng bộ cấp mình; nắm vững nhiệm

vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất, nắm chắc tình hìnhđảng bộ và tình hình dân cư trên địa bàn, chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặtcông tác của đảng bộ

Chủ trì cuộc họp của ban chấp hành, ban thường vụ và chỉ đạo xây dựngnghị quyết của đảng bộ, của ban chấp hành, ban thường vụ và tổ chức chỉ đạothực hiện thắng lợi các nghị quyết đó

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạtđộng và giữ vai trò trung tâm đoàn kết, hạt nhân lãnh đạo toàn diện đối với hệthống chính trị ở phường

Lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết củacấp trên, của đảng bộ, của ban chấp hành, ban thường vụ đảng ủy phường

Phó bí thư đảng uỷ phường

Nhiệm vụ: Giúp bí thư đảng uỷ chuẩn bị nội dung các cuộc họp và dự

thảo nghị quyết của ban chấp hành, ban thường vụ về các mặt công tác của đảngbộ; tổ chức việc thông tin tình hình, chủ trương của banchấp hành, ban thường

vụ cho các uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ; tổ chức kiểm tra thực hiệnnghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên, của ban chấp hành, ban thường vụ

Chủ tịch UBND phường

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách quản lý, điều hành UBND phường;

chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp mình và cấp ủy, chính quyền cấp trên quản

lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND và chủ trì hoạt động quản lý Nhà

Trang 38

nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh được phâncông trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ: Quản lý, chỉ đạo, phân công công tác cho các thành viên của

UBND, công tác chuyên môn thuộc UBND phường Tổ chức chỉ đạo, đôn đốc,kiểm tra đối với công tác chuyên môn thuộc UBND trong thực hiện chính sách,pháp luật của cơ quan nhà cấp trên, nghị quyết của Đảng ủy và các quyết địnhcủa UBND phường Quyết định các vấn đề thuộc quyền hạn, nhiệm vụ của chủtịch UBND phường; tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của tậpthể UBND Áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điềuhành bộ máy hành chính phường hoạt động có hiệu quả

Ngăn ngừa, đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ, công chứcnhà nước và trong bộ máy chính quyền phường; tiếp dân, giải quyết kiếnnghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; giải quyết

và trả lời các kiến nghị của Ủy ban MTTQVN và các đoàn thể nhân dân ởphường Trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy địnhcủa pháp luật Tổ chức chỉ đạo điều hành hoạt động của tổ trưởng tổ dân phố,khu phố theo quy định của pháp luật

Báo cáo công tác trước UBND phường và UBND cấp trên Triệu tậpcác phiên họp của UBND phường Thực hiện việc bố trí, sử dụng, khenthưởng, kỷ luật cán bộ công chức cơ sở theo sự phân cấp quản lý

Đình chỉ công tác hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật của tổ trưởng dân phố

Phó Chủ tịch UBND phường

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách giúp chủ tịch UBND phường chỉ

đạo, quản lý, điều hành hoạt động của UBND phường; chịu trách nhiệmquản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND và hoạt động quản lý Nhànước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh được phân

Trang 39

công trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật và chức trách, nhiệm

vụ, quyền hạn được giao

Nhiệm vụ: Phó chủ tịch UBND phường tổ chức quản lý, chỉ đạo thực

hiện theo khối công việc (khối kinh tế - tài chính, khối văn hoá - xã hội…)của UBND do Chủ tịch UBND phường phân công và những công việc doChủ tịch UBND phường vắng mặt

Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN, Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường

Chức trách: Là những cán bộ chuyên trách đứng đầu Ủy ban

MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội ở phường; dưới sự lãnh đạo củađảng ủy phường, trực tiếp chủ trì, quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn thể, đường lối,chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Nhiệm vụ: Chuẩn bị nội dung, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của tổ

chức mình; cùng tập thể Ban Thường trực (Uỷ ban MTTQVN), Ban Chấphành (của tổ chức đoàn thể) xây dựng chương trình kế hoạch công tác, hướngdẫn hoạt động đối với Ban Công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể ở thôn,làng, ấp, bản, tổ dân phố Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể cùng cấpvận động, hướng dẫn cán bộ, đoàn viên, hội viên tổ chức mình, các tầng lớpnhân dân tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, quốc phòng -

an ninh, hiệp thương bầu cử xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dânchủ tại phường và các phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình,nghị quyết của tổ chức chính trị - xã hội cấp trên tương ứng triển khai

Tổ chức, chỉ đạo việc học tập chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước; các chủ trương, nghị quyết đối với đoànviên, hội viên của tổ chức mình; chỉ đạo việc lập kế hoạch kinh phí, chấphành, quyết toán kinh phí hoạt động và quyết định việc phân bổ kinh phí hoạtđộng do Nhà nước cấp đối với tổ chức mình

Trang 40

Tham mưu cho đảng ủy phường trong việc xây dựng đội ngũ cán bộcủa tổ chức mình Bám sát hoạt động các phong trào, định kỳ tổ chức kiểmtra, đánh giá và báo cáo với cấp uỷ cùng cấp và các tổ chức đoàn thể cấp trên

về hoạt động của tổ chức mình Chỉ đạo việc xây dựng quy chế hoạt động củaban thường vụ, ban chấp hành cấp cơ sở tổ chức mình; chỉ đạo hoạt động củaban thường vụ, ban chấp hành đảm bảo theo đúng quy chế đã xây dựng

Trưởng công an phường

Chức trách: Là cán bộ thuộc UBND phường, chịu trách nhiệm trước

chủ tịch UBND phường về hoạt động của mình

Nhiệm vụ: Phối hợp với các cơ quan, đoàn thể tuyên truyền, phổ biến pháp

luật liên quan tới an ninh trật tự cho nhân dân; hướng dẫn tổ chức quần chúng làmcông tác an ninh trật tự trên địa bàn quản lý Tổ chức phòng ngừa, đấu tranhphòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật khác trên địabàn theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của công an cấp trên

Tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ trật tự côngcộng, an toàn giao thông, quản lý vũ khí, chất nổ dễ cháy; quản lý hộ khẩu,kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền Xử lýngười có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định; tổ chức việc quản lý, giáodục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Chỉ đạo việc bảo vệmôi trường, bắt người phạm tội quả tang, tổ chức bắt người có lệnh truy nã,người có lệnh truy tìm hành chính theo quy định của pháp luật; tiếp nhận vàdẫn giải người bị bắt lên công an cấp trên; cấp cứu người bị nạn Tuần tra, bảo

vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở địa bàntheo hướng dẫn của công an cấp trên

Xây dựng nội bộ lực lượng công an phường trong sạch, vững mạnh vàthực hiện một số nội dung nhiệm vụ khác do cấp uỷ đảng, ủy ban nhân dânphường, công an cấp trên giao

Chỉ huy trưởng quân sự phường

Ngày đăng: 16/07/2022, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Ánh (2013), “Hà Nội xây dựng đội ngũ bí thư đảng bộ phường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2, tr 72- 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội xây dựng đội ngũ bí thư đảng bộphường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới”, "Tạp chí Lý luận chínhtrị
Tác giả: Nguyễn Ngọc Ánh
Năm: 2013
6. Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Kế hoạch của BTV Thành ủy Hà Nội về thực hiện kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tăng cờng lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và nhân dân số 02-KL/TU ngày 8/11/2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch của BTV Thành ủy Hà Nội vềthực hiện kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư vềtăng cờng lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục phápluật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và nhân dân
7. Ban Tổ chức Trung ương Đảng (1998), Báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, CBCC theo kết quả điều tra, thống kê cán bộ trong hệ thống chính trị, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, Mã số KX01-BD03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân tích, đánh giá thựctrạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, CBCC theo kết quả điều tra,thống kê cán bộ trong hệ thống chính trị
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Năm: 1998
8. Cao Khoa Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụThành uỷ Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Cao Khoa Bảng
Năm: 2012
9. Lê Bỉnh (2005), “Giáo dục đạo đức sinh thái đối với CBCC”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, tr 33-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức sinh thái đối với CBCC”, "Tạp chí Xâydựng Đảng
Tác giả: Lê Bỉnh
Năm: 2005
11. Bộ Quốc phòng (2016), Thông tư Quy định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong Bộ Quốc phòng, số 42/2016/TT-BQP, ngày 30/3/2016, Hà Nội 12. Bộ Quốc phòng (2017), Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2017,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Quy định công tác phổ biến, giáo dục phápluật trong Bộ Quốc phòng", số 42/2016/TT-BQP, ngày 30/3/2016, Hà Nội 12. Bộ Quốc phòng (2017), "Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2017
Tác giả: Bộ Quốc phòng (2016), Thông tư Quy định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong Bộ Quốc phòng, số 42/2016/TT-BQP, ngày 30/3/2016, Hà Nội 12. Bộ Quốc phòng
Năm: 2017
13. Bun-thăn Chăn-thạ-ly-ma (2016), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ các cơ quan chiến lược Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực công tác củađội ngũ cán bộ các cơ quan chiến lược Tổng cục Chính trị Quânđội nhân dân Lào hiện nay
Tác giả: Bun-thăn Chăn-thạ-ly-ma
Năm: 2016
14.Bunma Kết-kêsson (2003), Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nước CHDCND Lào, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ lãnhđạo chủ chốt cấp tỉnh nước CHDCND Lào
Tác giả: Bunma Kết-kêsson
Năm: 2003
15. Doãn Thị Chín (2016), “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, tr 40-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật chosinh viên”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Doãn Thị Chín
Năm: 2016
16. Chính phủ (2013), Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật , số 28/2013/NĐ-CP, ngày 04/4/2013,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết một sốđiều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
17. Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựngđội ngũ cán bộ ở Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
18. Nguyễn Tấn Diễn (2009), “Một số biện pháp tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình mới”, Tạp chí Dân chủ pháp luật, số 5, tr 12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp tăng cường công tác phổbiến giáo dục pháp luật trong tình hình mới”, "Tạp chí Dân chủ phápluật
Tác giả: Nguyễn Tấn Diễn
Năm: 2009
19. Trần Ngọc Dũng (2010), “Hoàn thiện hệ thống giáo dục pháp luật ở Việt Nam nhằm thi hành Hiến chương Asean”, Tạp chí Luật học, số 1, tr 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống giáo dục pháp luật ở Việt Namnhằm thi hành Hiến chương Asean”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2010
20. Phan Hồng Dương (2014), Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đạihọc không chuyên luật ở Việt Nam
Tác giả: Phan Hồng Dương
Năm: 2014
21. Đảng bộ thành phố Hà Nội, Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố HàNội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Hà Nội 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảngtrong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hànhpháp luật của cán bộ và nhân dân, "số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Hà Nội 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc"lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Hà Nội 25. Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Báo cáo Tổng kết 06 năm thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết 06 năm thực hiện Chỉ thịcủa Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng trong công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức chấp hành phápluật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN - Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
h ương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN (Trang 2)
Nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡngkiến thức pháp luật cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN hiện nay - Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
i dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡngkiến thức pháp luật cho đội ngũ CBCC ở các phường trên địa bàn TPHN hiện nay (Trang 191)
MỘT SỐ HÌNH THỨC BỒI DƯỠNGKIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT - Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các phường trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
MỘT SỐ HÌNH THỨC BỒI DƯỠNGKIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT (Trang 197)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w