Bài viết Thực nghiệm xác định lưu lượng nước qua bộ thu tấm phẳng của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời nghiên cứu thực nghiệm xác định lưu lượng qua bộ thu tấm phẳng của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời nhằm nâng cao năng lựu hữu ích thu được, giảm điện năng tiêu thụ bơm nước cho vòng lặp và ứng dụng cho các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời được lắp đặt ở điều kiện khí hậu Việt Nam.
Trang 128 Lê Minh Nhựt
THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG NƯỚC QUA BỘ THU TẤM PHẲNG
CỦA HỆ THỐNG NƯỚC NÓNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI
EXPERIMENTAL VERIFICATION OF WATER FLOW RATE THROUGH
THE FLAT PLATE COLLECTOR LOOP OF SOLAR HOT WATER SYSTEM
Lê Minh Nhựt
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM; nhutlm@hcmute.edu.vn
Tóm tắt - Ngày nay, các hệ thống cấp nước nóng bằng năng lượng
mặt trời ngày càng phát triển do đời sống người dân, ngành du lịch
và các ngành công nghiệp ngày càng phát triển Do đó, việc nghiêm
cứu nâng cao hiệu suất của các hệ thống này là điều cần thiết Bài
báo trình bày kết quả thực nghiệm xác định lưu lượng nước qua
vòng lặp bộ thu nhằm nâng cao hiệu suất của hệ thống nước nóng
năng lượng mặt trời Hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời kiểu
bộ thu tấm phẳng được chế tạo và lắp đặt tại Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh Từ thực nghiệm cho thấy lưu lượng
qua vòng lặp bộ thu tại 7,92 lít/phút cho giá trị năng lượng hữu ích
cao nhất là 19.3 kWh ứng với năng lượng tiêu thụ của bơm là
2,3 kWh và nhiệt độ nước ban đầu trong bình tích trữ là 30 o C
Abstract - Nowadays, the solar domestic hot water systems are
rapidly increasing due to the development of population, tourism, and industries Therefore, it is essential to improve the performance of these systems This paper presents the experiemtal results of the verification of water flow rate through the collector loop to improve the performance of the solar hot water system This system was designed and installed in campus of the HCMC University of Technology and Education The study results have indicated that the value of the water flow rate through the collector loop at 7.92 lit/min gives the highest value of useful heat gain of 19.38 kWh corresponding to the energy consumption of pump of 2.3 kWh and the initial water temperature in the storage tank of 30 o C
Từ khóa - Nước nóng; bộ thu; lưu lượng; bức xạ mặt trời; bình tích trữ Key words - Hot water; collector; flow rate; solar radiation; storage tank
1 Đặt vấn đề
Ngày nay, các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời
tuần hoàn cưỡng bức được sử dụng ngày càng nhiều, do sử
dụng nguồn nhiệt năng lượng mặt trời miễn phí và thân
thiện với môi trường Nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu
suất của các hệ thống này là lưu lượng qua vòng lặp bộ thu
Do đó, đã có nhiều nghiên cứu tập trung về vấn đề này
Nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết tập trung bài toán
ảnh hưởng lưu lượng đến năng lượng hữu ích, sự hoạt động
và công tiêu tốn của bơm, hiệu suất thoát của vòng lặp bộ
thu, điều khiển on-off cho hoạt động của bơm nước vòng
lặp, ảnh hưởng hiệu suất thoát [1-5] Nhựt và Park [6], đã
sử dụng phương pháp số để xác định ảnh hưởng của lưu
lượng dao động qua vòng lặp bộ thu ở điều kiện khí hậu
đảo Jeju, Hàn Quốc và kết luận rằng, nhiệt hữu ích của bộ
thu tăng 1,54% trong khi công cấp cho bơm giảm 65,61%
Sara và cộng sự [7], đề xuất mô hình điều khiển lưu lượng
n nước nóng bơm nhiệt kết hợp năng lượng mặt trời Khảo
sát đánh giá lưu lượng qua vòng lặp kín của hệ thống nước
nóng năng lượng mặt trời với bốn điều kiện thời tiết khác
nhau như vùng Nam Châu Âu, các mùa trong năm, ngày
nhiều mây và ngày bức xạ mặt trời dao đông mạnh cũng
được thực hiện bởi Badescu và cộng sự [8] Phân tích lý
thuyết và thực nghiệm hiệu quả kinh tế và hiệu suất năng
lượng do ảnh hưởng của lưu lượng qua vòng lặp kín bộ thu
nước nóng năng lượng mặt trời cũng được thực hiện bởi
Mohamed và cộng sự [9] Pang, Dembeck-Kerekes và cộng
sự [10-11], công bố nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
ảnh hưởng của lưu lượng qua bộ thu tấm phẳng kiểu T để
giải nhiệt cho tấm Pin năng lượng mặt trời nhằm nâng cao
hiệu suất của tấm Pin và sản xuất nước nóng Ngoài ra,
nghiên cứu điều khiển lưu lượng qua bộ thu dựa trên bức
xạ năng lượng mặt trời đến bộ thu, điều khiển bơm vòng
lặp theo phương pháp on-off, tỉ lệ theo nhiệt độ cũng được
đề cập [12-13] Nhựt và Du [14], đã công bố nghiên cứu
thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của điều kiện thời tiết của
ngày nắng, có mây và ngày mưa đến năng lượng hữu ích của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời Ở trong nước hiện nay cũng có nhiều công ty thiết kế và chế tạo các bộ thu tấm phẳng và chân không tuần hoàn tự nhiên và cưỡng bức để lắp đặt cho dân dụng và công nghiệp
Mặc dù, có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các
hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời kiểu tuần hoàn tự nhiên và cưỡng bức kiểu bộ thu tấm phẳng, chân không và ống nhiệt, điều khiển lưu lượng qua vòng lặp bộ thu theo phương pháp on-off, tỉ lệ … Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm xác định lưu lượng qua các bộ thu tấm phẳng ở trong nước Do vậy, bài báo này nghiên cứu thực nghiệm xác định lưu lượng qua bộ thu tấm phẳng của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời nhằm nâng cao năng lựu hữu ích thu được, giảm điện năng tiêu thụ bơm nước cho vòng lặp và ứng dụng cho các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời được lắp đặt ở điều kiện khí hậu Việt Nam
2 Mô hình hóa lý thuyết
Các thông số tính toán cho hệ thống được đưa bởi [15,16] như sau:
Năng lượng hữu ích nhận được khi nước đi qua bộ thu:
Q A F ()I k (T T ) mc (T T ) (1) Trong đó, Ac là diện tích bộ thu, (τα) là hệ số hấp thụ tích hợp của hệ số truyền qua và hệ số hấp thụ, It là cường
độ bức xạ chiếu tới bề mặt bộ thu, Tco và Tci là nhiệt độ nước ra và nhiệt độ nước vào bộ thu, Ta là nhiệt độ môi trường, m và cp là lưu lượng nước qua bộ thu và nhiệt dung riêng của nước
Hiệu suất thoát (hệ số dịch chuyển nhiệt) FR được tính như sau:
FR = mcp
AckL[1 − exp(−AckLF
′
F’ hiệu suất hiệu dụng của bộ thu được tính:
Trang 2ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL 18, NO 8, 2020 29
1 kL
kL[Dng+(L−Dng)F]+
1
Cb+
1 πDtrαtr]
(3)
Trong đó: Dtr, Dng là đường kính trong và đường kính ngoài
của ống đồng, Cb là hệ số dẫn nhiệt của mối hàn, αtr là hệ
số tỏa nhiệt từ ống vào chất tải nhiệt, L là khoảng cách giữa
hai ống (xem Hình 1)
Hiệu suất cánh F được tính:
F =tanh[m(L−Dng)/2]
Hệ số truyền nhiệt tổng của bộ thu kL được tính theo:
Trong đó, kt, kb, ke là hệ số truyền nhiệt qua mặt trên, đáy
và mặt bên của bộ thu
Sự biến đổi nội năng của nước trong bình tích trữ được xác
định dựa vào sự cân bằng năng lượng như phương trình 6
Trong đó, 𝐶𝑡= 𝑀𝑐𝑝; M, cp là thể tích nước và nhiệt dung
riêng của nước trong bình tích trữ, Ts là nhiệt độ nước trong
bình tích trữ, QA là nguồn nhiệt phụ bổ sung khi nhiệt độ
nước nóng trong bình tích trữ không đạt nhiệt độ yêu cầu
(ở đây QA=0 vì hệ thống này không có nguồn nhiệt phụ),
QW là dòng nhiệt cấp cho người sử dụng
Tổn thất nhiệt của bình tích trữ được tính:
Trong đó, As là diện tích bề mặt ngoài bình tích trữ, ks là
hệ số truyền nhiệt của bình tích trữ
Công cấp cho bơm vòng lặp bộ thu được tính [4] :
Trong đó, Kp là hệ số của bơm
Hình 1 Bố trí ống của bộ thu tấm phẳng [15, 16]
3 Thiết lập hệ thống thí nghiệm
3.1 Mô tả hệ thống thí nghiệm
Trong nghiên cứu này, hệ thống nước nóng năng lượng
mặt trời được lắp đặt tại sân trường Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Tp Phố Hồ Chí Minh như ở Hình 2 và 3
Các bộ phận chính của hệ thống gồm bồn tích trữ nước
nóng, bộ thu năng lượng mặt trời kiểu tấm phẳng, bơm
nước tuần hoàn, bộ điều khiển và thu thập dữ liệu Bộ thu
năng lượng mặt trời có tổng diện tích là 8 m2 gồm 04 tấm
collector kiểu phẳng được kết nối song song và đặt nghiêng
một góc 450 so với mặt phẳng nằm ngang hướng về phía
Nam, mỗi tấm có chiều dài và rộng là 2mx1m, bên trong
bố trí 11 ống đồng có đường kính trong và ngoài là 0,08m
và 0,013m Thể tích bình tích trữ nước nóng được chọn theo tỉ lệ 𝑉𝑠/𝐴𝑐≈ 33,3 lít/m2 [17], đường kính và chiều cao bình tích trữ là 820 mm và 1080 mm, bên ngoài được bọc lớp cách nhiệt bằng polyurethane dày 15 mm, do đường ống kết nối giữa bình tích trữ và bộ thu có chiều dài ngắn nên trong nghiên cứu này bỏ qua tổn thất nhiệt của đường ống Nguyên lý hoạt động hệ được mô tả như sau: Khi sự chênh lệch nhiệt độ giữa nhiệt độ nước ra khỏi bộ thu Tco
và nhiệt độ nước bình tích trữ Ts lớn hơn giá trị cài đặt ΔTon
(∆𝑇𝑜𝑛= 𝑇𝑐𝑜− 𝑇𝑠≥ 10℃) bơm nước hoạt động và sẽ dừng khi sự chênh lệch này nhỏ hơn ΔToff (∆𝑇𝑜𝑓𝑓= 𝑇𝑐𝑜− 𝑇𝑠≤ 2℃), trong thí nghiệm này giá trị ΔTon và ΔToff được chọn theo [1, 18-19]
Hình 2 Sơ đồ nguyên lý hệ thống nước nóng năng lượng mặt
trời kiểu bộ thu tấm phẳng
Hình 3 Hệ thống thí nghiệm nước nóng năng lương mặt trời
kiểu bộ thu tấm phẳng
Hình 4 Bộ điều khiển của hệ thống nước nóng năng lương mặt
trời kiểu bộ thu tấm phẳng
Trang 330 Lê Minh Nhựt
3.2 Phương pháp thí nghiệm
Trong thí nghiệm này, giá trị lưu lượng nước qua vòng
lặp bộ thu nằm trong khoảng 0,01-0,02 kg/m2s [15] Giá trị
chọn thí nghiệm cho hệ thống này là 0,015 kg/m2s tương
đương 7,2 lít/phút Các giá trị lưu lượng thí nghiệm là
5,04 lít/phút, 5,76 lít/phút, 6,48 lít/phút, 7,2 lít/phút,
7,92 lít/phút, 8,64 lít/phút, 9,36 lít/phút Các giá trị lưu
lượng này xoay quanh giá trị 7,2 lít/phút và tăng hoặc giảm
±10% Thời gian thực hiện thí nghiệm trong các ngày nắng
từ 7h30 đến 16h30, nhiệt độ nước ban đầu trong bình tích
trữ chọn là 30oC Ở thí nghiệm này, cường độ bức xạ mặt
trời It được đo bằng Tenmars TM-207 (sai số ± 1,5%), các
giá trị nhiệt độ được đo bằng cảm biến DS18B20 (sai số
± 0,5%) và các giá trị nhiệt độ hiển thị ở màn hình LCD
như Hình 4 Lưu lượng nước được đo bằng đồng hồ lưu
lượng nước nóng đa tia SENSUS kiểu cánh quạt (sai số
± 2%), điện năng cho bơm nước được đo bằng được đo
bằng đồng hồ điện một pha EMIC (độ chính xác ±0,5) Các
số liệu thí nghiệm được ghi 10 phút/lần và được lưu vào
file excel trong máy tính để sử dụng tính toán
4 Kết quả nghiên cứu và đánh giá
Trong nghiên cứu này, giá trị năng lượng hữu ích Qu và
năng lượng tiêu tốn cho bơm tuần hoàn Ep là tính tổng cho
một ngày thí nghiệm trong khoảng thời gian từ 7h30 đến
16h30 khi bơm hoạt động
Hình 5 là kết quả biên dạng lưu lượng qua bộ thu trong
ngày nắng thí nghiệm Các thí nghiệm cho các giá trị lưu
lượng 5,04 lít/phút, 5,76 lít/phút, 6,48 lít/phút, 7,2 lít/phút,
7,92 lít/phút, 8,64 lít/phút, 9,36 lít/phút được thực hiện
trong các ngày nắng và có giá trị trung bình ngày thí
nghiệm nhiệt độ môi trường Ta và cường độ bức bạ mặt
trời It là gần như nhau Như biên dạng lưu lượng của Hình
5, tại các giá trị lưu lượng từ 5,76 lít/phút, 6,48 lít/phút,
7,2 lít/phút thì bơm nước tuần hoàn qua vòng lặp bộ thu
có số lần chạy và thời gian chạy dài hơn, số lần nghỉ và
thời gian nghỉ ngắn hơn Tại giá trị lưu lượng 7,92 lít/phút
thì biên dạng tương đối đều, điều này có nghĩa thời gian
bơm chạy và dừng lặp lại tương đối giống nhau Tuy
nhiên, tại các giá trị lưu lượng 8,64 lít/phút, 9,36 lít/phút,
thì số lần chạy và thời gian chạy ngắn hơn, số lần bơm
dừng và thời gian dừng tăng lên Điều này có thể giải thích
rằng, khi giá trị nhiệt độ qua vòng lặp bộ thu nhỏ hơn
7,92 lít/phút, khi bơm nước tuần hoàn chạy dẫn đến nhiệt
độ nước ra khỏi bộ thu Tco giảm chậm nên sự duy trì sự
hoạt động của bơm dài hơn do ∆𝑇 = 𝑇𝑐𝑜− 𝑇𝑠 tiến đến
ΔToff chậm, trong khi ở các giá trị lượng 8,64 lít/phút,
9,36 lít/phút khi bơm tuần hoàn hoạt động nhiệt độ nước
ra khỏi bộ thu Tco giảm nhanh nên thời gian hoạt động của
bơm tuần hoàn ngắn do chênh lệch nhiệt độ ∆𝑇 = 𝑇𝑐𝑜− 𝑇𝑠
tiến đến nhiệt độ ΔToff nhanh hơn Tại giá trị lưu lượng
7,92 lít/phút do nhiệt độ Tco không giảm quá nhanh hay
quá chậm khi bơm hoạt động nên thời gian hoạt động và
nghỉ của bơm lặp lại tương đối đồng đều
Hình 6 thể hiện nhiệt độ nước đầu vào Tci và nhiệt độ
nước đầu ra Tco của bộ thu trong các ngày nắng thí nghiệm
với các giá trị lưu lượng khác nhau Kết quả cho thấy rằng, với giá trị nhiệt độ nước ban đầu là 30oC thì nhiệt độ nước vào Tci và ra Tco của bộ thu dao động trong khoảng từ 30oC đến 65oC, chênh lệch nhiệt độ giữa Tci và Tco dao động trong khoảng 3oC đến 7oC tùy thời điểm trong ngày khi bơm nước tuần hoàn hoạt động Nhiệt độ nước Tci và Tco
của bộ thu tăng dần từ buổi sáng đến buổi chiều do sự tăng nhiệt độ nước nóng Ts trong bình tích trữ Nhìn chung, giá trị lưu lượng nước qua bộ thu càng lớn thì sự giảm nhiệt độ nước ra khỏi bộ thu Tco càng nhanh do sự giảm nhanh nhiệt
độ của tấm hấp thụ
Hình 7 và Bảng 1 cho thấy, sự ảnh hưởng của lưu lượng đến nhiệt lượng hữu ích Qu và năng lượng tiêu thụ của bơm nước tuần hoàn Ep tương ứng với giá trị nhiệt độ môi trường trung bình Ta và cường độ bức xạ năng lượng mặt trời đến bề mặt bộ thu trung bình It của ngày thí nghiệm
Từ Hình 7 và Bảng 1 cho thấy, khi các giá trị lưu lượng qua bộ thu tăng từ 5,04 lít/phút đến 7,92 lít/phút và từ 7,92 lít/phút đến 9,36 lít/phút thì năng lượng hữu ích Qu thu được tăng tương ứng từ 11,22 kWh đến 19,3 kWh và sau
đó giảm dần đến 18,35 kWh trong khi năng lượng tiêu tốn của bơm nước tuần hoàn Ep tăng liên tục từ 0,73 kWh đến 3,8 kWh Qua Bảng 1 ta cũng thấy, tại giá trị lưu lượng 7,92 lít/phút qua bộ thu thì năng lượng hữu ích thu được là lớn nhất 19,3 kWh tương ứng với năng lượng tiêu tốn của bơm nước tuần hoàn là 2,3 kWh Có thể giải thích điều này rằng, khi tăng lưu lượng thì năng lượng hữu ích Qu và
Ep đều tăng (tốc độ tăng Qu nhanh hơn tốc độ tăng Ep) theo công thức 1 nhưng khi tăng quá mức, cụ thể là lớn hơn 7,92 lít/phút thì năng lượng hữu ích Qu giảm trong khi Ep
tiếp tục tăng, điều này do khi tăng lưu lượng dẫn đến giảm hiêu suất thoát FR giảm (công thức 2) Tóm lại, giá trị lưu lượng 7,92 lít/phút qua bộ thu được xem là giá trị cho năng lượng hữu ích Qu lớn nhất
Bảng 1 Ảnh hưởng của lưu lượng qua vòng lặp bộ thu đến
Q u và và E p tương ứng với giá trị nhiệt độ môi trường T a và cường độ bức xạ I t trung bình của ngày thí nghiệm
Hình 8 thể hiện nhiệt độ nước nóng Ts trong bình tích trữ ứng với các giá trị lưu lượng qua bộ thu khác nhau trong các ngày thí nghiệm Từ đồ thị cho thấy, nhiệt độ nước nóng Ts trong bình tích trữ tăng nhanh vào buổi sáng cho đến 14h00 sau đó tăng chậm dần đến cuối ngày Nhiệt độ nước nóng cuối ngày nằm trong khoảng 60oC đến 65oC Trong đó nhiệt độ nước nóng Ts cuối ngày ứng với giá trị lưu 7,92 (lít/phút) là cao nhất Có thể giải thích rằng, sự tăng nhanh của nhiệt độ nước nóng Ts vào buổi sáng là do nhiệt độ nước ban đầu Ts nhỏ, sự chênh lệch ∆𝑇 = 𝑇𝑐𝑜−
𝑇𝑠 lớn, trong khi sau 14h30 độ chênh nhiệt độ này nhỏ do cường độ bức xạ mặt trời giảm nên năng lượng hữu ích bình tích trữ nhận được giảm
Trang 4ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL 18, NO 8, 2020 31
Hình 5 Biên dạng lưu lượng qua vòng lặp bộ thu
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30
7:30
Thời gian(h)
lưu lượng(5.04 lít/phút)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30 7:30
Thời gian(h)
lưu lượng(5.76 lít/phút)
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30
Thời gian(h) 7:30
lưu lượng(6.48 lít/phút)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30 7:30
Thời gian(h) lưu lượng (7.2 lít/phút)
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30
7:30
Thời gian(h)
lưu lượng (7.92 lít/phút)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30 7:30
Thời gian(h)
lưu lượng(8.64 lít/phút)
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30
7:30
Thời gian(h)
lưu lượng(9.36 lít/phút)
Trang 532 Lê Minh Nhựt
20
25
30
35
40
45
50
55
60
65
70
75
Thời gian(h)
Tci(5.04)
Tci(5.76)
Tci(6.48)
Tci(7.2)
Tci(7.92)
Tci(8.64)
Tci(9.36)
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30
8:30
7:30
Tco(5.04) Tco(5.76) Tco(6.48) Tco(7.2) Tco(7.92) Tco(8.64) Tco(9.36)
o C
Hình 6 Nhiệt độ T co , T ci trong các ngày nắng thí nghiệm với
các giá trị lưu lượng khác nhau
5.04 5.76 6.48 7.20 7.92 8.64 9.36
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
Qu
Lưu lượng (lít/phút)
0 1 2 3 4 5
6
Ep
Hình 7 Ảnh hưởng của lưu lượng đến nhiệt lượng hữu ích Qu
và năng lượng tiêu thụ của bơm nước tuần hoàn Ep
Hình 8 Nhiệt độ nước nóng T s trong bình tích trữ ứng với các
giá trị lưu lượng qua bộ thu khác nhau trong các ngày thí nghiệm
Hình 9 cho thấy, sự ảnh hưởng của nhiệt độ nước ban đầu trong bình tích trữ đến năng lượng hữu ích Qu và năng lượng tiêu tốn của bơm tuần hoàn Ep Kết quả cho thấy, khi nhiệt độ nước nóng trong bình tích trữ tăng từ 25oC đến
45oC thì năng lượng hữu ích giảm từ 21,8 kWh đến 17,1 kWh trong khi năng lượng tiêu tốn cho bơm nước tuần hoàn giảm từ 3 kWh đến 1,55 kWh Điều này có thể giải thích, do sự tăng nhiệt độ nước ban đầu của bình tích trữ dẫn đến sự tăng nhiệt độ của nước bào bộ thu Tci nên dẫn đến tăng tổn thất nhiệt ra môi trường (công thức (1)) và giảm sự trao đổi nhiệt giữa bộ thu và nước qua bộ thu, bên cạnh đó thời gian hoạt động của bơm nước tuần hoàn cũng ngắn hơn Do vậy, đối với các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời kiểu cưỡng bức cần thiết phải tăng cường sử dụng vào ban ngày để tăng năng lượng hữu ích Qu của bộ thu và giảm sử dụng vào ban đêm
25 30 35 40 45 10
12 14 16 18 20 22 24
Qu
Nhiệt độ nước ban đầu bình tích trữ( o C)
1.0 1.5 2.0 2.5 3.0 3.5 4.0
Ep
Hình 9 Sự ảnh hưởng của nhiệt độ nước ban đầu trong
bình tích trữ đến năng lượng hữu ích Q u và năng lượng tiêu tốn
của bơm tuần hoàn E p
5 Kết luận
Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định lưu lượng nước qua bộ thu tấm phẳng của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời kiểu cưỡng bức có thể thấy:
- Lưu lượng nước qua vòng lặp bộ thu tấm phẳng được xác định tại giá trị 7,92 lít/phút tương ứng với nhiệt lượng hữu ích là 19,3 kWh và năng lượng tiêu tốn cho bơm tuần hoàn là 2,3 kWh
- Nhiệt độ nước nóng trong bình tích trữ cuối ngày dao động trong phạm vi 60oC đến 65oC
- Khi nhiệt độ nước ban đầu tăng thì nhiệt lượng hữu ích thu được sẽ giảm, do đó cần tăng cường xử dụng nước nóng vào ban ngày để tăng hiệu quả của hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời
Kết quả nghiên cứu này có thể được cung cấp cho các công ty tư vấn thiết kế, nhà sản xuất sử dụng tham khảo khi thiết kế và lắp đặt các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời kiểu tấm phẳng ở Việt Nam
Lời cảm ơn: Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu này (T2017-30TĐ)
20
25
30
35
40
45
50
55
60
65
70
75
16:30 15:30 14:30 13:30 12:30 11:30 10:30 9:30 8:30
7:30
oC)
Thời gian(h)
Ts(5.04) Ts(5.67) Ts(6.48) Ts(7.2) Ts(7.92) Ts(8.64) Ts(9.36)
Trang 6ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL 18, NO 8, 2020 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Csordas, G.F., Brunger, A.P., et al, “Plume entrainment effects in
solar domestic hot water systems employing variable-flow-rate
control strategies”, Solar Energy, 49(6), 1992, 497-505
[2] Kovarik, M., Lesse, P.F, “Optimal control of flow in low temperature
solar heat collector”, Solar Energy, 18(5), 1976, 431-435
[3] Orbach, A., Rorres, C., et al, “Optimal control of a solar collector loop
using a distributed-lumped model” Automatica, 17(3), 1981, 535-539.
[4] Saltiel, C., Sokolov, M, “Optimal control of a multicomponent solar
collector system”, Solar Energy, 34(6), 1985, 529-534
[5] Winn, C.B., Hull lll, D.E, “Optimal controllers of the second kind”,
[6] Nhut, L.M., Park, Y.C, “A study on automatic optimal operation of
a pump for solar domestic hot water system”, Solar Energy, 98,
2013, 448–457
[7] Sara, H and et al, “An optimal control strategy for a heat pump in an
integrated solar thermal system”, Journal of Process Control, 84,
2019, 35-45
[8] Badescu and et al, “Empirical versus optimal control of flow in solar
domestic hot water system”, Journal of Energy Engineering 142(3),
2016
[9] Mohamed, A.Z and et al, “Energic performance and economic
analysis of a solar water heating system for different flow rates
values: A case stude”, Solar Energy, 147(1), 2017, 164-180
[10] Pang, W and et al, “Experimental effect of high mass flow rate and
volume cooling on performance of a water-type PV/T collector”,
Solar Energy, 188, 2019, 1360-1368
[11] Dembeck-Kerekes, T and et al, “Performance of variable flow rates
for photovoltaic-thermal collectors and the determination of optimal
flow rates”, Solar Energy, 182, 2019, 148-160
[12] Antonio, A and et al, “Solar thermal modeling for rapid estimation of auxiliary energy requirements in domestic hot water production:
on-off versus proportional flow rate control”, Solar Energy 177(1),
2019, 68-79
[13] Sara, H and et al, “Simultaneous optimization of configuration and controller parameters in an integrated solar thermal hydronic system”, 2017, 2931-2936
[14] Nguyễn Du, Lê Minh Nhựt, “Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đến năng lượng hữu ích của hệ thống nước nóng năng lượng mặt
trời”, Tạp chí Khoa học giáo dục kỹ thuật, số 39, 2016, 78-84 [15] Duffie, J.A., Beckman, W.A Beckman, Solar Engineering of
[16] Nguyễn Thế Bảo, Giáo trình năng lượng tái tạo và sự phát triển bền
vững, NXB ĐHQG Tp.HCM, 2017
[17] Badescu, V, “Optimal control of flow in solar collector systems with
fully mixed water storage tanks”, Energy Conversion and
Management, 49(2), 2008, 169-184
[18] Knudsen, S, “Consumers influence on the thermal performance of
small SDHW systems - Theoretical investigations” Solar Energy,
73(1), 2002, 33-42
[19] Reindl, D and et al, “Experimental verification of a solar hot water
heating system with a spiral-jacketed storage tank”, Journal of
Mechanical Science and Technology, 22, 2008, 2228-2235
[20] Nhut, L.M., Park, Y.C, “A Study on Developing an Automatic Controller with an Inverter Collector Pump for Solar-Assisted
Heating System”, Energies, 13(9), 2020, 2128
(BBT nhận bài: 06/4/2020, hoàn tất thủ tục phản biện: 05/8/2020)