1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021

8 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 8,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021 trình bày mô tả đặc điểm lâm sàng suy giảm nhận thức trên bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021; Nhận xét một số yếu tố liên quan đến mức độ suy giảm nhận thức ở các bệnh nhân trên.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY GIẢM NHẬN THỨC Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT THỂ PARANOID TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG NĂM 2021

Vương Thị Thủy 1,2 , Đoàn Thị Như Yến 1,2

, Lương Thị Mai Loan 1,2 , Lê Thị Hương Giang 1

TÓM TẮT 50

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và

một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức

trên bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại

ệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021

Đối tượng nghiên cứu: 41 bệnh nhân tâm

thần phân liệt thể paranoid, có các triệu chứng

suy giảm nhận thức điều trị tại ệnh viện Tâm

thần Hải Phòng từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 9

năm 2021

Phương pháp nghiên cứu: phương pháp m

tả cắt ngang

Kết luận:

Giảm duy trì ch ý: 75,6% Giảm trí nhớ ngắn

hạn: 63,4% Rối loạn định hướng bản thân:

80,5% Rối loạn ng n ngữ chiếm: 60,9% Suy

giảm một phần chức năng điều hành: 34,1%, suy

giảm toàn bộ chức năng điều hành: 19,5%

Kh ng có sự khác biệt về giới tính ở bệnh nhân

tâm thần phân liệt thể paranoid có triệu chứng

suy giảm nhận thức Tuổi khởi phát sớm, thời

gian mắc bệnh càng dài thì mức độ suy giảm

nhận thức càng nặng

Từ khóa: suy giảm nhận thức, tâm thần phân

liệt thể paranoid

1 Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng

2 Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng

Chịu trách nhiệm chính: Vương Thị Thủy

Email: vtthuy@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 20.1.2022

Ngày phản biện khoa học: 19.3.2022

Ngày duyệt bài: 20.5.2022

SUMMARY

STUDY ON CLINICAL CHARACTERISTICS AND SOME FACTORS RELATED TO COGNITIVE IMPAIRMENT IN PATIENTS WITH PARANOID SCHIZOPHRENIA AT HAI PHONG PSYCHIATRIC HOSPITAL

IN 2021 Objectives: To study clinical characteristics

and some factors related to cognitive impairment

in patients with Paranoid schizophrenia at Hai Phong Psychiatric Hospital in 2021

Subjects: 41 paranoid schizophrenic patients

with symptoms of cognitive impairment treated

at Hai Phong Psychiatric Hospital from January

2021 to September 2021

Research Methods: Cross-sectional descriptive method

Conclusion:

Reduced attention retention: 75.6% Short-term memory impairment: 63.4% Disorientation disorder: 80.5% Language disorders account for: 60.9% Partial decline in executive function: 34.1%, total decline in executive function: 19.5% There is no gender difference in patients with paranoid schizophrenia with cognitive impairment The earlier the age of onset, the more severe the cognitive impairment The longer the duration of the disease, the more severe the cognitive impairment

Keywords: cognitive impairment, paranoid

schizophrenia

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy giảm nhận thức (SGNT) là tình trạng

suy giảm các hoạt động nhận thức như trí

nhớ, sự định hướng, tri giác, tư duy… Những

suy giảm này ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả

năng lao động và chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân ệnh tâm thần phân liệt ảnh

hưởng nhiều đến nhận thức của người bệnh,

suy giảm nhận thức làm giảm khả năng sống

tự lập c ng như khả năng tái hòa nhập và

thích ứng xã hội của họ [1]

Nghiên cứu về đặc điểm SGNT nhằm

nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, các yếu tố

liên quan để từ đó có những can thiệp phù

hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

cho người bệnh, gi p người bệnh tái hòa

nhập cộng đồng một cách tốt nhất [2] Tại

Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu tìm

hiểu sâu về vấn đề này Vì vậy ch ng t i tiến

hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

và một số yếu tố liên quan đến suy giảm

nhận thức trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải

Phòng năm 2021” với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng suy giảm

nhận thức trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

thể paranoid điều trị tại Bệnh viện Tâm thần

Hải Phòng năm 2021

2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến

mức độ suy giảm nhận thức ở các bệnh nhân

trên

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

ao gồm 41 bệnh nhân từ 18-60 tuổi

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Tất cả các bệnh nhân phải đáp ứng đầy đủ

tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL thể Paranoid của

ICD – 10, mục F20.0, có các triệu chứng suy

giảm nhận thức điều trị nội tr tại ệnh viện

Tâm thần Hải Phòng Tuổi từ 18-60

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- ệnh nhân chấn thương sọ não, có bệnh thực tổn não, các bệnh cơ thể nặng, nghiện rượu, trạng thái nhiễm độc ma tuý hoặc các chất gây nghiện khác

- ệnh nhân tâm thần phân liệt trên 60 tuổi

- ệnh nhân kh ng biết chữ, khiếm thính hoặc khiếm thị

- ệnh nhân đang trong trạng thái kích động

- ệnh nhân kh ng có người nhà cung cấp

tư liệu khách quan về tiền sử

2.1.3 ịa điểm, thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành tại ệnh viện Tâm thần Hải Phòng

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm

2021 đến tháng 09 năm 2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.2 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp

nghiên cứu m tả cắt ngang

2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu: Chọn m u

thuận tiện

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

- C ng cụ nghiên cứu: bệnh án nghiên cứu, bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, test tâm lý (trắc nghiệm MMSE)

- Kỹ thuật thu thập th ng tin: khám lâm sàng tâm thần, làm trắc nghiệm tâm lý

2.2.4 Xử lý số liệu: Phần mềm SPSS 20.0 III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUÂN

Qua nghiên cứu 41 bệnh nhân được chẩn đoán TTPL thể Paranoid theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD-10 mục F20.0, được điều trị tại ệnh viện Tâm thần Hải Phòng từ tháng 1/2021 đến tháng 9/2021 Ch ng t i thu được một số kết quả sau:

1 Đăc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 3

Biểu đồ 3.1 Giới tính

Trong nghiên cứu của ch ng t i, nam giới

chiếm tỷ lệ 68,3%, nữ giới chiếm 31,7%

(biểu đồ 3.1) Tỷ lệ nam/nữ là xấp xỉ 2,15/1

Theo Hội Tâm thần học Mỹ, các nghiên

cứu thực hiện với bệnh nhân điều trị nội tr

gợi ý tỷ lệ TTPL cao hơn ở nam, trong khi

các điều tra tại cộng đồng hầu hết đều cho

thấy tỷ lệ TTPL ở nam và nữ là ngang nhau

Bảng 3.1 Tuổi

lượng

Tỷ lệ

%

20 – <30 3 7,3

30 – <40 18 43,9

Trên 40 tuổi 20 48,8

Tuổi trung bình ( ±

Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là trên 40 tuổi,

chiếm 48,8% Lứa tuổi dưới 30 tuổi gặp ít

nhất, chiếm 7,3% 60 là tuổi cao nhất và 22

là tuổi thấp nhất Tuổi trung bình của các

bệnh nhân trong nghiên cứu của ch ng t i là

42,09 ± 9,4

Nghiên cứu Nguyễn Mai Hương (2010),

độ tuổi từ 20-29 chiếm tỷ lệ cao nhất: 53,3%;

độ tuổi trên 40 chiếm tỷ lệ thấp nhất: 10,4%;

tuổi trung bình 26,7± 8,4 [1]

Bảng 3.2 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn Số lượng Tỷ lệ

%

Trung học cơ sở 14 34,2 Trung học phổ

Cao đẳng, đại học 5 12,2 Trong nghiên cứu: 51,2% bệnh nhân có trình độ học vấn là trung học phổ th ng Trình độ học vấn cao đẳng, đại học chiếm 12,2% Gặp ít nhất là trình độ tiểu học 2,4% Kết quả của ch ng t i phù hợp với nhiều nghiên cứu khác Nguyễn Mai Hương (2010) Có thể, bệnh tâm thần phân liệt thường có khởi phát ở khoảng tuổi 20-25, một số khởi phát sớm hơn, các triệu chứng của bệnh đã khiến bệnh nhân kh ng theo học được, phải b học hoặc kh ng thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học, nên điều này gi p giải thích gặp nhiều nhất là các bệnh nhân có trình độ học vấn dừng lại ở mức trung học phổ th ng [1]

3.2 Đặc điểm lâm sàng của các triệu chứng suy giảm nhận thức trên đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3 Suy giảm chú ý

lượng

Tỷ lệ

%

Giảm duy trì ch ý 31 75,6 Giảm ch ý có chọn

Giảm di chuyển ch ý 25 60,9 Trong nghiên cứu của ch ng t i, triệu chứng giảm duy trì ch ý gặp ở 75,6%; giảm

ch ý có chọn lọc 70,7%; giảm di chuyển chú ý 60,9% Kết quả này tương đối phù hợp với các nghiên cứu Nguyễn Mai Hương (2010) và nhiều tác giả khác [1], [3]

Trang 4

Suy giảm ch ý là một trong những lý do gây cản trở lớn đến việc học tập c ng như c ng việc của bệnh nhân

Bảng 3.4 Suy giảm trí nhớ

Giảm trí nhớ dài

hạn

Các sự kiện quan trọng trong cuộc sống 20 48,8 Các kiến thức, khái niệm đã học 18 43,9 Các quy trình, động tác đã học 14 34,1 Khi khảo sát về lĩnh vực trí nhớ, kết quả

nghiên cứu của ch ng t i trong bảng 3.5 cho

thấy phần lớn bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ,

trong đó trí nhớ ngắn hạn bị suy giảm nhiều

nhất, chiếm tỷ lệ 63,4%

Suy giảm trí nhớ tức thì chiếm tỷ lệ

12,2% Kết quả này này phù hợp với nghiên

cứu của Manglesh Kumar Manglam (2010),

bệnh nhân giảm r rệt cả trí nhớ hình ảnh và

trí nhớ âm thanh so với nhóm chứng tương

đồng về tuổi, giới, trình độ học vấn, văn hóa

[3]

Suy giảm trí nhớ ngắn hạn, chiếm tỷ lệ

63,4%, trí nhớ dài hạn 48,8% (bệnh nhân

quên các kỷ niệm trong cuộc sống; 43,9%

quên các kiến thức, khái niệm đã học và

34,1% quên các quy trình động tác)

Theo Marie-Laure Grillon và Anne

Giersch (2010), trí nhớ sự kiện (episodic

memory) là hệ thống trí nhớ cho phép con

người tái trải nghiệm những sự kiện đã xảy

ra bằng cách hồi tưởng lại trong tâm trí Ở

người bình thường giảm trí nhớ có thể biểu

hiện một trong hai hiện tượng: hoặc là v n

biết rằng có sự kiện ấy, nhưng kh ng nhớ

được các chi tiết liên quan đến sự kiện; hoặc

quên hoàn toàn sự kiện Qua đánh giá nhiều

nghiên cứu khác nhau, tác giả nhận thấy

bệnh nhân TTPL thường quên hoàn toàn sự

kiện ồng thời tác giả c ng nêu giả thuyết rằng chính những rối loạn trong việc mã hóa các th ng tin thu nhận để chuyển vào trí nhớ dài hạn đã khiến bệnh nhân kh ng thể tái hiện sự kiện [4]

Bảng 3.5 Suy giảm trí nhớ trong hoạt động hàng ngày

%

ồ vật của mình 13 31,7 Câu chuyện 18 43,9

ường đi, nơi chốn 6 14,6 Làm một nhiệm vụ 19 46,3 Trong nghiên cứu của ch ng t i, có 63,4% bệnh nhân bị suy giảm một hoặc nhiều các khía cạnh trí nhớ này (bảng 3.6) Như vậy, suy giảm trí nhớ kh ng chỉ cản trở bệnh nhân học tập, lao động, mà còn khiến họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nói chung Kết quả này tương đối phù hợp với nghiên cứu nhiều tác giả khác ở Việt Nam và trên thế giới [1],[4]

Bảng 3.6 Rối loạn định hướng

lượng

Tỷ lệ

%

RL định hướng thời

Trang 5

RL định hướng kh ng

RL định hướng về bản

RL định hướng xung

Trong kết quả nghiên cứu của ch ng t i ở

bảng 3.7, rối loạn định hướng về bản thân

gặp nhiều nhất: 80,5%; tiếp theo là định

hướng thời gian: 24,4%; định hướng kh ng

gian: 4,9% và kh ng gặp bệnh nhân có rối loạn định hướng về xung quanh

Kết quả của ch ng t i cao hơn nhiều so với các nghiên cứu của Nguyễn Mai Hương (2010), có thể là do có sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu Các bệnh nhân TTPL ở nghiên cứu của ch ng t i thường là bệnh nhân mãn tính, tuổi trung bình cao hơn và thời gian mắc bệnh dài hơn

Bảng 3.7 Rối loạn ngôn ngữ biểu hiện

Mất lưu loát, phát âm kh ng chính xác 14 34,1

Nói, viết kh ng liên quan, thiếu logic 25 60,9 Nói, viết thiếu ý nghĩa th ng tin 17 41,5 Thường gặp nhất là hiện tượng nói, viết

kh ng liên quan, thiếu logic: 60,9%, tiếp

theo là vốn từ nghèo nàn: 48,8%, và nói/viết

thiếu ý nghĩa th ng tin chiếm 41,5%, hiện

tượng nói mất lưu loát chiếm tỷ lệ 34,1%,

hiện tượng nói, viết sai ngữ pháp là 14,6%,

gặp ít nhất là hiện tượng thêm từ lạ và kh ng

gọi được tên đối tượng đều chiếm 4,9%

(bảng 3.8)

Kết quả nghiên cứu của ch ng t i tương

đồng với nghiên cứu của Nguyễn Mai

Hương (2010), tỷ lệ bệnh nhân TTPL có rối

loạn ng n ngữ sử dụng trong giao tiếp là

88,1% [1] Trên thực tế lâm sàng, ch ng t i

nhận thấy rằng triệu chứng nói các chủ đề

kh ng liên quan là một trong những dấu hiệu

thường gặp nhất mà người nhà phát hiện ra

và đưa bệnh nhân TTPL đi khám bệnh

Bảng 3.8 Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

lượng

Tỷ lệ

%

Câu ngắn, đơn giản 7 17,7 Câu dài, phức tạp 17 41,5 Chỉ một phần nh bệnh nhân kh ng hiểu được các câu ngắn, đơn giản: 17,7%; tỷ lệ bệnh nhân kh ng hiểu câu dài, phức tạp: 41,5% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Dorofeikova M (2017), bệnh nhân TTPL hiểu tốt các câu ngắn, hiểu kém hơn với các câu dài, có cấu tr c ngữ pháp phức tạp, hoặc có nhiều tân ngữ [5]

Trang 6

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm suy giảm chức năng điều hành

a số bệnh nhân suy giảm chức năng điều hành; trong đó 34,1% suy giảm một phần và 19,5% suy giảm toàn bộ

Kết quả của ch ng t i thấp hơn nghiên cứu trên thế giới về chức năng điều hành của bệnh nhân TTPL [6] Nguyên nhân có thể do m u nghiên cứu của ch ng t i chỉ có 41 bệnh nhân, ít hơn m u của các nghiên cứu khác

Bảng 3.9 Kết quả trắc nghiệm MMSE

Số bệnh nhân SGNT nhẹ (20-23đ MMSE) chiếm 80,5%

Số bệnh nhân SGNT vừa (14-19đ MMSE) chiếm 12,2%

Số bệnh nhân SGNT nặng (1-13đ MMSE) chiếm 7,3%

3.3 Một số yếu tố liên quan tới suy giảm nhận thức trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa giới và mức độ suy giảm nhận thức

p

Suy giảm nhận thức 28 68,3 13 31,7 >0,05

Kh ng có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ trong các bệnh nhân có triệu chứng suy giảm nhận thức iều này có nghĩa là giới tính kh ng ảnh hưởng tới chức năng nhận thức trên bệnh nhân TTPL Nghiên cứu của ch ng t i phù hợp với nhận định của hầu hết các nghiên cứu trên thế giới [6]

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuổi phát bệnh và mức độ suy giảm nhận thức

Trước 30 tuổi Sau 30 tuổi

p

Suy giảm nhận thức 26 63,4 15 36,6 <0.05

Trang 7

Có nhiều nghiên cứu cho rằng tuổi khởi

phát bệnh có liên quan tới mức độ trong suy

giảm các chức năng nhận thức ở TTPL, bao

gồm ch ý, việc học tập, xử lý th ng tin…

[7]

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh

nhân khởi phát bệnh trước 30 tuổi gặp nhiều

hơn r rệt so với nhóm bệnh nhân khởi phát bệnh sau 30 tuổi, với p<0,05 iều này phù hợp với nghiên cứu Nguyễn Hương Mai (2010) và nhiều tác giả khi cho rằng, bệnh nhân TTPL có các biểu hiện suy giảm nhận thức có tuổi khởi phát thấp hơn so với bệnh nhân TTPL kh ng suy giảm nhận thức [1]

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và mức độ suy giảm nhận thức

Dưới 5 năm Từ 5 đến 10 năm Trên 10 năm

p

Suy giảm nhận thức 3 7,3 10 24,4 28 68,3 <0.05

Trong bảng 3.16, tỷ lệ bệnh nhân mắc

bệnh dưới 5 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất:

7,3%, tỷ lệ mắc bệnh từ 5 đến 10 năm:

24,4%; tỷ lệ mắc bệnh trên 10 năm chiếm

hơn một nửa tổng số bệnh nhân: 68,3%, cao

hơn r rệt hai nhóm còn lại với p <0,05 iều

này có nghĩa trong số bệnh nhân TTPL có

các triệu chứng suy giảm nhận thức, gặp nhiều hơn các bệnh nhân có thời gian mắc bệnh kéo dài

Kết quả này c ng phù hợp với các c ng

bố trước đó của Nguyễn Mai Hương (2010)

và Lâm Tứ Trung (2020)

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa các loại thuốc đã từng điều trị với mức độ suy giảm nhận thức

Mức độ SGNT ( iểm

MMSE)

ATK cổ điển ATK mới Phối hợp 2 loại ATL

P

Nhẹ (20-23) 9 69,3 7 87,5 17 85,0 >0.05

Vừa (14-19) 3 23,0 1 12,5 1 5,0 >0.05

Tỷ lệ bệnh nhân dùng ATK cổ điển:

34,1% và ATK mới: 29,3%, dùng kết hợp

ATK: 36,6% Khi so sánh mức độ SGNT ở

các nhóm dùng ATK với nhau, kh ng thấy

sự khác biệt (p>0,05)

Theo các tác giả trên thế giới, dùng thuốc

ATK mới có thể làm tăng chức năng nhận

thức, tuy nhiên, trong nghiên cứu này ch ng

t i đã tiến hành việc hồi cứu lại việc sử dụng

thuốc ATK của người bệnh qua việc h i tiền

sử, bệnh sử và xem đơn thuốc Việc hồi cứu

có nhiều hạn chế do vậy chưa đủ cơ sở để kết luận mối liên quan giữa dùng thuốc ATK và mức độ suy giảm nhận thức [8]

V KẾT LUẬN

1 Đặc điểm lâm sàng các triệu chứng suy giảm nhận thức của nhóm nghiên cứu

Giảm duy trì ch ý: 75,6% Giảm trí nhớ ngắn hạn: 63,4% Rối loạn định hướng bản thân: 80,5% Rối loạn ng n ngữ chiếm: 60,9% Suy giảm một phần chức năng điều

Trang 8

hành: 34,1%, suy giảm toàn bộ chức năng

điều hành: 19,5%

2 Một số yếu tố liên quan đến suy giảm

nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

thể paranoid

Kh ng có sự khác biệt về giới tính ở bệnh

nhân tâm thần phân liệt có các triệu chứng

suy giảm nhận thức Tuổi khởi phát sớm,

thời gian mắc bệnh càng dài thì mức độ suy

giảm nhân thức càng nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Mai Hương (2010), ―Nghiên cứu

đặc điểm lâm sàng suy giảm nhận thức trên

bệnh nhân tâm thần phân liệt‖, Luận văn thạc

sĩ y học, Trường ại học Y Hà Nội

2 Lâm Tứ Trung (2020), Nghiên cứu hiệu quả

liệu pháp tăng nhận thức cho bệnh nhân tâm

thần phân liệt tại ệnh viện Tâm thần à

Nẵng, ề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

3 Manglesh Kumar Manglam et al (2010),

"Working memory in Schizophrenia‖,

German Journal of Psychiatry, (13), 116-120

4 Marie-Laure Grillon, Anne Giersch et al

(2010), "Episodic Memory and Impairment of

an Early Encoding Process in Schizophrenia‖, Neuropsychology, (24), 101- 108

5 Dorofeikova M., Neznanov N., Petrova N

(2017), "Cognitive deficit in patients with paranoid schizophrenia: Its clinical and laboratory correlates", Psychiatry Res, 262, 542-548

6 Lee J (2020) , The effect of age and sex on

congnitive impairment in Schizophrenia: Findings from the Consortium on the Genetics

of Schizophrenia (COGS) study

7 Henriksson A T, ParTonen T (2018), "Age

at onset and cognitive functioning in schizophrenia’, Published online by Cambridge University Press

8 Bosia M., Buonocore M., Bechi M (2018),

"Improving Cognition to Increase Treatment Efficacy in Schizophrenia: Effects of Metabolic Syndrome on Cognitive Remediation's Outcome", Front Psychiatry, 9,

647

Ngày đăng: 16/07/2022, 12:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Suy giảm chú ý - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.3. Suy giảm chú ý (Trang 3)
Bảng 3.1. Tuổi - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.1. Tuổi (Trang 3)
Bảng 3.2. Trình độ học vấn - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.2. Trình độ học vấn (Trang 3)
3.2. Đặc điểm lâm sàng của các triệu chứng suy giảm nhận thức trên đối tượng  - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
3.2. Đặc điểm lâm sàng của các triệu chứng suy giảm nhận thức trên đối tượng (Trang 3)
Bảng 3.4. Suy giảm trí nhớ - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.4. Suy giảm trí nhớ (Trang 4)
nghiên cứu của ch ng ti trong bảng 3.5 cho thấy phần lớn bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ,  trong đó trí nhớ ngắn hạn bị suy giảm nhiều  nhất, chiếm tỷ lệ 63,4% - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
nghi ên cứu của ch ng ti trong bảng 3.5 cho thấy phần lớn bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ, trong đó trí nhớ ngắn hạn bị suy giảm nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 63,4% (Trang 4)
Bảng 3.7. Rối loạn ngôn ngữ biểu hiện - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.7. Rối loạn ngôn ngữ biểu hiện (Trang 5)
Bảng 3.8. Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.8. Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận (Trang 5)
Bảng 3.9. Kết quả trắc nghiệm MMSE - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.9. Kết quả trắc nghiệm MMSE (Trang 6)
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa giới và mức độ suy giảm nhận thức - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2021
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa giới và mức độ suy giảm nhận thức (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w