Bài viết Đánh giá vai trò của phục hồi chức năng nuốt cho bệnh nhân sau phẫu thuật cắt ung thư lưỡi, ung thư sàn miệng, ung thư lưỡi – sàn miệng trình bày khảo sát tỷ lệ rối loạn nuốt và hiệu quả phục hồi chức năng nuốt sau huấn luyện nuốt của BN hậu phẫu ung thư lưỡi và/hoặc sàn miệng.
Trang 1ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NUỐT CHO
BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT CẮT UNG THƯ LƯỠI, UNG THƯ
SÀN MIỆNG, UNG THƯ LƯỠI – SÀN MIỆNG
Lý Xuân Quang 1,2 , Nguyễn Thị Hồng Loan 1 , Nguyễn Lê Vũ Hoàng 1 , Lê Quang Hưng 2 , Văn Thị Hải Hà 2
,
Lê Thị Thu Hồng 2 , Phạm Kiên Hữu 1
TÓM TẮT 19
Đặt vấn đề: Phẫu thuật (PT) cắt ung thư lưỡi
và/hoặc sàn miệng (KLSM) có thể gây ra những
thay đổi đáng kể đối với các giai đoạn nuốt ở
khoang miệng và họng Do đó, việc phục hồi
chức năng (PHCN) nuốt cho bệnh nhân (BN) sau
PT đóng vai trò rất quan trọng
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn nuốt (RLN)
và khảo sát vai trò của PHCN nuốt cho BN sau
PT cắt KLSM
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả tiến cứu các trường hợp sau
cắt KLSM tại Bệnh viện Đại học Y Dược
TPHCM từ 01/2020 đến 08/2021, được đánh giá
chức năng nuốt bằng các công cụ lâm sàng thời
điểm sau PT và sau khi PHCN nuốt
Kết quả: 36 BN thoả tiêu chuẩn, tham gia
vào nghiên cứu Tính theo nhóm cắt lưỡi, 3/3 BN
được PT cắt niêm mạc lưỡi không bị RLN Trong
khi đó, 7/7 BN cắt một phần, 14/14 BN cắt bán
phần, 6/6 BN cắt gần toàn bộ, 1/1 BN cắt toàn bộ
lưỡi, 4/5 BN cắt bỏ đáy lưỡi có biểu hiện RLN
Những BN này được hướng dẫn các bài tập tập
trung vào cơ lưỡi và đáy lưỡi, thay đổi chế độ ăn
1 Đại học Y Dược TPHCM
2
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
Chịu trách nhiệm chính: Lý Xuân Quang
Email: quang.lx@umc.edu.vn
Ngày nhận bài: 20.5.2022
Ngày phản biện khoa học: 30.5.2022
uống, tập cơ mút và cơ vòng môi nếu có sử dụng vạt tạo hình, thực hiện nghiệm pháp nuốt siêu trên thanh quản (SSG), thay đổi tư thế đầu cổ khi nuốt tuỳ theo kiểu RLN Sau 01 tháng, BN cải thiện khả năng ăn uống Mặc dù còn 1/14 BN được cắt bán phần, 6/6 BN cắt gần toàn bộ, 1/1
BN được cắt toàn bộ lưỡi vẫn còn RLN, nhưng tất cả các trường hợp đều có thể ăn uống qua miệng Tính chung, tỷ lệ RLN ngay sau PT là 88,9% giảm còn 22,2% sau xuất viện 01 tháng, giảm có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Tỷ lệ đặt ống nuôi ăn giảm từ 88,9% (sau PT) xuống còn 8,3% (trước xuất viện) có ý nghĩa (p<0.05) Việc thực hiện thay đổi tư thế đầu cổ và/hoặc nghiệm pháp khi nuốt giúp cải thiện khả năng nuốt
Kết luận: Sau xuất viện một tháng: nhóm cắt
niêm mạc, một phần, bán phần, và đáy lưỡi có chức năng nuốt hồi phục hoàn toàn Trong khi, 100% nhóm cắt gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi còn RLN giai đoạn miệng và giai đoạn miệng-họng, luôn cần phải thực hiện thay đổi tư thế đầu cổ khi nuốt Việc PHCN nuốt sau PT cắt KLSM làm giảm đáng kể tỉ lệ RLN
Từ khóa: Ung thư lưỡi và/hoặc sàn miệng, cắt
lưỡi, rối loạn nuốt, phục hồi chức năng nuốt
SUMMARY
EVALUATE THE ROLE OF SWALLOWING REHABILITATION FOR PATIENTS AFTER GLOSSECTOMY AND/OR THE FLOOR
OF MOUTH RESECTION
Trang 2Background: Surgery for the malignancy of
the tongue and/or involving the floor of the
mouth (T-FOMC) can cause significant changes
in the swallowing stages at the oral cavity and
pharynx Therefore, swallowing therapy in
post-surgical patients plays a very important role
Objective: Estimate the prevalence of
dysphagia, and assess the role of swallowing
rehabilitationin patients undergoing T-FOMC
removal
Method: Longitudinal prospective study:
Study population was chosen among patients
undergoing T-FOMC removal at the University
Medical Center Ho Chi Minh City from 01/2020
to 08/2021 Selected patients were evaluated
swallowing function by clinical tools before and
after swallowing therapy
Results: 36 patients were selected to
participate in the study Based on the type of
glossectomy: 3/3 patients with tongue
mucosectomy did not experience dysphagia after
surgery 7/7 patients with partial glossectomy,
14/14 patients with hemiglossectomy, 6/6
patients with subtotal glossectomy, 1/1 patient
with total glossectomy, and 4/5 patients with
tongue base removal had dysphagia Patients
with dysphagia underwent exercises focusing on
muscles tongue and base of the tongue, and diet
modification In addition to the rehabilitation,
some patients also exercised buccinator and
orbicularis oris muscle, performed the
super-supraglottic swallow maneuver (SSG),
modification of head and neck posture during
swallowing, and exercises for lower jaw After 1
month, the patients showed improvement in the
ability to eat and drink; only 1/14 patient with
hemiglossectomy, 6/6 patients with subtotal
glossectomy, 1/1 patient with total glossectomy
still experience dysphagia, but can eat or drink
through the mouth
Overally, the prevalence of swallowing disorder post-surgery was 88.9% and it was reduced to 22.2% one month after discharge, which was statistically significant (p<0.05) The prevalence of feeding tube placement decreased from 88.9% (after surgery ) to 8.3% (before hospital discharge), which was statistically significant (p<0.05) Modification of the head and neck position and/or performing the SSG when swallowing helps to improve the patient's swallowing ability
Conclusion: One month after hospital
discharge, the patients underwent partial glossectomy, hemiglossectomy, tongue base removal had a complete recovery of swallowing function Whereas, 100% of patients with subtotal and total glossectomy still expirienced dysphagia during the oral and oropharyngeal stages, which always required a change the head position when swallowing In conclution, swallowing rehabilitation after surgery for T-FOMC significantly reduces the prevalence of
dysphagia
Keywords: Malignancy of the tongue and/or
the floor of mouth, glossectomy, dysphagia, swallowing rehabilitation
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình nuốt, lưỡi đóng vai trò rất quan trọng Cử động lưỡi giúp di chuyển khối thức ăn, tạo áp lực trong khoang miệng, đẩy khối thức ăn xuống họng PT cắt ung thư lưỡi, sàn miệng ảnh hưởng đến chức năng nuốt và phát âm của BN Tuỳ theo giai đoạn ung thư, PT ít hoặc nhiều mà mức độ ảnh hưởng đến các chức năng này sẽ khác nhau Trong những trường hợp phải cắt bỏ phần lớn lưỡi và sàn miệng, chức năng nuốt ảnh hưởng trầm trọng Nếu để tự nhiên, việc nuốt
Trang 3của người bệnh sẽ diễn tiến rất chậm Vì vậy
cần có phương pháp huấn luyện nuốt giúp rút
ngắn thời gian nuôi ăn qua hỗ trợ bằng ống,
nâng cao chất lượng ăn uống Ngày càng có
nhiều bằng chứng về hiệu quả của các
phương pháp điều trị RLN như các bài tập
trực tiếp, bài tập gián tiếp, liệu pháp bù [1]
Tại khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Đại
học Y Dược TPHCM (TMH BV ĐHYD) có
điều trị nhiều trường hợp KLSM và được
PHCN nuốt sau PT Do đó, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này với mục tiêu: Khảo sát
tỷ lệ RLN và hiệu quả PHCN nuốt sau huấn
luyện nuốt của BN hậu phẫu cắt KLSM
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu mô tả loạt
ca
Tiêu chí chọn bệnh: BN trên 18 tuổi sau
PT điều trị KLSM tại khoa TMH BV ĐHYD
từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2021
Tiêu chí loại trừ: BN có tiền căn RLN do
bệnh lý thần kinh - cơ, tai biến mạch máu
não, bệnh Parkinson’s, bệnh Alzheimer, bại
liệt, liệt thần kinh X, bị rối loạn nhận thức,
nhược cơ; chấn thương vùng đầu cổ
Quá trình nghiên cứu:
BN thoả tiêu chuẩn được ghi nhận các
biến số về đặc điểm chung (tuổi, giới tính,
giai đoạn ung thư, liên quan sàn miệng, giải phẫu bệnh, kiểu cắt lưỡi/sàn miệng, kiểu tái tạo khuyết hổng), các biến số về RLN và PHCN nuốt (ứ đọng nước bọt trong khoang miệng, thử nghiệm nuốt nước bọt – RSST, nuốt 5ml nước – MWST, thử nghiệm ăn cháo xay – FT, và thử nghiệm uống liên tục 30ml nước – WST) tại 3 thời điểm: ngay sau PT, trước xuất viện và tái khám sau xuất viện 01 tháng
BN được xác định là có RLN khi bị RLN giai đoạn miệng, hoặc giai đoạn miệng-họng, hoặc giai đoạn họng
Đánh giá sự PHCN nuốt bằng cách so sánh tỷ lệ RLN, tỷ lệ đặt ống nuôi ăn tại 03 thời điểm; so sánh tỷ lệ cải thiện triệu chứng
ho sặc khi uống 5ml nước, so sánh khả năng
ăn cháo xay và uống liên tục 30ml nước trước và sau khi sử dụng thay đổi tư thế đầu
cổ và/hoặc nghiệm pháp SSG tại 02 thời điểm: trước xuất viện và tái khám sau 01 tháng
Số liệu được xử lý và thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2016
Đề tài nghiên cứu đã được duyệt thông qua hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược TPHCM số 508/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 25/08/2020
Trang 4Lưu đồ nghiên cứu:
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
Kiểu cắt lưỡi
Trang 5Trong 36 BN có 21 nam và 15 nữ, tuổi
trung bình 58,3±12,9 tuổi, nhỏ nhất 34 tuổi
và lớn nhất 88 tuổi; 11/36 ca u có xâm lấn
sàn miệng; 3 ca cắt niêm mạc, 7 ca cắt một
phần, 14 ca cắt bán phần, 6 ca cắt gần toàn
bộ, 1 ca cắt toàn bộ và 5 ca cắt đáy lưỡi với các mức độ; trong đó 22/36 ca có sử dụng vạt tạo hình
3.2 Tỷ lệ RLN tại các thời điểm sau phẫu thuật
Bảng 2: Biểu hiện RLN thời điểm ngay sau PT
Loại cắt lưỡi Biểu hiện
RLN
Niêm mạc
Số ca (%)
Một phần
Số ca (%)
Bán phần
Số ca (%)
Gần toàn bộ
Số ca (%)
Toàn
bộ
Số ca (%)
Đáy lưỡi
Số ca (%) Đọng nước
1/14 (7,1) 6/6 (100)
1/1 (100) 2/5 (40)
Vận
động
lưỡi
(100) 0
(7,1) 6/6 (100) 0 0
Giảm tầm
7/7 (100)
13/14
Thử
nghiệm
nuốt
nước
bọt
(100)
< 3 lần/30
Bình thường 3/3(100) 7/7
(100)
14/14
Hít sặc/uống 5ml
1/1 (100) 4/5 (80) Tại thời điểm ngay sau PT tình trạng RLN
của từng nhóm cắt lưỡi như sau:
- Cắt niêm mạc lưỡi: không bị RLN
- Cắt một phần lưỡi: 7/7 BN bị giảm tầm
vận động lưỡi nhẹ
- Cắt bán phần lưỡi: 13/14 BN bị giảm
tầm vận động lưỡi nhẹ, 1/14 BN đọng nước
bọt trong khoang miệng, bị hạn chế vận động
lưỡi
- Cắt gần toàn bộ lưỡi: 6/6 BN bị ứ đọng
nước bọt trong khoang miệng, vận động lưỡi
hạn chế, và nuốt nước bọt chậm
- Cắt toàn bộ lưỡi: ứ đọng nhiều nước bọt trong khoang miệng, không có cử động lưỡi,
và không nuốt nước bọt
- Cắt đáy lưỡi: 2/5 BN bị ứ đọng nước bọt trong khoang miệng, lưỡi bị giảm tầm vận động nhẹ, và nuốt nước bọt chậm
- Hít sặc: 6/36 BN thuộc nhóm cắt gần toàn bộ, cắt toàn bộ, và cắt đáy lưỡi bị ho sặc khi uống 5 ml nước do bị RLN giai đoạn họng
Trang 6Bảng 3: Biểu hiện RLN thời điểm trước xuất viện
Loại cắt lưỡi Biểu hiện
RLN
Niêm mạc
Số ca (%)
Một phần
Số ca (%)
Bán phần
Số ca (%)
Gần toàn bộ
Số ca (%)
Toàn
bộ
Số ca (%)
Đáy lưỡi
Số ca (%) Đọng nước
Vận
động
lưỡi
Giảm tầm
5/7 (71,4)
13/14
Bình thường
3/3 (100)
2/7
Thử
nghiệm
nuốt
nước
bọt
Không
được
< 03 lần/30
giây
0 0 0 6/6 (100) 1/1 (100) 2/5 (40)
Bình thường
3/3 (100) 7/7 (100)
14/14
Hít sặc/uống 5ml
Tại thời điểm trước xuất viện, tình trạng
RLN của từng nhóm cắt lưỡi như sau:
- Cắt một phần lưỡi: 5/7 BN bị giảm tầm
vận động lưỡi nhẹ
- Cắt bán phần lưỡi: 13/14 BN bị giảm
tầm vận động lưỡi nhẹ 1/14 BN có tái tạo
lưỡi-sàn miệng đọng nước bọt trong khoang
miệng và hạn chế vận động lưỡi
- Cắt gần toàn bộ lưỡi: 6/6 BN còn ứ đọng nước bọt ít trong khoang miệng, và nuốt nước bọt còn chậm, vận động lưỡi hạn chế
- Trường hợp cắt toàn bộ lưỡi còn ứ đọng nước bọt trong khoang miệng, nuốt nước bọt chậm
- Cắt đáy lưỡi: 3/5 BN giảm tầm vận động lưỡi nhẹ
Trang 7Bảng 4: Biểu hiện RLN thời điểm sau xuất viện 01 tháng
Loại cắt lưỡi Biểu hiện
RLN
Niêm mạc
Số ca (%)
Một phần
Số ca (%)
Bán phần
Số ca (%)
Gần toàn bộ
Số ca (%)
Toàn
bộ
Số ca (%)
Đáy lưỡi
Số ca (%) Đọng nước
Vận
động
lưỡi
Giảm
Bình thường 3/3 (100) 7/7 (100)
13/14
5/5 (100)
Thử
nghiệm
nuốt
nước bọt
Không
< 03 lần/30 giây
Bình thường 3/3 (100) 7/7 (100)
14/14 (100) 6/6 (100) 1/1 (100)
5/5 (100)
Hít sặc/uống 5ml
Tại thời điểm tái khám sau xuất viện một tháng, tình trạng RLN của các nhóm cắt lưỡi là:
- Cắt bán phần lưỡi: 1/14 BN còn giới hạn tầm vận động lưỡi nhẹ
- Cắt gần toàn bộ lưỡi: 6/6 BN vận động lưỡi hạn chế
- Trường hợp cắt toàn bộ lưỡi: mất chức năng của lưỡi trong quá trình nuốt
Bảng 5: Tổng hợp tỷ lệ RLN theo nhóm cắt lưỡi
Thời điểm
đánh giá Kiểu
cắt lưỡi
Ngay sau PT
Số ca (%)
Trước xuất viện
Số ca (%)
Tái khám sau xuất viện 1 tháng
Số ca (%)
Bán phần 14/14 (100) 14/14 (100) 1/14 (7,1)
Gần toàn bộ 6/6 (100) 6/6 (100) 6/6 (100)
Trang 8Tỷ lệ RLN theo từng nhóm cắt lưỡi tại các
thời điểm sau phẫu thuật như sau:
- Cắt niêm mạc lưỡi: Không bị RLN
- Cắt một phần lưỡi: 100% bị RLN tại
thời điểm ngay sau PT giảm xuống 71,4%
trước xuất viện và hồi phục hoàn toàn khi
sau xuất viện một tháng
- Cắt bán phần lưỡi: 100% bị RLN tại
thời điểm ngay sau PT và trước xuất viện,
giảm xuống 7,1% khi tái khám sau một
tháng
- Cắt gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi: 100%
bị RLN tại các thời điểm đánh giá
- Cắt đáy lưỡi: 80% bị RLN ngay sau
PT, giảm còn 60% trước khi xuất viện, và
hồi phục gần hoàn toàn khi tái khám sau một
tháng
3.3 Sự cải thiện của chức năng nuốt
sau PT
Tỷ lệ RLN chung là 88,9% (ngay sau PT)
giảm xuống còn 22,2% (sau xuất viện 01
tháng), giảm có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Tỷ lệ đặt ống nuôi ăn là 88,9% (ngay sau
PT) giảm xuống còn 8,3% (trước xuất viện),
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Về hiệu quả của nghiệm pháp SSG đối
với BN bị hít sặc: Tại thời điểm ngay sau PT,
6/36 (16,7%) BN bị ho sặc khi uống 5 ml
nước giảm xuống còn 0/36 (0%) sau khi thực
hiện nghiệm pháp
Về thử nghiệm cho BN ăn cháo xay, tại
thời điểm trước xuất viện ghi nhận:
11/36 (30,6%) BN có thời gian ăn > 30
phút giảm xuống còn 3/36 (8,3%) sau khi
thực hiện thay đổi tư đầu cổ khi nuốt
3/36 (8,3%) BN có cắt đáy lưỡi bị ho
sặc giảm xuống còn 1/36 (2,8%) sau khi thực
hiện cúi đầu và/hoặc SSG khi ăn
Về thử nghiệm uống liên tục 30 ml nước,
6/36 (16,7%) BN bị ho sặc khi uống giảm
xuống còn 1/36 (2,8%) sau khi thực hiện SSG
IV BÀN LUẬN
Theo tác giả Groher, việc cắt bỏ dưới 50% cấu trúc liên quan đến nuốt sẽ ít ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng nuốt Trong khi, tác giả Sessions kết luận kích thước của tổn thương bị cắt bỏ ít liên quan đến tiên lượng hơn so với vùng cắt bỏ và tiên lượng RLN nặng hơn trong các trường hợp cắt bỏ đáy lưỡi và sụn phễu Các nghiên cứu cho thấy rằng việc cắt bỏ tới 1/3 lưỡi chỉ gây ra các vấn đề về nuốt tạm thời Nếu lưỡi dính chặt vào sàn miệng hoặc u liên quan đến dây thần kinh hạ thiệt, RLN sẽ trầm trọng hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy BN được PT cắt toàn bộ lưỡi có thể lấy lại chức năng nuốt và cắt bỏ lưỡi di động có thể lấy lại dinh dưỡng qua đường miệng sau khi lành bệnh một tháng [2], [3] Về hít sặc, cắt bỏ hơn 25% đáy lưỡi có liên quan đến việc khó kích hoạt pha nuốt ở họng, khó làm sạch khối thức ăn khỏi họng và hít sặc nặng sau PT [4] Tỷ lệ hít sặc ở BN cắt bỏ gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi là 10–37% [5] Nói chung, cắt bỏ càng lớn, chức năng nuốt sẽ càng sẽ bị suy yếu [3], [6] Tuy nhiên, mức độ cắt bỏ các cấu trúc quan trọng đối với sự hình thành khối thức ăn, vận chuyển khối thức ăn và bảo vệ đường thở như thân và đầu lưỡi, đáy lưỡi sẽ
có tác động lớn hơn đến chức năng nuốt sau
PT so với các cấu trúc khác như sàn miệng hoặc cung răng [2], [3] Để đánh giá RLN trên lâm sàng, tác giả Horii ghi nhận việc kết hợp 2 hoặc 3 thử nghiệm trong đó sự kết hợp
"MWST và FT" cho kết quả sàng lọc chính xác nhất [7]
Tỷ lệ RLN theo nhóm cắt lưỡi của chúng tôi khá tương đồng với các nghiên cứu; tuy
Trang 9bộ lưỡi mà chúng tôi theo dõi có khả năng
nuốt kém hơn so với một số nghiên cứu khác
có thể do thời gian nghiên cứu của chúng tôi
ngắn hơn (khoảng gần 02 tháng sau PT) so
với 06 tháng đến 18 tháng của các tác giả
khác
Theo tác giả Zhang, phương pháp huấn
luyện nuốt được sử dụng bao gồm các liệu
pháp trực tiếp và gián tiếp Sau 10 ngày huấn
luyện nuốt cho nhóm sau cắt bỏ một phần và
bán phần lưỡi, tất cả mẫu đều cho thấy sự cải
thiện đáng kể trong việc nuốt và việc huấn
luyện nuốt sớm có thể cải thiện đáng kể khả
năng nuốt, giúp cho sự phục hồi của BN sau
khi PT, cải thiện chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu cho thấy phương pháp này đơn
giản, an toàn và hiệu quả, đáng được khuyến
khích trong công tác lâm sàng [1] Trong
phân tích đa biến của Bulba MG và cộng sự:
Ý nghĩa của tầm vận động lưỡi sau PT làm
nổi bật lợi thế trong việc giảm sự giới hạn
vận động của lưỡi [8]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, quá trình
theo dõi hậu phẫu tại bệnh viện, BN được
theo dõi chức năng nuốt mỗi ngày và được
hướng dẫn bắt đầu chương trình PHCN nuốt
sớm nhất có thể Kết quả nhóm cắt một phần,
bán phần, và cắt đáy lưỡi đều hồi phục chức
năng nuốt đáng kể so với thời điểm ngay sau
PT Tuy nhiên, nhóm bị cắt bỏ gần toàn bộ
và toàn bộ lưỡi mất thể tích lưỡi lớn nên luôn
cần phải sử dụng liệu pháp bù khi nuốt
V KẾT LUẬN
Tại thời điểm sau xuất viện khoảng một
tháng: nhóm cắt niêm mạc, một phần, bán
phần, và đáy lưỡi có chức năng nuốt hồi
phục hoàn toàn Trong khi, 100% nhóm cắt
gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi còn RLN giai
đoạn miệng và giai đoạn miệng-họng, luôn
cần phải thực hiện thay đổi tư thế đầu cổ khi nuốt Việc thực hiện thay đổi tư thế đầu cổ và/hoặc nghiệm pháp khi nuốt giúp cải thiện khả năng nuốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Zhang L., et al (2014), “Effect of
swallowing training on dysphagia and depression in postoperative tongue cancer patients”, European journal of oncology nursing, 18(6): 626-9
2 Leder S B., et al (2005), “Presence of a
tracheotomy tube and aspiration status in early, postsurgical head and neck cancer patients”, Head & neck, 27(9): 757-61
3 Andry G., et al (2005), “The evolving role
of surgery in the management of head and neck tumors”, Current opinion in oncology, 17(3): 241-8
4 Gagnebin J., et al (2000), “Reconstruction
of the anterior mouth floor by surgical flap microanastomosis: oncologic and functional results”, Schweizerische medizinische Wochenschrift Supplementum, 116: 39s-42s
5 Weber R S., et al (1991), “Functional
results after total or near total glossectomy with laryngeal preservation”, Archives of otolaryngology head & neck surgery, 117(5): 512-5
6 Konsulov S S (2005), “Surgical treatment of
anterolateral tongue carcinoma”, Folia medica, 47(3-4): 20-3
7 Horii N., et al (2021), “Validity of a
dysphagia screening test following resection for head and neck cancer”, Irish journal of medical science, 190(1): 67-77
8 Bulbul M.G., et al (2021), “Prediction of
Speech, Swallowing, and Quality of Life in Oral Cavity Cancer Patients: A Pilot Study”, The Laryngoscope, 131(11): 2497-2504