Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khoá X về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới đã nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan tr
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học- nghệ thuật là một hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của
các hoạt động con người, một phương thức quan trọng để con người nhậnthức, khám phá và cải tạo cuộc sống theo quy luật cái đẹp
Văn học- nghệ thuật là một hoạt động tinh thần thực tiễn của con người,
là một trong “những dạng sản xuất tinh thần” (C Mác) của con người Nghệ
thuật, một khi ra đời sẽ hình thành và hoàn thiện ở con người một năng lực cảmnhận thẩm mỹ đặc trưng chỉ có ở con người đối với các hiện tượng, sự kiện, biến
cố của thế giới khách quan với tư cách là “chỉnh thể cụ thể sống động” (C Mác).Nghệ thuật giúp con người biết chiếm lĩnh mọi lĩnh vực hoạt động đời sống xãhội theo các quy tắc của cái đẹp: “Tác phẩm nghệ thuật hình thành một côngchúng hiểu biết nghệ thuật và có năng lực hưởng thụ vẻ đẹp” (C Mác)
Văn học - nghệ thuật phản ánh đời sống, trong đó trung tâm là các quan
hệ hiện thực của con người xã hội, các tính cách của con người, những conngười sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử Nộidung của nghệ thuật là khát vọng muốn thể hiện một quan niệm về chân lýđời sống, một chân lý về cái đẹp, cái tốt, cái thật thể hiện trong các hiện tượng
tự nhiên và xã hội, trong các quan hệ giữa người và người, trong tính cáchcon người Do vậy, nghệ thuật bao giờ cũng có chức năng nhận thức, giáodục, thẩm mỹ Trong xã hội có giai cấp nghệ thuật có tính giai cấp, tínhđảng
Văn học - nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa, có các chức năngnhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí, giao tiếp, tổ chức và điều chỉnh xã hội Văn học, nghệ thuật tác động đến nhận thức của con người, chủ yếu và trực tiếpvào thế giới tình cảm, tâm hồn, cảm xúc của họ Văn học nghệ thuật có ý nghĩagiáo dục to lớn, nhất là giáo dục tư tưởng và giáo dục thẩm mỹ Văn học, nghệ
Trang 2thuật là sức mạnh, là vũ khí sắc bén, phương thức độc đáo của công tác tư tưởngtrong việc xây dựng tình cảm, nếp nghĩ, nếp sống của con người
Văn học- nghệ thuật, lĩnh vực nhạy cảm và tinh tế của văn hóa có khảnăng phản ánh vượt trước, có khả năng dự báo sự vận động và biến đổi của xãhội và đời sống tinh thần của con người , trở thành mục tiêu và là một trongnhững động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Vai trò xã hội của văn học- nghệ thuật là ở chỗ tạo ra hệ thống các giátrị làm chuẩn mực cho con người vươn tới, từ đó hình thành các phẩm chấtcủa con người - hình thành nhân cách Thông qua việc định hướng giá trị đốivới cộng đồng, văn học, nghệ thuật có khả năng điều chỉnh các khuynhhướng, chiều hướng phát triển của xã hội, hướng sự vận động xã hội tới cáitích cực, tiến bộ, nhân văn và hạn chế cái tiêu cực, thoái hoá, biến chất, xấuxa Văn học nghệ thuật còn là hoạt động có hiệu quả trong việc đáp ứng nhucầu giải trí của con người, bù đắp lại sức lao động đã mất và sử dụng thời gianrỗi một cách có ích lợi Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mụctiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Vì vậy, văn học, nghệ thuật,lĩnh vực quan trọng của văn hóa, là một trong những động lực thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của một đất nước
Các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới đã xác định rõ vị trí, vaitrò của văn học, nghệ thuật trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân
ta Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định:
“Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI
nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể
hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”).
Trang 3Văn kiện Đại hội VII (1991) nêu rõ: "Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hoá, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo" Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII(1993) khẳng định: "Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân, thiện, mỹ” Nghị quyết
trung ương 5 Khoá VIII(1998) coi văn học nghệ thuật là một trong những lĩnh
vực quan trọng nhất của văn hoá-nền tảng tinh thần của xã hội Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khoá X về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới đã nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và
sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”
Nhìn chung các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới đã xác định:Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá;Văn học, nghệ thuật là nhu cầu thiết yếu, là sự thể hiện khát vọng chân, thiện,
mỹ của con người; Văn học, nghệ thuật là một trong những động lực to lớntrực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triểntoàn diện của con người Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học- nghệ thuât là một tấtyếu khách quan Trong qúa trình đổi mới Đảng đã rất quan tâm đến lĩnh vựcnay, bên cạnh các thành tựu đã đạt được, trong sự lãnh đạo của Đảng cũngcòn bộc lộ một số những bất cập nhất định:
- Các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, vănnghệ trên thực tế chưa được quán triệt đầy đủ và đúng tầm Trước nhữngbiến đổi mau lẹ, phong phú, phức tạp của đời sống văn nghệ, xuất hiệnnhiều vấn đề và dấu hiệu mới, tầm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cáccấp từ Trung ương đến địa phương còn bộc lộ sự bất cập, hạn chế Nội
Trang 4dung và phương thức lãnh đạo còn chậm đổi mới, một số cấp ủy Đảng hầunhư vẫn thực hiện sự chỉ đạo theo lối cũ như thời chiến tranh và bao cấp,chưa thực sự quan tâm nâng cao, bổ sung hiểu biết mới về vai trò, đặctrưng của văn học, nghệ thuật thời kỳ mới.
- Thiếu một chính sách lâu dài, cơ bản và cơ chế cần thiết trong việcđào tạo tài năng, năng khiếu văn nghệ là một khuyết điểm kéo dài, nhất là từkhi chúng ta tập trung xây dựng kinh tế và vận hành nền kinh tế theo cơ chếthị trường
- Nhiều quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, vănhọc, nghệ thuật rất chậm được thể chế hóa, lại không đồng bộ, lạc hậu nhanh
và đôi khi không được thể chế hóa Chính vì việc thể chế hóa chậm, lạc hậu,nhiều chính sách còn chắp vá, giải quyết tình thế, cho nên “cơ chế xin - cho”còn khá phổ biến đối với hoạt động văn học, nghệ thuật
- Hiện tượng thiếu thống nhất, không ăn khớp giữa một số nội dungtrong định hướng, chủ trương của Đảng với một số đề xuất trong Đề án vềvăn học, nghệ thuật của một vài cơ quan quản lý Nhà nước gây bức xúc,không ổn định tư tưởng trong văn nghệ sĩ Ngày 23/1/2003, Ban Bí thư ra Chỉthị số 18-CT/TW về “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương
5 (khóa VIII) về công tác văn học, nghệ thuật trong tình hình mời”, chỉ rõ
“Chính phủ sớm ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của các Hội vănhọc, nghệ thuật đúng với tính chất là các tổ chức chính trị - xã hội - nghềnghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)” thì có Đề án đưa
ra trình các cơ quan Nhà nước về xóa bỏ tính chất chính trị - xã hội - nghềnghiệp của các Hội văn học, nghệ thuật
- Trong công tác chỉ đạo quản lý, xuất hiện hiện tượng cán bộ lãnh đạo,chỉ đạo, tham mưu, quản lý văn hóa, văn nghệ do Đảng và Nhà nước (cả ởTrung ương và địa phương) cử sang thường không được chuẩn bị đầy đủ vềnăng lực, về sự hiểu biết lĩnh vực đặc thù này, do đó không có điều kiện và
Trang 5trình độ để xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình cơ bản, dài hơi.Đáng chú ý là một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ít đọc, xem, nghe… cáctác phẩm văn học, nghệ thuật, ngại tiếp xúc, không thấu hiểu, đồng cảm vớiđội ngũ hoạt động văn nghệ nên hạn chế lớn đến hiệu quả lãnh đạo quản lýlĩnh vực này…
Xuất phát từ vai trò của văn học, nghệ thuật; từ tầm quan trọng về vai tròlãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực này cũng như từ những bất cập tồn tại vừa
nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn chủ đề: "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác văn học, nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay" làm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng CSVN
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề đổi mới nội dung và phương thức đạo của Đảng đối với cáclĩnh vực của đời sống xã hội đang là vấn đề được đề cập rất nhiều và là mộtnội dung quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Sau đây là những công trình nghiên cứu chủ yếu liên quan đến đề tàicủa Luận văn:
- Nghị quyết 05 ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị khóa VI, xem Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb CTQG,
Hà Nội, 2001
- Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng, văn hóa, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998.
- Nghị quyết 23 NQ/TƯ của Bộ Chính trị Khóa X, Về tiếp tục xây dựng
và phát triển văn học, nghệ thuâth trong thời kỳ mới, 2008.
- Ban Tư tưởng- văn hóa Trung ương, Một số vấn đề trong công tác quản lý văn học- nghệ thuật hiện nay, HN, 1990.
- Hà Minh Đức, chủ bỉên, Chặng đường mới của văn học Việt Nam,
Nxb CTQG, H, 1996
- Từ Sơn, Dõi theo tiến trình đổi mới văn hóa, văn nghệ, Nxb CTQG,
H, 1998
Trang 6- Hồ Sỹ Vịnh, Văn hóa, văn nghệ VN trong tiến trình đổi mới, Nxb
3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề cơ bản về lý luận vàthực tiễn Đảng lãnh đạo đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, trên cơ sở đó
đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản có tính khả thi để tiếp tụcđổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệthuật trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Luận giải cơ sở khoa học về cơ sở, nội dung, phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đời sống văn học - nghệ thuật và sựlãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học-nghệ thuật từ 2001 đến nay
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới và tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình, nội dung, phương thức lãnhđạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay
- Thời gian khảo sát chủ yếu từ 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Trang 7Luận văn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về lĩnh vực văn học - nghệthuật và sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, đồngthời tiếp thu và phát triển những kết quả nghiên cứu về chủ đề này được thểhiện trong các công trình khoa học, đề tài, bài viết đã được công bố
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dựng tổng hợp các phương pháp khoa học, nhất làphương pháp lôgíc-lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu, sosách; đồng thời chú trọng phương pháp tổng kết kinh nghiệm, điều tra khảosát để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong luận văn
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ khái niệm, nội hàm, các yếu tố ảnh hưởng đến sựlãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật hiện nay
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác Xâydựng Đảng, trong việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảngđối với các lĩnh vực của đời sống xã hội mà cụ thể ở đây là lĩnh vực văn học -nghệ thuật Đề tài luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trongkhoa học Xây dựng Đảng, trong các trường văn hóa, nghệ thuật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐÔI VỚI LĨNH VỰC VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT
1.1 VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
1.1.1 Nguồn gốc của văn học- nghệ thuật
Nguồn gốc của văn học, nghệ thuật gắn với vấn đề nguồn gốc của con
người Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph Ăngghen đã đề cập đến
vấn đề lao động xã hội và quá trình chuyển biến từ vượn thành người
Nghệ thuật nói chung chỉ thực sự nảy sinh khi con người đã phát triểnđầy đủ về năng lực tư duy và cảm xúc thẩm mỹ Đây là một hoạt động tinhthần phong phú, một niềm vui sáng tạo mà con người có thể đem lại chomình C Mác cũng như Ph Ăngghen đã xác định rõ cơ sở tâm lý xã hộinảy sinh cảm xúc thẩm mỹ Cảm xúc thẩm mỹ không chấp nhận và dunghòa những yếu tố bản năng và tính chất thực dụng vụ lợi tầm thường.Những sự thỏa mãn trong ăn uống hoặc trong hành vi tính dục ở một hoàncảnh nào đấy cũng không thể là nguyên nhân và cơ sở nảy sinh cảm xúcthẩm mỹ Cảm xúc thẩm mỹ là một trong những cảm xúc tinh thần thể hiệntính người của con người Nó là một loại cảm xúc mang ý nghĩa và nộidung xã hội được hình thành trong quá trình phát triển của con người hoànchỉnh, con người tham gia vào các hoạt động chinh phục tự nhiên và cải tạo
xã hội Sự phát triển của các cảm xúc thẩm mỹ phụ thuộc vào tiền đề lịch
sử xã hội mà yếu tố trực tiếp đầu tiên là sự phát triển của tư duy và các giácquan của con người Không có sự nảy sinh của nghệ thuật chân chính nếukhông nói đến sự phát triển của tư duy Tình cảm, cảm xúc trực năng…phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của một tư duy sáng tạo Từ bàn tay vượnngười đến bàn tay con người được giải phóng biết chế tạo ra công cụ, đến
Trang 9bàn tay sáng tạo đầy tài năng, là cả một quá trình phát triển lâu dài của đờisống con người
Như vậy, bàn tay không những là khí quan của lao động, mà còn làsản phẩm của lao động nữa Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứngđược với những động tác ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sựphát triển đặc biệt đã đạt được bằng cách đó của các cơ, của các gân,
và sau những khoảng thời gian dài hơn, cả của xương nữa, và cuốicùng, nhờ luôn luôn áp dụng lại sự tinh luyện thừa hưởng được đóvào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn – mà bàn tay conngười mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, nhưmột sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, cácpho tượng của Tovanxen và các điệu nhạc của Paganini [31, tr.634]
Về phía khách quan, các giác quan của con người cũng tạo điều kiện đểtiếp cận và nắm bắt được đối tượng một cách cảm tính cụ thể trong sự tồn tạivốn có của nó, của hình thức sinh động trong đời sống Giác quan giữ vị tríđặc biệt quan trọng trong loại tư duy cụ thể, tư duy hình tượng của các loạihình nghệ thụât và trong một chừng mực nào đó có thể nói là góp phần quyếtđịnh vào sự thành công của một tác phẩm Nghệ thuật nguyên thủy xuất hiệntrên cơ sở con người được hình thành trọn vẹn và cùng với quá trình này là sựhoàn thiện của các giác quan trong môi trường mới nhằm thực hiện nhữngchức năng xã hội mới Các giác quan góp phần vào sự phát triển phong phúcon người và đến lượt nó sự nảy nở giàu có của bản chất người lại tác động vàchi phối đến khả năng phát triển của các giác quan:
Chỉ có nhờ sự phong phú đã được phát triển về mặt vật chất, củabản chất con người, thì sự phong phú của tính cảm giác chủ quancủa con người mới phát triển và một phần thậm chí lần đầu tiênđược sản sinh ra: lỗ tai thính âm nhạc, con mắt cảm thấy cái đẹp củahình thức, nói vắn tắt là những cảm giác có khả năng về những sự
Trang 10hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lựclượng bản chất của con người [32, tr.175-176].
Sự nảy nở và phát triển nghệ thuật là một hiện tượng khách quan trongđời sống nghệ thuật và trình độ phát triển xã hội với những tiền đề cần thiếtcủa nó Nhưng một mặt khác, C.Mác và Ph.Ăngghen thấy rõ những đặc điểmthuộc về yêu cầu và năng lực chủ quan mà con người cần phải bồi dưỡng đểgóp phần tác động đến sự phát triển khách quan của nghệ thuật Nghệ thuật làmột hoạt động tinh thần phong phú, một niềm vui thích mà con người có thểtạo ra cho mình Nhưng nó không phải là một sản phẩm tự nhiên tùy thích, vàviệc thưởng thức, tiếp nhận cũng không phải là chuyện hoàn toàn đơn giản, tựnhiên ở đây vấn đề khoảng cách có thể đặt ra giữa giá trị khách quan có thựccủa tác phẩm và thước đo tiếp nhận chủ quan của con người Sự hạn chếtrong khả năng nhận thức và đánh giá của người thưởng thức không thể làmthay đổi giá trị thực của một tác phẩm nghệ thuật Sự hạn chế đó là chỗ yếukém của một cá nhân thì phần thiệt thòi ấy cần phải được bù đắp qua việc bồidưỡng và giáo dục thẩm mỹ Nhưng nếu sự hạn chế đó biến thành một nềnnếp, một thái độ với những chuẩn mực về mặt thẩm mỹ thì rõ ràng là có ảnhhưởng đến sự phát triển chung của nghệ thuật
C Mác đã chỉ rõ:
Mặt khác, xét từ phía chủ quan: chỉ có âm nhạc thức tỉnh cảm giác
âm nhạc của con người; đối với lỗ tai không thính âm nhạc thì âmnhạc hay nhất cũng không có ý nghĩa gì cả, đối với nó, âm nhạc khôngphải là đối tượng, bởi vì đối tượng của tôi chỉ có thể là sự khẳng địnhmột trong những lực lượng bản chất của tôi tồn tại đối với tôi giốngnhư lực lượng bản chất của tôi tồn tại đối với mình với tính cách lànăng lực chủ quan, vì cảm giác của tôi trải ra với mức nào thì ý nghĩacủa một đối tượng nào đó đối với tôi (nó chỉ có ý nghĩa đối với cảmgiác phù hợp với nó) cũng trải ra đúng với mức ấy [32, tr.175]
Trang 11Những ý kiến của C.Mỏc và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, quỏ trỡnh phỏttriển và sự hoàn thiện con người trờn cỏc mặt tư duy, ngụn ngữ và sự phỏttriển của cỏc giỏc quan đó đặt cơ sở cho sự tỡm hiểu về sự hỡnh thành của nghệthuật Đưa văn nghệ trở về với nguồn gốc lao động xó hội chớnh là trả vănnghệ về với cội nguồn thực của nú Sức mạnh của văn nghệ khụng mang ýnghĩa tự thõn, thoỏt ly khỏi mọi rằng buộc xó hội mà luụn được tiếp sức từ đờisống và phỏt huy sức mạnh của nú trong cuộc đấu tranh xó hội.
1.1.2 Bản chất của văn học nghệ thuật
Trớc khi chủ nghĩa Mác - Lênin xuất hiện, các quan điểm triết học, mỹhọc và nghệ thuật học (gọi chung là các quan điểm triết học về nghệ thuật)khác nhau của các hệ thống triết học duy tâm và duy vật; duy tâm chủ quanhay duy tâm khách quan; duy vật thô sơ hay duy vật máy móc đều lý giải khácnhau và đối lập nhau về bản chất của nghệ thuật (trong đó có văn chơng)
Mỹ học duy tâm cho rằng, nghệ thuật là biểu hiện của tình cảm thánhthần, của ý chí siêu nhiên Mỹ học duy tâm khách quan lại quan niệm nghệthuật là sự biểu hiện của thế giới ý niệm Platôn nhà triết học cổ đại coi cái
đẹp là ý niệm tồn tại ở đâu đó trong cõi huyền bí Cái thẩm mỹ, cái đẹp docon ngời sáng tạo ra là hình ảnh h ảo về cái đẹp tuyệt đối của mọi ý niệm,nghệ thuật chỉ là cái bóng của cái bóng Nghệ thuật đứng cách xa đời sốngthực tiễn và chân lý của cuộc sống hiện thực Nhà triết học duy tâm cổ điển
Đức, Hê Ghen cho rằng, nghệ thuật là hình ảnh đ ợc sản sinh ra từ tinh thần,
ý niệm Hình tợng nghệ thuật chính là sự cụ thể hóa ý niệm tuyệt đối vàonhững dạng thức hiện thực, sự hiện thực hóa cái đẹp ý niệm thành cái đẹpthực tế trong thế giới tinh thần tuyệt đối, nghệ thuật là hình thức tồn tạinhất định
Từ thời cổ đại, nhà triết học duy vật Arixtốt đã chỉ ra tính vật chất củanghệ thuật Ông quan niệm nghệ thuật bắt nguồn từ giới tự nhiên, có nguồngốc từ đời sống tinh thần hiện thực của con ngời Với lý thuyết “bắt chớc” ôngcho rằng nghệ thuật là sự bắt chớc cuộc sống một cách khéo léo, là sự môphỏng tự nhiên
Các nhà mỹ học dân chủ Nga Biêlinxky, Tsepnsepxki… đã gắn nghệthuật với đời sống Các ông đã chứng minh bản chất hiện thực, bản chất đời
Trang 12sống xã hội của nghệ thuật Song các ông mới chỉ thấy đợc yếu tố khách quancủa nghệ thuật, coi giá trị cao nhất của nghệ thuật là “bản sao cuộc sống”,nghệ thuật là cuộc sống [18, tr.251-255].
Sự xuất hiện triết học Mác - Lênin là sự phát triển trí tuệ loài ngời theomột xu hớng mới nó đã tạo ra bớc ngoặt trong lịch sử phát triển t tởng mỹ học
và giải quyết một cách khoa học vấn đề bản chất của nghệ thuật
Mỹ học Mác - Lênin đã đặt đúng vị trí của nghệ thuật - là sản phẩm của
ý thức bậc cao của con ngời
Nghệ thuật cũng nh bất kỳ hình thái ý thức xã hội nào khác, là mộthình thức phản ánh thế giới của ý thức con ngời Cũng nh khoa học, đạo
đức, tôn giáo, triết học, pháp quyền, không phải là cái gì thuộc thần linh
h ảo, nghệ thuật nh Lênin nói là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan, tức chúng đều là hình ảnh (t tởng) phản ánh thế giới hiện thực củacon ngời
Nói về ý thức con ngời, C Mác viết: ý thức con ngời không phải là cáigì ngoài sự phản ánh thế giới hiện thực vào trong đầu óc con ngời và đợc cảibiên trong đó
Tác phẩm nghệ thuật, theo C Mác , Ph.Ăngghen là sản phẩm đặc biệtcủa sự sáng tạo của t tởng con ngời (nghệ sĩ) Sự phản ánh nghệ thuật khôngphải là cái gì siêu ý thức, thiên khải (ánh sáng của Thợng đế), nó bao giờ cũngtuân theo những qui luật chung nhất trong sự nhận thức của con ngời, nó làmột trong rất nhiều hình thức khác nhau của quá trình nhận thức
Là một hình thái ý thức xã hội nằm trong kiến trúc thợng tầng của xãhội, văn học, nghệ thuật chịu sự tác động và chi phối của cơ sở kinh tế “Ph-
ơng thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội,chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con ngời quyết địnhtồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [30,tr.15] Một nền văn học mới ra đời, phát triển và suy tàn không phải là một sựngẫu nhiên, mà có quy luật nội tại và trực tiếp chịu sự tác động của những
điều kiện xã hội, của cơ sở kinh tế và các hình thái ý thức xã hội khác
Tuy nhiên, văn học, nghệ thuật là một hoạt động tinh thần sáng tạo, một
vũ khí tinh thần sắc bén nên nó không thụ động mà có sự tác động trở lại đốivới tồn tại xã hội Tìm hiểu nền nghệ thuật cổ Hy Lạp, C.Mác cũng nh Ph
Ăngghen đã có nhiều nhận xét sâu sắc về mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và xã
Trang 13hội với nền văn nghệ đợc sản sinh trên bối cảnh lịch sử đó Thần thoại HyLạp, mảnh đất nuôi dỡng nghệ thuật Hy Lạp, đã phát triển trong những điềukiện đặc biệt của xã hội, tơng ứng với cơ sở kinh tế, trình độ phát triển sảnxuất và kỹ thuật của xã hội Mặt khác, Asin có còn tồn tại đợc nữa hay khôngbên cạnh thuốc súng và đạn chì? Hay là nói chung, trờng ca Iliát có thể tồn tại
đợc nữa hay không bên cạnh bàn in hay hơn thế nữa, bên cạnh máy in? Nhữngbài ca, những điệu hát và những nàng thơ, do đó, những tiền đề tất yếu củaloại thơ anh hùng ca, đã chẳng biến đi một cách tất yếu khi chiếc bàn in xuấthiện hay sao? Hình tợng Asin, viên tớng chỉ huy có tài và dờng nh bất khảxâm phạm này có sức hấp dẫn về nhiều mặt Nhng Asin không phải là vị tớngcủa mọi cuộc chiến tranh Vũ khí Asin sử dụng, gót chân Asin, chỗ yếu cơbản của nhân vật,… tất cả đều mang dấu vết tởng tợng của một trình độ pháttriển xã hội Và những tởng tợng đó không thể chấp nhận là hợp lý đợc trongnhững điều kiện phát triển lịch sử khác Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ những tácphẩm Iliát và Ôđixê đã phản ánh quá trình chuyển biến từ chế độ mẫu hệ sangphụ hệ, vai trò của những ngời phụ nữ trong tác phẩm đã không đợc xem trọngtrớc uy quyền ngày càng lớn của ngời đàn ông Iliát cũng phản ánh chân thựcmột giai đoạn phát triển cao của thời đại dã man Thời thịnh vợng nhất củagiai đoạn cao trong thời đại dã man đợc diễn tả trong những bài thơ củaHome, nhất là trong tập Iliát Dõi theo tiến trình lịch sử, C.Mác và Ph
Ăngghen đã chỉ ra sự phản ánh qua các tác phẩm văn học những chế độ xã hộikhác nhau Sự phản ánh này không phải nh một hiện tợng ngẫu nhiên và cótính chất bị động mà gắn liền với chức năng nhận thức và phản ánh xã hội củavăn học Nó mang tính quy luật, chịu sự tác động và thử thách của d luận Tuynhiên, cũng không phải dễ dàng chỉ ra những mối liên hệ đó nếu không cócách nhìn đúng đắn và nhạy cảm về sự liên hệ biện chứng giữa văn học và xãhội
Trong quá trình nghiên cứu các hiện tợng văn học tiêu biểu của từnggiai đoạn, C Mác cũng chỉ ra khả năng phát triển không đồng đều giữa trình
độ phát triển chung của xã hội và cơ sở vật chất của nó với sự phát triển củavăn học, nghệ thuật ở một thời kỳ nhất định Đối với nghệ thuật, ngời ta biếtrằng những thời kỳ hng thịnh nhất của nghệ thuật không hoàn toàn tơng ứngvới sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tơng ứng với sự pháttriển của cơ sở vật chất của xã hội, nghệ thuật Hy Lạp là một ví dụ Trình độ
Trang 14phát triển về sản xuất của thời kỳ Hy Lạp còn thấp, nhng nghệ thuật Hy Lạplại phát triển rực rỡ “Một khi trong ngành cơ khí cũng nh trong nhiều ngànhkhác, chúng ta đã vợt hơn ngời xa, thì tại sao chúng ta lại không sáng tác nổimột bài ca anh hùng nh thế ấy thế là thiên anh hùng ca Hăngriats đã thay thếcho thiên anh hùng ca Iliát” [28, tr.106].
1.1.3 Chức năng của văn học nghệ thuật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mỏc - Lờnin, nghệ thuật ra đời là nhằmđỏp ứng nhu cầu phản ỏnh thế giới và thể hiện thế giới tinh thần của conngười trờn bỡnh diện thẩm mỹ Như vậy, cũng cú nghĩa rằng, nghệ thuật ra đời
và tồn tại là nhằm thỏa món nhu cầu thẩm mỹ của con người, một phươngdiện cuộc sống mà cỏc hỡnh thỏi ý thức xó hội khỏc khụng thể bự đắp được.Nhu cầu thẩm mỹ là nhu cầu cảm thụ cỏi đẹp, sỏng tạo cỏi đẹp và đưa cỏi đẹpvào cuộc sống, vào bản thõn con người Vỡ vậy, chức năng xó hội đặc thự, baotrựm nhất của nghệ thuật là thỏa món nhu cầu thẩm mỹ cho con người.Thỏa món được nhu cầu thẩm mỹ đú, cũng cú nghĩa là thỏa món tất cảnhững mong muốn chứa ẩn trong đú: thưởng ngoạn, thanh lọc, dự bỏo,thụng tin, đền bự tạo nờn sự phong phỳ của đời sống tinh thần, nuụidưỡng khỏt vọng và kớch thớch tiềm năng sỏng tạo theo quy luật cỏi đẹp củacon người Nghĩa là, thụng qua chức năng bao quỏt - chức năng thẩm mỹcủa nghệ thuật - cỏc khả năng khỏc như nhận thức, giỏo dục, sỏng tạo, tiờnđoỏn, đền bự sẽ được thực hiện
Từ chức năng thẩm mỹ chung nhất đú, cú thể chia thành bốn nhúmchức năng mang những đặc trưng riờng (khụng thể thay thế) của nghệ thuật:
- Chức năng thưởng thức gồm: khoỏi cảm, giải trớ, đền bự
- Chức năng nhận thức gồm: phỏt kiến, tiờn đoỏn, dự bỏo
- Chức năng giỏo dục gồm: thức tỉnh, thanh lọc, sỏng tạo
- Chức năng giao lưu: thụng tin, giao tiếp
Trang 15Chức năng thưởng thức là chức năng đặc biệt và ưu trội của nghệ
thuật, vì chỉ có nghệ thuật mới có thể đem lại khoái cảm, thích thú, hưng phấnriêng mà không gì thay thế được
Người ta có thể thưởng thức các giá trị vật chất rất cao, hay các thúvui tinh thần khác như thể thao, các trò chơi và nhiều hình thức giải trí khác.Nhưng những cái đó không thể thay thế được nghệ thuật về tính xúc cảm và
sự lây lan tình cảm, từ tình cảm sang lý trí, từ thực tại sang liên tưởng, tưởngtượng, gây khoái cảm tinh thần Các khoái cảm do nghệ thuật đem lại là khoáicảm thẩm mỹ - loại khoái cảm vừa giải trí, vừa làm thanh thản tâm hồn, đem lạiniềm hưng phấn trọn vẹn: chân - thiện - mỹ Xukhômlinxki đã khái quát rất điểnhình ý nghĩa của thưởng thức nghệ thuật cái đẹp là thể dục của tâm hồn
Chức năng nhận thức Khả năng nhận thức của nghệ thuật cũng mang
những nét riêng mà các hình thái ý thức khác không có được Tác phẩm nghệthuật là chỉnh thể chân - thiện - mỹ trọn vẹn Nghệ thuật là sự tập trung lýtưởng con người, nó nhận thức thế giới bằng các cảm quan - cảm xúc mạnh
mẽ, đi vào chiều sâu đối tượng; phát hiện các qui luật tình cảm rất riêng củacon người Chính vì vậy, lượng tri thức thẩm mỹ phong phú và có thể đi sâu
và mở rộng thế giới tinh thần phong phú của con người và quan hệ giữa conngười với nhận thức thế giới
Nhận thức nghệ thuật là nhận thức có tính toàn năng, đem lại một trithức thẩm mỹ trọng vẹn Đây là tri thức gián tiếp, nhưng vô cùng sống độngdưới hình thức đời sống cụ thể - cảm tính Vì vậy, nghệ thuật gây được ấntượng của vốn sống trực tiếp Sự phong phú của vốn sống gián tiếp được kếthợp với độ sâu sắc của vốn sống trực tiếp Bằng tài năng và phương thức nhậnthức riêng, nghệ sĩ nâng mặt thẩm mỹ lên trình độ cao, làm cho nó có khảnăng nhận thức chuẩn xác Hơn nữa, tính chất nhiều tầng lớp của nghệ thuậttạo ra khả năng nhận thức cũng nhiều cấp độ, nhiều ý nghĩa; nhìn thấy cả cáibên ngoài lẫn cái bên trong hiện hàm và hàm ẩn; hiện tại, quá khứ và tương
Trang 16lai Đánh giá về tác phẩm Tấn trò đời của Ban giắc, C Mác cho rằng, tácphẩm đã đem lại sự nhận thức sinh động và phong phú của con người về xãhội tư bản thời đó bằng tổng số những tri thức mà các nhà thống kê, kế toánđương thời cộng lại.
Chức năng giáo dục Tác phẩm nghệ thuật mang giá trị chân thiện
-mỹ, cô đặc tri thức và tình cảm con người có khả năng nâng vốn sống tìnhcảm, lý trí con người lên nhiều lần Đánh giá thẩm mỹ ẩn sâu trong hìnhtượng nghệ thuật được người thưởng thức tiếp nhận như sự gợi mở, sự thểhiện và định hướng Xoay quanh trục giá trị, nghệ sĩ khêu gợi sự hình thànhthái độ yêu - ghét, cảm phục - khinh bỉ của người cảm thụ với nhiều cungbậc, sắc thái khác nhau Gây dựng và rèn luyện cảm xúc thẩm mỹ, bồi dưỡngnăng lực đánh giá, định hướng giá trị về sáng tạo thẩm mỹ, đó chính là ưu thếđộc tôn khả năng giáo dục của nghệ thuật Có thể nói, không có một hình thức
tư tưởng nào lại có thể thay thế được nghệ thuật trong việc xây dựng một tìnhcảm lành mạnh, thế giới tinh thần phong phú và sâu sắc, hình thành nếp nghĩ,nếp sống cao đẹp của con người
Khác với các hình thái giáo dục khác là giảng giải, chứng minh,khuyên bảo, v.v nghệ thuật cảm hóa, chinh phục lòng người thông qua nhữngcảnh đời, những số phận, những hình tượng sống động chứa đầy cảm xúc,
Vì vậy, cảm thụ nghệ thuật không hề bị ức chế bởi tâm lý “bị giáo dục”.Người ta đến với nghệ thuật như một phương tiện giải trí hoàn toàn thoải mái
và tự do Người thưởng thức được cuốn vào “trò chơi” với những khả năngbiến hóa kỳ diệu của màu sắc, ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, của các diệnmạo tâm trạng con người Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một thử nghiệm sángtạo, vì nó luôn tạo ra tình huống bất ngờ, đem lại niềm sảng khoái và nhữngphát hiện mới mẻ, đem đến người cảm thụ kinh nghiệm mang ý nghĩa nhânsinh, khâm phục cái đẹp, kích thích khát vọng vươn tới cái đẹp
Trang 17Giải trí bằng nghệ thuật là hình thức giải trí tích cực: thưởng ngoạn sáng tạo Đôxtôepxki đã từng khái quát rất sâu sắc rằng, nghệ thuật là nơi biểuhiện sáng chói nhất , cái đẹp cứu rỗi nhân loại!
-Chức năng giao lưu Khả năng giao lưu của nghệ thuật rất đặc biệt.
Trước hết, nghệ thuật là sự thăng hoa của tinh thần (tư tưởng, tình cảm, ýchí, ) con người; nó là thông điệp giữa người với người; có thể truyềnthông tin thẩm mỹ cho con người hiện tại và cho các thế hệ mai sau Khác vớicác phương thức giao lưu khác, nghệ thuật có lợi thế đặc biệt là giao lưu bằngngôn ngữ sống động - ngôn ngữ nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật được tạodựng bằng ngôn ngữ, động tác, âm thanh, đường nét, hình khối, màu sắc, với những kết hợp ước lệ mà bất kỳ dân tộc nào cũng đều hiểu, những sự kếthợp ước lệ đó tạo thành các loại hình, loại thể Có thể nói, nghệ thuật là ngônngữ chung của loài người, nó truyền nội dung tư tưởng, tình cảm, ý chí thôngqua ngôn ngữ của các loại hình, loại thể nghệ thuật - ngôn ngữ chung của loàingười trên khắp hành tinh Mỗi dân tộc đều có sắc thái nghệ thuật riêng, songđều có chung ngôn ngữ nghệ thuật Kinh nghiệm và lịch sử đã đúc kết khi cáchình thức giao tiếp của con người không thể thực hiện được thì người ta dùngđến nghệ thuật Qua nghệ thuật, đời sống tinh thần giữa người này và ngườikia, quốc gia này với quốc gia khác được hòa nhập, cả cộng đồng trở nênthông hiểu và đồng cảm sâu sắc với nhau
1.2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT: TÍNH TẤT YẾU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC
1.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật là một tất yếu
Xuất phát từ quan điểm triết học duy vật lịch sử của học thuyết Mác Lênin, trong xã hội có giai cấp và còn đấu tranh giai cấp, giai cấp nào thống
Trang 18-trị xã hội về kinh tế, chính -trị thì tất yếu thống -trị cả về đời sống tinh thần, tưtưởng, văn học và nghệ thuật
Trong Tuyên ngôn đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng
định: “Lịch sử tư tưởng chứng minh gì, nếu không phải chứng minh rằng
sự sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất Những tư tưởngcủa giai cấp thống trị của một thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giaicấp thống trị” [29, tr.265]
Ở giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn giai cấp và đấu tranhgiai cấp, trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo xã hội, do vậy hệ tưtưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng thống trị và đảng của giai cấpcông nhân tất yếu nắm quyền lãnh đạo, nhà nước do giai cấp công nhân dựnglên tất yếu phải nắm quyền quản lý đời sống tinh thần xã hội (trong đó vănhọc, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng)
Văn học, nghệ thuật có vai trò xã hội to lớn đối với việc hình thành tưtưởng, đạo đức, lối sống và thái độ chính trị xã hội, nên bất cứ giai cấp nào,chính đảng nào cũng muốn nắm lấy văn học, nghệ thuật để thông qua đótruyền bá tư tưởng, quan điểm của mình để tạo ra một xã hội với những conngười phù hợp với lợi ích của giai cấp Giai cấp phong kiến quan niệm “văn
dĩ tải đạo”, “văn dĩ quán đạo” hay “văn dĩ minh đạo”, có nghĩa là văn học,nghệ thuật phải phục vụ cho việc truyền bá, chuyển tải tư tưởng của giai cấpphong kiến vào đời sống xã hội, khẳng định sự thống trị của hệ tư tưởng đó.Thời Phục hưng ở phương Tây, giai cấp tư sản cũng sử dụng văn học, nghệthuật vào việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản nhằm chống lại giai cấp phongkiến và nhà thờ Thiên Chúa giáo Sự phát triển rực rỡ của nền văn học, nghệthuật Phục Hưng đã cổ vũ những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái tiến bộ,phê phán tư tưởng hà khắc, thần quyền của nhà thờ, góp phần thúc đẩy cuộccách mạng tư sản ở châu Âu
Trang 19Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng tháng Mười Nga thành công,
V.I.Lênin đã viết bài báo nổi tiếng Tổ chức Đảng và văn học Đảng (năm
1905), trong đó người khẳng định Đảng Cộng sản phải lãnh đạo sự nghiệpxây dựng nền văn học “mới mẻ, vĩ đại và cao quý” của giai cấp vô sản:
“Trước mắt chúng ta là nhiệm vụ khó khăn và mới mẻ, nhưng vĩ đại và caoquý: tổ chức sự nghiệp văn học rộng lớn, nhiều hình, nhiều vẻ, gắn bó chặtchẽ, mật thiết với phong trào công nhân dân chủ - xã hội” [26, tr.128] Dovậy, đảng của giai cấp vô sản phải “theo dõi tất cả những công tác đó, mangnguồn nhựa sống của sự nghiệp đầy sức sống của giai cấp vô sản vào toàn bộcông tác đó” [26, tr.124]
Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đề cương văn hóa năm 1943 đã
khẳng định: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị,văn hóa), ở đó người cộng sản phải hoạt động Không phải chỉ làm cáchmạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa Có lãnh đạo đượcphong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyềncủa Đảng mới hiệu quả” và “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoànthành được cuộc cải tạo xã hội” [10, tr.361, 363]
Ngày nay cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, văn học,nghệ thuật diễn ra hết sức gay gắt giữa các giai cấp, các thế lực chính trị,vấn đề áp đặt văn hóa, đế quốc chủ nghĩa trong văn hóa dưới chiêu bài
“giải thể ý thức hệ”, “phi ý thức hệ” trong văn hóa, văn học và nghệ thuậtđang tác động mạnh mẽ vào đời sống tinh thần ở nước ta Cho nên, vấn đềĐảng cần phải nắm quyền lãnh đạo văn học, nghệ thuật và Nhà nước tăngcường quản lý văn học, nghệ thuật là một vấn đề có tính nguyên tắc chínhtrị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý để hướng văn học, nghệ thuật vàoviệc củng cố, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới
và con người mới là một đòi hỏi tất yếu chính trị
Trang 20Văn học, nghệ thuật cách mạng chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng tức làchấp nhận yêu cầu của Đảng đối với văn học, nghệ thuật Văn học, nghệ thuậtcách mạng tự giác phục vụ sự nghiệp chính trị, sự nghiệp cách mạng củaĐảng, của giai cấp công nhân Yêu cầu của Đảng đối với văn học, nghệ thuậtcách mạng phải phục vụ sự nghiệp chính trị của Đảng, không phải là một sự
áp đặt chủ quan, khiên cưỡng mà xuất phát từ sự tương đồng giữa tính nhânvăn cao cả của văn học, nghệ thuật chân chính với mục tiêu chính trị, xã hộicao đẹp của giai cấp công nhân là vì con người, sự giải phóng con người, giảiphóng giai cấp, giải phóng xã hội và phát triển nhân cách con người
V.I.Lênin cho rằng văn học, nghệ thuật cách mạng (Văn học Đảng)phải “phục vụ hàng triệu, hàng chục triệu nhân dân lao động” Đó là nhiệm vụchính trị, cũng là trách nhiệm nhân văn cao quý của văn học, nghệ thuật cáchmạng Để thực hiện yêu cầu đó, văn học, nghệ thuật cách mạng phải làm tròncác bổn phận quan trọng sau đây:
- Góp phần phát triển những tư tưởng cách mạng “dùng kinh nghiệm vàcông tác sinh động của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa để làm giàu nhữngthành tựu cao nhất của tư tưởng cách mạng” của giai cấp công nhân, củaĐảng cộng sản (V.I.Lênin); Góp phần giác ngộ, động viên, cổ vũ quần chúngnhân dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” (HồChí Minh)
- Phải phản ánh sự nghiệp cách mạng xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hộimới của Đảng, của dân tộc: “Phò chính trừ tà”, “Phụng sự cách mạng, phụng
sự nhân dân” Trong thư gửi anh chị em văn hóa và trí thức Nam bộ ngày 25tháng 5 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là vũkhí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh chị em văn hóa và trí thứcphải làm cũng như những người chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến
để giành lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc” [33, tr.131]
Trang 21- Người nghệ sĩ phải tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Đảng, của cáchmạng, trở thành người chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh cách mạng V.I.Lênincũng trong tác phẩm nổi tiếng “Tổ chức Đảng, văn học Đảng” đã yêu cầu
Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệpcủa giai cấp vô sản, phải thành một bánh xe nhỏ, một đinh ốc nhỏtrong bộ máy dân chủ - xã hội vĩ đại, thống nhất do đội tiên phonggiác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển; Sự nghiệp vănhọc phải trở thành một bộ phận khăng khít của công tác tổ chức, có
kế hoạch thống nhất của toàn Đảng Dân chủ - xã hội [26, tr.128]
Hồ Chí Minh cho rằng “Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận Anh chị
em (văn nghệ sĩ - LQĐ) là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
- Người nghệ sĩ phải thấy được phục vụ sự nghiệp chính trị chân chínhcủa Đảng, của giai cấp và của nhân dân là một vinh dự lớn lao “soi đường choquốc dân đi”, trở thành “chiến sĩ” của nhân dân, của cách mạng Người chiến
sĩ trên “mặt trận” văn hóa, tư tưởng cũng cao quý như các mặt trận khác,ngang hàng với các mặt trận khác
Tuy nhiên, việc phục vụ sự nghiệp chính trị của Đảng không phải làphục vụ cá nhân nhà chính trị, phục vụ công tác chính trị có tính sự vụ Đồngchí Trường Chinh - Nguyên Tổng bí thư của Đảng đã căn dặn “Văn nghệphục tùng chính trị là phục tùng đường lối chính trị của Đảng chứ không phụctùng, phục vụ công tác hàng ngày hay cá nhân nhà chính trị” [37]
1.2.2 Nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật
- Quan niệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật là:Đảng vạch ra chủ trương, đường lối xây dựng nền văn học, nghệ thuật vàđộng viên, tổ chức các lực lượng xã hội đặc biệt là đội ngũ văn nghệ sĩ cùngtoàn thể nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối đó
Trang 22- Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật: Đảng lãnhđạo văn học, nghệ thuật một cách toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức
và chuyên môn (ở đây chủ yếu nói về sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượngvăn nghệ sĩ)
- Về chính trị: Đảng nắm quyền lãnh đạo chính trị, vạch ra đường lối,chủ trương xây dựng nền văn học, nghệ thuật phục vụ cho dân tộc, cho nhândân phù hợp với mục đích chính trị của Đảng và của giai cấp công nhân
- Về tư tưởng: Đảng xác lập thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởngthẩm mỹ, lý tưởng nghệ thuật cap đẹp cho văn nghệ sĩ Xác định nghĩa vụ,trách nhiệm xã hội chân chính, cao quý cho người nghệ sĩ cách mạng
- Về tổ chức: Đảng thành lập và thu hút các lực lượng văn nghệ sĩ vàocác hội chính trị - xã hội - nghề nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Về chuyên môn: Đảng đưa ra các chủ trương, biện pháp nâng caotrình độ văn hóa, tư tưởng chính trị và chuyên môn, nghề nghiệp, phươngpháp sáng tác cho văn nghệ sĩ
- Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng:
+ Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật trên cơ sở tính đặc thù của vănhọc, nghệ thuật: lĩnh vực văn học, nghệ thuật là lĩnh vực sáng tạo tinh thầnmang dấu ấn cá nhân, không giống các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự Vìvậy, không thể áp dụng chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch hoặc “cầm tay, chỉ việc”,cào bằng máy móc, số đông thống trị số ít, phải tôn trọng tự do sáng tạo, cátính sáng tạo của người nghệ sĩ
V.I.Lênin cho rằng: “Sự nghiệp văn học ít thích hợp nhất đối với sự càobằng máy móc, đối với sự san bằng, đối với số đông thống trị số ít Đươngnhiên, trong sự nghiệp đó phải bảo đảm phạm vi hết sức rộng rãi cho sángkiến cá nhân, cho khuynh hướng cá nhân, cho tư tưởng và sức tưởng tượng,cho hình thức và nội dung” [26, tr.123]
Trang 23+ Đề cao và tôn trọng nhân cách của người văn nghệ sĩ Tài năngsáng tạo văn học, nghệ thuật là thứ của quý, của hiếm thuộc về cá nhân củangười nghệ sĩ “tài năng là sự bất bình đẳng của nhân loại”, “tài năng làđiều hiếm, cần phải nâng đỡ thường xuyên và thận trọng” (V.I.Lênin) Tàinăng là của cá nhân người nghệ sĩ nhưng cũng là cái thuộc về dân tộc vànhân loại, tôn trọng tài năng nghệ sĩ là tôn trọng vốn quý của nhân loại.Cần phải tôn trọng nhân cách chân chính của người nghệ sĩ; mỗi một nghệ
sĩ là một nhân cách văn hóa có cá tính riêng, không nên “vơ đũa cả nắm”hoặc “đánh đồng một lứa”
+ Bao dung với những sai lầm, khuyết điểm của văn nghệ sĩ (nếucó) Bởi người nghệ sĩ luôn luôn muốn khẳng định chính kiến của riêngmình xuất phát từ nhận thức cá nhân của họ Đặc biệt là các văn nghệ sĩthường nhận thức sự vật bằng cảm tính, thiếu sự phân tích duy lý nên dễmắc sai lầm hoặc thái quá Hơn nữa trong sáng tạo nghệ thuật, họ luônluuôn tìm tòi, thể nghiệm cái mới nên cũng dễ dẫn đến sự cực đoan.Người nghệ sĩ có sự nhạy cảm đặc biệt trước cái xấu, cái ác, có sự phêphán gay gắt với mặt trái, các hiện tượng tiêu cực Họ luôn phủ nhận mặttiêu cực, tìm tòi phê phán các hiện tượng đó nên dễ bị coi là “bới lông tìmvết”, hoặc dễ bị quy chụp là bôi xấu xã hội, “đối trọng” với các nhà lãnhđạo, quản lý xã hội
1.2.3 Phương thức Đảng lãnh đạo lĩnh vực văn học, nghệ thuật
Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc xác định đường lối chung, định
hướng cho văn học, nghệ thuật phát triển Trong công cuộc đổi mới, ĐCSVN
đã có nhiều văn kiện quan trọng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động văn hoá, vănnghệ Ngoài các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và
X, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; BCH TƯ còn có nhiều nghị quyết quan trọngkhác như: Nghị quyết 05-NQ/TƯ ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị (khoáVI); Chỉ thị 52-CT/TƯ ngày 08/6/1989 của Ban Bí thư (khoá VI) Chỉ thị số
Trang 2461-CT/TƯ ngày 21/6/1990 của Ban Bí thư (khoá VI); Nghị quyết 09/NQ-TƯngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khoá VII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tưBCH TƯ (khoá VII); Nghị quyết số 04-NQ/TƯ ngày 14/1/1993; Chỉ thị 64-CT/TƯ ngày 25/12/1995 của Ban Bí thư khoá VII; Nghị quyết Hội nghị lầnthứ năm BCH TƯ khoá VIII (Nghị quyết số 05-NQ/TƯ ngày 16/7/1998);Nghị quyết hội nghị lần thứ mười của BCH TƯ khóa IX; Chỉ thị số18-CT/TƯ ngày 24 tháng 1 năm 2003 của Ban Bí thư khóa IX về tiếp tục thựchiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 ( khóa VIII) về công tác văn học,nghệ thuật trong tình hình mới và gần đây nhất là Nghị quyết số 23-NQ/TƯngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng vàphát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới Nghị quyết Trung ương 5,tháng 7 - 1998 (khóa VIII) của Đảng cộng sản Việt Nam về “Xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, lần đầutiên, văn hóa được hiểu bao gồm 8 lĩnh vực rộng lớn, không chỉ là văn học,nghệ thuật, mà cả xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng tư tưởng, đạo đức,lối sống, phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, hệ thốngthông tin đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và văn hóa cácdân tộc thiểu số, chính sách văn hóa đối với tôn giáo, mở rộng hợp tác quốc tế
về văn hóa, hoàn thiện thể chế văn hóa… Việc xác định rõ hơn, toàn diện vàbao quát hơn về văn hóa là cơ sở khoa học để Đảng cộng sản Việt Nam khẳngđịnh mạnh mẽ một quan điểm “các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ vớiđời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội,
luật pháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”.
Thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1999, Đảng cộngsản Việt Nam tiến hành cuộc vận động lớn xây dựng và chỉnh đốn Đảng.Thực tiễn triển khai cuộc vận động cho thấy, mục tiêu, nội dung của nó phảigắn kết chặt chẽ với văn hóa, vì thế, tháng 7 - 2004, tại Hội nghị lần thứ 10
Trang 25Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX), Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ramột kết luận quan trọng: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh
tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nângcao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của
ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” Và sau đổi mới 5 năm, tức 1991, trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”,Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm có sự đổi mới cơ bản và sâusắc Tất cả các cụm từ “nội dung xã hội chủ nghĩa”, “văn hóa xã hội chủnghĩa”, “hình thức dân tộc”, “tính chất dân tộc” trong các văn kiện trước đây
đã bị gạt bỏ để thay thế bằng luận điểm mới, nền văn hóa mà chúng ta đang
xây dựng là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” 7 năm sau,
trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), năm 1998, luận điểm trên đượclàm rõ nội hàm của nó Trước hết, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc là một trong sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm mới của
Đảng cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội Có nghĩa là, sẽ không có chủnghĩa xã hội hoàn chỉnh nếu không xây dựng được trong đó một nền văn hóanhư thế Và, “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” hoàn toàn không phải là haitính chất, hai yêu cầu tách rời nhau hay đứng cạnh nhau, mà xuyên thấm vàosau để tạo nên phẩm chất chung của nền văn hóa đó
Những nội dung mới trong quan điểm trên đây về văn hóa, văn học,nghệ thuật của Đảng cộng sản Việt Nam từ đổi mới đến nay có tác dụng chỉđạo toàn bộ quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25
năm qua, hình thành và xác định những chủ trương lớn trong lĩnh vực đặc biệt
quan trọng này
Đảng lãnh đạo bằng công tác tư tưởng nhằm giữ vững định hướng tư
tưởng cho hoạt động sáng tác và cảm thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Công tác tư tưởng là
Trang 26một bộ phận hữu cơ, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công táclãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội Để giữ vững và đảm bảo sự lãnhđạo đó, điều cốt lõi là lãnh đạo về tư tưởng Trước hết và quan trọng nhất
là tư tưởng chính trị Rời bỏ trận địa này thực chất là dấu hiệu nguy hiểmnhất của quá trình làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội Đểthực hiện với hiệu quả cao nhất nhiệm vụ chủ yếu đó, công tác tư tưởngphải đồng thời huy động và phát huy sức mạnh của các chức năng cơ bản:
lý luận, giáo dục, nhận thức, dự báo và nỗ lực tìm tòi, đổi mới, phát triểnnọi dung, các phương thức, hình thức, biện pháp trong hoạt động thực tiễn,tìm nhiều con đường, cách thức tốt nhất, phù hợp nhất đến với các đốitượng tác động của công tác tư tưởng Thực tiễn đã chỉ ra rằng, hiệu quảcủa công tác tư tưởng là hiệu quả của tổng hợp, tác động vào con ngườiđồng thời cả lý trí và tình cảm, nhận thức và cảm xúc, tư duy và tâm hồn
do tính chất đa dạng, phong phú của các mặt, các loại hình thức, các binhchủng hoạt động tư tưởng tạo nên Điều đó cũng có nghĩa là, mỗi loại hình,mỗi binh chủng đó có những đặc trưng và ưu thế riêng, từ đó con đườngriêng và phương thức đặc thù tác động đến con người
Đặc điểm đó thể hiện rõ đối với loại hình văn hoá, văn học, nghệ thuật,lĩnh vực tác động đến con người chủ yếu vào thế giới tình cảm, tâm hồn, cảmxúc Đồng thời, đặc điểm đó không tạo nên sự tách biệt giữa các loại hình, màchính là làm phong phú hơn tính đa dạng chức năng và hiệu quả tổng hợp củacông tác tư tưởng Vấn đề quan trọng là biết sử dụng sự “hợp đồng binhchủng” trong hoạt động thực tiễn Tách rời từng mặt riêng rẽ không thể tạonên hiệu quả cao Vì thế, trong thực tiễn hiện nay và trong giai đoạn mới, việcbiết phát huy tính đặc thù của từng mặt hoạt động và tổ chức, liên kết tất cảcác mặt đó để tạo sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào con người là một đặctrưng của công tác tư tưởng, là dấu hiệu của một năng lực mới của người làmcông tác tư tưởng
Trang 27Những phân tích trên là cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy vaitrò, sức mạnh, đặc trưng của văn học - nghệ thuật trong công tác tư tưởng.Hoạt động văn hoá với rất nhiều loại hình đa dạng của nó và hoạt động vănhọc, nghệ thuật - lĩnh vực đặc biệt tinh tế nhạy cảm của văn hoá, luôn là môitrường độc đáo, giữ vị trí đặc biệt và làm phong phú, sinh động cho toàn bộhoạt động của công tác tư tưởng.
Bằng cách riêng của mình, với sức mạnh độc đáo thông qua những đặctrưng khi nhận thức, thể hiện cuộc sống bằng tính cụ thể, trực quan, hìnhtượng và khả năng tác động mạnh và sâu vào tâm hồn, tình cảm, cảm xúc củacon người, văn hoá, văn học, nghệ thuật được khẳng định là “binh chủng đặcbiệt” trong công tác tư tưởng nhằm xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tưtưởng của Đảng Đồng thời trực tiếp nuôi dưỡng, đào tạo con người, nhâncách kiểu mới với những phẩm chất cao đẹp và được phát triển toàn diện vềtrí, đức, thể, mỹ Hoạt động này đồng thời phải đáp ứng được hai đòi hỏi lớn.Một là, thoả mãn và nâng cao nhu cầu tinh thần - văn hoá của nhân dân, làmcho văn hoá thấm sâu vào mọi mặt hoạt động của con ngưòi và xã hội, sángtạo được nhiều sản phẩm, công trình có giá trị tư tưởng và nghệ thuật Mặtkhác, thông qua đó, xây dựng tư tưởng, xây đắp thế giới tinh thần, trí tuệ, tìnhcảm của con người Chức năng tư tưởng của văn học - nghệ thuật thể hiện sâusắc ở đặc điểm này
Để phát huy cao nhất vai trò của văn học - nghệ thuật trong công tác tưtưởng, trước hết là công việc của sự chỉ đạo, định hướng đúng đắn cho sựphát triển của văn hoá, văn nghệ, Đảng ta đã có nhiều kinh nghiệm trong côngviệc này Làm cho văn nghệ gắn bó sâu sắc với cách mạng, với nhiệm vụ củatừng giai đoạn, tự nguyện phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh và xây dựng củanhân dân, hiểu biết và gắn bó máu thịt với cuộc sống của nhân dân, đó là cộinguồn sản sinh ra những tác phẩm, những công trình văn hoá, văn học -nghệthuật có giá trị, có sức tác động và ảnh hưởng tích cực đối với quần chúng
Trang 28Trong cuộc đấu tranh ngày càng diễn ra phức tạp trên lĩnh vực tư tưởng - vănhoá, nhiệm vụ kiên trì giữ vững những định hướng cơ bản của Đảng trong quátrình xây dựng nền văn học -nghệ thuật trở nên cực kỳ quan trọng và cấpthiết Đồng thời phải kiên quyết đấu tranh phê phán những quan điểm lệchlạc, sai lầm trong lĩnh vực văn nghệ và loại bỏ những văn hoá phẩm độc hạiđang đầu độc con người về tinh thần, tình cảm.
Có sản phẩm văn học -nghệ thuật tốt, lại phải biết sử dụng các sảnphẩm đó một cách phù hợp nhất cho mục tiêu của công tác tư tưởng Các sảnphẩm của văn học - nghệ thuật luôn luôn là thành tố hữu cơ, luôn luôn có mặttrong mọi hoạt động tuyên truyền, cổ động, giáo dục Thiếu nó, hoặc không biết
sử dụng nó, các mặt hoạt động này trong công tác tư tưởng sẽ trở nên khô khan,nghèo nàn, làm giảm sức thuyết phục và khả năng đi vào lòng người Trong thựctiễn hoạt động, chúng ta đã có nhiều phương thức sử dụng văn hoá, văn nghệphục vụ cho mục tiêu của công tác tuyên truyền, cổ động giáo dục như:
Sử dụng các tác phẩm, các dẫn chứng của văn học - nghệ thuật đểchuyển tải, chứng minh, khẳng định cho một nội dung, một chủ đề của hoạtđộng tư tưởng
Sử dụng văn học - nghệ thuật là một nhân tố bổ trợ cho hoạt động tưtưởng, như tổ chức đi tham quan di tích lịch sử, văn hoá, tìm hiểu bảo tàng,truyền thống, thăm và chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ…
Sử dụng các chương trình biểu diễn nghệ thuật (chuyên nghiệp hoặcquần chúng) có mục tiêu, theo một chủ đề phục vụ cho hoạt động tư tưởng
Tổ chức các đội hoạt động văn hoá của quần chúng, kết hợp chặt chẽgiữa văn nghệ và tuyên truyền, xây dựng các chương trình gắn chặt với mụctiêu và nội dung tuyên truyền, thông qua ưu thế và cách biểu hiện của vănhọc, nghệ thuật để chuyển tải sinh động, nhẹ nhàng đến quần chúng Các độituyên truyền viên trẻ… ở các địa phương, các ngành đang phát huy hiệu quảphương thức hoạt động này
Trang 29Xây dựng các chương trình tổng hợp, tạo những “sân chơi” cho từngnhóm quần chúng, trong đó biết kết hợp sinh động các loại hình văn hoá, vănhọc, nghệ thuật phù hợp vơi sở thích, tâm lý của từng loại đối tượng, đưa họtrở thành người làm chủ, người trong cuộc, trực tiếp tham gia sân chơi, khôngcòn là người tiếp nhận thụ động, ngoài cuộc Gần đây, phương thức này đangđược tìm tòi, thể nghiệm và thu được kết quả tốt, đáp ứng được nhu cầu củaquần chúng Đây là dấu hiệu mới của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các loạihình, binh chủng của công tác tư tưởng - văn hoá
Để tạo được sự kết hợp trên, có nhiều đòi hỏi đối với người làm côngtác tư tưởng Trước hết là sự am hiểu tường tận từng lĩnh vực trong cả sựthống nhất và tính đặc thù của chúng để từ đó hướng sự đa dạng cùng đi tớimột mục tiêu là giáo dục, xây đắp con người Trong tổ chức, đòi hỏi khả nănghợp đồng tác chiến nhịp nhàng, Đó là con đường phát huy sức mạnh tổng hợpcủa các binh chủng trong công tác tư tưởng - văn hoá hiện nay
Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật bằng việc xây dựng, củng cố các tổ
chức đảng trong các cơ quan văn hóa, kiện toàn bộ máy tham mưu về vănhọc- nghệ thuật
Đảng lãnh đạo bằng bộ máy quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật
và hệ thống chính sách, luật pháp Nghị quyết hội nghị lần thứ mười của BCH
TƯ khóa IX; Chỉ thị số 18-CT/TƯ ngày 24 tháng 1 năm 2003 của Ban Bí thưkhóa IX về tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 ( khóaVIII) về công tác văn học, nghệ thuật trong tình hình mới và gần đây nhất làNghị quyết số 23-NQ/TƯ ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X
về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới Thể
chế hoá Nghị quyết quan điểm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành
một hệ thống văn bản pháp quy về văn hóa, thông tin, trong đó có văn học
nghệ thuật (những điều khoản về văn hoá trong Hiến pháp, những Luật quy
định về văn hoá và có liên quan do Quốc hội ban hành; những văn bản dưới luật
Trang 30do Chính phủ, Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch, Uỷ ban nhân dân các cấp, Sở Văn hóa Thông tin (cũ) nay là Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch ban hành ) Các văn bản pháp luật quan trọng là:
Hiến pháp (1992, sửa đổi và bổ sung, 2001 các điều 30, 31, 32, 33, 34)Luật Báo chí (1989, sửa đổi bổ sung, 1999), Luật Xuất bản (1993), Luật Giáodục (1998), Luật Di sản văn hóa, (2001), Chính phủ còn ban hành nhiều vănbản dưới luật như Nghị định 87-CP ngày 12/2/1995 về tăng cường quản lýcác hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xãhội nghiêm trọng Ban hành kèm theo Nghị định này là Quy chế về lưu hành,kinh doanh phim, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, bán và cho thuê xuất bảnphẩm; hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi công cộng: quảng cáo, viết,đặt biển hiệu; quy định những biện pháp cấp bách bài trừ tệ nạn xã hộinghiêm trọng Nghị định 88-CP ngày 14/12/1995 quy định về xử phạt viphạm hành chính trong các hoạt động văn hóa dịch vụ văn hóa và phòngchống một số tệ nạn xã hội Nghị định 69/HĐBT ngày 21/3/1991 và Nghịđịnh số 26/1999-NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo, trong đó có các quy định
về lễ hội Và gần đây là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số UBTVQH kèm Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành nghị địnhnày Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng vàchủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoáđối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao và gần đây
21/2004/PL-là nghị quyết 05 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện việc xã hội hóa trong lĩnhvực văn hóa, giáo dục, y tế và thể thao Ngoài ra, còn có nhiều chỉ thị của Thủtướng Chính phủ cùng các văn bản pháp quy của Bộ VHTT như Quy chế tổchức và hoạt động phát hành xuất bản, ban hành theo Quyết định số 2501/QĐ-CXB ngày 15/8/1997; Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp,ban hành theo Quyết định số 32/1999-QĐ-BVHTT ngày 29/4/1999; Thông tư
Trang 31liên tịch số 52/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 29/8/2003 hướng dẫn việc hỗ trợhoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học-nghệ thuật.
Xây dựng văn hóa trong Đảng, văn hóa lãnh đạo và quản lý là một nộidung quan trọng của xây dựng Đảng, đồng thời là một điều kiện, một phươngthức đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với văn hóa
Đó là “văn hóa nêu gương”, là sự gương mẫu của Đảng, cán bộ và đảng viên.Đảng cộng sản Việt Nam xác định ba yêu cầu cốt lõi không tách rời nhau
trong xây dựng và chỉnh đốn đảng là chính trị, tư tưởng và tổ chức Từ đổi
mới, cùng với việc tiếp tục quan điểm trên, do nhận thức sâu hơn yêu cầu của
thực tiễn, Đảng cộng sản Việt Nam nhấn mạnh cần xây dựng Đảng về trí tuệ, văn hóa và đạo đức, tức là nhấn mạnh giá trị văn hóa trong xây dựng Đảng.
Hay nói cách khác, Đảng cộng sản Việt Nam chỉ ra yêu cầu thống nhất biện
chứng, xuyên thấm lẫn nhau giữa giá trị chính trị và giá trị văn hóa Nâng
cao trình độ lý luận, xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý và triển khaisâu rộng cuộc vận động lớn “học tập và làm theo tấm gương đạo dức Hồ ChíMinh” là những hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng về trí tuệ,văn hóa và đạo đức trước yêu cầu của công cuộc đổi mới
Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, đây là những cuộcvận động, đấu tranh rộng lớn, phức tạp và khó khăn Một mặt, “yêu cầu xâydựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta phải tăng
cường và nâng tầm lãnh đạo trên lĩnh vực văn hóa”, mặt khác, toàn Đảng lại
phải triển khai cuộc đấu tranh quyết liệt chống sự suy thoái, biến chất vềchính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống, phòng chống tham nhũng, quan liêu,lãng phí… vì vậy, giải quyết được mâu thuẫn này là điều kiện tiên quyết đểđảm bảo sự lãnh đạo của Đảng lâu dài, vững chắc, nếu không, sẽ dẫn tới nguy
cơ Đảng đánh mất vai trò lãnh đạo của mình đối với lĩnh vực đặc biệt quantrọng này, và thậm chí, có thể dẫn tới sự bất ổn định về chính trị, tư tưởng vàvăn hóa, sự tồn vong của chế độ, như các Nghị quyết gần đây của Đảng cộng
Trang 32sản Việt Nam đã chỉ ra Phía trước, còn rất nhiều công việc lớn phải làm, làmmột cách kiên trì với năng lực trí tuệ cao, bản lĩnh vững vàng, tầm hiểu biếtsâu rộng và phương pháp linh hoạt, sáng tạo để phấn đấu xây dựng đất nướcViệt Nam là một quốc gia văn hiến, dân tộc Việt Nam là một dân tộc văn hóa,nền văn hóa Việt Nam không ngừng phát triển, xứng đáng với vị thế dân tộctrong lịch sử và trong thế giới hiện đại.
Đảng lãnh đạo thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực văn hóa Lãnh đạo xây dựng và phát triển đội ngũ hoạt động và sáng
tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật được Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định làmột trong những trách nhiệm nặng nề và nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nướcViệt Nam Đó là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp văn hóa Trong 30 nămtham gia trực tiếp vào sự nghiệp cách mạng, giải phóng, bảo vệ và thống nhất
Tổ quốc, trong đời sống văn hóa Việt Nam, đã hình thành một danh hiệu caoquý và độc đáo của những người hoạt động, sáng tạo văn hóa Việt Nam, đó là
“nghệ sĩ - chiến sĩ”, “chiến sĩ - nghệ sĩ” Danh hiệu đó thể hiện sự gắn bó sâusắc giữa nghệ sĩ và cách mạng, giữa nghệ sĩ và lý tưởng chiến đấu của Đảngcộng sản Việt Nam Từ đổi mới đến nay, do tác động đa chiều, hết sức phứctạp của đời sống đối với văn nghệ sĩ nên trong đội ngũ này đang có nhữngbiến đổi, biến động, không còn ở trạng thái ổn định như trước Song, nhìntổng quát, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn khẳng định rằng, đội ngũ văn nghệ sĩ
là lực lượng tin cậy, trung thành, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chung, cótình yêu sâu sắc với dân tộc, đất nước và nhân dân, tâm huyết với nghệnghiệp, đã trực tiếp sáng tạo được nhiều tác phẩm, công trình có giá trị tưtưởng và nghệ thuật, có tác dụng tích cực trong sự nghiệp đổi mới Khẳngđịnh quan điểm này, Đảng cộng sản Việt Nam nhằm phê phán hai khuynhhướng hiện nay, một là, muốn tách đội ngũ này ra khỏi sự nghiệp cách mạngcủa Đảng và nhân dân, hai là, thiếu sự tin tưởng, tin cậy, thậm chí hoài nghiđối với đội ngũ này, khi nhận thấy một số dấu hiệu phức tạp, đáng lo ngại
Trang 33xuất hiện gần đây Cả hai khuynh hướng đó đều trái với đường lối, quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về tập hợp, chăm sóc và phát triển đội ngũ vănhóa, văn nghệ Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc phân tích những
đặc điểm mới, vấn đề mới đang đặt ra trong tình hình đội ngũ văn hóa để từ
đó xác định những công việc phải làm nhằm thực hiện được mục tiêu tiếp tụcphát triển đội ngũ đó trong thời kỳ mới Nổi bật là những vấn đề sau cần hết
sức quan tâm; chăm lo cho sự hình thành và phát triển nhân tài trong các lĩnh
vực văn hóa; sự xuất hiện thế hệ trẻ với nhiều đặc trưng rất mới, nhiều biểuhiện khác xa với các thế hệ trước; sự tác động mạnh, nhiều chiều, phức tạpcủa các khuynh hướng tư tưởng, văn hóa của quốc tế đối với đội ngũ văn hóaViệt Nam, nhu cầu tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, tìm tòi, thể nghiệm ngàycàng trở nên mạnh mẽ, sự tăng cường và đổi mới công tác đào tạo đội ngũtrước yêu cầu mới
Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa thành pháp
luật, chính sách… của nhà nước là một phương thức quan trọng đảm bảo sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với văn hóa Có thể nói, từ đổi mớiđến nay rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới về văn hóa được xây dựng
và triển khai thực thi trong cuộc sống Trước năm 1986, có rất ít luật về vănhóa, mà phần lớn là các thông tư, chỉ thị, hướng dẫn Gần 25 năm qua, mộtloạt luật liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực văn hóa được xây dựng như:Luật di sản, luật báo chí, luật xuất bản, luật sở hữu trí tuệ, luật điện ảnh…Đồng thời, các chính sách cụ thể về văn hóa cũng được chú trọng soạn thảo
và thực hiện Do sự phát triển nhanh của thực tiễn văn hóa trong những nămđổi mới nên các văn bản pháp luật trên thường phải được bổ sung, sửa đổi,điều chỉnh khá kịp thời Dựa trên những nguyên tắc cơ bản được xác địnhtrong quan điểm của Đảng, đặc điểm của các văn bản quy phạm pháp luật về
Trang 34văn hóa trong thời kỳ đổi mới là tính chất hợp lý, thông thoáng và ngày càng phù hợp với đặc trưng của từng loại hình văn hóa
Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật thông qua các hội chuyên ngành.
Đối với các Hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương và ở các tỉnh, thành phốthể hiện rõ sự tôn trọng và đánh giá cao các tổ chức trên đối với sự nghiệpchung Về mặt lịch sử, các tổ chức Hội trên ở Việt Nam được ra đời và pháttriển gắn bó mật thiết với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và yêucầu của cuộc đấu tranh cách mạng Khẳng định truyền thống và đặc điểm lịch
sử đó, Đảng cộng sản Việt Nam xác định các Hội văn học, nghệ thuật là tổ
chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người hoạt động và sáng tạo
văn học, nghệ thuật tự nguyện đứng trong tổ chức để cống hiến, phục vụ sựnghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam Quanđiểm trên đã tạo thêm sức mạnh và hiệu quả lãnh đạo của Đảng cộng sản ViệtNam đối với văn hóa, văn học, nghệ thuật
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT
VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC VĂN HỌC
-NGHỆ THUẬT TRONG 25 NĂM ĐỔI MỚI VỪA QUA
2.1 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT TRONG 25 NĂM ĐỔI MỚI VỪA QUA
2.1.1 Thành tựu
2.1.1.1 Những dấu hiệu mới trong sáng tác
Nhìn chung dòng mạch chính của đời sống văn học, nghệ thuật vẫn là
chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, tinh thần nhân văn, phản ánh chân thậtcuộc sống lao động, đấu tranh và xây dựng của nhân dân ta trong những nămvừa qua Nhiều tác phẩm thuộc tất cả các loại hình nghệ thuật (văn học, âmnhạc, sân khấu, mỹ thuật, điện ảnh, múa, nhiếp ảnh, kiến trúc…) vừa tiếp tụctruyền thống tốt đẹp của văn học, nghệ thuật trong thời kỳ chiến tranh cáchmạng, đồng thời có nhiều tìm tòi về nội dung phản ánh, mở rộng phạm vichiếm lĩnh hiện thực, phát hiện được những vấn đề nóng bỏng, bức xúc củađời sống trên nhiều bình diện, nhiều góc cạnh khác nhau Sự đa dạng về nộidung và phương thức thể hiện là một dấu hiệu mới của văn học, nghệ thuậtnhững năm qua
Bên cạnh khuynh hướng tiếp tục phản ánh các đề tài lịch sử, chiếntranh cách mạng, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc với cảm hứng sử thi và tầmkhái quát mới, là sự phát triển mạnh khuynh hướng quan tâm đến cuộc sốngbình dị, nhiều góc cạnh đời thường của con người, làm phong phú hơn và làmsâu thêm chủ nghĩa nhân văn của văn học, nghệ thuật hôm nay Văn học,nghệ thuật đã trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh hoàn thiện con người, làmlành mạnh các quan hệ xã hội, nhạy bén và mạnh dạn phơi trần, lên án, tố cáocái xấu xa, độc ác, đen tối, các biểu hiện biến chất, thoái hóa về nhân cách,
Trang 36đạo đức, lối sống của con người Tính chiến đấu của văn học, nghệ thuật cótác dụng cảnh báo, phản biện có hiệu quả, góp phần ngăn chặn xu hướng tiêucực đang nảy sinh trong đời sống xã hội.
Đạo đức xã hội là một chủ đề lớn thu hút sự quan tâm của các ngành
nghệ thuật, thể hiện trách nhiệm xã hội và vai trò công dân của văn nghệ sĩ Ýthức về truyền thống và bản sắc dân tộc trong nhiều tác phẩm được thể hiệnsâu sắc hơn Sưu tầm, nghiên cứu được nhiều tác phẩm sử thi di sản văn nghệdân gian có giá trị
- Một dấu hiệu mới của đời sống văn học, nghệ thuật những năm qua là
khuynh hướng hiện đại hóa các phương thức biểu hiện, tích cực tìm tòi, thể
nghiệm hình thức diễn đạt mới Gắn liền với khuynh hướng đó là sự phát triểnkhá mạnh, có phần xô bồ của các thể loại, các sản phẩm nghệ thuật mang tínhthể nghiệm được biểu hiện rõ nhất trong văn học, âm nhạc trẻ, trong hội họa,nghệ thuật trình diễn, sắp đặt, trong múa hiện đại và sân khấu thể nghiệm…
- Sự xuất hiện và phát triển của lực lượng sáng tác trẻ với những dấuhiệu, đặc điểm mới trên hầu hết các loại hình nghệ thuật đem đến một sinhkhí mới, triển vọng phát triển mới trong văn học, nghệ thuật thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Việc chấp nhận và thể hiện chức năng giải trí như là một nhu cầu của
công chúng nghệ thuật bên cạnh các chức năng cơ bản khác là một dấu hiệumới góp phần mở rộng ảnh hưởng của văn học, nghệ thuật và đáp ứng mộtnhu cầu chính đáng của công chúng
- Tự do, dân chủ trong sáng tác ngày càng được tôn trọng và mở rộng, dấu
ấn cá nhân, cá tính sáng tạo ngày càng đậm nét trong các sản phẩm văn nghệ
2.1.1.2 Thành tựu trong lý luận, phê bình văn nghệ
- Lý luận
Do thực tiễn đời sống văn học, nghệ thuật đã thay đổi cơ bản, nhữngnăm qua, các nhà lý luận đã cố gắng phát huy tính chủ động trong việc đổi
Trang 37mới quan niệm về văn học, nghệ thuật Mối quan hệ giữa văn nghệ với chínhtrị, giữa hiện thực và nghệ thuật được hiểu rộng rãi và khoa học hơn, tính chủthể của văn nghệ sĩ được coi trọng, phạm vi đời sống phản ánh vào văn học,nghệ thuật được mở rộng, đa dạng hóa Tư tưởng văn nghệ truyền thống củaông cha xưa được nghiên cứu có hệ thống Xu hướng tiếp thu lý luận phươngĐông khá mạnh Các thành tựu văn học, nghệ thuật thế kỷ XX được đánh giálại thỏa đáng Một số phương pháp nghiên cứu, phê bình văn nghệ phi truyềnthống như phong cách học, thi pháp học, phân tâm học được vận dụng, bướcđầu đem lại những kết quả mới Một số khái niệm lý luận cũ được điều chỉnh,nhiều khái niệm mới được sử dụng trong thực tiễn nghiên cứu lý luận Một sốgiáo trình lý luận văn học, nghệ thuật ở đại học được bổ sung những kiến thứcmới, viết lại phong phú và cập nhật hơn Nhiều tác phẩm lý luận văn nghệ củanước ngoài được dịch, giới thiệu Nhiều trường phái nghiên cứu văn học,nghệ thuật phương Tây trước đây không có điều kiện phổ biến ở Việt Namnhư: chủ nghĩa cấu trúc, phân tâm học, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, kýhiệu học, giải thích học, cả tác phẩm của những tác giả từng bị coi là chủnghĩa xét lại hiện đại như Lukas cũng được giới thiệu, dịch và xuất bản Cóthể nói, tuy mới là bước đầu, song lý luận văn nghệ của chúng ta đang trongquá trình đổi mới.
- Phê bình văn nghệ
Trước khi công cuộc đổi mới được khởi xướng đã xuất hiện nhiều tácphẩm văn học, nghệ thuật và lý luận, phê bình như những dấu hiệu báo trướccủa thời kỳ đổi mới
Trong hoàn cảnh đó, phê bình văn học, nghệ thuật thật sự đóng vai trò
là bà đỡ cho nhiều tác giả, tác phẩm; phát hiện sớm những cái hay, cái đẹp vềnội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật; hướng dẫn thị hiếu của côngchúng thưởng thức nghệ thuật; tạo diễn đàn giữa nhà văn với công chúng;khích lệ những tìm tòi, sáng tạo và củng cố niềm tin cũng như dũng khí đổi
Trang 38mới ở người sáng tác văn học, nghệ thuật Phê bình văn nghệ đã góp phầnkhắc phục lối phê bình xã hội học dung tục, võ đoán, quy chụp chính trị hoặctrì trệ, bảo thủ không theo kịp sự phát triển Thông qua sinh hoạt phê bình,một số vấn đề liên quan đến hệ thống chuẩn mực các giá trị văn học, nghệthuật và hệ thống lý luận mỹ học đã bước đầu được phát triển và lý giải Đó làcác vấn đề về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; văn nghệ phản ánh hiệnthực; chức năng văn nghệ; đánh giá thành tựu văn học, nghệ thuật cách mạng
và kháng chiến v.v… Với những phát hiện có nhiều tìm tòi, sáng tạo tronggiai đoạn này, phê bình văn học, nghệ thuật đã tiếp cận được những vấn đề lýluận thiết yếu, đề xuất và gợi mở hướng tư duy để tạo đà cho trào lưu đổi mớidiễn ra từ năm 1986 đến nay
Một thành tựu rất quan trọng của phê bình văn học, nghệ thuật thờigian qua là đấu tranh với những xu hướng cực đoan, đối lập văn nghệ vớichính trị, phủ nhận thành tựu văn nghệ cách mạng, phủ nhận sự thật lịch
sử, tuyệt đối hóa hình thức, góp phần định hướng sáng tác và dư luậncông chúng
Cống hiến rất quan trọng của công tác phê bình văn nghệ vừa qua làkiên định và thống nhất nhận thức khi đặt đổi mới văn nghệ là một bộ phậncủa đổi mới đất nước, văn nghệ phải góp phần vào ổn định và phát triểnchung của toàn xã hội
2.1.1.3 Thành tựu trong sử dụng và truyền bá các tác phẩm văn nghệ
- Dấu hiệu và đặc điểm nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ, ồ ạt củacác phương thức sử dụng và truyền bá các sản phẩm văn học, nghệ thuậtlàm cho lượng tác phẩm đến với công chúng, đi vào đời sống xã hội tănglên đáng kể, vào từng ngõ ngách của đời sống, của cộng đồng và vào từnggia đình Hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình là phương thức chuyển
Trang 39tải nhanh nhậy, cập nhật và hiệu quả các sản phẩm văn học, nghệ thuậttrong nước và nước ngoài.
- Nhà nước đã cố gắng thể chế hóa nhằm quản lý một số lĩnh vực vănnghệ như ban hành Luật Xuất bản, Luật Điện ảnh, xã hội hóa các hoạt độngvăn nghệ… tạo hành lang pháp lý rộng thoáng, kích thích sáng tác, sản xuấtcác sản phẩm văn nghệ
Việc tổ chức các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, các gallery nghệ thuậtcủa tập thể và cá nhân mở ra ở khắp nơi làm cho thị trường mỹ thuật pháttriển mạnh và có biểu hiện tự phát, khó kiểm tra, đánh giá Hàng năm, sốlượng triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh lên tới hơn 300 cuộc…
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật (ca múa nhạc, sân khấu…) phát triển đadạng, ồ ạt với nhiều phương thức mới Ngoài hoạt động biểu diễn của cácđoàn nghệ thuật của Nhà nước, địa phương, của các tổ chức chính trị, xã hội,
bộ, ngành còn có các hoạt động biểu diễn của các công ty dịch vụ văn hóa tưnhân, sự liên kết, phối hợp của các đơn vị khác nhau… tổ chức các chươngtrình biểu diễn tổng hợp, ca múa nhạc trẻ, kết hợp với thời trang, thi ngườimẫu, người đẹp… Công chúng trẻ là đối tượng trung tâm của các hoạt độngnghệ thuật này
- Hoạt động xuất bản và phát hành xuất bản phẩm, văn hóa phẩm cũngphát triển mạnh, trong đó sách văn học, nghệ thuật (cả sáng tác, lý luận và phêbình) chiếm gần 20% tổng số bản sách xuất bản hàng năm Sôi động và cónhiều phương thức hoạt động mới là khâu phát hành với sự liên kết giữa cácnhà xuất bản và một số công ty phát hành sách nhà nước và tư nhân đang chiphối mạnh hoạt động phát hành trong cả nước Đã và đang phát triển một thịtrường văn hóa, nghệ thuật ở nước ta, một đặc điểm mới chưa từng có trongnhững năm trước đây – thời kỳ bao cấp sản phẩm văn hóa, nghệ thuật Tácphẩm văn học, nghệ thuật cùng với giá trị tinh thần của nó đã trở thành hànghóa, tuân theo quy luật của thị trường, có tác động tích cực đối với người sáng
Trang 40tạo và công chúng đồng thời xuất hiện những tác động tiêu cực đối với đờisống văn nghệ Đó là đặc điểm mà những năm qua chúng ta chưa lường hết
và chưa dự báo đúng, có lúc, có nơi rơi vào thế bị động, chưa có những chínhsách, giải pháp thích hợp với thực tiễn đời sống văn nghệ
2.1.1.4 Tình hình đội ngũ và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hoạt động văn học, nghệ thuật
- Tình hình đội ngũ
a Đội ngũ sáng tác và hoạt động văn học, nghệ thuật bao gồm nhiềulực lượng thuộc nhiều lĩnh vực Ở đây, chủ yếu tập trung đánh giá tình hìnhđội ngũ gồm những người hoạt động trên các lĩnh vực: sáng tác văn học,nghệ thuật; biểu diễn nghệ thuật (đạo diễn, chỉ huy, diễn viên…); lý luận
và phê bình văn học, nghệ thuật; lực lượng giảng dạy, đào tạo và nhữngngười đang được đào tạo trên lĩnh vực sáng tác, lý luận và phê bình vănhọc, nghệ thuật; lực lượng phụ trách công tác chỉ đạo, tham mưu, quản lývăn học, nghệ thuật
Nhìn tổng quát, tình hình đội ngũ hoạt động văn học, nghệ thuật ViệtNam trong những năm gần đây như sau: được hình thành và phát triển trongmột giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến nay, đượcrèn luyện, thử thách trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng vàbảo vệ Tổ quốc vô cùng gian khổ và hào hùng, đội ngũ này gắn bó sâu sắcvới cuộc sống của nhân dân, được sự lãnh đạo, quan tâm, tin tưởng và quýtrọng của Đảng, là lực lượng tin cậy, trung thành, có nhiều đóng góp cho sựnghiệp chung, có tình yêu sâu sắc với dân tộc, đất nước và nhân dân, tâmhuyết với nghề nghiệp, đã trực tiếp tạo nên một nền văn học, nghệ thuậtcách mạng của dân tộc ta trong thời kỳ mới với nhiều công trình, tác phẩm
có giá trị sâu sắc và bền vững, xứng đáng với danh hiệu cao quý “nghệ sĩ –chiến sĩ” Khẳng định lại đặc điểm cơ bản này để tránh hai xu hướng, một
là, muốn tách đội ngũ này ra khỏi sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân