1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn luật so sánh đề bài những đặc trưng cơ bản của họ pháp luật civil law và ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật việt nam

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Họ Pháp Luật Civil Law Và Ảnh Hưởng Đến Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Quân
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Tiểu luận môn luật so sánh
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 120,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCCHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỞ BẢN CỦA HỌ PHÁP LUẬT 02 CIVIL LAW 2.3 Cấu trúc nội tại của pháp luật và tư duy pháp lý 06 CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ PHÁP LUẬT CIVIL LAW TỚI 09 PHÁP L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Bài Tập Tiểu luận môn Luật so sánh

Đề bài: “Những đặc trưng cơ bản của họ pháp luật Civil law và

ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật Việt Nam”

Thực hiện

Sinh viên : Nguyễn Tuấn Anh

giảng dạy

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỞ BẢN CỦA HỌ PHÁP LUẬT

02 CIVIL LAW

2.3 Cấu trúc nội tại của pháp luật và tư duy pháp lý 06

CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ PHÁP LUẬT CIVIL LAW TỚI

09

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

3.1 Quá trình và một số ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam 09

3.2 Bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam từ các quốc gia thuộc hệ

10

thống pháp luật Civil law

Trang 3

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU Dòng họ pháp luật Civil law là một trong những dòng họ pháp luật lớn và lâu đời nhất trên thế giới Trong suốt quá trình hình thành của mình, nó đã đạt được những thành tựu to lớn Với sự phát triển lớn mạnh và nhanh chóng của mình Civil law đã vươn mình ra khỏi khu vực châu Âu lục địa và có tầm ảnh hưởng lớn đối với nhiều khu vực cũng như nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi dòng họ pháp luật Civil law

Để tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc, đặc trưng và những ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam, Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Những đặc trưng cơ bản của họ pháp luật Civil law và ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật Việt Nam” làm tiểu luật kết thúc môn Luật so sánh.

Trang 4

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỞ BẢN CỦA HỌ PHÁP LUẬT

CIVIL LAW 2.1 Nguồn gốc

Civil law được gọi theo nhiều tên khác nhau: luật La Mã (chỉ nguồn gốc), luật châu Âu lục địa (chỉ ra khu vực hình thành và phát triển giai đoạn đầu) hay dân luật Là

hệ thống luật lớn nhất trên thế giới, trải khắp từ châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Ý…) tới châu Mỹ (tỉnh Québec của Canada, bang Lousiana của Mỹ) châu Phi và nhiều nước châu Á Civil law được coi là biểu thị sự phát triển văn minh của hệ thống pháp luật Đồng thời là một trong những hệ thống có lịch sử hình thành phát triển lâu đời nhất so với các hệ thống pháp luật khác trên thế giới Đặc điểm nổi bật của Civil law

là ảnh hưởng của luật La Mã xuyên suốt quá trình hình thành phát triển Lịch sử hình thành phát triển của Civil law bắt nguồn từ sự hình thành phát triển của luật La Mã

và trải qua ba đoạn: Giai đoạn pháp luật tập quán – giai đoạn trước thế kỷ XIII; giai đoạn pháp luật thành văn – từ thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XVIII; và giai đoạn pháp điển hóa pháp luật và phát triển ra ngoài châu Âu – từ cuối thế kỷ XVII đến nay

Hệ thống pháp luật thành văn Civil law được mở rộng ra thế giới thông qua hai con đường Thứ nhất là mở rộng thuộc địa (chủ yếu) Thứ hai là do

sự học hỏi văn minh pháp lí phương Tây của các nước Hiện nay, Civil law vẫn chiếm một tỉ lệ lớn các nước áp dụng và chịu ảnh hưởng trên thế giới.

2.2 Nguồn pháp luật

Có nhiều quan niệm về nguồn pháp luật, thứ nhất là nguồn của các quan điểm, tư tưởng pháp luật; thứ hai là nguồn tạo nên quy phạm pháp luật; thứ

ba là nguồn chứa đựng, thể hiện pháp luật Theo quan niệm thứ ba thì nguồn pháp luật của hệ thống Civil law bao gồm các loại nguồn cơ bản sau:

Trang 5

- Pháp luật thành văn: rất được coi trọng ở hệ thống pháp luật này – nguồn đầu tiên và độc nhất của họ pháp luật này Bao gồm các loại văn bản sau:

+ Hiến pháp – đạo luật cơ bản của nhà nước – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất với những quy phạm có tính tối thượng – trình tự ban hành, sửa đổi hiến pháp đặc biệt hơn so với các đạo luật thông thường (hội đồng bảo hiến hay Tòa án hiến pháp) Sự giám sát tính hợp hiến của những luật khác được xây dựng là một minh chứng cho tính tối thượng và uy quyền của hiến pháp

+ Công ước quốc tế: Vai trò của công ước quốc tế có thể sánh với ý nghĩa của hiến pháp Tuy nhiên quan niệm về hiệu lực của công ước quốc tế so với nội luật của mỗi quốc gia lại có sự khác nhau: ở một số nước như Pháp, Hà Lan – công ước quốc tế có hiệu lực cao hơn nội luật; các cấp Tòa ở Tây Đức lại coi công ước quốc tế có hiệu lực ngang hàng với các đạo luật trong nước nhưng hiến pháp lại ưu tiên luật quốc tế hơn nội luật Nhưng nhìn chung thì các nước châu Âu đều có quan điểm chung thống nhất là công ước quốc tế có hiệu lực dưới hiến pháp nhưng trên đạo luật quốc gia.

+ Bộ luật: Ở thời điểm mới xuất hiện, “bộ luật” dùng để chỉ tuyển tập những luật khác nhau, một bộ luật bao trùm toàn bộ pháp luật (bộ luật Justianus) Đến thời kỳ phong kiến, bộ luật được dùng để chỉ một văn bản luật tổng hợp chứa đựng hệ thống các QPPL điều chỉnh các loại quan hệ XH khác nhau Và hiện nay thì bộ luật

là một văn bản luật tổng hợp chứa đựng hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật nhất định Yếu tố phân biệt bộ luật với các đạo luật thông thường đó là các quy phạm của các bộ luật thường dưới dạng các nguyên tắc chung để áp dụng pháp luật.

+ Đạo luật (luật): luật là những văn bản QPPL do nghị viện ban hành theo trình

tự, thủ tục nhất định Số lượng luật được ban hành lớn hơn rất nhiều so với bộ

Trang 6

luật (luật tổ chức nghị viện, luật tài chính ) tuy nhiên các đạo luật không có hiệu lực thấp hơn các bộ luật, chúng bình đẳng với nhau từ góc độ giải thích luật + Quy chế, sắc lệnh: Những luật loại văn bản này có hiệu lực thấp hơn luật, tuy nhiên cũng có những sắc lệnh được ban hành thuộc lĩnh vực luật theo sự

ủy quyền của nghị viện thì có hiệu lực như luật (sắc lệnh – luật) Theo Hiến pháp của Pháp – tồn tại quyền lập quy không thuộc quyền lực lập pháp – một quyền

tự trị theo bản chất tự nhiên của mình.

+ Thông tư: ở họ pháp luật Civil law có sự phân biệt rõ ràng giữa luật và thông tư – một loại văn bản giúp giải thích luật, thể hiện cách hiểu của luật.

- Tập quán pháp luật: là những quy tắc xử sự hình thành một cách tự phát, tồn tại lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mang tính bắt buộc chung như QPPL Trong dòng họ pháp luật Civil law tồn tại nhiều quan niệm

về vai trò của tập quán pháp luật: 1- Tập quán chính là nền tảng của pháp luật; 2- Tập quán chỉ

là một bộ phận của hệ thống pháp luật Theo René David

– tập quán là một trong những yếu tố cho phép tìm ra giải pháp công minh.

- Án lệ: Án lệ là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để thẩm phán sau đó xét xử áp dụng cho các trường hợp tương tự

Ở dòng họ Civil law pháp luật thành văn được coi trọng, vào thế kỉ XIX, sau khi các bộ luật

cơ bản của Pháp lần lượt ra đời, với ảnh hưởng lớn của các bộ luật này, nhất là Bộ luật dân sự Napoléon, trường phái pháp luật thực chứng ra đời Trường phái pháp luật thực chứng coi pháp luật thành văn hầu như là nguồn duy nhất của pháp luật, họ coi các bộ luật như là “sự hoàn hảo của lí trí” Theo quan niệm của các nước thuộc họ pháp luật Civil law, quy phạm do thực tiễn xét xử tạo ra không có

được uy tín và sự ổn định như các quy phạm lập pháp Nó rất dễ bị thay đổi, hủy bỏ ở bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào vụ việc mới Án lệ chỉ được áp dụng khi thẩm

Trang 7

phán thấy nó phù hợp với vụ án đang xét xử Án lệ không là nguồn cơ bản củ a pháp luật Ngày nay tuy không ai còn ảo tưởng về vai trò tuyệt đối của pháp luật thành văn, tuy nhiên theo tư tưởng truyền thống, pháp luật thành văn vẫn được coi là nguồn quan trọng nhất trong hệ thống các nguồn pháp luật… Theo sự phát triển của pháp luật châu Âu, án lệ ngày càng đồ sộ và giữ vai trò là một nguồn không thể thiếu của pháp luật Từ vai trò quan trọng đó đã hình thành những tuyển tập thực tiễn xét xử của tòa án – phân biệt được quyết định nào là hữu ích, quên đi những quyết định không còn phù hợp (tuyển tập được ban hành ở Pháp, CH Liên bang Đức, Tây Ban Nha, Ý…)

- Học thuyết: Trong một thời gian dài trong quá khứ, học thuyết từng là nguồn chính của pháp luật – khi mà chưa xuất hiện những luật thành văn Khi mà các trường đại học tổng hợp ở châu Âu nghiên cứu và tìm ra các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật Châu Âu vào thế kỷ XIII – XVIII cùng với sự xuất hiện của tư tưởng dân chủ và pháp điển hóa hệ thống pháp luật, thì vị trí thống trị của học thuyết đã được

thay thế bằng luật Từ giai đoạn đó cho đến tận ngày nay, nhìn vào tổng thể hệ thống pháp luật thì có thể nhận thấy học thuyết vẫn luôn là một nguồn quan trọng của pháp luật, nó kết tinh những khái niệm, tư duy pháp luật, phương pháp giải thích pháp luật… mà các bộ luật, luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau vẫn tiếp thu và giữ gìn những giá trị đó cho đến tận ngày nay.

- Nguyên tắc chung của pháp luật: Những nguyên tắc chung của pháp luật được thừa nhận và áp dụng trong thực tiễn cuộc sống chứng tỏ sự tuân theo và hướng đến công bằng, công lý của pháp luật, nó không chỉ thể hiện tính chất của pháp luật thành văn chứa đựng nó mà còn thể hiện bản chất của họ pháp luật Civil law Nguyên

tắc chung có thể thành văn được chứa đựng trong hiến pháp, bộ luật, luật… hoặc không thành văn (nằm ngoài các quy định của pháp luật) chứa đựng trong án lệ, tập quán hay luật La Mã cổ đại.

Trang 8

2.3 Cấu trúc nội tại của pháp luật và tư duy pháp lý

2.3.1 Sự phân chia luật công – luật tư

- Học thuyết phân chia lợi ích: Từ thời cổ đại, Ciceron đã đưa ra quan điểm pháp luật gồm có hai bộ phận: quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân

và quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công Đến thời kỳ phát triển của Luật

La Mã, các luật gia La Mã đã đưa ra học thuyết phân chia pháp luật thành luật công

và luật tư dựa trên cơ sở lợi ích Học thuyết này phân biệt: luật công – lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, luật tư – lợi ích cá nhân

- Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể: Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng

về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật

do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng thì đó

là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh

- Học thuyết hành vi của chủ thể: Học thuyết đương đại hiện nay ở Đức

về phân chia luật công và luật tư là học thuyết dựa trên cơ sở phân loại hành vi của chủ thể Theo học thuyết này, luật công là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể được nhà nước trao quyền nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ công Luật tư là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể dựa trên các quy phạm của luật dân sự

2.3.2 Các chế định đặc thù

- Chế định về nghĩa vụ: nghĩa vụ là trách nhiệm, bổn phận của một người phải trao trả cho người khác cái gì đó, thực hiện hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích của người kia Chế định nghĩa vụ là một chế định riêng có của họ pháp luật

La Mã – Đức, xuất phát từ luật La Mã và trở thành môn khoa học pháp lý chính ở

Trang 9

các nước thuộc họ La Mã – Đức, thuật ngữ “nghĩa vụ” còn rất lạ lẫm với các

họ pháp luật khác trên thế giới.

- Chế định về pháp nhân: chế định pháp nhân là sản phẩm sáng tạo của luật gia thời La Mã cổ đại, cội nguồn của hệ thống pháp luật La Mã – Đức Pháp nhân là thực thể trừu tượng được tạo nên từ sự tập hợp của nhiều thể nhân và được giao năng lực pháp luật theo ý chí của các thể nhân thành viên Có nghĩa là sự kết hợp của các thể nhân tạo nên một chủ thể pháp luật mới – pháp nhân (không phải tập hợp thể nhân nào cũng là pháp nhân) Sự hình thành pháp nhân có ý nghĩa làm đơn giản hóa đời sống pháp luật và làm đời sống pháp luật được ổn định lâu dài do tư cách pháp lý của pháp nhân dài hơn thể nhân Dòng họ pháp luật La Mã – Đức phân chia thành luật công – luật tư nên pháp nhân cũng chia thành pháp nhân tư pháp (công ty dân sự, thương mại, các hiệp hội, các tổ chức nghiệp đoàn, các quỹ) và pháp nhân công pháp (nhà nước, chính quyền các cấp, các đơn

vị hành chính sự nghiệp…)

2.3.3 Về tính chất pháp điển hóa

Trước Cách mạng Pháp năm 1789, ở Pháp có rất nhiều loại luật và chúng ở trong tình trạng lộn xộn: luật địa phương, luật nước ngoài, tập quán chung và tập quán địa phương, các loại sắc lệnh do Vua ban hành, và các loại văn bản này thậm chí có nội dung trái ngược nhau Tuy nhiên, chính quyền trung ương Hoàng gia ở Pháp ngày càng có vị trí thống trị Một bước quan trọng tiến tới việc thống nhất luật pháp là việc ban hành Sắc lệnh năm 1667 về tố tụng dân sự thống nhất ở nước Pháp Sau Cách mạng Pháp năm 1789, những tư tưởng của trường phái luật tự nhiên được đánh giá cao Trường phái này đã có công trong việc nâng kỹ thuật lập pháp lên trình độ pháp điển hoá (tiêu biểu nhất là Bộ luật dân sự Pháp hay Bộ luật Napoléon năm

1804).

Pháp điển hoá là kỹ thuật trình bày một cách có phương pháp một pháp luật phù hợp với xã hội hiện đại, một pháp luật được toà án áp dụng Pháp điển hoá vượt

xa công trình tập hợp hoá mang tính lộn xộn của Hoàng đế Justinian Pháp điển hoá cho phép thực hiện tham vọng của các luật gia trường phái luật tự nhiên: từ bỏ quá

Trang 10

khứ pháp lý cũ kỹ, chấm dứt tình trạng tủn mủn của pháp luật và sự thịnh hành của tập quán pháp.

2.4 Mô hình tố tụng và tổ chức tư pháp

Có thể thấy vai trò của các thẩm phán ở các nước Civil law là rất quan trọng còn vai trò của các luật sư thì ít nổi trội hơn so với các nước trong hệ thống Common Law Thẩm phán có quyền điều tra xét hỏi, đặc biệt trong các vụ

án hình sự và quyết định những nhân chứng, bằng chứng được đưa ra trước tòa Tức là ở đây các thẩm phán dựa nhiều vào sự thật trên thực tế hơn là

sự thật từ các luật sư Điều này đảm bảo được tính công bằng hơn.

Ở các nước Civil law có nghề thẩm phán riêng, có trường đào tạo thẩm phán riêng một cách quy củ chứ không phải là lựa chọn thẩm phán từ các luật sư giàu kinh nghiệm như các nước Common Law Ví dụ như trình tự đào tạo thẩm phán ở Pháp như sau: sau khi học 4 năm đại học luật, phải dự tuyển vào trường Thẩm phán Bordeaux (Ecole national de la magistrature) Nếu được phải học trong 31 tháng, trong khi học được hưởng lương Sau khi tốt nghiệp, trải qua một giai đoạn thực tập quan trọng sẽ được bổ nhiệm vào vị trí xét xử hoặc công tố

Vai trò của các luật sư tại các nước Civil law ít được coi trọng Do thủ tục

tố tụng là điều tra xét hỏi nên các thẩm phán có toàn quyền quyết định, hoàn toàn làm chủ phiên tòa Vì thế vai trò của các luật sư bị lu mờ Họ ít có tiếng nói tại tòa, thậm chí phiên tòa kết thúc trước khi luật sư có mặt Trong khi thiên chức của luật sư là bào chữa và bảo vệ thân chủ mình tại tòa Trái lại, luật sư tại các nước Common Law đặc biệt rất được coi trọng Do thủ tục tố tụng mang tính tranh tụng: các bên tham gia váo thủ tục tố tụng được coi là có địa vị pháp lí bình đẳng với nhau, thẩm phán chỉ có vai trò người trung gian phân xử, không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ án

Họ chủ yếu dựa vào sự thật tại tòa do các luât sư nêu, nhiều khi không đúng với sự thật trên thực tế Vì vậy bên nguyên hay bên bị, bên nào muốn thắng kiện thì hoàn toàn dựa vào tài biện hộ của luật sư bên đó

Trang 11

CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ PHÁP LUẬT CIVILAW ĐẾN PHÁP

LUẬT VIỆT NAM

3.1 Quá trình và một số ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam

Trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, cũng như các quốc gia châu Á khác, Việt Nam

đã tồn tại một hệ thống pháp luật có trình độ phát triển nhất định, trong đó có pháp luật thành văn Các đặc điểm pháp luật thời bấy giờ của nước ta là không có sự phân chia các nghành luật, quan niệm pha trộn giữa dân sự và hình sự, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân trị Đối với người Việt Nam, các quy định pháp luật được xây dựng bịảnh hưởng bởi Khổng giáo, chính vì vậy pháp luật lấy luân lý làm căn nguyên Khi một người vi phạm luân lý có nghĩa là họ vi phạm pháp luật và phải gánh chịu chế tài hình

sự Ngay cả tư duy pháp lý của quan lại cũ ở Việt Nam cũng vô cùng khác biệt, các quan lại chỉ quen dùng các giải pháp định sẵn cho các trường hợp cụ thể xảy ra trong tương lai Đây là các đặc điểm pháp luật khác với pháp luật phương Tây Tuy nhiên với chức năng của một loại công cụ của nhà cầm quyền để cai trị, thực dân Pháp đã

áp đặt pháp luật nhằm hỗ trợ cho chính sách xâm lược và cai trị của họ Ngay sau Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 thì Sắc lệnh về tổ chức tư pháp tại các vùng thuộc Pháp đã được chính phủ Pháp ban hành ngày 25/7/1864 nhằm tuyên bố các tòa án của Pháp sẽ áp dụng các bộ luật và đạo luật của nước Pháp

ở các tỉnh này Kể từ đó là sự ra đời của Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật năm 1936, các Bộ luật Hình sự,

Tố tụng Hình sự và tổ chức Tòa án được ban hành bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ

XX Mặc dù được áp dụng vì mục đích cai trị nhưng Việt Nam đã tiếp nhận những chế định của pháp luật Pháp với một sự hòa hợp với những quy định pháp luật của bản địa trước đó, đồng thời chấp nhận sự du nhập của các học thuyết tiến bộ về pháp luật, về các chế định về luật tư như quyền tài sản, nghĩa vụ, công ty

Bên cạnh việc bị "xâm lược pháp luật", sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp nói riêng và pháp luật Civil law nói chung cũng thể hiện rõ những khía cạnh chủ động từ

Ngày đăng: 16/07/2022, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ngô Huy Cương, “Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, http://www.nclp.org.vn/su-anh-huong-cua-phap-luat-phap-toi-luat-tu-o-viet-nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt "Nam
3. Đỗ Văn Đại (2004), “Vai trò của Luật so sánh trong công cuộc hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (Số 01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Luật so sánh trong công cuộc hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2004
6. Trần Kiên, Phạm Hồ Nam, Nguyễn Lữ Quỳnh Anh (2017), “Án lệ trong dân luật Pháp và hướng áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:Luật học, (Tập 33 số 3), tr.50-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ trong dân luật "Pháp và" hướng "áp" dụng "án" lệ ở Việt Nam
Tác giả: Trần Kiên, Phạm Hồ Nam, Nguyễn Lữ Quỳnh Anh
Năm: 2017
8. PGS.TS Phạm Hữu Nghị (2008), “Nhìn lại những chặng đường phát triển của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba – Tiểu ban pháp luật Việt Nam, tr.627-645, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn" lại những chặng đường "phát" triển của"pháp" luật Việt "Nam" từ năm "1945" đến "nay
Tác giả: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Năm: 2008
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật so sánh, Nhà xuất bản Công an nhân dân Khác
4. PTS. Nguyễn Ngọc Đào (1997), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nhà xuất bản ĐHQG HN, Hà Nội Khác
5. Hoàng Mạnh Hùng (2013), Án lệ trong hệ thống các loại nguồn pháp luật, Luận văn thạc sĩ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp Luật, Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội Khác
7. Dương Thị Mai (2012), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp Luật, Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội Khác
9. Hoàng Thị Kim Quế chủ biên (2015), Giáo trình lý luận chung nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản DHQG Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.4 Mơ hình tố tụng và tổ chức tư pháp CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ PHÁP LUẬT CIVIL LAW TỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Tiểu luận môn luật so sánh đề bài những đặc trưng cơ bản của họ pháp luật civil law và ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật việt nam
2.4 Mơ hình tố tụng và tổ chức tư pháp CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ PHÁP LUẬT CIVIL LAW TỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w