1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp

19 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 313,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTrong thời gian qua, quy định của pháp luật về chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân của Nhà nước đối với đất đai đã từng bước được hoàn thiện, góp phần quan trọng trong việc nâng

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, quy định của pháp luật về chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân của Nhà nước đối với đất đai đã từng bước được hoàn thiện, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản

lý, sử dụng nguồn lực đất đai Tuy nhiên, nội dung pháp lý về phương diện chức năng này của Nhà nước vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện, đặt ra yêu cầu cần thiết phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện Nhằm hiểu thêm về

vấn đề này, nhóm 3 lớp N01- TL1 xin được phép lựa chọn Đề bài số

3 trong đề cương bài tập nhóm làm đề tài nghiên cứu: "Trong điều

kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân

về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới.”

NỘI DUNG

1 Một số vấn đề chung về chế độ sở hữu đất đai tại Việt Nam hiện nay

1.1 Khái niệm đất đai

Đất đai là một loại tư liệu sản xuất có hạn và vô giá chính bởi

con người không thể tạo ra hay tái tạo lại đất đai Theo quan điểm của luật học, đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất Với những đặc điểm riêng biệt về loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất mịn, lượng mưa, độ ẩm, điều kiện tưới tiêu nước, mỗi thửa đất lại có sự khác nhau

1.2 Khái niệm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Để hoàn thiện vai trò đại diện của chủ sở hữu và thống nhất quản lí về đất đai của Nhà nước trong thời kì đầy mạnh hội nhập quốc tế ngoài việc cần làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu toàn dân

và đại diện chủ sở hữu Nhà nước, xác định rõ cấu trúc, các chế định

về các quyền hạn, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu cần phải pháp luật hóa quy định vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu tồi cao, xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường hiện nay trong một chinh thể thống

Trang 2

nhất Từ những chế định, lập luận trên ta có thể đưa ra khái niệm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như sau:

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lí gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai” 1

1.3 Khái niệm cơ bản về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được mô tả là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần với khu vực kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội

Là một sản phẩm của thời kì đổi mới, Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo 2

1.4Sơ lược quá trình phát triển, củng cố, hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai ra đời lần đầu tiên với quy định của Hiến pháp năm 1980: "Đất đai là của Nhà nước đều thuộc

sở hữu toàn dân" (Điều 19) Với quy định này, Nhà nước chỉ thừa nhận sự tồn tại một hình thức sở hữu duy nhất: Sở hữu toàn dân về đất đai Trong thời kỳ này, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức Việc sử dụng đất đai bị “đóng khung" trong quan hệ giao đất - thu hồi đất giữa người sử dụng đất với Nhà nước Hậu quả là người nông dân không thiết tha, gắn bó với mảnh đất họ đang sử dụng Cơ chế giao khoán ruộng đất cho hộ gia đình sử dụng trong sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết 10/NQ- TW của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng ngày 05/4/1988 đã từng bước "cởi trói" và giải phóng năng lực sản xuất cho người nông dân

1 Giáo trình Luật Đất Đai/ Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr 72.

2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa/ owlapps

Trang 3

Tiếp đó, để phát huy mạnh mẽ thành quả mà cơ chế khoán 10 mang lại, Luật đất đai năm 1993 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của hộ gia đình, cá nhân và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng Mặc dù quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân song Luật đất đai năm 1993 vẫn chưa xác định rõ vai trò của Nhà nước trong quan hệ sở hữu đất đai

mà chỉ quy định toàn dân là chủ sở hữu đất đai Hơn nữa, Nhà nước với tư cách là người đại diện cho toàn dân cũng không được pháp luật xác định rõ có phải là người có quyền sở hữu đất hay không Khắc phục khiếm khuyết này, Luật đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2003 cũng mới chỉ đề cập vai trò của Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai và thống nhất quản lý đất đai Luật Đất đai 2013 ra đời đã góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn đọng và giải quyết các vấn đề về đất đai trong tình hình mới.3

2 Nội dung của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai

2.1 Quyền chiếm hữu đất đai

Quyền chiếm hữu đất đai là quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai nắm giữ toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước Quyền chiếm hữu đất đai có vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở đầu tiên để xác lập quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai

Dưới góc độ pháp lí, quyền chiếm hữu đất đai có ý nghĩa rất quan trọng bởi lẽ nó là cơ sở đầu tiên để xác lập quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai

Nhà nước lại không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất mà lại trao quyền chiếm hữu , sử dụng đất cho các tổ chức , hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định , lâu dài thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu đất đai một cách gián tiếp thông qua các hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, nhiệp vụ, vừa mang tính pháp lý như đo đạc, khảo sát đánh giá và phân hạng đất để nắm được hiện trạng, sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước và từng địa phương; hệ thống hồ sơ địa chính, bản

đồ địa chính, sổ sách địa chính và các tài liệu địa chính khác để nắm

3 Xem thêm Giáo trình Luật Đất Đai/ Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr 68- 72.

Trang 4

được sự phân bố đất đai, kết cấu sử dụng đất ở các địa phương; hoạt động đăng ký quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai… để nắm được biến động đất qua các thời kỳ Người sử dụng đất tuy cũng có quyền chiếm hữu nhưng là chiếm hữu để sử dụng theo quy định của Nhà nước

Việc phân biệt giữa quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước với

tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với quyền chiếm hữu đất đai của người sử dụng đất dưới đây sẽ làm rõ hơn nhận định trên đây về việc Nhà nước không mất đi quyền chiếm hữu đất đai cho dù Nhà nước có thực hiện việc giao đất , cho thuê đất cho người

sử dụng đất sử dụng ổn định , lâu dài Cụ thể :

+ Thứ nhất , Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu đất đai trên

cơ sở là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Còn người sử dụng đất thực hiện quyền chiếm hữu đất đai trên cơ sở quyền sử dụng đất của mình Điều đó có nghĩa là họ chiếm hữu đất đai khi được Nhà nước giao đất , cho thuê đất để sử dụng Hơn nữa , sự chiếm hữu đất đai này đi liền với yêu cầu bắt buộc phải sử dụng đất , nếu người

sử dụng đất chiếm hữu đất đai mà không sử dụng đất , không được

sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất , cho thuê đất cho phép thì họ sẽ bị thu hồi đất ( quyền chiếm hữu đất đai của

họ bị chấm dứt )

+ Thứ hai , nếu như quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai là gián tiếp , mang tính khái quát thì quyền chiếm hữu đất đai của người sử dụng đất lại mang tính trực tiếp , cụ thể đối với từng mảnh đất nhất định được xác định rõ diện tích , thời hạn và mục đích sử dụng

2.2 Quyền sử dụng đất đai

Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thoả mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất Với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài nhưng Nhà nước không mất đi quyền sử dụng đất đai của mình Bởi vì, Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất bằng các

Trang 5

hình thức chủ yếu sau: Thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân định mục đích sử dụng cho từng loại đất cụ thể; Thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất buộc các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất Điều này có nghĩa là thông qua quá trình sử dụng đất của người sử dụng mà các ý tưởng sử dụng đất của Nhà nước sẽ trở thành hiện thực; đồng thời, người sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích mà họ thu được từ việc sử dụng đất đai dưới dạng những nghĩa vụ vật chất cho Nhà nước thông qua hình thức như nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là nhà, đất, nộp lệ phí địa chính, lệ phí trước bạ, nộp tiền

sử dụng đất

2.3 Quyền định đoạt đất đai

Quyền định đoạt đất đai là quyền quyết định số phận pháp lí của đất đai Đây là quyền rất quan trọng và chỉ có Nhà nước với tư quyền định đoạt đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai mới được thực hiện quyền định đoạt đất đai

Đất đai là tài sản đặc biệt khác với tài sản thông thường nên Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện quyền định đoạt đất đai không giống với việc định đoạt tài sản của các chủ sở hữu khác Trong luật dân sự, các chủ sở hữu thường chấm dứt quyền sở hữu chủ của mình đối với vật bằng việc quyết định số phận pháp lí và số phận thực tế thông qua các giao dịch dân

sự mà hình thức pháp lí là những hợp đồng dân sự như hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản vv Còn Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai chỉ được thực hiện việc quyết định số phận pháp lí của đất thông qua các hình thức pháp lí là quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất v.v chứ không có quyền định đoạt số phận thực tế của đất đai Dù đất đai đã được giao cho bất kì tổ chứ, cá nhân nào sử dụng thì trên thực tế vẫn thuộc sở hữu của toàn dân và chịu sự quản lí của Nhà nước Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai bằng các phương thức chủ yếu như qua các hành vi giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nhằm thực hiện việc phân chia một cách hợp lí vốn đất đai đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất của xã hội; quyết định mục đích sử dụng của từng loại đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy

Trang 6

hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được phép thay đổi mục đích sử dụng đất; quy định về hạn mức sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất nhằm đảm bảo cho việc sử dụng đất đai của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vừa có tính hợp lí và vừa mang tính ổn định, lâu dài…

Tóm lại, chi có Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mới có quyền định đoạt đất đai Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân là người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp nhưng không có quyền định đoạt đất đai Mọi hành vi xâm phạm đến quyền định đoạt đất đai của Nhà nước thì sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm của hành vi mà Nhà nước quyết định các biện pháp xử lí thích đáng, phù hợp quy định của Luật đất đai năm 2013

3 Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp.

3.1 Cơ sở của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn về đất đai ở Việt Nam

Trước đây, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời với quy định đất đai là của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19), pháp luật chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu đất đai duy nhất: Sở hữu toàn dân về đất đai Hình thức

sở hữu đất đai này tiếp tục được Hiến pháp năm 1992 khẳng định tại Điều 17 và Hiến pháp năm 2013 khẳng định tại Điều 53 Như vậy ở Việt Nam, quan hệ đất đai mang những nét đặc thù nhất định Vậy dựa vào những cơ sở lý luận và thực tiễn nào mà Hiến pháp năm

1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 lại quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Việc nghiên cứu một số luận điểm khoa học của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn xây dựng chế độ sở hữu toàn dân

về đất đai thời gian qua cũng như tìm hiểu một số đặc trưng của chế

độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam thời phong kiến chính là cơ sở của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn về đất đai ở Việt Nam.4

4 Giáo trình Luật Đất Đai/ Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr 32.

Trang 7

3.2 Vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai là hoàn toàn phù hợp.

Như đã phân tích ở phần trên, kể từ khi chế độ sở hữu toàn dân

về đất đai ra đời, trong tất cả các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như các văn kiện của Đảng trước khi Luật đất đai năm 2003 được ban hành đều không xác định rõ Nhà nước có phải là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai hay không Các văn bản này đều dừng lại ở việc quy định đất đai là của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí Chính việc không xác định rõ vai trò của Nhà nước trong quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai đã dẫn đến việc buông lỏng công tác quản lí đất đai, dẫn đến việc đất đai bị sử dụng không đúng mục đích, lãng phí; gây nên tình trạng buôn bán đất đai kiếm lời hoặc gây thiệt hại, thất thoát tài sản quốc gia và không đảm bảo nguyên tắc công bằng xã hội trong sử dụng đất; giao, cho thuê đất, thu hồi đất không đúng quy định của pháp luật Để khắc phục những hạn chế này, góp phần duy trì sự ổn định chính trị và làm lành mạnh hoá các quan hệ đất đai… Luật đất đai năm 2013 được ban hành đã có các quy định cụ thể về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực sở hữu đất đai Những quy định này góp phần hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Cụ thể:

Thứ nhất, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, năm 2001 và Luật đất đai năm 2003 Luật đất đai năm 2013 đã kế thừa quy định của Luật đất đai năm 2003 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" (khoản 1 Điều 5) Đồng thời, bổ sung quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước với trách nhiệm quản lí đất đai của Nhà nước

Thứ hai, không chi xác định rð vai trò là người đại diện chủ sở

hữu, Luật đất đai năm 2013 còn quy định cụ thể cho Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua các biện pháp như sau: i) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; ii) Quyết định mục đích sử dụng đất; iii) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; iv) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất; v) Quyết định giá đất; vi) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người

Trang 8

sử dụng đất; vii) Quyết định chính sách tài chính về đất đai; viii) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Thứ ba, với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai,

Nhà nước quyết định chính sách tài chính về đất đai; cụ thể: - Quyết định chính sách thu, chi tài chính - Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư

cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi Đây là một chính sách tài chính mới về đất đai, lần đầu tiên được Luật đất đai năm 2003 đề cập và được Luật đất đai năm 2013 kế thừa và bổ sung Chính sách này ra đời dựa trên những đòi hỏi bức xúc về việc thực hiện công bằng xã hội trong sử dụng đất đai và tham khảo kinh nghiệm về quản lí đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường của một

số nước khác như: Đài Loan, Trung Quốc, Pháp Bởi lẽ, mặc dù pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý song trên thực tế, toàn dân với tư cách là cộng đồng chủ sở hữu lại không được hưởng các lợi ích do hình thức sở hữu toàn dân

về đất đai hoặc sự đầu tư của xã hội vào đất đai mang lại; những lợi ích này lại rơi vào túi của một nhóm người Điều này đang gây ra sự phản ứng, bất bình trong xã hội

Thứ tư, Luật đất đai năm 2013 đã phân biệt rõ ràng, rành

mạch quyền đại diện chủ sở hữu đất đai với trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai.Việc phân biệt rõ nhằm tăng cường trách nhiệm, vai trò của Nhà nước cũng nhu nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà ước về đất đai trong bối cảnh hiện nay

4 Vấn đề xây dựng, củng cố và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới.

4.1 Thực tiễn việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta việc thể chế hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp và Luật Đất đai đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân, thực hiện chế đọ toàn dân về đất đai đã tránh được hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra nhất là trong nền kinh tế thị trương định hướng xã hội chủ nghĩa 5

5 Bài viết: Chế độ sở hữu toàn dân là gì? Phân tích chế độ sở hữu toàn dân về đất đai- Luật Dương Gia

Trang 9

Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận của hình thức

sở hữu đất đai này mang lại, thực tiễn việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn có những hạn chế và bất cập Trong thời gian qua, ở nước ta nảy sinh một số hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song những hạn chế đó không phải do bản chất của chế độ

sở hữu toàn dân về đất đai gây ra:

Mặc dù hiện nay, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu về

tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, song cũng không thể thực hiện trọn vẹn đa hình thức sở hữu về đất đai

Quá trình phát triển kinh tế thị trường dẫn đến nhu cầu tư nhân hóa về quyền sử dụng một bộ phận đất đai, điều này cũng tác động làm biến dạng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quá trình phát triển kinh tế thị trường, chủ thể sở hữu đất đai luôn luôn tách rời khỏi người sử dụng đất Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng định đoạt đất đai Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự can thiệp một cách chủ động của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế bởi chính các yếu tố thị trường,

từ đó làm phá vỡ các quy hoạch và kế hoạch chủ động của Nhà nước

về đất đai, buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải thường xuyên thay đổi các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã ban hành, làm cho chính sách về đất đai bất ổn, gây khó khăn cho các đối tượng được giao quyền sử dụng đất

Việc lạm dụng quyền hạn trong quản lý đất đai tại các địa phương thường xảy ra ở các lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất; thu hồi quyền sử dụng đất của người dân, đề xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại Việc nhận thức và vận dụng không đúng chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai trong thời gian qua đã dẫn đến sự lãng phí về đất đai, gây thiệt hại cho người sử dụng đất, đồng thời nảy sinh những tiêu cực, mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực này Từ

đó dẫn đến sự hoài nghi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, nảy sinh

ý kiến đòi hỏi phải thay đổi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Trong thời gian qua, ở nước ta nảy sinh một số tiêu cực, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song những hạn chế, tiêu cực đó không phải do bản chất của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây

ra Những hạn chế, tiêu cực đó một mặt, do sự yếu kém trong quản

Trang 10

lý đất đai của Nhà nước ta, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém, một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng; mặt khác, do nước ta trải qua nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, đất đai có nguồn gốc rất phức tạp

Cơ chế, chính sách pháp luật về đất đai không ổn định và quá nhiều mâu thuẫn, chồng chéo Chế định sở hữu toàn dân về đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đất nước trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể hiện: Nước ta có hơn 70% là nông dân và nông thôn Tỷ trọng nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao trong nền kinh tế Nhưng pháp luật đất đai nước ta mấy thập kỷ qua

có rất nhiều biến động dẫn đến khiếu nại, tranh chấp đất đai ngày càng tăng, chiếm hơn 70% số vụ khiếu kiện, nhiều nơi trở thành điểm nóng

4.2 Sự cần thiết về vấn đề Pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực

tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới.”

Vấn đề chế độ sở hữu đất đai toàn dân được coi như cốt lõi của thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà Việt Nam đang xây dựng Có những ý kiến, quan điểm khác nhau và thậm chí trái chiều xung quanh vấn đề chế độ sở hữu đất đai toàn dân Tuy nhiên, dù là theo quan điểm nào thì chúng ta cũng thấy được sự cần thiết phải tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân đối với đất đai trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Xét về mặt lí luận, trong tất cả các cuộc cách mạng thì vấn đề chính quyền và vấn đề sở hữu luôn luôn chiếm vị trí trung tâm: “Từ trước tới nay, tất cả mọi cuộc cách mạng đều là những cuộc cách mạng nhằm bảo hộ một loại sở hữu” (Ph.Ăngghen ) Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề sở hữu, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật đề cập vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu đất đai nói riêng Những chủ trương, chính sách này được thể hiện trong các nghị quyết đại hội Đảng, nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng, Hiến pháp và các đạo luật đất đai 6

6 Giáo trình Luật Đất Đai/ Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr 51

Ngày đăng: 16/07/2022, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Phạm Thị Hương Lan (Chủ biên), Bình luận khoa học Luật Đất đai (năm 2013), Nxb. Lao động, Tp. Hồ Chí Minh, 2018, tr.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Đất đai (năm 2013)
Tác giả: Phạm Thị Hương Lan
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2018
6. Bài viết Tạp chí: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai - Một vấn đề cần kiên quyết thực hiện” / Nguyễn Minh Tuấn Cộng sản.Trung ương , Đảng Cộng sản Việt Nam,Số 4/2013, tr. 58 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai - Một vấn đề cần kiên quyết thực hiện
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Nhà XB: Cộng sản Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
7. Bài viết Tạp chí: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam”/ Nguyễn Đình Kháng, Cộng sản.Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Số 11/2013, tr. 51 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ sở hữutoàn dân về đất đai ở Việt Nam
8. Bài viết Tạp chí: “Cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai và vấn đề giám sát quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam”/Nguyễn Quang Tuyến, Hà Văn Hòa Nhà nước và Pháp luật.Viện Nhà , nước và Pháp luật,Số 6/2016, tr. 70 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai và vấn đềgiám sát quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam
9. Bài viết Tạp chí: “Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo Hiến pháp năm 2013”/ Nguyễn Cảnh Quý, Dân chủ và Pháp luật.Bộ Tư pháp, 2019. - Số chuyên đề 5, tr. 3-8, 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhànước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo Hiến pháp năm2013
10. Bài viết Tạp chí: “Hoàn thiện qui định về chức năng đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai”/ Phạm Xuân Thắng Nghiên cứu lập pháp.Viện Nghiên cứu lập pháp,2019. - Số 20, tr. 27-33.Một số đường link trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện qui định về chức năng đại diện chủsở hữu của nhà nước đối với đất đai”/ Phạm Xuân Thắng Nghiên cứulập pháp.Viện Nghiên cứu lập pháp,2019. - Số 20, tr. 27-33
1. Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân Khác
5. Lê Hồng Hạnh, Mục đích chính sách của Bộ luật Dân sự và ảnh hưởng của nó tới những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự, Tạp chí Luật học, số 9/2014, tr. 16-24 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w