1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ xây dựng đảng-phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh hà giang giai đoạn hiện nay

136 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng Đảng-Phát Triển Tổ Chức Đảng Trong Các Doanh Nghiệp Tư Nhân Ở Tỉnh Hà Giang Giai Đoạn Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Hà Giang
Chuyên ngành Xây Dựng Đảng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Giang
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiMột trong những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới 25 năm qua ởnước ta là đã hình thành một nền kinh tế đa thành phần, trong đó “Kinh tế tưnhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Từnăm 2000 trở lại đây, đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5của Ban Chấp Hành Trung ương khoá IX (3-2002) về tiếp tục đổi mới cơ chế,chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Đại hộiX và những tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6, khoá X là tiếp tụckiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng, Tăng cường công tác kết nạp đảng vàthành lập tổ chức đảng ở các doanh nghiệp tư nhân, khu vực kinh tế tư nhânđã có những bước đổi mới, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước, khẳng định vai trò động lực của mình trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của Việt Nam.Nhận thức rõ hơn về vai trò của kinh tế tư nhân, Đảng ta đã ra nhữngvăn bản Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo để khuyến khích tạo điều kiện phát triểnkinh tế tư nhân. Một trong những bước đột phá về đổi mới tư duy của Đảngcó sự đổi mới tư duy về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân ngày càng phùhợp với thực tiễn chung của nền kinh tế - xã hội nước ta. Điều đó không chỉ làchủ trương đúng cả về lý luận, thực tiễn mà còn là chủ trương hết sức quantrọng cho chính bản thân đảng. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế nhiều thànhphần, định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mở cửa hội nhập quốc tế, trongnhững năm qua, nhất là 10 năm gần đây, các DNTN (DNTN), công ty tráchnhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần tư nhân ở Hà giang phát triểnnhanh, đa dạng về hình thức tổ chức, quy mô, ngành nghề và lĩnh vực SXKDgóp phần giải quyết việc làm cho hàng loạt lao động, góp phần phát triển kinhtế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Sự phát triểnbền vững của các DNTN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của1 tổ chức đảng (TCĐ) trong doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, nhiều DNTN cóTCĐ và đảng viên tiên phong, gương mẫu thì doanh nghiệp phát triển ổnđịnh, quyền lợi của người lao động được bảo đảm tốt, mâu thuẫn phát sinhgiữa người lao động và người sử dụng lao động được giải quyết kịp thời vàhiệu quả.Mặc dù đã có sự phát triển các loại hình doanh nghiệp nhưng với quymô sản xuất, kinh doanh còn nhỏ lẻ, đơn điệu, sức cạnh tranh về sản phẩm,hàng hoá và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp còn thấp, chưa có nhiều sảnphẩm tạo thương hiệu trên thị trường, tính chuyên môn hoá ngành nghề chưacao. Trong quá trình SXKD, một số DNTN bộc lộ những hạn chế như tự phát,coi trọng lợi ích cá nhân nên có biểu hiện kinh doanh không lành mạnh, hàngkém chất lượng, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, huỷ hoại môi trường sinhthái, vi phạm hợp đồng lao động, ít chú ý đến cải thiện điều kiện lao động, nơiăn ở của công nhân và người lao động. Điều đó không chỉ gây thiệt hại vềkinh tế mà còn tác động tiêu cực tới môi trường văn hoá - xã hội. Từ thực tếhoạt động của DNTN và từ những khó khăn trên ở tỉnh Hà Giang đang đặt ranhiều vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết nhằm định hướng cho các DNTNhoạt động đúng hướng, có hiệu quả, phát huy vai trò của DNTN đóng gópnhiều hơn nữa vào sự phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng, lợi thếcủa tỉnh Hà Giang; đồng thời hạn chế và loại trừ các tiêu cực trong quá trìnhhoạt động của các DNTN.Quan điểm của Đảng ta khẳng định, ở đâu có quần chúng thì ở đó cầnphải có sự lãnh đạo của Đảng bằng tổ chức và bằng đội ngũ đảng viên; xácđịnh phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt.Quán triệt quan điểm đó, ngày 23-01-1996 Bộ chính trị (khoá VIII) đã ra Chỉthị 07-CT/TW “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dântrong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” VàHội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) đã ra Nghị quyết “Tiếp Tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới 25 năm qua ởnước ta là đã hình thành một nền kinh tế đa thành phần, trong đó “Kinh tế tưnhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” Từnăm 2000 trở lại đây, đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5của Ban Chấp Hành Trung ương khoá IX (3-2002) về tiếp tục đổi mới cơ chế,chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Đại hội

X và những tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6, khoá X là tiếp tụckiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng, Tăng cường công tác kết nạp đảng vàthành lập tổ chức đảng ở các doanh nghiệp tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân

đã có những bước đổi mới, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước, khẳng định vai trò động lực của mình trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của Việt Nam

Nhận thức rõ hơn về vai trò của kinh tế tư nhân, Đảng ta đã ra nhữngvăn bản Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo để khuyến khích tạo điều kiện phát triểnkinh tế tư nhân Một trong những bước đột phá về đổi mới tư duy của Đảng

có sự đổi mới tư duy về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân ngày càng phùhợp với thực tiễn chung của nền kinh tế - xã hội nước ta Điều đó không chỉ làchủ trương đúng cả về lý luận, thực tiễn mà còn là chủ trương hết sức quantrọng cho chính bản thân đảng

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế nhiều thànhphần, định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mở cửa hội nhập quốc tế, trongnhững năm qua, nhất là 10 năm gần đây, các DNTN (DNTN), công ty tráchnhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần tư nhân ở Hà giang phát triểnnhanh, đa dạng về hình thức tổ chức, quy mô, ngành nghề và lĩnh vực SXKDgóp phần giải quyết việc làm cho hàng loạt lao động, góp phần phát triển kinh

tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Sự phát triểnbền vững của các DNTN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của

Trang 2

tổ chức đảng (TCĐ) trong doanh nghiệp Thực tế cho thấy, nhiều DNTN cóTCĐ và đảng viên tiên phong, gương mẫu thì doanh nghiệp phát triển ổnđịnh, quyền lợi của người lao động được bảo đảm tốt, mâu thuẫn phát sinhgiữa người lao động và người sử dụng lao động được giải quyết kịp thời vàhiệu quả.

Mặc dù đã có sự phát triển các loại hình doanh nghiệp nhưng với quy

mô sản xuất, kinh doanh còn nhỏ lẻ, đơn điệu, sức cạnh tranh về sản phẩm,hàng hoá và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp còn thấp, chưa có nhiều sảnphẩm tạo thương hiệu trên thị trường, tính chuyên môn hoá ngành nghề chưacao Trong quá trình SXKD, một số DNTN bộc lộ những hạn chế như tự phát,coi trọng lợi ích cá nhân nên có biểu hiện kinh doanh không lành mạnh, hàngkém chất lượng, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, huỷ hoại môi trường sinhthái, vi phạm hợp đồng lao động, ít chú ý đến cải thiện điều kiện lao động, nơi

ăn ở của công nhân và người lao động Điều đó không chỉ gây thiệt hại vềkinh tế mà còn tác động tiêu cực tới môi trường văn hoá - xã hội Từ thực tếhoạt động của DNTN và từ những khó khăn trên ở tỉnh Hà Giang đang đặt ranhiều vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết nhằm định hướng cho các DNTNhoạt động đúng hướng, có hiệu quả, phát huy vai trò của DNTN đóng gópnhiều hơn nữa vào sự phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng, lợi thếcủa tỉnh Hà Giang; đồng thời hạn chế và loại trừ các tiêu cực trong quá trìnhhoạt động của các DNTN

Quan điểm của Đảng ta khẳng định, ở đâu có quần chúng thì ở đó cầnphải có sự lãnh đạo của Đảng bằng tổ chức và bằng đội ngũ đảng viên; xácđịnh phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt.Quán triệt quan điểm đó, ngày 23-01-1996 Bộ chính trị (khoá VIII) đã ra Chỉthị 07-CT/TW “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dântrong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” VàHội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) đã ra Nghị quyết “Tiếp Tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển

Trang 3

kinh tế tư nhân”, trong đó chỉ rõ “ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, pháthuy vai trò của mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các hiệp hội doanhnghiệp đối với việc phát triển kinh tế tư nhân” Đại hội X và những tư tưởngchỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6, khoá X là tiếp tục kiện toàn hệ thống tổchức cơ sở đảng Tiếp đó, ngày 29/7/2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã

có kết luận số 80-KL/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chỉ thị số CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) trong tình hình mới Xác định vị thếpháp lý, thể chế hoá về mặt nhà nước vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cácloại hình cơ sở Chú ý xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp

07-cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổchức cơ sỏ đảng ở vùng sâu, vùng xa Tập trung củng cố các cơ sở yếu kém.Tăng cường công tác kết nạp đảng và thành lập tổ chức đảng ở các doanhnghiệp tư nhân Như vậy, phát triển các DNTN là hướng quan trọng để pháttriển kinh tế đất nước, muốn cho các DNTN hoạt động có hiệu quả, vấn đề làphải xây dựng, phát triển TCĐ trong các DNTN vững mạnh, đủ sức lãnh đạodoanh nghiệp phát triển theo định hướng XHCN Quán triệt đường lối, quanđiểm của Đảng, trong những năm qua Tỉnh Hà Giang đã đề ra nhiều chủtrương, biện pháp nhằm phát triển các TCĐ trong các DNTN Nhờ vậy màcông tác phát triển TCĐ trong các DNTN đã đạt được những kết quả nhấtđịnh Số lượng TCĐ và đảng viên trong các DNTN được tăng lên Nhiều TCĐ

đã thể hiện được vai trò, đóng góp tích cực vào sự phát triển của doanhnghiệp được chủ doanh nghiệp tin tưởng tạo điều kiện thuận lợi trong tổ chứchoạt động

Tuy nhiên, công tác phát triển TCĐ trong các DNTN ở Hà Giang cònnhiều yếu kém cần phải khắc phục Nhìn chung việc thành lập TCĐ trong cácDNTN còn chậm, số lượng TCĐ và đảng viên trong các DNTN còn chiếm tỉ

lệ thấp so với số lượng doanh nghiệp, số người lao động trong các doanhnghiệp và chưa tương xứng với sự phát triển của doanh nghiệp Chất lượnghoạt động của TCĐ trong các DNTN còn nhiều hạn chế Đến nay, nhiều chủ

Trang 4

doanh nghiệp, người lao động vẫn chưa hiểu rõ, hiểu đúng về vai trò, mục đíchhoạt động của TCĐ, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong doanh nghiệp.

Từ tình hình thực tế đặt ra cho cấp uỷ và TCĐ ở tỉnh Hà Giang phảiquan tâm đến công tác phát triển TCĐ trong các DNTN, nhất thiết phải có sựlãnh đạo, chỉ đạo, tập trung thống nhất của của cấp uỷ đối với các doanhnghiệp nói chung và các TCCSĐ trong DNTN nói riêng; phải có nhữngnghiên cứu khoa học để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề, tìm ranhững giải pháp tiếp tục phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang.Với những kiến thức đã được học và nghiên cứu trong Học viện Chính trị -Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và kiến thức thu nhận qua thực tế công tác

những năm qua, tác giả chọn đề tài: “Phát triển tổ chức đảng trong các

DNTN ở tỉnh Hà Giang giai đoạn hiện nay” với hy vọng góp phần nhỏ bé

vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCĐ trong các

DNTN ở tỉnh Hà Giang.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phát triển tổ chức đảng trong DNTN đó được đề cập trong nhiều Vănkiện của Đảng Các nhà nghiên cứu và thực tiễn cũng đó có nhiều công trìnhnghiên cứu về vấn đề Phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân.Trong những số này, các tác giả đó đề cập đến vị trí, vai trò của tổ chức cơ sởĐảng; kinh nghiệm thành lập và xây dựng các tổ chức đảng, đoàn thể đối vớicác loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh trênđịa bàn có khu công nghiệp Các nhà chuyên môn cũng quan tâm nghiên cứu,phân tích mổ xẻ các vấn đề, như:

Nhiều cuộc hội thảo chuyên đề, hội thảo khoa học, các nhà nghiên cứu

đó tổng kết thành những đầu sách như: "Phấn đấu vào Đảng để thực hiện lý tưởng cao đẹp của chúng ta", Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1992; "Tổ chức đảng

ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương thức hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay", Nxb Lao động, Hà Nội, 1999; "Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; "Công nhân công

Trang 5

nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 “Đảng viên làm kinh tế tư nhân, thực trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, v.v

- Đề tài khoa học cấp bộ năm 1999 ‘Tổ chức đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương thức hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay”, do PGS.TS Trần Trung Quang làm chủ nhiệm.

- Đề tài khoa học cấp bộ năm 2002: “Chi bộ trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở một số thành phố - thực trạng và kiến nghị” do TS Đỗ Xuân Định

làm chủ nhiệm…Các đề tài khoa học nói trên đó tập trung làm rõ vai trò, đặcđiểm, nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng trong cácdoanh nghiệp ngoài nhà nước giai đoạn hiện nay, đưa ra các giải pháp củng cố tổchức đảng đã có và phát triển mới các tổ chức đảng ở những nơi chưa có

- Nguyễn Thế Vịnh về đề tài: "Tăng cường kết nạp đảng viên là công nhân trong các xí nghiệp công nghiệp ở thị xã Ninh Bình tỉnh Ninh Bình",

Chuẩn hóa thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,1995; đề tài này, tác giả làm rõ lý luận cơ bản phải tăng cường công tác pháttriển đảng viên là công nhân; đồng thời chỉ ra thực trạng kết nạp đảng viên ởthị xã Ninh Bình; đưa ra phương hướng và giải pháp tăng cường công tác pháttriển đảng viên là công nhân ở các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanhthuộc Đảng bộ thị xã Ninh Bình tỉnh Ninh Bình

Những năm gần đây cũng đó có một số luận văn, luận án nghiên cứu vềcông tác phát triển đảng nói chung, công tác phát triển đảng trong các doanh

nghiệp ngoài nhà nước nói riêng như: “Xây dựng và nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hiền, Học

viện CTQG, Hà Nội 2005; Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tiến Doanh Học viện

CT-HCQGHCM, Hà Nội, 2009 “Phát triển tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước”; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Thắng, Học viện CT-HCQGHCM, Hà Nội, 2009 với đề tài; "Công tác phát triển đảng viên trong

Trang 6

các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay"; Luận văn

thạc sỹ của Lê Văn Nam Học viện CT-HCQGHCM, Hà Nội, 2009 với đề tài

“Chất lượng tổ chức đảng trong các DNTN ở Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay” là những luận văn đã có những nghiên cứu khá sâu về các tổ chức đảng và

công tác phát triển đảng ở những doanh nghiệp ngoài Nhà nước hiện nay

Trần Thu Thủy với bài: "Kinh nghiệm phát triển đảng viên mười doanh nghiệp ngoài quốc doanh", Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6, 2003; Nguyễn Đức Hạt: "Tăng cường xây dựng tổ chức Đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ở các khu công nghiệp", Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11, 2004; bài: "Vai trò của

tổ chức cơ sở Đảng ở một doanh nghiệp tư nhân", Tạp chí Xây dựng Đảng, số

8, 2004 ; bài "Vai trò của tổ chức cơ sở đảng ở một doanh nghiệp tư nhân",

Tạp chí xây dựng Đảng (số 8),2004;

- Trên báo Nhân dân, Lâm Huệ Nữ có bài: "Công tác xây dựng tổ chức Đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Đồng Nai", số

ra ngày 7/12/2004; Nguyễn Đình Khánh với bài: "Hội nghị công tác xây dựng

tổ chức Đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ở các khu công nghiệp", số ra ngày 23/10/2004; "Phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân" tác giả

Nguyên Công Huyên, đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số 3, trang 27, xuất

bản năm 2006; ;" vấn đề phát triển chủ DNTN vào Đảng", tác giả Vĩnh Trọng, đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số7, trang 48, xuất bản năm 2010; "Suy nghĩ về bài "Vào Đảng làm gì?" tác giả Đăng Minh Hân, đăng trên Tạp chí

Xây dựng Đảng số 7, trang 56, xuất bản năm 2010

Các công trình đã tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ và mức độ khácnhau, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng, củng cố TCĐ.Các đoàn thể nhân dân; thực trạng hoạt động của TCĐ và công tác phát triểnđảng viên trong các loại hình doanh nghiệp, nêu nên những ưu điểm, hạn chế,yếu kém, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm Trên cơ sở đó tácgiả đưa ra các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vương mắc của thực trạng,nhưng đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệthống về phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang

Trang 7

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển TCĐ trong cácDNTN ở tỉnh Hà Giang Trên cơ sở đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giảipháp đẩy mạnh công tác phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giangtrong thời gian tới

* Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm TCĐ trong các DNTN ở t ỉnh Hà Giang;những quan niệm, nội dung, những yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi phải đẩy mạnhcông tác phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang

- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng TCĐ trong các DNTN ở tỉnh HàGiang từ 2001 đến nay, chỉ rõ ưu, khuyết điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút

ra kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triểnTCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển TCĐ trongcác DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần tư nhân ở tỉnh Hà Giang

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung khảo sát công tác phát triển TCĐ trong cácDNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần tư nhân ở tỉnh Hà Giang Thời giankhảo sát, nghiên cứu thực tiễn từ 2001 đến 2011 Phương hướng, giải pháp đềxuất trong luận văn có giá trị đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Xây dựng Đảng

Trang 8

-và vấn đề phát triển đảng viên; đồng thời, luận văn kế thừa các kết quả nghiêncứu của các công trình khoa học đã được công bố.

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kếthợp các phương pháp chủ yếu như: điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn,nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh; lịch sử- logic, phân tích- tổng hợp

6 Đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của côngtác phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang, bước đầu rút ra kinhnghiệm và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác phát triển TCĐ trongcác DNTN ở tỉnh Hà Giang và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triểnTCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang đến năm 2020

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu chocác cấp uỷ đảng trong việc chỉ đạo thực tiễn đẩy mạnh phát triển TCĐ trongcác DNTN ở tỉnh Hà Giang trong những năm tới

Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy,học tập môn Xây dựng Đảng ở các trường chính trị, học viện khu vực

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục;nội dung của luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 9

Chương 1 PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở TỈNH HÀ GIANG -

1.1.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang

Hà giang được thành lập ngày 20/8/1891 Là vùng có vị trí chiến lượcquan trọng về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng của cả nước Tronglịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc, Hà Giang luôn là phên dậu, là trấn biên bảo

vệ tổ quốc việt nam ở biên giới phía bắc Trong lịch sử dựng nước và giữnước, các dân tộc tỉnh Hà Giang đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử tháchcủa thiên nhiên để tồn tại và phát triển

Là tỉnh miền núi cao biên giới phía bắc và là nơi địa đầu của tổ quốc,với diện tích tự nhiên là 7.945,79 km2 Phía bắc và tây bắc giáp nước Cộnghoà Nhân Dân Trung Hoa Phía đông giáp tỉnh Cao Bằng Phía tây giáp tỉnhLào Cai, Yên Bái Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang

Thực hiện NQ của Quốc Hội khoá V kỳ họp thứ 2 ngày 27/12/1975 vềviệc giải thể các khu tự trị, hợp nhất các tỉnh Đầu tháng 4 năm 1976 tỉnh HàTuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.Sau 15 năm, để phù hợp với tình hình mới, ngày 12/8/1991 Quốc Hội khoáVIII đã họp và quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh Hà Giang và TuyênQuang Hiện nay toàn tỉnh có 195 xã, phường, thị trấn; với 10 huyện và 1thành phố, gồm Thành phố Hà Giang và các huyện Quản Bạ, Yên Minh,Đồng Văn, Mèo vạc, Bắc mê, Bắc quang, Quang bình, Vị xuyên, Xín Mần,Hoàng Su Phìn, trung tâm tỉnh đặt tại thành phố Hà giang Hà Giang có 22

Trang 10

dân tộc, Hà Giang không có điều kiện “mưa thuận, gió hòa” nhưng được coi

là “đất lành cho chim đậu” Trước Cách mạng Tháng Tám Hà Giang chỉ cótrên 10 vạn dân Hiện nay với tổng số dân là 724.537 người, theo điều tra dân

số ngày 1 tháng 4 năm 2009 Bao gồm dân tộc: Mông (chiếm 32,0 % tổng dân

số toàn tỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %) mỗidân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng của mình từ ngôn ngữ, nơi cư trú, hoạtđộng kinh tế, phong tục tập quán trong đời sống văn hoá Nhóm ngôn ngữchính của cư dân ở Hà Giang là nhóm: Việt - Mường; Tày - Thái; Hmông -Dao; Tạng - Miến; Hoa và các ngôn ngữ khác

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao điều kiện tự nhiên không thuận lợi,những yếu tố kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội còn rất lớn Mặc

dù vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là từ khi chia tách tỉnh (1991), Đảng

bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã lập được nhiều thành tựu về pháttriển kinh tế Đời sống của nhân dân từng bước được ổn định, cải thiện;chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; kết cấu hạ tầng được quan tâm xâydựng và tu bổ Giao thông được coi là “huyết mạch kinh tế”

Trước đổi mới kinh tế Hà Giang chủ yếu là nông - lâm, sản xuất hànghóa nhỏ, nhiều vùng còn sản xuất độc canh, tự cấp tự túc, kinh tế chậm pháttriển Sau đổi mới, nhất là từ khi tái lập tỉnh đến nay kinh tế Hà Giang đã có

sự chuyển biến tích cực Trong sự nghiệp đổi mới Hà Giang đã có bước pháttriển về mọi mặt Đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện

Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, giá trị tăng thêm của nền kinh tế đạt tốc độtăng bình quân năm 12,7% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng cácngành nông - lâm nghiệp Thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệuđồng/người/năm, tăng 4,3 triệu đồng so với năm 2005 Thu ngân sách trên địabàn tăng mạnh, đạt trên 600 tỷ đồng (tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005, vượttrên 200 tỷ đồng so với Nghị quyết) An ninh lương thực từng bước được đảmbảo, bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg (tăng 90 kg so với NQ, tăng 95

Trang 11

kg so với năm 2005) Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) đạt 1.300 tỷđồng, gấp 3,5 lần so với năm 2005 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ thịtrường xã hội đạt 2.250 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần so với năm 2005) [10].

Với sự cố gắng vươn lên; năng động, sáng tạo; khai thác và sử dụnghợp lý các nguồn lực đầu tư; tổ chức thực hiện với sự đồng thuận, quyết tâmchính trị cao, nên đã giành được những thành tựu to lớn và tương đối toàndiện trên nhiều lĩnh vực Thành tựu nổi bật là: Đã thanh toán xong nợ cũ xâydựng cơ bản từ 2005 trở về trước; duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ởmức độ cao Đổi mới mạnh mẽ và đem lại hiệu quả cao trong chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, như: Phát triển chăn nuôi đại giasúc, trồng rừng kinh tế, trồng cây cao su, cây cải dầu,vv có tác động tích cựclàm thay đổi mô hình, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất trong nôngnghiệp, nông dân và nông thôn Phát huy nội lực, khai thác, quản lý và sửdụng lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn của Trung ương

để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra diện mạo mới

từ nông thôn đến thành thị Bước đầu đã thu hút được các thành phần kinh tếđầu tư vào một số lĩnh vực thế mạnh của tỉnh như: Thuỷ điện, khoáng sản,dịch vụ, du lịch Hoàn thành phân giới cắm mốc, bảo vệ vững chắc chủ quyềnbiên giới quốc gia, đảm bảo biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và pháttriển Công tác cán bộ có sự đổi mới và chuyển biến tích cực

Những thành tựu đạt được trong những năm vừa qua, chính là kết quả,

sự kế thừa và phát huy những thành quả của 25 năm đổi mới; 20 năm thực hiệncương lĩnh của Đảng; 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước Góp phần quan trọng đưa Hà Giang từ một tỉnh nghèo nàn, lạchậu; kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp; phức tạp về an ninh, chính trị, trật tự antoàn xã hội, vv trở thành một tỉnh có kinh tế - xã hội ổn định và từng bướcphát triển; hạ tầng cơ sở từng bước được bổ sung và cải thiện; quốc phòng - anninh được giữ vững; hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố vững mạnh

Trang 12

Tuy nhiên, thành tựu mà tỉnh đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,thế mạnh của tỉnh; Nguồn ngân sách của Hà Giang vẫn do Trung ương cấp làchính Tỷ lệ thu ngân sách từ kinh tế địa phương chỉ chiếm trên 10% so vớitổng thu ngân sách Mức chi cho đầu tư phát triển hàng năm đều tăng, song sovới nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển vẫn chưa đáp ứng được, chất lượng,hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hội nhập kinh tế quốc tếcòn nhiều mặt hạn chế; kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộcận nghèo còn lớn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; mức thu nhập bìnhquân đầu người/năm còn thấp so với bình quân chung của cả nước và khuvực; trình độ phát triển so với một số tỉnh trong khu vực còn có những khoảngcách đáng kể; tỉnh có 6 huyện/62 huyện đặc biệt khó khăn, nghèo nhất cảnước, vv Vì vậy, “Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo, chưa thoát ra khỏi tình trạngcủa một tỉnh đặc biệt khó khăn” Là một tỉnh nghèo, nhu cầu đầu tư lớn,nhưng nguồn lực hạn hẹp đặc biệt là vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầngchưa đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, huy động các nguồn lực còngặp nhiều khó khăn Chưa khai thác tốt các tiềm năng của địa phương, chưa

có giải pháp để biến khó khăn thành cơ hội phát triển Những khó khăn nàygây cản trở lớn đến sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác pháttriển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang

1.1.1.2 Khái quát Đảng bộ tỉnh Hà Giang

Đảng bộ tỉnh Hà Giang từ khi ra đời đến nay đã trải qua 15 kỳ Đại hội.Mỗi kỳ Đại hội đều đánh dấu những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử củaĐảng bộ tỉnh Hà Giang Mỗi kỳ Đại hội như những mốc son mới khẳng định

sự vững bền, lớn mạnh của Đảng bộ qua từng thời kỳ cùng với cả nướctrường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Sau mỗi một mốc son, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, chính quyền vàđồng bào nhân dân các dân tộc Hà Giang đã đạt được những thắng lợi kỳ diệutrên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh

Trang 13

Sau khi giành được chính quyền và thành lập được chính quyền dânchủ nhân dân, vào ngày 25.12.1945 Đảng bộ tỉnh Hà Giang ra đời, thực hiệnnhững nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Bác Hồ kêu gọi để xây dựng và củng

cố chế độ mới Đảng bộ tỉnh ra đời đánh dấu một bước ngoặt trọng đại tronglịch sử phát triển của đồng bào các dân tộc Hà Giang

Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975, Đảng bộ tỉnh đã trải qua 6 kỳ Đạihội Đại hội lần thứ I được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 10 đến ngày13.4.1950 Dự Đại hội có 93 đại biểu thay mặt cho 1.355 đảng viên trong toàntỉnh Báo cáo chính trị trình Đại hội nêu rõ: “Đảng bộ đã quyết định thanhtoán nạn mù chữ cho đảng viên Những đảng viên đã thoát nạn mù chữ phải

cố gắng tiếp tục học văn hóa để mỗi năm lên một lớp Nhân dân các dân tộc

Hà Giang hăng hái thi đua nâng diện tích Đông - Xuân 1950 - 1951 lên gấpđôi diện tích Đông - Xuân 1949 - 1950 Các chiến sỹ ngoài mặt trận đã dũngcảm quyết tâm chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt quân xâm lược Pháp và tay sai ởHoàng Su Phì và Yên Bình ” Đại hội diễn ra trong thời điểm toàn dân tộcđang giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, quân và dân Hà Giang cũng đã giànhnhiều chiến thắng oanh liệt trong các trận đánh đồn Pháp ở Xỉn Khâu, HồThầu; đánh đuổi giặc Pháp rút chạy khỏi huyện Hoàng Su Phì Tỉnh ủy cũng đãchỉ đạo các lực lượng thực hiện chủ trương tiễu phỉ và tàn quân Quốc dân Đảngtại Hoàng Su Phì thành công Sau Đại hội lần thứ I, Đại hội lần thứ II được tổchức vào năm 1951; Đại hội lần thứ III được tổ chức vòng 1 vào năm 1960,vòng 2 vào năm 1961; Đại hội lần thứ IV được tổ chức vào tháng 8.1963; Đạihội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ V được khai mạc ngày 27.3.1971.Sau 4 năm, tháng 3.1975, Đại hội lần thứ VI Đảng bộ tỉnh được tổ chức Có thểnói, trong giai đoạn này, đất nước chưa được thống nhất 2 miền, cả nước phảitrải qua các cuộc kháng chiến chống Nhật, Pháp, Mỹ xâm lược Hòa cùng khíthế chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc, Đảng bộ, nhân dân Hà Giang cũngkiên cường, dũng cảm trong chiến đấu, hăng say trong lao động, sản xuất,

Trang 14

giành được những thành tựu vô cùng to lớn Từ Đại hội lần thứ I mới chỉ có1.355 đảng viên, đến Đại hội VI, toàn tỉnh đã có trên 1 vạn đảng viên, điều đóchứng tỏ sự phát triển lớn mạnh của Đảng bộ qua từng Đại hội.

Sau khi đất nước được độc lập và thống nhất, Bộ Chính trị và BCHTrung ương Đảng đã quyết định hợp nhất tỉnh Hà Giang và Tuyên Quangthành tỉnh Hà Tuyên để đáp ứng được tình hình và nhiệm vụ mới của đấtnước Sau khi được hợp nhất, Đảng bộ tỉnh Hà Tuyên đã trải qua 4 kỳ Đại hội(từ 1975 - đến 1991) Đây cũng là thời kỳ tỉnh Hà Tuyên gặp phải nhiều khókhăn, thử thách, nền kinh tế chậm phát triển, bên cạnh đó, sự sụp đổ của hệthống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tác động mạnh

mẽ tới tư tưởng của toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Đứngtrước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh Hà Tuyên đã đề ra các chủ trương, đường lốikhéo léo, phù hợp với thực tế để đối mặt và vượt qua muôn vàn khó khănbước vào thời kỳ đất nước đổi mới một cách vững chắc

Trước tình hình mới, tháng 8.1991, Trung ương quyết định chia táchtỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang theo địa giới hànhchính cũ trước khi hợp nhất Vào thời điểm này, Hà Giang vẫn là tỉnh nghèonhất nước, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu lànông, lâm nghiệp, sản lượng hàng hoá ít ỏi Đến tháng 9.1991, Đảng bộ tỉnh

Hà Giang được tái lập Ngày 15.1.1992, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI được

tổ chức Trên cơ sở xác định những mục tiêu chủ yếu trong 4 năm 1992

-1995, Đại hội đã đề ra 10 chương trình phát triển kinh tế - xã hội; xác định 3vùng kinh tế của tỉnh để tạo đà cho sự phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatừng vùng, quyết tâm thực hiện mục tiêu: Ổn định tình hình KT - XH, từng bướccải thiện đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh Tháng 4.1996, Đại hội lần thứXII được tổ chức; Đại hội lần thứ XIII diễn ra vào tháng 12.2000; Đại hội lầnthứ XIV được tổ chức vào 14.12.2005 Đại hôi đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XV, nhiệm kỳ 2010 - 2015, họp từ ngày 02/10/2010 đến ngày 05/10/2010 Vớichủ đề “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, đoàn kết, đổi

Trang 15

mới, phấn đấu thoát khỏi tỉnh đặc biệt khó khăn, kém phát triển”, Đại hội đã đề

ra Phương hướng, mục tiêu tổng quát, bốn đổi mới, tám đột phá, mười lămchương trình trọng tâm Mười chín chỉ tiêu chủ yếu, sáu nhiệm vụ chủ yếu, bảynhóm giải pháp chủ yếu Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dâncác dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhất trí, khắc phụckhó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêunước, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh lần thứ XV, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đạihội đại biểu lần thứ XI của Đảng trong thời kỳ đổi mới Toàn tỉnh triển khai thực

hiện tốt khẩu hiệu hành động: “Quyết tâm không cam chịu đói nghèo; biến

khó khăn thành cơ hội phát triển; vì Hà Giang phát triển, hãy làm việc nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn” Với những cơ hội và thách thức mới, Đảng bộ tỉnh

tiếp tục có những đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân các dân tộc trongtỉnh đạt được những thành tựu mới, to lớn hơn, kỳ diệu hơn Toàn Đảng bộ hiện

có 16 đảng bộ trực thuộc tỉnh; 872 tổ chức cơ sở đảng, tăng 94 tổ chức so vớinăm 2005, với gần 4,9 vạn đảng viên [10]

1.1.2 Doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang

1.1.2.1 Một số quan niệm

- Doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làmdịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội Đồng thời, thông qua hoạtđộng hữu ích đó mà doanh nghiệp thu được lợi nhuận Theo Điều 4 của Luậtdoanh nghiệp do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11năm 2005 thì có thể hiểu khái niệm doanh nghiệp và kinh doanh như sau:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trang 16

Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một số hoặc tất cả các công đoạncủa quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụtrên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

- Doanh nghiệp tư nhân bao gồm:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo Điều 63 của Luật Doanh nghiệp do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì Công ty TNHH một thành viênđược hiểu như sau: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổchức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi chung là chủ sở hữu công ty).Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnkhác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ công ty Công ty TNHH mộtthành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh và không được quyền phát hành cổ phiếu

Theo Điều 38 của Luật Doanh nghiệp do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì Công ty TNHH hai thành viên trởlên được hiểu như sau: Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp,trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên khôngvượt quá năm mươi Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vàodoanh nghiệp Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theoquy định tại các điều 43,44,45 của Luật Doanh nghiệp Công ty TNHH có tưcách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.Công ty này không được quyền phát hành cổ phiếu

+ Công ty cổ phần

Theo Điều 77 của Luật Doanh nghiệp do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì Công ty cổ phần được hiểu nhưsau: Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: Vốn điều lệ được chia thànhnhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân Sốlượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông chỉ

Trang 17

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền tự dochuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định tạikhoản 3, Điều 81 và khoản 5, Điều 84 của Luật Doanh nghiệp Công ty cổphần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.

Công ty cổ phần có các loại là: Công ty cổ phần phải có cổ phần phổthông Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông; Công ty cổ phần

có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi

Cổ phần ưu đãi gồm các loại là: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưuđãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công tyquy định Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập đượcquyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết cổ đông sáng lậpchỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đôngsáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Người được quyền mua cổphần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệcông ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định

Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu có các quyền,nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổithành cổ phần ưu đãi, nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phầnphổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông

+ Doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 141 của Luật Doanh nghiệp do Quốc hội khóa XI, kỳ họpthứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì DNTN được hiểu như sau:DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp DNTN khôngđược phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyềnthành lập một DNTN

Trang 18

DNTN có những đặc điểm riêng là: DNTN là một đơn vị kinh doanh domột người bỏ vốn ra và tự làm chủ, Chủ doanh nghiệp và chủ sở hữu là mộtquyền, đồng thời họ cũng là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp ChủDNTN chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanhnghiệp DNTN là loại doanh nghiệp không bị ràng buộc của pháp luật quyđịnh về vốn góp tối thiểu để thành lập doanh nghiệp và về nhân sự (số lượngthành viên và mối quan hệ) DNTN có mức vốn kinh doanh không thấp hơnmức vốn pháp luật quy định phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh.Nguồn vốn của chủ DNTN là tự do có, có thể tự do có, thừa kế, đi vay…Sốlượng vốn góp vào doanh nghiệp nhiều hay ít là do họ (chủ doanh nghiệp)quyết định Lãi và lỗ trong kinh doanh thì chủ doanh nghiệp được hưởng hayphải chịu trách nhiệm toàn bộ Người ta còn gọi DNTN là công ty tráchnhiệm vô hạn DNTN thường chỉ có một người chủ hoạt động chính và được

vợ (chồng), các con hỗ trợ thêm trong tính toán làm hóa đơn, lập bảng kêkhai, làm thủ quỹ, thư ký hoặc bán hàng Người chủ này thường là người laođộng chính, họ thường phải kéo dài thời gian làm việc, thuê số lượng lao độngrất nhỏ và chủ yếu tận dụng lao động trong gia đình là chính

Khái niệm DNTN được sử dụng trong luận văn là vận dụng theo cáchgọi trong một số văn bản của Đảng như: Quy định số 16-QĐ/TW/1996; Quyđịnh số 100-QĐ/TW/2004; Quy định số 15-QĐ/TW/1996…đó là cách gọichung của ba loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc thành phần kinh

tế tư nhân bao gồm: Công ty TNHH; Công ty cổ phần và DNTN (theo luậtdoanh nghiệp) Vì vậy: khi nói TCĐ trong các DNTN là muốn nói đến tổ chức

cơ sở đảng trong cả ba loại hình doanh nghiệp đó là công ty TNHH, công ty

cổ phần và DNTN

Như vậy, khái niệm DNTN trong Luật doanh nghiệp chỉ là một trong ba loại hình doanh nghiệp được nghiên cứu trong luận văn là công ty tư nhân (viết tắt là CTTN) Khái niệm DNTN được sử dụng trong luận văn bao gồm

có ba loại hình doanh nghiệp, đó là Công ty TNHH, công ty cổ phần và CTTN (gọi chung là DNTN).

Trang 19

1.1.2.2 Quá trình phát triển doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2011

Thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, trong những năm qua, nhất làtrong 10 năm gần đây, các DNTN ở nước ta phát triển nhanh, đa dạng về quy

mô, ngành nghề, lĩnh vực SXKD, hình thức sở hữu Sự ra đời, hoạt động vàphát triển của các DNTN đã khai thác tiềm năng của đất nước, giải quyết việclàm cho hàng triệu lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một chủ trươnglớn của Đảng và Nhà nước nhằm huy động các tiềm lực trong xã hội để pháttriển đất nước Thực hiện chủ trương trên tỉnh Hà Giang đã có nhiều giải pháptích cực khơi thông nguồn lực trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoàitạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng Do vậy, nhiềuDNTN đã được thành lập, đi vào hoạt động và ngày càng có xu hướng phát triểnnhanh về số lượng, đa dạng về quy mô, ngành nghề SXKD Các DNTN đã gópphần khai thác tiềm năng, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống người lao động,tăng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế DNTNphát triển rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều loại hình tổ chức, có quy môngành, nghề, SXKD và hoạt động ở nhiều ngành kinh tế khác nhau Mục tiêukinh doanh của các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra lợinhuận nhanh, vốn đầu tư thấp như thương mại, dịch vụ, du lịch Một số doanhnghiệp đã đầu tư vào các lĩnh vực lâu dài, đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cũng nhưcông nghệ cao, công nghệ chế biến, điện máy, nông nghiệp sạch, du lịch sinhthái nhưng chủ yếu về xây dựng cơ bản, giao thông, thủy điện là chính

- Căn cứ vào việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng kýhoạt động theo luật doanh nghiệp Năm 2000, tỉnh Hà Giang mới chỉ có 92DNTN (trong đó có 56 công ty TNHH, 36 DNTN) Năm 2001 tăng lên 168NDTN (trong đó có 92 công ty TNHH, 01 công ty cổ phần, 73 DNTN) Năm

Trang 20

2003 toàn tỉnh có 298 DNTN (trong đó có 174 công ty TNHH, 06 công ty cổphần, 116 DNTN) Năm 2005 toàn tỉnh có 391 DNTN (trong đó có 223 công

ty TNHH, 22 công ty cổ phần, 142 DNTN) Năm 2007 toàn tỉnh có 557DNTN (trong đó có 325 công ty TNHH, 71 công ty cổ phần, 139 DNTN).Năm 2009 toàn tỉnh có 855 DNTN (trong đó có 603 công ty TNHH, 169 công

ty cổ phần, 153 DNTN) Tính đến tháng 6/2011 toàn tỉnh có tổng số 954doanh nghiệp tư nhân Có thể nói số lượng DNTN ngày càng tăng mạnh.Nhưng thực tế, toàn tỉnh có khoảng gần 500 doanh nghiệp đang hoạt độngthường xuyên và ổn định Tổng số người lao động trong tất cả các doanhnghiệp hiện nay là hơn 23 nghìn người

- Về cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của các DNTN khá đa dạngphong phú Trong các lĩnh vực SXKD của các DNTN, các doanh nghiệp chủyếu tập trung đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông làchính mà chủ yếu là các DNTN và các công ty TNHH Đây là ngành có tốc độtăng tương đối nhanh, vì trong những năm qua tỉnh Hà Giang chú trọng đẩynhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị và hiện nay có rấtnhiều dự án công trình xây dựng đã và đang được tiến hành Như Đường giaothông, thông tin, truyền thông, bệnh viện, trường học, kè chống sạt lở, cáccông trình thủy lợi, hồ chứa nước sinh hoạt,vv ), Công trình thuỷ điện: Nậm

Ngần, sông Miện 1, Sông Miện 5, Nho Quế 3 Đồng thời đây cũng là khu vực

có số lao động chiếm tỷ lệ cao khoảng 16 nghìn lao động

- Đứng thứ hai là lĩnh vực thương mại chủ yếu tập trung vào các hoạtđộng bán buôn, bán lẻ sửa chữa mô tô, xe máy, các hoạt động liên quan đếnkinh doanh tài sản thông qua nhiều phương thức như đại lý, ủy thác, mua bántại nhà Tiếp theo là nghành công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến,chế tạo, công nghiệp khai khoáng Các cơ sở sản xuất công nghiệp tăng cả về

số lượng, quy mô và hiệu quả SXKD Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm

2010 (theo giá thực tế) đạt 1.300 tỷ đồng, gấp 3,5 lần so với năm 2005 Toàn

tỉnh có 3.852 cơ sở công nghiệp, tăng 625 cơ sở so với năm 2005 như Nhà

Trang 21

máy chế biến bột giấy Hải Hà; Nhà máy sản xuất giấy vệ sinh Phúc Hưng;Các nhà máy luyện Feromangan Ban Mai; Gạch 19/5; Gỗ Công nghiệp; Bêtông áp fan và xi măng; Khoáng sản: Chì kẽm Ao Xanh, Na Sơn; sắt Tùng Bá;ăng ti mon Mèo Vạc, vv [6].

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 954 doanh nghiệp, tuy nhiên, có tới 59%doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XDCB; 12% doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp chế biến, còn lại doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực thương mại dịch vụ; doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp đa ngànhnghề Nhìn vào thực tế trên cho thấy, tuy số lượng doanh nghiệp đông nhưngphần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước rót vào lĩnh vực đầu tưxây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở, doanh nghiệp trực tiếp làm ra của cải vậtchất, làm ra sản phẩm hàng hóa có hàm lượng chất xám cao rất ít Điều này lýgiải vì sao gần 1 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động nhưng năm vừa qua mớichỉ đóng góp cho ngân sách Nhà nước gần 290 tỷ đồng, số tiền trên là rất quantrọng, góp phần thúc đẩy KT-XH của tỉnh phát triển nhưng quá khiêm tốn!

- Về vốn đăng kí kinh doanh của các DNTN Sự phát triển nhanh sốlượng DNTN đã kéo theo sự gia tăng nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh.Năm 2001, tổng số vốn của các DNTN khoảng 100.000 triệu đồng Theo kếtquả điều tra của cục thống kê, đến năm 2006 tổng nguồn vốn kinh doanh là2.732.361 triệu đồng, năm 2009 tổng số vốn là 8.432.710 triệu đồng (tính đếntại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2009) đến tháng 3 năm 2011 tổng vốnđăng kí kinh doanh là 8,475,715.444 đồng

- Về kết quả SXKD của các DNTN Doanh thu của các DNTN đềutăng, năm 2006 là 1.173.223 triệu đồng, năm 2009 doanh thu thuần của cácdoanh nghiệp của tỉnh là 3.993.811 triệu đồng, trong đó DNTN là 3.177.257triệu đồng, tổng doanh thu thuần của các doanh nghiệp nói chung từ năm

2006 đến năm 2009 là 28.355.767 triệu đồng, trong đó DNTN là 19.470.942triệu đồng, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của các DNTN rất tốt,đem lại hiệu quả cao DNTN đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách

Trang 22

của tỉnh Hà Giang Năm 2006, tổng thuế và các khoản nộp ngân sách từ cácloại doanh nghiệp là 88.160 triệu đồng trong đó DNTN là 70.822 triệu đồng,năm 2009 thu từ các loại doanh nghiệp 327.864 triệu đồng, trong đó DNTNđóng góp là 264.911 triệu đồng Tổng cộng từ năm 2006 đến năm 2009 tổngthuế và các khoản nộp ngân sách từ các loại doanh nghiệp là 763.361 triệu

đồng, trong đó DNTN là 627.897 triệu đồng Doanh thu năm 2010 đạt gần 5

nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước gần 290 tỷ đồng

Các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng trong xây dựng và phát triểndoanh nghiệp, thể hiện được tính năng động và thích ứng hơn với xu thế pháttriển của xã hội, nhiều doanh nghiệp SXKD có hiệu quả, làm ăn có lãi Đốivới các doanh nghiệp nhà nước, đã tập trung thực hiện cổ phần hoá theo chủtrương của Chính phủ, thông qua việc chuyển đổi mô hình đã duy trì hoạtđộng SXKD có hiệu quả Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn vươn ra đầu tư,SXKD tại thị trường các tỉnh bạn và liên doanh, liên kết với nước ngoàì…Dưới sự lãnh chỉ đạo của cấp uỷ, các Doanh nghiệp đã bám sát vào chủtrương, định hướng phát triển kinh tế, xã hội và cơ chế chính sách của tỉnh,kịp thời điều chỉnh và xác định hướng SXKD phù hợp, tiến hành đầu tư cóhiệu quả và mang tính ổn định bền vững

Trong quá trình hoạt động các DNTN đã bám sát đường lối, chủtrương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, kịp thời điều chỉnh xácđịnh hướng sản xuất, kinh doanh phù hợp, đầu tư hiệu quả có chiều sâu mangtính ổn định và bền vững, các DNTN đã góp phần quan trọng vào chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp hiệu quả trong công tác an sinh xã hội vàthực hiện ngày càng tốt hơn nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, giải quyết việclàm cho người lao động, tăng thu nhập cải thiện đời sống của nhân dân, gópphần tích cực xóa đói giảm nghèo, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tưnước ngoài vào địa phương

Trang 23

Thời gian qua, phần lớn DNTN phát triển nhanh chóng nhờ vào các cơ hộikinh doanh thuận lợi và sự lựa chọn đúng ngành hàng, đúng thời điểm, hơn là nhờvào các chiến lược dài hạn, được xây dựng cẩn trọng và bài bản Vì vậy, khi đãphát triển đến một quy mô nào đó, chủ doanh nghiệp bắt đầu cảm thấy lúng túngtrong việc định hướng kinh doanh cũng như trong việc quản lý điều hành doanhnghiệp Khi đó, chỉ cần một ngoại lực từ thị trường hơi mạnh một chút hoặc cóbiến động về chính sách điều hành vĩ mô là doanh nghiệp sẽ gặp vấn đề.

Trên thực tế, sự phát triển của DNTN rất gian nan Môi trường kinhdoanh cũng như những hạn chế về vốn, công nghệ và đặc biệt là cơ hội sớmtiếp cận thông tin các biến động chính sách vĩ mô của Nhà nước… đã khiếncho các DNTN luôn phải đi sau về cơ hội, đối mặt với độ rủi ro cao nên khó

có thể nhanh chóng lớn mạnh

1.1.2.3 Đặc điểm các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang

DNTN ở tỉnh Hà Giang có những đặc điểm sau:

- Về nguồn gốc của các doanh nghiệp khá đa dạng, DNTN được hìnhthành tư nhiều nguồn khác nhau, một số doanh nghiệp được thành lập mớingay từ đầu do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu pháttriển của địa phương Một số lượng lớn doanh nghiệp được phát triển đi lên từkinh tế hộ, một số doanh nghiệp được chuyển đổi từ các hợp tác xã tiểu thủcông nghiệp trước đây hoặc sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

- DNTN có sự phát triển nhưng quy mô sản xuất, kinh doanh còn nhỏ

lẻ, đơn điệu Quy mô về vốn và lao động chủ yếu là nhỏ và vừa, máy mócthiết bị, công nghệ, trình độ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, sức cạnh tranh

về sản phẩm hàng hóa và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp còn thấp, chưa cónhiều sản phẩm tạo thương hiệu trên thị trường, tính chuyên môn hóa ngànhnghề chưa cao Phân theo quy mô nguồn vốn, trên 500 tỷ có 04 doanh nghiệp,

từ 200 đến dưới 500 tỷ có 15 doanh nghiệp, từ 50 đến 200 tỷ có 77 doanhnghiệp, từ 10 đến 50 tỷ có 283 doanh nghiệp, từ 01 tỷ đến 05 tỷ có 598 doanhnghiệp, từ dưới 0,5 tỷ đến dưới 1 tỷ có 321 doanh nghiệp Tổng số vốn kinh

Trang 24

doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động đến năm 2009 là 20.501.393triệu đồng Về quy mô sử dụng lao động hiện nay hoạt động trong tất cả cácnghành nghề, lĩnh vực và mọi vùng trong tỉnh Số Lao động trong các DNTNchiếm tỷ lệ cao, khoảng trên 16 nghìn người Cụ thể: phân theo quy mô laođộng tính đến năm 2009 từ 500 đến 599 người có 05 doanh nghiệp, từ 300đến 499 người có 26 doanh nghiệp, từ 200 đến 299 ngườii có 34 doanhnghiệp, từ 49 đến 199 người là 284 doanh nghiệp, từ 10 đến 49 người là 898doanh nghiệp, từ 05 đến 09 người là 188 người, dưới 5 người có 74 doanhnghiệp Nói chung, các doanh nghiệp do hầu hết mới được hình thành và pháttriển nhanh chóng mấy năm gần đây nên tài sản, vốn liếng còn ít, khả năngcạnh tranh, năng xuất lao động, hiệu quả SXKD còn thấp.

- DNTN hoạt động trong các nghành nghề, lĩnh vực đa dạng nhưng chủyếu tập trung vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông thuỷ điện là chính dothời gian qua tỉnh Hà Giang thực hiện đẩy mạnh chủ trương phát triển HàGiang trở thành thành phố, giải quyết những khó khăn cơ bản về giao thông,khắc phục địa hình hiểm trở, chương trình hạ sơn, chủ trương từng bước nângcao đời sống nhân dân, xây dựng hồ nước, thủy điện nên các doanh nghiệptập trung hầu hết vào lĩnh vực này góp phần thực hiện chủ trương nghị quyếtcủa tỉnh với mục tiêu hướng nội tìm kiếm lợi nhuận trong phạm vi hẹp

- Các DNTN phân bố không đồng đều trên địa bàn tỉnh, chủ yếu tậptrung ở thành phố Hà Giang và hai huyện Bắc Quang, Quang Bình và VịXuyên vì đây là huyện có cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc và vị tríđịa lý thuận lợi tỉnh Còn các huyện khác như Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quản

Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc ở xa thành phố, các điều kiện để pháttriển SXKD khó khăn hơn, do vậy số doanh nghiệp ở đây không nhiều

- Chủ DNTN đa dạng về tuổi đời, giới tính Một số là cán bộ, côngchức, hoạc làm ở doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu.Một số được hình thành phát triển trong thời kỳ đổi mới, một số là đảng viên,

đa phần các chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn chuyên môn tương đối khá,

am hiểu tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và của địa phương

Trang 25

- Lực lượng lao động trong các DNTN chủ yếu là lao động phổ thông,trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình dộ chính trị còn thấp,

ít được đào tạo, chủ yếu vừa học vừa làm nên kỹ năng và kinh nghiệm cònnhiều hạn chế Lao động thời vụ là chính, số lượng biến động theo thời gian,hoạt động phân tán, nhỏ lẻ

1.1.3 Tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm

* Điều 21:

- Điểm 2: ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp,đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sởkhác có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ;

- Điểm 3: TCCSĐ dưới 30 đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảngtrực thuộc

- Điểm 4: TCCSĐ có từ 30 đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở, có cácchi bộ trực thuộc đảng ủy

Có thể khái quát khái niệm TCCSĐ như sau: TCCSĐ là tổ chức đảng ở một đơn vị cơ sở (xã, phường, trường học, bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an) có từ 3 đảng viên chính thức trở lên.

Như vậy, khái niệm tổ chức đảng dùng chỉ để tất cả các tổ chức củaĐảng như tổ đảng, chi bộ, đảng bộ, chi ủy, đảng ủy các cấp, ban thường vụ cấp

ủy, các cơ quan tham mưu, giúp việc của các cấp ủy các cấp, các ban cán sự

Trang 26

đảng, đảng đoàn nhưng trong luận văn này, phát triển tổ chức đảng trong cácDNTN ở Hà Giang chỉ tập trung phát triển các TCCSĐ, đặc biệt là các chi bộ.

1.1.3.2 Vai trò của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân

Đề cập tới vai trò của một tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức

đó đến tiến trình phát triển trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, xã hội

và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại, phát triển Ngay từ những ngày đầu củaphong trào công nhân quốc tế, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Liên đoànphải tổ chức thành chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, ban chấp hành trung ương vàđại hội, từ đó lấy tên là Liên đoàn những người cộng sản” [25, tr.339]

Để thực hiện mục đích của Liên đoàn là lật đổ giai cấp tư sản, lập nềnthống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt giai cấp tư sản dựa trên sự đối khánggiai cấp và xây dựng một xã hội mới, không có giai cấp - xã hội cộng sản chủnghĩa, Liên đoàn phải được tổ chức lại và có như vậy: “Liên đoàn nhữngngười cộng sản mới bắt đầu giữ vai trò lãnh đạo trong những hội công nhân,nông dân và những hội khác” [25, tr.347]

Mác, Ăngghen còn nhấn mạnh là phải biến mỗi chi bộ thành trung tâm

và hạt nhân của hiệp hội công nhân Chi bộ có nhiệm vụ chủ yếu là thực hiệnnghị quyết của Liên đoàn những người cộng sản và quản lý đảng viên

Kế thừa và phát triển những tư tưởng cách mạng về xây dựng tổ chứcđảng của Mác và Ăngghen, Lênin đã tập trung chăm lo, xây dựng và pháttriển các TCĐ bằng cách các lập vai trò lãnh đạo của các tổ chức công nhântrong nhà máy, công xưởng, khu dân cư…, phát triển thành những chi bộ củaĐảng Cộng sản Bônsêvích Để xây dựng thành những chi bộ đảng là hạt nhân,những tế bào của Đảng V.I.Lênin chỉ rõ:

Những chi bộ đảng viên liên hệ chặt chẽ với nhau, phải làm chocông tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức thích nghi với mọilĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi tầng lớp quần chúng laođộng Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ

đó mà rèn luyện mình, rèn luyện đảng viên, giai cấp, quần chúngmột cách có hệ thống [23, tr.232]

Trang 27

Sau khi đưa ra chính sách kinh tế mới, Lênin nhấn mạnh là để giànhđược mọi thắng lợi trong bước chuyển có tính chiến lược này, các tổ chức cơ

sở đảng phải đem hết sức lực để tạo ra sức mạnh cho đảng, để phát huy tínhchủ động, sáng tạo lớn hơn nữa ở cơ sở Trong nhiều hội nghị ở nhiều nơi,Lênin luôn chỉ rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là đơn vị chiếnđấu cơ bản, là tổ chức tế bào trong hệ thống tổ chức của Đảng, là hạt nhânchính trị của Đảng ở cơ sở và có mối liên hệ chặt chẽ, sâu rộng với quầnchúng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội đặt ra Các tổ chức cơ

sở đảng có vững mạnh thì các cấp bộ đảng mới mạnh, toàn Đảng mới mạnh.Chất lượng lãnh đạo của Đảng phụ thuộc một phần rất quan trọng ở chấtlượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Những tư tưởng, quan điểm của Mác, Ăngghen và Lê nin về TCCSĐđược Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiếp thu, vận dụng sáng tạo phù hợpvới thực tiễn cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Muốn làm nhà cho tốt, phải xây dựngnền móng cho vững, muốn thực hiện kế hoạch cho tốt phải chăm lo cũng cốchi bộ Bác còn coi chi bộ là gốc rễ của Đảng, một cây không thể thiếu gốc rễcũng như một ngôi nhà không thể thiếu nền móng Điều đó càng khảng địnhvai trò của TCCSĐ là nền tảng Đảng có vững vàng, có sức chiến đấu cao, cónăng động và sáng tạo thì Đảng mới có sức mạnh vô địch và TCCSĐ là hạtnhân chính trị ở cơ sở, là “dây chuyền” để Đảng liên hệ với nhân dân

Theo Người, trong mọi thời kỳ cách mạng, vai trò của TCCSĐ là rấtquan trọng, Người chủ rõ “ Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọiviệc sẽ tốt” [31, tr.210] Vị trí nền móng đó được Chủ Tịch Hồ Chí Minhxem xét trong các mối quan hệ giữa chất lượng của TCCSĐ với chất lượngcủa toàn Đảng thì theo Người “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh,Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [31,tr.92] Như vậy, Chủ Tịch Hồ Chí Minh coi chất lượng của TCCSĐ là nhân

tố cấu thành chất lượng của Đảng Vì thế, Người luôn nhắc nhở: “Đối với

Trang 28

Đảng ta, xây dựng chi bộ cho tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quantrọng” [32, tr.441].

TCĐ trong DNTN có vai trò quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng,với hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp Do đặc điểm của mình TCĐtrong DNTN có vị trí, vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo đảng viên, ngườilao động và tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị, bangiám đốc thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của đảng, chính sách,pháp luật của nhà nước

Cũng như tổ chức đảng trong các lĩnh vực khác, TCĐ trong DNTN là một

bộ phận cấu thành trong hệ thống TCĐ, là nền tảng của trrong các DNTN Vìthế, TCĐ trong DNTN vững mạnh sẽ góp phần làm cho đảng ta vững mạnh, bảođảm sự lãnh đạo của đảng đối với mọi lĩnh vực của đời sông xã hội

TCĐ trong DNTN có vai trò là cầu nối giữa đảng với đông đảo côngnhân và người lao động trong doanh nghiệp, nắm bắt tâm tư nguyện vọngchính đáng của họ để phản ánh với Đảng, để Đảng đề ra đường lối, chủtrương, chính sách phù hợp với thực tiễn, lợi ích chính đáng của người laođộng, chủ doanh nghiệp

Lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của đảng viên, công nhân, người laođộng; bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người lao động, chủ doanh nghiệp;chủ động đề xuất với chủ doanh nghiệp, HĐQT, Ban giám đốc giải quyếtnhững vấn đề đặt ra hàng ngày, hàng giờ đối với công nhân, người lao động,phát huy chủ động sáng tạo của quần chúng trong xây dựng đảng, xây dựngdoanh nghiệp

Xây dưng, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoànthể trong doanh nghiệp TCĐ trực tiếp lãnh đạo xây dựng, củng cố và địnhhướng chính trị cho mọi hoạt động của các tổ chức đoàn thể theo đúng đườnglối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, bồi dưỡng quầnchúng ưu tú để kết nạp vào đảng

Trang 29

TCĐ trong DNTN là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo đảng viên, người laođộng tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nângcao ý thức kỷ luật, thi đua lao động đạt năng xuất, chất lượng và hiệu quả.

TCĐ trong DNTN có vai trò kiểm tra, giám sát việc thực hiện đúngđường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong cácDNTN Việc kiểm tra, giám sát thông qua chế độ kiểm tra TCĐ của đảng viênchấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa nhà nước

1.1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng trong doanh nghiệp

tư nhân

Theo Quy định số 100- QĐ/TW ngày 04 - 6 - 2004 của Ban Bí thư,DNTN có chức năng, nhiệm vụ như sau:

* Chức năng.

- Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong DNTN là hạt nhân chính trị lãnh đạo

đảng viên, người lao động và tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp, cácthành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc nghiêm chỉnh chấp hành đườnglối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở doanh nghiệp; bảo vệ lợiích hợp pháp của người lao động, chủ doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ đốivới Nhà nước

Tổ chức cơ sở đảng là “gốc rễ” của Đảng, giữ vai trò rất quan trọngtrong hệ thống tổ chức của Đảng, là nơi thực hiện các chủ trương, nghị quyết củaĐảng, pháp luật của Nhà nước; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đảngviên; nơi thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các mặt chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Đời sống các mặt của nhân dân lao động

có được nâng lên hay không, hệ thống chính trị cơ sở có thực sự trong sạch vữngmạnh hay không đều tùy thuộc vào chất lượng tổ chức cơ sở đảng Bác Hồ chỉrõ: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt"

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng trở thành lực lượng lãnh đạotoàn xã hội, tổ chức cơ sở đảng dù được thành lập ở loại hình cơ sở nào, là chi

Trang 30

bộ cơ sở hay đảng bộ cơ sở đều có chức năng là hạt nhân chính trị lãnh đạo tại đơn vị cơ sở và tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng.

* Nhiệm vụ:

1- Nhiệm vụ SXKD, an ninh quốc phòng.

Lãnh đạo đảng viên, người lao động trong doanh nghiệp và tuyêntruyền, vận động chủ doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị và bangiám đốc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước, hợp đồng và các thỏa ước lao động đã ký kết Đoàn kết, động viênđảng viên các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung làthực hiện có hiệu quả nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp; chủ động ngănngừa, khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật trong SXKD, làm thiệthại đến lợi ích của Nhà nước, chủ doanh nghiệp, quyền lợi hợp pháp và nhânphẩm của người lao động

Lãnh đạo đảng viên, người lao động tích cực học tập, nâng cao trình độ

về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức khoa học, công nghệ, ngoạingữ, ý thức tôn trọng pháp luật và tinh thần lao động có kỷ cương, kỷ luật

Lãnh đạo đảng viên, người lao động và tuyên truyền, vận động chủdoanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các mặt công tác xã hội trong doanhnghiệp và ở địa phương

Đề xuất, kiến nghị lên cấp có thẩm quyền những vấn đề cần thiết liênquan đến doanh nghiệp

2- Lãnh đạo công tác tư tưởng.

Tuyên truyền, giáo dục đảng viên, người lao động và các thành viêntrong doanh nghiệp hiểu rõ và tự giác chấp hành đúng đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, nhiệm vụcủa doanh nghiệp; phát huy truyền thống yêu nước và ý thức trách nhiệm củacông dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh; động viên người lao động tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình

độ về chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng tinh thần đoàn kết, hợp tác, tương trợ

Trang 31

giữa các thành viên trong doanh nghiệp, từng bước nâng cao giác ngộ giaicấp, lý tưởng xã hội chủ nghĩa của người lao động.

Tuyên truyền, vận động, thuyết phục và bằng hoạt động có hiệu quảcủa TCĐ, các đoàn thể quần chúng, làm cho đảng viên, quần chúng trongdoanh nghiệp nắm vững chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là: Tạo điều kiện

và khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển; kinh tế tư nhân bình đẳng với cácthành phần kinh tế khác và là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh

tế quốc dân; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

3- Lãnh đạo các đoàn thể quần chúng.

Lãnh đạo xây dựng tổ chức công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản HồChí Minh và các đoàn thể quần chúng khác trong doanh nghiệp vững mạnh,thực hiện đúng pháp luật của Nhà nước và điều lệ của mỗi đoàn thể; tham gia

ý kiến với chủ doanh nghiệp, giám đốc trong việc chăm lo đời sống vật chất,tinh thần của người lao động; giáo dục, động viên đoàn viên đẩy mạnh phongtrào thi đua, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao

Lãnh đạo ban chấp hành công đoàn kịp thời trao đổi với chủ doanhnghiệp, giám đốc để giải quyết các vấn đề phát sinh giữa người lao động vàngười sử dụng lao động phù hợp với pháp luật hiện hành; ngăn ngừa và khắcphục có hiệu quả các biểu hiện chia rẽ, phân hóa trong cộng đồng người laođộng; tham gia ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền để xử lý đúng đắn các

vụ tranh chấp trong doanh nghiệp

Trang 32

5- Xây dựng tổ chức đảng.

Cấp ủy đề ra chủ trương, biện pháp xây dựng chi bộ, đảng bộ trongsạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCĐ vàđội ngũ đảng viên, góp phần nâng cao hiệu quả SXKD và sự phát triển củadoanh nghiệp

Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình vàphê bình, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, giữ gìn

sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ; chống những biểu hiện tiêu cực làm ảnhhưởng đến thanh danh của Đảng và đạo đức tư cách của người đảng viên

Giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu, phấn đấu trởthành người lao động giỏi; tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú

Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền và phát triển đảng viên,bảo đảm về tiêu chuẩn và quy trình; chú trọng phát triển đảng viên trẻ, thànhviên trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp và những cán bộ, đoàn viên côngđoàn ưu tú, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ

Xây dựng cấp ủy có năng lực, hoạt động hiệu quả Định kỳ hàng năm,cấp ủy tổ chức để quần chúng tham gia góp ý về sự lãnh đạo của TCĐ, tráchnhiệm và vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên

1.1.3.4 Đặc điểm của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang

Qua nghiên cứu cho thấy TCĐ trong DNTN ở Tỉnh Hà Giang có nhữngđặc điểm sau đây:

- Thứ nhất: Đa số tổ chức đảng đều được thành lập từ khi còn là doanh

nghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa Đặc điểm này vừa có mặt thuận lợi vừa

có mặt khó khăn Thuận lợi là đảng viên và tổ chức đảng ở trong doanhnghiệp và có nề nếp và kinh nghiệm tổ chức hoạt động Sự tồn tại và hoạtđộng của tổ chức đảng đã trở lên bình thường trong doanh nghiệp Nhiệm vụchủ yếu là tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức đảng đã có mà không phải bắtđầu từ gây dựng cơ sở chính trị ban đầu Tuy nhiên, những khó khăn gặp phải

Trang 33

là thói quen, nhận thức, tư duy cũ của cấp ủy đảng viên vẫn còn; Hơn nữa khidoanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa chuyển sang hoạt động dưới hình thứccông ty cổ phần không có vốn nhà nước thì phương thức hoạt động, mô hình

tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của TCĐ đã có sự thay đổi, do vậy những khókhăn trên cần phải khắc phục, chuyển đối cho phù hợp với điều kiện mới

- Thứ hai: Các tổ chức đảng có đảng viên tham gia vào bộ máy lãnh

đạo (HDQT, Ban giám đốc) của doanh nghiệp, đồng thời lắm giữ các chức vụ

bí thư, phó bí thư hoặc là cấp ủy viên Đặc điểm này là một thuận lợi lớn chohoạt động của các TCCSĐ và cho cả việc điều hành, quản lý SXKD của cácDNTN Thực tế cho thấy DNTN nào có chủ doanh nghiệp là đảng viên thì tổchức đảng gặp nhiều thuận lợi trong tổ chức hoạt động, thể hiện được vai tròcủa TCĐ trong doanh nghiệp

- Thứ ba: Các tổ chức đảng có đại bộ phận chủ doanh nghiệp đã được

kết nạp vào đảng từ khi còn là doanh nghiệp nhà nước hoặc trước khi chuyển

về sinh hoạt đảng tại DNTN Thuận lợi ở đây thể hiện ở chỗ, chủ doanhnghiệp là đảng viên đã kinh qua thực tiễn lên có bản lĩnh, có nhiều kinhnghiệm trong công tác đảng cũng như trong hoạt động điều hành, quản lýdoanh nghiệp

- Thứ tư: Về quy mô của các tổ chức đảng nhìn chung quy mô không lớn

lắm Vì phần lớn các doanh nghiệp vẫn ở quy mô vừa và nhỏ, số DNTN lớn cònquá khiêm tốn, trong khi các doanh nghiệp quy mô vừa cũng rất thưa thớt

- Thứ năm: Các tổ chức đảng trong DNTN ở Tỉnh Hà Giang trực thuộc

nhiều đảng bộ khác nhau như Đảng bộ Huyện thị, Thành Phố, Đảng bộ khối

cơ quan tỉnh Đến nay trực thuộc Đảng ủy khối doanh nghiệp (Đảng bộdoanh nghiệp mới được thành lập theo Quyết định số 1139 QĐ/TU, ngày 05tthangs 07 năm 2010 của Ban thường vụ Tỉnh ủy, chính thức vào hoạt động từngày 01 tháng 08 năm 2010)

1.2 PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở TỈNH HÀ GIANG - NỘI DUNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU MỚI ĐẶT RA

Trang 34

1.2.1 Quan niệm về phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp tư nhân ở Tỉnh Hà Giang

Theo từ điển tiếng việt “Phát triển” là vận động, tiến triển theo chiềuhướng tăng lên như: Phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng phát triển sảnxuất [45]

Trong triết học Mác- Lênin, thuật ngữ “phát triển” được định nghĩa nhưsau: phát triển là một phạm trù triết học dùng để khai thác quá trình vận độngtiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện, đếnhoàn thiện hơn Theo quan điểm đó, phát triển là một trường hợp đặc biệt củavận động, là vận động theo khuynh hướng tiến lên, trong quá trình vận động

đó sẽ làm nảy sinh những quy định mới cao hơn về chất, nhờ đó làm tăngcường tính phức tạp của sự vật và của sự liên hệ, làm cho cả cơ cấu tổ chức,phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có của sự vật ngày càng hoànthiện hơn [44, tr.106]

Trong khoa học Xây dựng Đảng, thuật ngữ “phát triển” được hiểu làhình thành ngay từ đầu một tổ chức, một đội ngũ hoạc từ một tổ chức, một độingũ đã có mà củng cố kiện toàn, nâng cao chất lượng nó lên Sự phát triển ấybao gồm sự tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng như phát triểnTCĐ (Đảng bộ cơ sở, Chi bộ cơ sở), phát triển đội ngũ đảng viên, phát triểnđội ngũ cán bộ

Phát triển đội ngũ đảng viên bao gồm hai phương diện chủ yếu là: kếtnạp đảng viên mới và củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện

có Phát triển đội ngũ cán bộ cũng bao gồm bổ xung lực lượng cán bộ mới vànâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hiện có

Từ những vấn đề trên, ta có thể đưa ra quan niệm: Phát triển TCĐ trongDNTN ở Tỉnh Hà Giang là toàn bộ các hoạt động củng, cố kiện toàn nâng cao chấtlượng các TCĐ đã có trong các DNTN và thành lập các TCĐ trong các doanhnghiệp chưa có TCĐ, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với các DNTN

Từ đây ta xác định:

Trang 35

+ Chủ thể tiến hành phát triển TCĐ trong các DNTN ở Tỉnh Hà Giang

là cấp ủy các cấp có liên quan, gồm Tỉnh ủy, Thành ủy, Huyện ủy, Đảng ủykhối doanh nghiệp, TCĐ ở các DNTN

+ Lực lượng phối hợp phát triển TCĐ trong các DNTN ở Tỉnh Hà

Giang gồm các cấp ủy có liên quan và các tổ chức có liên quan trong hệ thốngchính trị cấp Tỉnh, Thành và Huyện giữ vai trò là lực lượng phối hợp chính,các tổ chức đoàn thể là lực lượng nòng cốt trong việc phối hợp đó

+ Mục đích của việc phát triển TCĐ trong các DNTN ở Tỉnh Hà Giang

nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCĐ trong cácDNTN, thành lập các TCĐ trong các doanh nghiệp chưa có TCĐ, Qua đó,tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy khối doanh nghiệp,cấp ủy các cấp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn, bảo đảm cho các doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả, theo đường lối, chủ trương của đảng, chínhsách pháp luật của nhà nước, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương

1.2.2 Nội dung phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang

Thứ nhất: Củng cố và kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các TCĐ và đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân.

* Củng cố và kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các TCĐ gồm:

Hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định về chức năng, nhiệm vụ vàphương thức hoạt động của TCĐ trong DNTN

Xây dựng đội ngũ cán bộ của TCĐ, trọng tâm là kiện toàn nâng caochất lượng hoạt động của các ban chi ủy, đảng ủy, chọn và bố trí đúng bí thưcấp ủy

Củng cố và kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chứcđoàn thể trong doanh nghiệp, bảo đảm cho các đoàn thể phát huy tốt vai tròcủa mình trong doanh nghiệp

* Nâng cao chất lượng và đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên.

Trang 36

Phát triển đảng viên có quan hệ mật thiết với xây dựng, củng cố và pháttriển tổ chức cơ sở đảng Tổ chức cơ sở đảng là những tế bào của Đảng, baogồm những đảng viên tham gia sinh hoạt trong cùng một chi bộ, đảng bộ (gọichung là TCCSĐ) Người đảng viên của Đảng bao giờ cũng tham gia sinhhoạt trong một TCCSĐ nhất định Không bao giờ có TCCSĐ mà lại không cóđảng viên và ngược lại không có một đảng viên nào lại không sinh hoạt trongmột tổ chức đảng nào cả Vì vậy, khi phân tích những vấn đề phát triển đảngviên trong các DNTN luôn đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với TCĐ

và các tổ chức quần chúng trong các DNTN, từ đó làm rõ những nội dungnghiên cứu về đẩy mạnh phát triển đảng viên trong các DNTN

Phát triển đảng viên trong các DNTN là một trong những nhiệm vụ quantrọng của công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác xây dựng Đảng trongcác DNTN nói riêng Trong giai đoạn cách mạng nước ta hiện nay, nhiệm vụnày bao gồm những nội dung công tác chủ yếu như: Tuyên truyền, giáo dụcquần chúng hướng về Đảng làm cho quần chúng tự ý thức và có nguyện vọngphấn đấu vào Đảng để có cơ hội phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước; xem xétkết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng trở thành đảng viên của Đảng Cộngsản; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện tại trong các DNTN

Phát triển Đảng với phát triển đảng viên là hai khái niệm khác nhau,không thể lẫn lộn, để phân biệt, ta có thể hiểu từng khái niệm như sau:

- Phát triển Đảng là khái niệm phổ quát để chỉ sự phát triển của một

chính Đảng trong từng thời kỳ hoặc trong cả quá trình cách mạng, được biểuhiện phát triển trên các mặt công tác như: Công tác tổ chức và cán bộ củaĐảng; công tác đảng viên và tổ chức cơ sở đảng; công tác bảo vệ chính trị nội

bộ của Đảng…

- Phát triển đảng viên là khái niệm chỉ thuần túy về công tác xây dựng,

củng cố và phát triển đảng viên mới của Đảng làm cho Đảng Cộng sản pháttriển không những tăng cường về số lượng đảng viên mà còn phải kết hợp vớikhông ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quá trình xâydựng, củng cố và phát triển Đảng

Trang 37

- Phát triển đảng viên trong các DNTN là khái niệm dùng để chỉ công

tác xây dựng, củng cố và phát triển đảng viên trong các DNTN ở nước ta, baogồm hai nội dung chính sau:

Một là, Phát triển bổ sung thêm về số lượng đảng viên theo hai nguồn

chính là: kết nạp quần chúng ưu tú vào Đảng và tiếp nhận số đảng viên là cán

bộ, công nhân viên trong DNTN hiện đang sinh hoạt đảng ở nơi khác về sinhhoạt tại doanh nghiệp mà đảng viên đó đang lao động

Hai là, phát triển về chất lượng, tức là nâng cao chất lượng đảng viên

hiện có trong các DNTN

Do vậy, đẩy mạnh phát triển đảng viên trong các DNTN là việc đề ra vàthực hiện các giải pháp nhằm tăng cường số lượng và chất lượng đảng viêntrong các DNTN

- Công tác phát triển đảng viên là toàn bộ các hoạt động tạo nguồn lực,

lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, nhằm tăngthêm lực lượng mới cho Đảng, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng,góp phần xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu cách mạng

- Công tác phát triển đảng viên trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang là

toàn bộ các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng,kết nạp những quần chúng ưu tú trong cán bộ, công nhân, viên chức trong cácDNTN vào Đảng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các DNTN

ở địa bàn, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầulãnh đạo cách mạng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng trong những năm qua cho thấy,việc xây dựng, củng cố phát triển các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảngviên trong các DNTN ở nước ta hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt, dù làviệc làm mới, khó và lâu dài nhưng phải được thực hiện nhất quán, tích cực.Chỉ có như vậy mới tiếp tục phát huy vai trò của Đảng trong việc tập hợp,lãnh đạo quần chúng, tạo sự đồng thuận thúc đẩy phát triển SXKD Bảo đảm

Trang 38

hài hòa các lợi ích của chủ doanh nghiệp và người lao động theo quy định củapháp luật, bảo đảm môi trường đầu tư của các doanh nghiệp.

Thứ hai: Thành lập mới TCĐ ở những doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng Tạo điều kiện cho TCĐ hoạt động có hiệu quả.

- Việc Thành lập mới TCĐ ở trong DNTN trước hết cần tập trung ởnhững doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ổn định, có hiệu quả, có đông ngườilao động, có đủ số lượng đảng viên theo đúng quy định của Điều lệ Đảng vàdoanh nghiệp có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Tỉnh

- Ở những doanh nghiệp chưa có đủ số lượng đảng viên để thành lập TCĐtheo quy định của Điều lệ Đảng, cần đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên để

có đủ số lượng đảng viên cần thiết và tiến hành các thủ tục thành lập TCĐ

- Ở những doanh nghiệp chưa có đảng viên cần chú trọng xây dựng vànâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp,nhất là tổ chức công đoàn và đoàn thanh niên, qua đó các đoàn thể sẽ giớithiệu những quần chúng ưu tú để bồi dưỡng kết nạp vào đảng, chuẩn bị cácđiều kiện cần thiết để thành lập TCĐ

- Sau khi TCĐ được thành lập, các cấp ủy, TCĐ cấp trên cần quan tâm lãnhđạo, chỉ đạo và giúp đỡ để các TCĐ trong các DNTN hoạt động có hiệu quả

1.2.2 Những yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển

tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Hà Giang

Phát triển TCĐ trong các DNTN ở tỉnh Hà Giang giai đoạn hiện nay làvấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa có tính cấp bách, vừa là vấn đề lâudài Những yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi phải phát triển TCĐ trong DNTN ởtỉnh Hà Giang có thể khái quát mấy điểm sau đây:

Một là, thực hiễn đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành

phần, mở cửa hội nhập với thế giới, những năm gần đây các DNTN đã có sựphát triển về số lượng, quy mô, ngành nghề sản xuất, kinh doanh và đã cónhững đóng góp quan trọng, huy động có hiệu quả nguồn lực xã hội vào sảnxuất, kinh doanh như: tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sốngnhân dân, tăng thu ngân sách cho địa phương; góp phần giữ vững ổn định

Trang 39

chính trị - xã hội Đồng thời góp phần quan trọng vào việc giải phóng lựclượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng CNH - HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.Nhưng sự phát triển ấy chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa khai thác và pháthuy tốt tiềm năng về nguồn vốn, tài nguyên và lao động

Hai là, Quan điểm của Đảng ta khẳng định, để đảm bảo sự lãnh đạo của

Đảng đối với toàn xã hội, các TCĐ phải được thành lập ở tất cả các cấp, cácngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở đâu có quần chúng thì ở đó cần cóđảng viên và ở đâu có tổ chức thì ở đó có TCĐ để lãnh đạo Sự phát triểnvững mạnh của TCCSĐ là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến sự phát triểnvững mạnh của toàn đảng, sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta Vì vậy,Đảng phải xây dựng tổ chức của mình để làm tròn sứ mệnh lãnh đạo quầnchúng, đưa các DNTN phát triển đúng định hướng XHCN V.I.Lênin khẳngđịnh rằng những người cộng sản phải

Sống trong lòng quần chúng; biết tâm trạng quần chúng Biết tất cả.Biết đến với quần chúng Giành được lòng tin tuyệt đối của quầnchúng Những người lãnh đạo không được tách rời khỏi quần chúng

bị lãnh đạo, đội tiên phong không được tách rời khỏi toàn bộ độiquân lao động [24, tr.608]

Ba là, Các Đại hội Đảng gần đây đều đặt yêu cầu chú ý xây dựng TCĐ,

đoàn thể trong các doanh nghiệp cổ phần, DNTN, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài; xây dựng đội ngũ đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, có ýthức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, năng động sáng tạo,vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Đạibiểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) nhấn mạnh:

Đi đôi với kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước, cần phát triển cơ sởđảng, công đoàn, các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng trongcác doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp tác - liên doanh trongnước và với nước ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh có hiệu

Trang 40

quả, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, ngăn chặn nhữngviệc làm phi pháp [12, tr.41]

Bộ Chính trị (khoá VII) đã ban hành Chỉ thị 07 - CT/TW “Tăng cườngcông tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tưnhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân và doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hànhTrung ương Đảng (khoá IX) “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyếnkhích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” khẳng định: Tăng cường sựlãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhândân và các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ trongcác DNTN có đủ điều kiện: quan tâm thực hiện việc này ngay khi doanhnghiệp bắt đầu hoạt động Đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ trongkhu vực kinh tế tư nhân

Bốn là, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN, trong sự phát triển nền kinh tế thị trường có sự tồn tại, đan xen củacác thành phần kinh tế khác nhau Kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tíchcực, thì những mặt trái của nó cũng không ít, đang hàng ngày, hàng giờ tácđộng đến mọi đối tượng trong xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên của Đảng.Mặt khác trong nền kinh tế thị trường, chạy theo lợi ích vật chất sẽ trở thànhmột trong những động lực chủ yếu của các chủ thể kinh tế khác nhau tham giavào hoạt động kinh tế Vì thế, Phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN không phải làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng mà đặt ra cho Đảngphải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Sự lãnh đạo của đảng tạo

ra sự hài hoà về lợi ích riêng và lợi ích chung, tạo nên mối quan hệ kinh tế thịtrường định hướng XHCN giảm bớt được đối kháng và xung đột lợi ích Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng không chỉ bằng Chủ trương, định hướng, Nghịquyết mà cần có sự hiện diện của TCĐ, đội ngũ đảng viên đông đảo và đảmbảo chất lượng trong tất cả các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chứcSXKD; cần có TCĐ để giáo dục, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên giữ gìn

Ngày đăng: 16/07/2022, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2000), Quy định số 75-QĐ/TW về một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 75-QĐ/TW về mộtsố vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2000
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004), Quy định số 99,100 về chức năng nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các DNTN, doanh nghiệp có vốn Nhà nước liên doanh với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 99,100 về chứcnăng nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các DNTN, doanhnghiệp có vốn Nhà nước liên doanh với nước ngoài
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2004
4. Bộ Chính trị (1996), Chỉ thị 07-CT/TW ngày 23-01-1996 “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 07-CT/TW ngày 23-01-1996 “Tăng cườngcông tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanhnghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1996
7. Nguyễn Tiến Doanh (2009), Phát triển tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, Học viện CT-HCQGHCM, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tổ chức Đảng trong các doanhnghiệp ngoài nhà nước
Tác giả: Nguyễn Tiến Doanh
Năm: 2009
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng1996-1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
12.Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnVII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13.Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương lần thứ 6 (khóa X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp HànhTrung ương lần thứ 6 (khóa X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
17. Nguyễn Đức Hà (2005), Một số vấn đề về xây dựng tổ chức đảng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng tổ chức đảng hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Đức Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Nguyễn Đức Hạt (2004), "Tăng cường tổ chức Đảng, Đoàn thể trong doanh nghiệp ở các KCN", Tạp chí Xây dựng Đảng, (11), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường tổ chức Đảng, Đoàn thể trongdoanh nghiệp ở các KCN
Tác giả: Nguyễn Đức Hạt
Năm: 2004
19.Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Giáo trình Xây dựng Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây dựngĐảng
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. Đăng Minh Huân (2010), "Suy nghĩ về bài: "vào đảng để làm gì?"", Tạp chí Xây dựng Đảng, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bài: "vào đảng để làm gì
Tác giả: Đăng Minh Huân
Năm: 2010
21. Nguyễn Công Huyên (2006), "Vấn đề phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân", Tạp chí Xây dựng Đảng, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển đảng viên trong doanhnghiệp tư nhân
Tác giả: Nguyễn Công Huyên
Năm: 2006
22. Bạch Kim (2004), "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp các KCN", Tạp chí Xây dựng Đảng, (11), tr.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các doanhnghiệp các KCN
Tác giả: Bạch Kim
Năm: 2004
23.V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
24.V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
25.C.Mác - Ph.Ăngghen (1984), Tuyển tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
26.Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w