MỞ ĐẦU Tính cấp thiết đề tài Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta ln quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), xem khâu then chốt tồn hoạt động Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) công nghiệp hóa, đại hóa (CNH, HĐH) đất nước nay, công tác coi trọng nhằm góp phần nâng cao trình độ trí tuệ, lực lãnh đạo sức chiến đấu Đảng Nói tầm quan trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận trị (LLCT) tổ chức hoạt động phong trào cách mạng cho quần chúng nhân dân, V.I Lênin viết: "Không có lý ḷn cách mạng khơng thể có phong trào cách mạng" [40, tr.30] Ngay từ ngày đầu cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng ta coi trọng công tác huấn luyện, giáo dục LLCT cho CB, ĐV bởi "Chỉ Đảng lý luận tiền phong hướng dẫn có khả làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong" [40, tr.32] Vì vậy, cơng tác đào tạo, bồi dưỡng CB, ĐV ngày phát triển có nhiều đóng góp tích cực cho thắng lợi chung nghiệp cách mạng nước ta Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng CB, ĐV ở nước ta, Trung tâm Bồi dưỡng trị (BDCT) cấp huyện đơn vị nghiệp Đảng Nhà nước ở địa phương, có chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, ĐV, cán HTCT sở LLCT, QLNN, nghiệp vụ cơng tác đảng, quyền, đồn thể Trung tâm BDCT cấp huyện không công cụ quan trọng để truyền bá hệ tư tưởng, quan điểm đường lối Đảng, phổ biến sách pháp luật Nhà nước đến CB, ĐV nhân dân, góp phần tăng cường đoàn kết, củng cố niềm tin nhân dân lãnh đạo Đảng Đặc biệt giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH nay, Trung tâm BDCT cấp huyện có vị trí vai trò quan trọng việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho địa phương Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn, động, sáng tạo, thích nghi nhanh hoạt động có hiệu chế thị trường; dẫn đầu nước mức GDP bình quân đầu người thực cải cách hành (CCHC) nên Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố (TP.) Hồ Chí Minh quan tâm đến xây dựng nguồn nhân lực phục vụ chủ trương, sách lớn phát triển kinh tế nhanh bền vững, đáp ứng yêu cầu nghiệp CNH, HĐH
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm công tác đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), xem đây là một trong nhữngkhâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của mình Trong điều kiện Đảng cầmquyền, lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN) và công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước hiện nay,công tác này càng được coi trọng hơn nhằm góp phần nâng cao trình độ trítuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Nói về tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luậnchính trị (LLCT) trong tổ chức các hoạt động phong trào cách mạng cho quầnchúng nhân dân, V.I Lênin đã viết: "Không có lý luận cách mạng thì cũngkhông thể có phong trào cách mạng" [40, tr.30] Ngay từ những ngày đầu củacách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã luôn coi trọngcông tác huấn luyện, giáo dục LLCT cho CB, ĐV bởi "Chỉ Đảng nào đượcmột lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến
sĩ tiền phong" [40, tr.32] Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng CB, ĐV ngàycàng phát triển và có nhiều đóng góp tích cực cho thắng lợi chung của sựnghiệp cách mạng nước ta
Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng CB, ĐV ở nước ta, các Trung tâmBồi dưỡng chính trị (BDCT) cấp huyện là đơn vị sự nghiệp của Đảng và Nhànước ở địa phương, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, ĐV, cán bộtrong HTCT cơ sở về LLCT, QLNN, nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền,đoàn thể Trung tâm BDCT cấp huyện không chỉ là công cụ quan trọng đểtruyền bá hệ tư tưởng, các quan điểm đường lối của Đảng, phổ biến chínhsách và pháp luật Nhà nước đến CB, ĐV và nhân dân, góp phần tăng cườngđoàn kết, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng Đặc
Trang 2biệt trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay, Trung tâm BDCT cấphuyện có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực cho địa phương
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật lớn, năng động, sángtạo, thích nghi nhanh và hoạt động có hiệu quả trong cơ chế thị trường; dẫnđầu cả nước về mức GDP bình quân đầu người và thực hiện cải cách hànhchính (CCHC) nên Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố (TP.) HồChí Minh rất quan tâm đến xây dựng nguồn nhân lực phục vụ các chủ trương,chính sách lớn về phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu sựnghiệp CNH, HĐH
Ngày 3/6/1995 Ban Bí thư Trung ương (TW) khóa VII ban hànhQuyết định số 100-QĐ/TW về việc tổ chức Trung tâm BDCT ở cấp huyện, đãtạo điều kiện thuận lợi cho các Trung tâm BDCT hoạt động tốt hơn và trởthành bộ phận không thể thiếu của hệ thống trường Đảng (nay là hệ thốngtrường Chính trị) Đặc biệt, ngày 03/9/2008 Ban Bí thư ra Thông báo số 181-TB/TW kết luận về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của trườngchính trị cấp tỉnh và Trung tâm BDCT cấp huyện; ban hành Quyết định 185-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCThuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã đặt ra các yêu cầu mới đối vớicông tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT cấp huyện và là cơ sở
để các Trung tâm phát huy tốt hơn vai trò, chức năng của mình trong giaiđoạn hiện nay
Thực hiện Quyết định số 100/QĐ-TW của Ban Bí thư TW (khóa VII),Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh có quyết định số 210/QĐ-TUngày 27/10/1995 về việc tổ chức các Trung tâm BDCT quận, huyện Với chứcnăng, nhiệm vụ được quy định khá rõ ràng và cụ thể, các Trung tâm BDCTquận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Trung tâm) đã ra đời vàthực hiện có hiệu quả các chương trình được phân cấp; phối hợp tổ chức
Trang 3nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về LLCT, chuyên môn nghiệp vụ (CMNV) chođội ngũ CB, ĐV, cán bộ trong hệ thống chính trị (HTCT) quận, huyện và cơsở; trực tiếp tổ chức các lớp bồi dưỡng trên nhiều lĩnh vực đáp ứng yêu cầuthực tế của địa phương góp phần nâng cao nhận thức chính trị, CMNV vànăng lực hoạt động thực tiễn cho HTCT, tăng cường đoàn kết, giữ vững ổnđịnh chính trị và củng cố lòng tin của CB, ĐV và nhân dân đối với sự lãnhđạo của Đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và chất lượng công tácxây dựng, chỉnh đốn Đảng của các đảng bộ cơ sở, địa phương và Thành phố
Tuy nhiên, chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâmBDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh nhìn chung chưa cao; còn nhiều hạnchế, bất cập về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, về đầu tư
cơ sở vật chất, về chế độ chính sách, về năng lực của đội ngũ giảng viên vàcán bộ Trung tâm … Vì vậy, việc nghiên cứu chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh để đề xuấtcác giải pháp nâng cao chất lượng công tác này là một vấn đề thời sự, cấpbách, vừa có ý nghĩa về lý luận vừa có ý nghĩa về thực tiễn đối với công tácđào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm trong giai đoạn hiện nay
Là cán bộ công tác tại Trung tâm BDCT Quận 10 ở TP Hồ Chí Minh,
tôi chọn đề tài “Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn vận dụng kiến
thức đã học vào phục vụ công tác, góp phần nâng cao chất lượng công tácđào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ ChíMinh từ nay đến 2020
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được sựquan tâm của nhiều nhà lãnh đạo, các cấp ủy đảng và các nhà khoa học từ
TW đến cơ sở Có nhiều đề tài cấp nhà nước, nhiều luận văn, luận án, hội
Trang 4nghị, hội thảo khoa học, bài viết đăng trên các sách, tạp chí bằng các cáchtiếp cận khác nhau với nội dung phong phú, đa dạng đã đề cập đến vấn đềnày, cụ thể như:
2.1 Nhóm các đề tài khoa học
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1991-1995 “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”, mã số KX.05.11 do PGS.TS Trần Xuân Sầm làm Chủ nhiệm.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1996-2000 “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, mã số
KHXH.05.03 do GS.TS Nguyễn Phú Trọng làm Chủ nhiệm
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, mã số KX.03.02 do GS.TS Vũ Văn Hiền làm Chủ nhiệm
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 “Vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, mã số KX.03.04 do GS.TS Mạch Quang Thắng
2.2 Nhóm các luận văn, luận án
- Vũ Xuân Quảng, "Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, phường, thị trấn ở Trường chính trị Thái Bình hiện nay", Luận văn thạc sỹ
Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001
- Thiều Quang Nhàn, "Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng
Trang 5và giải pháp ", Luận văn thạc sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003
- Nguyễn Trung Trực, "Chất lượng công tác đào tạo cán bộ của hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn ở Trường Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sỹ Khoa học chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005
- Nguyễn Thị Bích Hường, “Chất lượng đào tạo cán bộ chủ chốt của
hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn ở Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006
- Trịnh Thị Hoa, “Chất lượng hoạt động của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện, thị xã, thành phố ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008
2.3 Nhóm các bài viết báo, tạp chí, sách
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học và các luận văn, luận án,luận văn cũng đã tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trìnhnghiên cứu của các tác giả được đăng trên các tạp chí chuyên ngành nhưTạp chí Cộng sản, Tạp chí Công tác tư tưởng-Văn hóa, Tạp chí Xây dựngĐảng, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, Tạp chí Lý luận chínhtrị… như:
- Lê Kim Việt, "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 24 năm 1999.
- Nguyễn Phú Trọng, “Tạo bước chuyển biến mới trong việc học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Cộng sản số 11 năm 1999.
- Vũ Ngọc Am, “Xây dựng đội ngũ cán bộ của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện (quận)”, Tạp chí Công tác tư tưởng-Văn hóa số 2
năm 2000
Trang 6- Trần Thị Hương, “Đào tạo cán bộ xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 9 năm 2004
- Vũ Thùy Linh, “Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên ở cơ sở của tỉnh Hải Dương - Thực trạng và kinh nghiệm”, Tạp chí
Thông tin công tác Tư tưởng, lý luận, số 4 năm 2006
- Trần Khắc Việt, “Đào tạo lý luận sao cho thiết thực”, Tạp chí Lý
luận chính trị, số 6 năm 2006
- Vũ Ngọc Am, “Tăng cường cơ sở vật chất- yếu tố đảm bảo nâng cao chất lượng các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện”, Tạp chí Công tác
Tư tưởng lý luận, Số 6, năm 2007
- Nguyễn Thị Thu Hà, “Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ của thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu mới”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5
năm 2010
Có thể nói, những công trình nghiên cứu nêu trên với nội dungphong phú, phù hợp với phạm vi và mục tiêu cho từng đề tài đã góp phầnlàm rõ nhận thức đúng đắn, khoa học về vị trí, vai trò và tính tất yếu củacông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đã mang lại những đóng góp đáng kểlàm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách về đào tạo, bồidưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có côngtrình nào đề cập trực tiếp một cách có hệ thống hoặc nghiên cứu chuyênsâu về lý luận và thực tiễn của chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của cácTrung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay Dovậy, đối với tác giả, đây là vấn đề mới, nhiều khó khăn, phức tạp, rất cầnphải có nhiều tâm huyết và dày công nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này,cần kế thừa những yếu tố hợp lý từ thành quả của các công trình nghiêncứu khoa học đi trước, trực tiếp lý giải về lý luận và thực tiễn những vấn đềcần làm sáng tỏ thêm về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của cácTrung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay, từ đó
đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào
Trang 7tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh từnay đến năm 2020
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh,luận văn đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh từ
nay đến năm 2020.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra nhiệm vụ sau:
Một là, khái quát về quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh; làm rõ vị
trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP
Hồ Chí Minh và đặc điểm học viên tham gia chương trình đào tạo, bồi dưỡngcủa các Trung tâm BDCT quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
Hai là, xác định rõ quan niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng công tác
đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh
Ba là, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng của Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh từ năm
1995 đến nay
Bốn là, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi
dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh từ nay đếnnăm 2020
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên nghiên cứu cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên; thực trạng chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP HồChí Minh từ năm 1995 đến nay
Trang 84.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: lịch sử và lôgic;điều tra, khảo sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, gắn lý luận với thực tiễn,phương pháp chuyên gia và đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCTquận, huyện ở TP Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát thực tế từ năm 1995 (khi bắt đầu thành lập các Trung tâm) đến nay và đề ra phương hướng, giải pháp đến năm 2020
6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò, nhiệm vụ và đặc điểm công tác đào tạo, bồidưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh
- Xác định tiêu chí đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng củacác Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh từ nay đếnnăm 2020
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cácTrung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh; cho việc học tập, nghiêncứu môn xây dựng Đảng ở các trường Chính trị
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 9Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ QUẬN, HUYỆN Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
-NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẬN, HUYỆN; TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ QUẬN, HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HỌC VIÊN THAM DỰ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HIỆN NAY
1.1.1 Khái quát về quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.1.1 Khái lược về Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong tọa độđịa lý khoảng 10010’ - 10038’ vĩ độ Bắc và 106022’ - 106054’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và ĐôngBắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và TâyNam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Thành phố có độ cao trung bình caohơn 6m so với mực nước biển Bề mặt địa hình cao ở vùng Bắc - Đông vàthấp ở vùng Nam - Tây Nam Khí hậu ôn hòa quanh năm, sự chênh lệch nhiệt
độ giữa các mùa không quá lớn, dường như không có bão hay lũ lụt Với vị tríđịa lý đặc biệt và điều kiện tự nhiên thuận lợi, thành phố đã và đang là trungtâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vai trò đầu tàu trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của vùng và quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộcTrung ương, đứng đầu cả nước về dân số Về mặt hành chính, thành phố đượcchia thành 19 quận và 5 huyện Toàn thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp
xã, phường, bao gồm: 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn Thành phố có diện tích
tự nhiên 2.095,01 km², (chiếm 0,67% diện tích cả nước), trong đó các quậnnội thành chiếm 6,7%, 5 quận mới chiếm 14,3%, còn lại các huyện chiếm
Trang 1079% diện tích Khu vực đô thị hay còn gọi là khu vực nội thành chia thànhquận; quận chia thành phường; dưới phường là các tổ dân phố Khu vựcngoại thành chia thành huyện; huyện chia thành xã, thị trấn; dưới xã là các
ấp có tổ tự quản nhân dân; dưới thị trấn là các tổ dân phố Đảng bộ TP HồChí Minh có 2.762 tổ chức cơ sở đảng với 156.377 đảng viên, (trong đó51.918 nữ), Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố nhiệm kỳ IX gồm 69 đồngchí; Hội đồng nhân dân Thành phố nhiệm kỳ 2004 - 2011 gồm 95 đại biểu,trong đó có 10 đại biểu chuyên trách
Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về tốc độ đô thị hóa Đô thịhóa ở Thành phố trong thời gian qua đã diễn ra trong không gian rộng lớn cảở nội đô và ven đô Trong quá trình này, vùng ven đô Thành phố (gồm cácquận Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức và huyện Hóc Môn, Nhà Bè,Bình Chánh) là nơi chịu sự tác động trực tiếp của làn sóng di dân từ nôngthôn ra thành thị và cũng là nơi diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ Theokết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm
2009 thì dân số Thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số cả nước),
mật độ trung bình 3.419 người/km² Tuy nhiên, nếu tính những người cư trúkhông đăng ký thì dân số thực tế của Thành phố vượt trên 8 triệu người.Lượng dân cư này tập trung chủ yếu trong nội thành, gồm 5.881.511 người,mật độ lên tới 11.906 người/km² Trong khi đó các huyện ngoại thành chỉ có1.281.353 người, mật độ 801 người/km² Như vậy, mức độ tập trung dân cưcủa Thành phố không đồng đều giữa nội và ngoại thành Khu vực ngoại thànhcó diện tích rộng hơn nhiều lần so với nội thành nhưng mật độ dân số trungbình thấp hơn ở nội thành xấp xỉ 15 lần Các dân tộc chủ yếu sinh sống ở đâygồm: dân tộc Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm
Thành phố có vị trí và vai trò đặc biệt trong mối quan hệ khu vực, làTrung tâm công nghiệp, khoa học - công nghệ, thương mại, tài chính, dịch vụ,giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước Sự phát triển của Thành phố trong
Trang 11thời gian qua đã chứng tỏ vai trò của nó trong quá trình phát triển vùng vàquốc gia Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Thành phố vẫn giữ mức tăngtrưởng hơn 10%/năm, cao hơn 1,5 lần so với cả nước, tạo ra khoảng 25%GDP, 30% sản lượng công nghiệp, là nơi thu hút đầu tư nước ngoài vào loạinhiều nhất và đã góp phần đắc lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước Làmột trong những đô thị lớn trong cả nước, trung tâm kinh tế, văn hóa, khoahọc, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, mỗi thuận lợi hay khókhăn, mỗi thành công hay không thành công, mỗi bước đi nhanh hay chậm,bền vững hay thiếu bền vững của Thành phố đều có ảnh hưởng trực tiếp đếnnhịp phát triển chung của khu vực và cả nước.
1.1.1.2 Đặc điểm quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trước ngày 6-1-1997, TP Hồ Chí Minh có 12 quận và 6 huyện với
258 phường, 59 xã và 6 thị trấn N gày 6-1-1997 của Thủ tướng Chính phủban hành Nghị định số 30/1997/NĐ-CP về thành lập các quận và phường mớitại, mở đầu việc "Quy hoạch tổng thể phát triển Thành phố đến năm 2020",theo đó 5 quận mới được thành lập do tách một số xã từ 3 Huyện Thủ Đức,Nhà Bè và Hóc Môn gồm: Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức (từ Huyện ThủĐức), Quận 7 (từ Huyện Nhà Bè) và Quận 12 (từ Huyện Hóc Môn) Đến cuốinăm 2003, Thành phố điều chỉnh lại địa giới Quận Tân Bình và Huyện BìnhChánh theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP, thành lập 2 quận mới là Tân Phú
và Bình Tân trên cơ sở tách một số phường, xã của Quận Tân Bình và HuyệnBình Chánh
Như vậy, trong quá trình phát triển, nội thành Thành phố luôn được mởrộng Nếu như trước năm 1997, Thành phố chia thành bốn cụm riêng biệt là:các quận trung tâm (gồm Quận 1, 3, 5, 10), quận nội thành (gồm Quận 4, 6,
11, Phú Nhuận), quận ven (gồm Quận 8, Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp) vàcác huyện ngoại thành (gồm huyện Nhà Bè, Hóc Môn, Thủ Đức, Củ Chi,Bình Chánh, Cần Giờ) thì nay chỉ còn 3 khu vực chính là nội đô, quận ven và
Trang 12các huyện ngoại thành Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã làm thayđổi diện mạo Thành phố Một trong những thay đổi dễ nhận ra là việc chiatách, thành lập các quận mới, dẫn đến sự ra đời các phường mới trên cơ sởtách, nhập, chuyển đổi địa giới hành chính các xã trước đây Với nhữngchuyển biến về kinh tế - xã hội, các quận ven đã và đang dần chuyển thànhnội đô, các huyện ngoại thành chuyển thành vùng ven là xu thế tất yếu Tuynhiên, một số quận nội đô và các huyện ngoại thành hiện nay còn nhiều khókhăn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cung ứng dịch vụ đô thị; một số quận mới,sau khi đô thị hóa phải đối mặt với những vấn đề bức xúc như tái nghèo, thấtnghiệp, ô nhiễm môi trường, QLNN về dân cư… yêu cầu cần được giải quyết
để nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống cho người dân
Điểm khác nhau giữa quận và huyện ở TP Hồ Chí Minh thể hiện ởcác mặt chủ yếu sau:
- Vị trí, vai trò: các quận nằm trong nội thành là nơi diễn ra mạnh mẽcác hoạt động kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, là nơi đặt công sở, vănphòng các cơ quan đầu não của Thành phố và các cơ quan đại diện của Trungương ở phía Nam, của các doanh nghiệp lớn thuộc các thành phần kinh tế vàcủa nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới Do vậy, đây còn là hạt nhân vàđộng lực thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, của vùng, của tỉnh, thành phố
- Kinh tế ở các quận mang tính chất đa ngành, chủ yếu là phi nôngnghiệp, tập trung trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao, là nguồn thu chủ yếu củangân sách địa phương; kinh tế ở các huyện chủ yếu là nông nghiệp và tiểuthủ công nghiệp
- Dân cư: Quận có mật độ dân số cao, thành phần dân cư đa dạng,phức tạp, không thuần nhất; phong tục, tập quán và lối sống khác nhau; cótrình độ dân trí cao hơn ở ngoại thành Ở một số quận, dân ngụ cư khôngchính thức và dân vãng lai chiếm tỷ lệ đáng kể (quận 12, Bình Tân, Gò
Trang 13Vấp), vì thế quản lý dân cư đô thị khó khăn và phức tạp hơn so với ngoạithành Dân cư ngoại thành thuần nhất, gắn kết với nhau từ lâu đời, tạo nênnhững bản sắc, phong tục, tập quán riêng
- Lối sống: dân cư nội thành có nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần
phong phú, đa dạng, tư duy năng động, sáng tạo, dễ thích nghi; trong khi dân
cư ngoại thành có nhu cầu tương đối đơn giản, lối sống chất phác, thật thà,chịu khó, có ý chí khắc phục khó khăn để vươn lên trong cuộc sống,
- Cơ sở hạ tầng ở các quận tốt hơn, tập trung nhiều điểm vui chơi công
cộng, nhiều công trình an ninh, quốc phòng Vì thế, các quận là nơi thườngxuyên diễn ra nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòngquan trọng của Trung ương và địa phương
Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, ngày càng nhiều khu chế xuất, khucông nghiệp ra đời góp phần giải quyết việc làm và di dời các cơ sở sản xuất
ra các quận ven và ngoại thành (Quận 7, 9, 12, Thủ Đức, huyện Củ Chi);nhiều khu dân cư mới, hiện đại hình thành ở các quận mới (Quận 2, 7, ThủĐức) và ngoại thành (huyện Bình Chánh) góp phần giải quyết vấn đề bức xúc
về việc làm, nhà ở, ô nhiễm môi trường cho nội thành Thành phố
Với mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị vừavăn minh, hiện đại, vừa giàu bản sắc dân tộc và phát triển bền vững, trongtương lai mô hình phát triển thành phố sẽ được gắn kết với hệ thống các đô thị
vệ tinh thuộc các tỉnh lân cận (Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh,
Bà Rịa - Vũng Tàu) Hướng phát triển chính của Thành phố là về phía ĐôngBắc từ Thủ Đức đến Thuận An (Bình Dương), Biên Hòa (Đồng Nai); về phíaNam và Đông Nam tiến ra biển, gắn với Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ và đôthị mới Nhơn Trạch - Long Thành Ngoài ra, còn có hướng phụ khác là TâyBắc với Hóc Môn, Củ Chi, dọc quốc lộ 22 và trục xuyên Á nối Tây Ninh,Campuchia; trung tâm Thành phố cũng được mở rộng qua Thủ Thiêm nhằmkhai thác lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và môi trường
Trang 14Hệ thống trung tâm dịch vụ của Thành phố được tổ chức theo hướng đatrung tâm, bao gồm trung tâm hành chính, thương mại, ngân hàng, văn hóađược bố trí tại quận 1, 3, 5, 10, Bình Thạnh và mở rộng về Thủ Thiêm vớidiện tích khoảng 1.700 ha Các trung tâm khu vực được bố trí tại các cửa ngõthành phố như khu A của Nam Sài Gòn, quận 9, quận 12, huyện Bình Chánh.Các trung tâm chuyên ngành: trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế,văn hóa, thể dục - thể thao sẽ được nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới phùhợp với quy hoạch của thành phố, trong đó có khu Đại học Quốc gia (ThủĐức) 800 ha, khu thể dục - thể thao Rạch Chiếc 400 ha, khu lịch sử - văn hóa
- du lịch 400 ha Hệ thống công viên cây xanh sẽ tập trung khai thác cảnhquan sông Sài Gòn, Đồng Nai và các sông rạch lớn khác Bảo tồn các côngviên hiện hữu (235 ha), cải tạo kênh rạch, tăng chỉ tiêu cây xanh vùng nộithành (2m2/người), nội thành mới và đô thị ngoại thành (17m2/người), tạo các
hồ chứa nước lớn, khai thác kênh rạch tự nhiên, hình thành các vành đai, hànhlang xanh, bảo tồn rừng tại Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh
Dù cho có sự khác nhau như đã nêu trên nhưng các quận và huyện của
TP Hồ Chí Minh đều thành lập các tổ chức trong HTCT gồm: Đảng bộ,Chính quyền, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ,Hội Cựu chiến binh; riêng các quận mới (Quận 2, 7, 9, Thủ Đức, Bình Tân)
và các huyện có thêm Hội Nông dân Việc thực hiện thí điểm không tổ chứcHội đồng nhân dân (HĐND) theo Nghị quyết số 724/2009/NQ-UBTVQH12ngày 16/1/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đặt ra một số yêu cầumới đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ trong HTCT ở cơ sở
Các Đảng bộ quận, huyện chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Đảng
bộ Thành phố, có nhiệm vụ cụ thể hóa nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng
bộ Thành phố, đồng thời lãnh đạo cơ sở một cách trực tiếp, toàn diện trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần đảm bảo hoạt động của các tổ chứctrong HTCT từ Trung ương đến cơ sở luôn được liên tục và thống nhất Trong
Trang 15bối cảnh phát triển "Thành phố mở" trong tương lai, mỗi quận, huyện có vaitrò quan trọng, là "mắt xích" trung tâm trong mạng lưới chùm đô thị và là "hạtnhân" góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của thành phố.
1.1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm Trung tâm bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.2.1 Khái quát về các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhận thức tầmquan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, ĐV đáp ứng yêu cầunhiệm vụ mới của cách mạng, Ban Bí thư TW Đảng (khóa IV) đã ra chỉ thịxây dựng hệ thống giáo dục LLCT cơ bản ở các tỉnh phía Nam, mở rộng việcgiáo dục LLCT cơ bản trong cả nước Đến cuối năm 1979, hệ thống trườngĐảng quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh được thành lập, là một bộ phận củaBan Tuyên giáo, có nhiệm vụ bồi dưỡng LLCT, thông tin tuyên truyền đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước cho đảng viên trên địa bàn
Ngày 16/4/1988, Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh ra quyếtđịnh số 30/QĐ-TVTU về việc sắp xếp tổ chức lại bộ máy cấp quận, huyện;theo đó, các Trung tâm Giáo dục chính trị gồm trường Đảng và bộ phận làmcông tác tuyên truyền của Ban Tuyên giáo (BTG) được thành lập và là đơn vị
sự nghiệp trực thuộc BTG Trung tâm Giáo dục chính trị có nhiệm vụ nhưtrường Đảng trước đây, nhưng đối tượng bồi dưỡng được mở rộng hơn, khôngchỉ riêng đảng viên mà còn có cả cán bộ, công nhân viên và đội ngũ cán bộtuyên truyền viên cơ sở theo sự phân cấp của BTG Thành ủy
Đến năm 1993, Trung tâm Giáo dục chính trị đổi tên thành Trung tâmBồi dưỡng cán bộ, vẫn là một bộ phận (đơn vị sự nghiệp) trực thuộc BTG, cóchức năng giúp cấp ủy, UBND quận, huyện trong việc tổ chức bồi dưỡngLLCT, phổ biến thời sự, chính sách, bồi dưỡng công tác xây dựng Đảng, côngtác vận động quần chúng, công tác QLNN và những kiến thức, nghiệp vụ
Trang 16khác cho CB, ĐV và công nhân viên không thuộc đối tượng đào tạo tập trungcủa Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ Lúc này, Trung tâm chịu sự lãnh đạo,chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Ủy viên thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo;chương trình LLCT phổ thông và chương trình lý luận cơ bản là các chươngtrình được phân cấp cho Trung tâm; nhân sự gồm có giám đốc (là phó BanTuyên giáo), 1 phó giám đốc và 1 cán bộ giáo vụ và nhân viên phục vụ, tất cảđều là cán bộ nhân viên của BTG.
Trên thực tế, bước vào những năm đầu của công cuộc đổi mới, sự tan rãcủa chế độ XHCN ở Liên xô và các nước Đông Âu đã tác động, ảnh hưởnglớn đến hoạt động của trường Đảng cấp huyện và công tác giáo dục LLCT ở
cơ sở gặp nhiều khó khăn Để tháo gỡ khó khăn này, ngày 3/6/1995, Ban Bíthư TW (khóa VII) đã ra quyết định số 100-QĐ/TW về việc tổ chức cácTrung tâm BDCT cấp huyện, một mặt để thống nhất mô hình tổ chức giáo dụcLLCT cấp huyện trong cả nước “Mỗi quận, huyện, thị xã và thành phố trựcthuộc tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Trung tâm Bồidưỡng Chính trị huyện (quận, thị xã, thành phố) Những nơi có trường đảnghuyện hoặc Trung tâm giáo dục chính trị, hoặc những hình thức tổ chức khácnay tổ chức lại thành Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị theo Quyết định này”[3] Mặt khác, Quyết định này đã cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ và tạo cácđiều kiện khác đảm bảo cho các Trung tâm BDCT hoàn thành nhiệm vụ củamình Ngày 26/8/1995, Ban Tổ chức, Ban Tư tưởng - văn hóa Trung ương đãcó hướng dẫn liên ban số 08-TC-TTVH/TW để thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW đã tạo cơ sở cho việc kiện toàn bộ máy tổ chức và điều kiện thuận lợicho hoạt động của các Trung tâm BDCT
Thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW và xác định tầm quan trọng củacông tác đào tạo bồi dưỡng CB, ĐV trong thời kỳ đổi mới, ngày 27 tháng 10năm 1995, Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh ban hành Quyết định
số 210-QĐ/TU về tổ chức Trung tâm BDCT quận, huyện; xác định Trung tâm
Trang 17là đơn vị sự nghiệp trực thuộc quận, huyện ủy và UBND quận, huyện; cóchức năng, nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng chính trị, các chỉ thị, nghị quyết củaĐảng, pháp luật của nhà nước, kiến thức và nghiệp vụ công tác xây dựngđảng, đoàn thể cho CB, ĐV và quần chúng trên địa bàn theo sự phân công,phân cấp quản lý cán bộ; bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng; thông tin thời sự,chính sách cho đội ngũ báo cáo viên cơ sở Các quận, huyện ủy đã nhanhchóng triển khai trong Ban chấp hành Đảng bộ và giao cho Ban Tổ chức,phòng Tổ chức chính quyền (nay là Phòng Nội vụ), BTG cùng với Trung tâmbồi dưỡng cán bộ xây dựng đề án thành lập Trung tâm BDCT trên cơ sởTrung tâm bồi dưỡng cán bộ trước đây
Từ năm 1995 - 1997, Thành phố có 18 Trung tâm BDCT ứng với 18quận, huyện; 14/18 Giám đốc Trung tâm do Trưởng BTG kiêm nhiệm, 4/18Giám đốc Trung tâm là Phó trưởng BTG Từ 1997 - 2000, Trung tâm BDCTQuận 2, 7, 9 và 12 được thành lập; đến 2003, Trung tâm BDCT quận BìnhTân và Tân Phú được thành lập, nâng tổng số Trung tâm BDCT quận, huyệnở Thành phố Hồ Chí Minh lên 24 [57]
Trước khi có Quyết định 100-QĐ/TW của Ban Bí thư (khóa VII) việcnhập, tách, đổi tên hệ thống trường Đảng làm cho công tác đào tạo, bồi dưỡngcủa các Trung tâm bồi dưỡng cán bộ gặp nhiều khó khăn Tuy vẫn duy trì vàphát huy vai trò song chưa có những văn bản của TW quy định cụ thể về chứcnăng nhiệm vụ, tổ chức nhân sự, chế độ chính sách nên các Trung tâm bồidưỡng cán bộ quận, huyện chưa thật sự đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triểnmới của đất nước Khi triển khai Quyết định 100-QĐ/TW, các Trung tâm vẫngặp nhiều khó khăn do chưa có các văn bản Nhà nước thể chế hóa Quyết địnhtrên các lĩnh vực như: tổ chức bộ máy, kinh phí hoạt động, chế độ chínhsách… nên các cơ quan chức năng (Tổ chức chính quyền, Tài chính - kếhoạch - đầu tư)… không thể thực hiện theo những quy định của Quyết địnhnày, các Trung tâm khó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định
Trang 18Trước thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, cả nước đã hình thành hệthống giáo dục LLCT với mô hình là trường Đảng cấp huyện đi vào hoạtđộng với những mức độ khác nhau, nhưng có tác dụng rất lớn trong việc nângcao nhận thức LLCT cho đội ngũ CB, ĐV ở cơ sở Từ đó đến nay, công tácgiáo dục LLCT cho CB, ĐV ở cơ sở đã có bước chuyển biến tích cực và đạtđược những kết quả quan trọng, nhu cầu học tập LLCT trong CB, ĐV ngàycàng tăng đòi hỏi cần có một tổ chức đáp ứng yêu cầu này Quyết định 100-QĐ/TW của Ban Bí thư TW (khóa VII) ra đời đã tạo điều kiện cho các Trungtâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh kiện toàn bộ máy tổ chức và pháthuy vai trò trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, ĐV ở cơ sở.
1.1.2.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
Sau bảy năm thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW Ban Bí thư (khóa VII),liên Ban Tổ chức TW - Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương có Hướng dẫn số2098-HD/TC-TTVH về sửa đổi bổ sung Hướng dẫn 08-HD/TC-TTVH chophù hợp yêu cầu thực tế Trên cơ sở đó, Thành ủy đã ban hành Quyết định640-QĐ/TU về tổ chức Trung tâm BDCT quận, huyện nhằm đáp ứng yêu cầunhiệm vụ chính trị của địa phương trong tình hình mới Quyết định đã xácđịnh chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT là đơn vị sự nghiệp giáo dục,có vị trí như phòng, ban và trực thuộc quận, huyện ủy; biên chế của Trungtâm từ 5 - 7 cán bộ Trên cơ sở đó, các quận, huyện ủy đã ra quyết định về tổchức Trung tâm BDCT, xác định chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và tổchức bộ máy nhân sự gồm 1 giám đốc chuyên trách, 1 đến 2 phó giám đốc,các chức danh giáo vụ, hành chính, kế toán, thủ quỹ, bảo vệ, phục vụ… đồngthời củng cố, tuyển chọn và ra quyết định công nhận đội ngũ giảng viênchuyên trách và giảng viên kiêm chức của Trung tâm Đây là điều kiện đểhoạt động của các Trung tâm đi vào chiều sâu, mở rộng phạm vi đối tượng tácđộng đáp ứng yêu cầu thực tiễn của địa phương và cơ sở
Trang 19Ngày 03/9/2008, Ban Bí thư TW (khóa X) ra Quyết định số185-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCThuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, chức năng của Trung tâm BDCTcấp huyện được mở rộng hơn Một số nội dung hoạt động mới được quy địnhlà: tổ chức đào tạo về sơ cấp lý luận chính trị - hành chính, bồi dưỡng kiếnthức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ đòi hỏi phải được nhận thức đúngđắn hơn Yêu cầu chung của chương trình sơ cấp lý luận chính trị - hànhchính là phải tổ chức có hiệu quả, thiết thực vì đây là kênh phổ cập thế giớiquan, nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước và các kỹ năng cơ bản về hành chính Với yêucầu cập nhật kiến thức mới, xây dựng kỹ năng cho cán bộ, công chức cần thiếtphải xây dựng chế độ bồi dưỡng chuyên môn hàng năm cho tất cả các đốitượng trong HTCT của quận, huyện và phường, xã.
Căn cứ quyết định số 185-QĐ/TW của Ban Bí thư (khóa X), Hướngdẫn số 29-HD/BTCTW-BTGTW ngày 27/7/2009 của Ban Tổ chức TW vàBTG TW, căn cứ Quyết định 1853-QĐ/BTGTW ngày 04/3/2010 của BanTuyên giáo TW về ban hành quy chế giảng dạy và học tập của Trung tâmBDCT huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ngày 24/8/2010, Thành ủy
TP Hồ Chí Minh ban hành quyết định số 1816-QĐ/TU về chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCT quận, huyện; xác định Trung tâmBDCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc quận, huyện ủy và UBND quận, huyện,đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của BTV quận, huyện ủy vàchịu sự hướng dẫn về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng của BTGThành ủy Như vậy, Quyết định 1816-QĐ/TU của Thành ủy đã xác định rõ vịtrí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và mối quan hệ của các Trungtâm với cấp ủy, chính quyền cùng cấp và với BTG Thành ủy Quyết định xácđịnh 5 nhiệm vụ của Trung tâm BDCT gồm:
Trang 20Một là, đào tạo sơ cấp lý luận chính trị - hành chính và kiến thức
QLNN; bồi dưỡng các chương trình LLCT cho các đối tượng theo quy định;các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho CB,
ĐV và nhân dân trên địa bàn quận, huyện
Hai là, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ
công tác xây dựng Đảng, QLNN, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội vàmột số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng gồm cấp ủy viên cơ sở, ủy viên ủy bankiểm tra cấp ủy cơ sở, đại biểu HĐND xã, cán bộ chính quyền, MTTQ và cácđoàn thể ở cơ sở
Ba là, tổ chức các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho đối tượng phát
triển đảng; bồi dưỡng LLCT cho đảng viên mới; bồi dưỡng nghiệp vụ côngtác đảng cho cấp ủy viên cơ sở
Bốn là, tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách, pháp luật cho
đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở
Năm là, thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu và tình hình thực
tế chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương
Với đặc thù của Thành phố là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹthuật lớn của cả nước, để đạt mục tiêu “đi trước và về đích trước trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [20], Thành ủy và các quận,huyện ủy chú trọng xây dựng nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước Chính vì vậy, nhiệm vụ thứ năm được các Trung tâm BDCT quận,huyện tập trung thực hiện, nhất là từ 2005 đến nay
Ngoài việc phối hợp với các trường trong hệ thống trường Chính trị(Trường Cán bộ Thành phố, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II, Họcviện Báo chí và Tuyên truyền) để tổ chức các lớp đào tạo về trung cấp chínhtrị, trung cấp chính trị - hành chính, trung cấp hành chính, cao cấp chính trị,
cử nhân chính trị chuyên ngành (công tác tư tưởng, quản lý kinh tế, kinh tếchính trị, xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí
Trang 21Minh…) cho cán bộ chủ chốt, cán bộ dự nguồn, cán bộ công chức, viên chứcnhằm chuẩn hóa về trình độ chính trị, các Trung tâm còn được cấp ủy giaocho nhiệm vụ phối hợp với các trường đại học, cao đẳng tổ chức các lớp đàotạo chuyên ngành: trung cấp xây dựng, trung cấp quản lý đô thị, cao đẳng vănhóa, đại học (kinh tế, luật, xã hội học…) và bồi dưỡng kiến thức tin học vănphòng, ngoại ngữ, lễ tân ngoại giao, văn hóa giao tiếp… Chính sự đa dạngtrong các chương trình liên kết, phối hợp này đã góp phần xây dựng đội ngũcán bộ trong HTCT quận và cơ sở có năng lực, có kiến thức chuyên ngành và
kỹ năng công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
1.1.2.3 Đặc điểm của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Thứ nhất, mô hình tổ chức của các Trung tâm khá hợp lý Biên chế 7
người là phù hợp với đơn vị sự nghiệp (cá biệt một số Trung tâm chưa đủ biênchế (Quận 3, 4, Tân Bình) do công tác luân chuyển cán bộ của Quận) Hiệnnay, đội ngũ cán bộ Trung tâm BDCT quận, huyện ở Thành phố gồm 154người, trong đó 61 đồng chí có khả năng giảng dạy; 24 giám đốc chuyêntrách, mỗi Trung tâm có từ 1 đến 2 phó giám đốc phụ trách công tác giáo vụ,hành chính, 2 đến 3 nhân viên là giáo vụ, kế toán Văn thư và thủ quỹ củaTrung tâm thường do giáo vụ kiêm nhiệm Bảo vệ, phục vụ (từ 3 đến 6 người)
là những cán bộ hợp đồng, hưởng lương theo định mức lao động thỏa thuậngiữa Giám đốc Trung tâm và người lao động Ngoài ra, mỗi Trung tâm cònthực hiện chế độ giảng viên kiêm chức (số lượng từ 10 đến 30 người) tùy theoyêu cầu thực tế của địa phương [14]
Thứ hai, việc xác định Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo
thuận lợi hơn về mặt quản lý tài chính, một số vướng mắc trong việc thựchiện chế độ, chính sách đối với người dạy và người học trước đây cơ bản đãđược giải quyết Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập nên từ năm
2007, các Trung tâm bắt đầu thực hiện Nghị định 43/NĐ-CP/2006 về “Quy
Trang 22định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập” Việc xác định
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập loại hai đã tạo sự chủ động hơn chocác Trung tâm trong sử dụng các nguồn thu cho đầu tư cơ sở vật chất, trangthiết bị và phương tiện hiện đại phục vụ giảng dạy và học tập, tháo gỡ nhữngkhó khăn, bất cập trong thực hiện chế độ thù lao đối với giảng viên Tuynhiên, qua khảo sát cho thấy việc thực hiện chuyển đổi mô hình sự nghiệpcông lập loại hai đối với các Trung tâm tiến hành khá chậm, đến nửa cuốinăm 2010 mới được tiến hành đồng bộ
Thứ ba, Trung tâm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho nhiều
loại cán bộ ở cơ sở, gồm: quần chúng ưu tú có nguyện vọng được đứng vàohàng ngũ của Đảng; đảng viên dự bị; bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở; ủyviên ủy ban kiểm tra cấp ủy cơ sở; CB, ĐV, cán bộ trong HTCT cơ sở chưacó trình độ trung cấp LLCT và trung cấp hành chính hoặc cao đẳng, đại học
Do vậy, phạm vi đối tượng tác động của Trung tâm rộng hơn trước nhiều
Thứ tư, các chương trình thực hiện tại Trung tâm đa dạng và phong
phú hơn, bám sát và phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địaphương, đơn vị góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu thực tiễn
Thứ năm, đội ngũ giảng viên có năng lực, trình độ cũng như kinh
nghiệm lãnh đạo thực tế đã đáp ứng yêu cầu đối tượng người học đa dạng vềtrình độ như hiện nay
Việc thành lập các Trung tâm đã tạo ra những chuyển biến tích cực vàhiệu quả hơn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng; khẳng định được vị trí trong
hệ thống đào tạo, bồi dưỡng của Đảng nói riêng, trong hệ thống giáo dục quốcdân nói chung; thể hiện sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chínhquyền địa phương đối với hoạt động của các Trung tâm Với phương châm
“hướng về cơ sở, phục vụ cơ sở, tạo chuyển biến thật sự cho cơ sở”, đối tượng
Trang 23CB, ĐV công tác tại cơ sở được đặc biệt quan tâm bồi dưỡng mọi mặt, gópphần thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xây dựng Đảngtrong sạch vững mạnh, quy hoạch và đào tạo cán bộ, cải cách hành chính,thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…
1.1.3 Đặc điểm học viên tham dự chương trình đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của CB, ĐV trong sự nghiệp cách mạng, bởi
"Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thựctiễn" [42, tr.181] Riêng ở nước ta, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc''
"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém'' [43, tr.269].Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ Người viết:
Nói đến cán bộ trước hết, vì "cán bộ là tiền vốn của đoàn thể" Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu cócán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏngviệc, tức là lỗ vốn [45, tr.46]
Quán triệt các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và coiđây là khâu then chốt, mang tính quyết định để tăng cường vai trò lãnh đạocủa Đảng trong tiến trình cách mạng Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước nhấn mạnh: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bạicủa cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [31, tr.66]
Do phân cấp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nên học viên của cácTrung tâm chủ yếu là cán bộ cơ sở không thuộc diện đào tạo, bồi dưỡng củacác trường Chính trị tỉnh, thành phố (không phải chỉ có CB, ĐV của Đảng,
mà bao gồm cả cán bộ trong HTCT và quần chúng cốt cán ngoài Đảng) Đây
Trang 24là những người trực tiếp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân; trực tiếp giải quyết yêu cầu nguyện vọng,những khó khăn, vướng mắc của nhân dân, đồng thời phản ánh những bănkhoăn, kiến nghị của nhân dân với Đảng và Nhà nước, tạo nên mối quan hệgắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Uy tín của Đảng và Nhànước thể hiện trước hết ở lòng tin của nhân dân vào đội ngũ CB, ĐV ở cơ sở
Trong những năm qua, đa số CB, ĐV ở cơ sở kiên định mục tiêu, lýtưởng của Đảng, ra sức phấn đấu thực hiện cương lĩnh, điều lệ, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, có nhận thức đúng hơn về CNXH,con đường đi lên CNXH ở nước ta và những vấn đề cốt yếu của cách mạng,những vấn đề quan điểm có tính nguyên tắc Sự nhất trí với đường lối củaĐảng ngày càng tăng, nhiều CB, ĐV trưởng thành trong việc vận dụng lý luậnvào thực tiễn, lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện Nghị quyết, góp phầntạo sự đồng thuận trong nhân dân đối với các chủ trương, chính sách củaĐảng Chính vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng CB, ĐV là việc làm không thểthiếu trong giai đoạn hiện nay và các Trung tâm BDCT cấp huyện đóng vaitrò quan trọng và tích cực trong công tác này, góp phần mở rộng phạm vi đốitượng đào tạo, bồi dưỡng đến quần chúng cốt cán ở địa phương, cơ sở mà TW
và Thành phố không có điều kiện làm hết được
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có gần 100.000 cán bộ, công chức vàviên chức làm việc tại các đơn vị, tổ chức, cơ quan hành chính thuộc hệ thốngchính quyền các cấp Trong đó, đội ngũ công chức thừa hành công vụ cókhoảng 11.000 người Tuy nhiên, theo ước tính chỉ có chưa đến 10% trongđội ngũ trên có đủ trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu xây dựng nềnhành chính công Theo phụ lục số liệu đính kèm Văn kiện Đại hội Đảng bộThành phố lần IX (tháng 10 năm 2010), 89,3% CB, ĐV có học vấn tốt nghiệpTHPT, 9,3% trung học cơ sở và 1,3% tiểu học Về trình độ LLCT, có 10%
Trang 25CB, ĐV có trình độ cao cấp, cử nhân; 28,5% trung cấp, 34,6% sơ cấp, 26,9%chưa được đào tạo, bồi dưỡng về LLCT Về chuyên môn, nghiệp vụ, có72,2% CB, ĐV được đào tạo từ trình độ trung cấp trở lên, 27,8% chưa quađào tạo [28] Cán bộ công tác tại các cơ quan, ban ngành quận, huyện vàphường xã đa số trưởng thành trong giai đoạn đổi mới, chịu khó học tập, nângcao trình độ kiến thức, có quan điểm chính trị rõ ràng và phẩm chất đạo đứctốt, có tinh thần trách nhiệm Một số cán bộ trẻ năng động, tích cực nhiệt tìnhvới công việc, có trình độ năng lực công tác chuyên môn đáp ứng yêu cầunhiệm vụ chính trị của giai đoạn mới.
Tuy nhiên, do tổ chức bộ máy còn bất cập và điều kiện làm việc cònhạn chế, nên mặc dù được bố trí theo chức danh, nhưng trên thực tế, cán bộ
cơ sở phải kiêm nhiệm nhiều chức vụ, ranh giới giữa cán bộ đảng, chínhquyền, đoàn thể khó phân biệt rạch ròi Số cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụđúng chuyên ngành đang công tác chiếm tỷ lệ thấp Ở cơ sở hiện nay có 4 loạicán bộ là: cán bộ chuyên trách, cán bộ công chức, cán bộ không chuyên trách
và cán bộ hợp đồng, trong số đó nhiều người xuất thân và trưởng thành quaphong trào mặc dù có nhiều kinh nghiệm thực tiễn song trình độ, năng lực cònhạn chế Đội ngũ cán bộ công tác tại quận, huyện và phường, xã vừa yếuchuyên môn, thiếu thực tiễn Số cán bộ có thâm niên chiếm tỷ lệ khá cao (gần70%), tuy có kinh nghiệm nhưng lại thiếu các kỹ năng cần thiết trong môitrường tổ chức hành chính hiện đại Đặc biệt, còn một bộ phận vẫn quen hoặccó xu hướng làm việc theo lề lối cũ; rất ít cán bộ có kỹ năng tự nghiên cứu,tham mưu và đề xuất những mô hình, giải pháp có hiệu quả Nhiều cán bộphát triển con đường chức nghiệp thông qua việc tự tích lũy kiến thức, kinhnghiệm và rèn luyện kỹ năng mà chưa được đào tạo căn bản về lĩnh vực côngtác đang đảm nhiệm Do vậy, về chuyên môn thường bị tụt hậu so với đòi hỏingày càng cao của thực tế Nhiều cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tầm quantrọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng nên nảy sinh tâm lý ngán ngại đi học
Trang 26hoặc đi học nhưng tiếp thu một cách thụ động, thiếu sáng tạo trong vận dụngkiến thức học được vào thực tế công việc Nguyên nhân chính dẫn tới tìnhtrạng trên là do đội ngũ cán bộ cơ sở luôn biến động do luân chuyển cán bộtại chỗ, do tâm lý “làm tạm" để lấy thời gian công tác tìm cơ hội kiếm việckhác có thu nhập cao hơn và thuận lợi hơn Điều này đã đặt ra yêu cầu đối vớicông tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm là phải có sự kết hợp tốt vớicác ngành hữu quan, nhất là Phòng Nội vụ và Ban Tổ chức các quận, huyện
ủy để đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng góp phần nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực cho địa phương, cơ sở
Từ thực trạng trên có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản của họcviên tham dự các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm BDCTquận, huyện ở TP Hồ Chí Minh như sau:
- Là những người lớn tuổi, trưởng thành về mặt xã hội, đa số có giađình và có vị trí xã hội nhất định; có kinh nghiệm thực tiễn phong phú nhưngkhả năng ghi nhớ kém Xét về quá trình học tập thì họ là những người đượchọc, nhưng có thể chưa đầy đủ, cần phải được cập nhật, bổ sung kiến thức và
kỹ năng mới cho phù hợp với điều kiện công tác hiện tại Đặc điểm này chiphối rất nhiều đến tâm sinh lý, quỹ thời gian học tập của học viên Do vậyviệc bồi dưỡng kiến thức mới cần được gắn liền với kiến thức, hiểu biết đã cócủa người học
- Có mục tiêu học tập rõ ràng Người học thường xác định: học chohôm nay chứ không phải cho ngày mai, chỉ học những cái thiết thực, nhữngcái có khả năng vận dụng được ngay vào cuộc sống và công việc chứkhông thích học những điều chung chung, thiếu thực tế Vì vậy, nếu đượctham gia vào các hoạt động học tập trên lớp, có nghĩa là tiếp thu nội dungbài giảng của giáo viên thông qua thực hành, cùng tham gia giải quyếtnhững tình huống trong thực tế thì hiệu quả sẽ cao hơn là chỉ thông quanghe hoặc quan sát
Trang 27- Nhiều người trong học viên quan niệm học tập chỉ là hoạt động thứyếu, việc học tập phải mang tính chất tự nguyện, mọi sự ép buộc, áp đặthay biện pháp hành chính đều không có tác dụng Do vậy, họ chỉ học khithấy có nhu cầu, khi thấy việc học có tác dụng Nếu bị ép buộc thì hoặc là
sẽ từ chối, hoặc là sẽ có thái độ thờ ơ, thụ động khi tham gia quá trình họctập ở trên lớp
- Không dễ dàng chấp nhận sự áp đặt kiến thức bởi học viên là nhữngngười có quan niệm, cách làm, nếp sống được hình thành tương đối vữngchắc, là người có đủ tư cách giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng,quyền hạn được phân công, có tư duy, có nhận thức, có nhân cách và cókhả năng xác định đúng thái độ học tập nên trong học tập thường so sánh,đối chiếu những điều được nghe, được học với những kinh nghiệm, hiểubiết vốn có của bản thân Điều này có mặt tích cực là những kinh nghiệm,hiểu biết có thể hỗ trợ, tạo điều kiện để tiếp cận vấn đề mới nhanh hơn, giờhọc sinh động hơn; nhưng cũng có hạn chế khi chính những kinh nghiệm,hiểu biết ấy tạo ra tâm lý bảo thủ, ít chịu tiếp thu cái mới ở một số người
Do vậy, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chỉ đạt được khi người học tự nhậnthức được cái chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa chính xác trong kinh nghiệm,hiểu biết trước đây để tiếp thu cái mới, cùng trao đổi, chia sẻ và học tậpkinh nghiệm lẫn nhau
- Đối tượng đa dạng, đủ mọi lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ khác nhaunên khả năng tiếp thu khác nhau; khá nhiều người thụ động nghe, ghi chép vàghi nhớ; ít có thời gian dành cho việc tự học Khá phổ biến tình trạng ngườihọc có động cơ học tập không xuất phát từ sự tự nguyện để nâng cao nhậnthức mà là “bị đi học" nhằm chuẩn hóa các chức danh được đề bạt, bổ nhiệmhoặc nâng ngạch, bậc, nhất là cán bộ đương nhiệm và thường xảy ra trong cácchương trình hiệp quản, đào tạo về LLCT
Trang 281.2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ QUẬN, HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - QUAN NIỆM VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
1.2.1 Quan niệm về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
1.2.1.1 Quan niệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Theo Từ điển tiếng Việt, "đào tạo" là làm cho trở thành người có nănglực, theo những tiêu chuẩn nhất định; "bồi dưỡng" là làm cho tăng thêm nănglực hoặc phẩm chất
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "đào tạo" là quá trình tác động đếnmột con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thíchnghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định
Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn vớigiáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ họcvấn) của một con người, còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ở việc
tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinhnghiệm và do người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biếnthành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới cóhiệu quả cao
Thông thường, đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mớihoặc ở trình độ cao hơn, thời gian đào tạo ít nhất phải tương xứng với mộtnăm học; bồi dưỡng với mục đích chủ yếu là bổ sung kiến thức mới hoặcchuyên sâu, cập nhật những vấn đề liên quan đến công việc đang đảm nhiệm,thời gian bồi dưỡng thường là vài buổi hoặc từ một đến vài tháng
Từ định nghĩa trên ta có thể quan niệm:
Trang 29- Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,
kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học
- Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹnăng làm việc
- Đào tạo, bồi dưỡng là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm
việc cho người học theo chương trình quy định
Xét trên bình diện chung, đào tạo và bồi dưỡng là hai phần công việccó đối tượng tham gia khác nhau về trình độ ban đầu Đào tạo có thời giandài, trang bị những kiến thức cơ bản, toàn diện để người học có một trình độtri thức nhất định về một chuyên ngành đúng với chuẩn mực đặt ra Bồidưỡng theo những khóa ngắn hạn, hướng vào năng lực cá nhân để thực hiệntốt các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, mang tính cập nhật, hoàn thiện kiến thức
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vì nó giữ vai tròquan trọng trong việc hình thành đội ngũ CB, ĐV có chất lượng tốt, gópphần quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo C.Mác đãchỉ rõ, để những tư tưởng tốt đẹp, tiến bộ thành hiện thực thì phải có nhữngcán bộ tốt Để có cán bộ tốt thì phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ V.I.Lênincũng rất quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt,lãnh tụ chính trị Người cho rằng đào tạo cho được những cán bộ này sẽ đảmbảo cho Đảng giành được chính quyền và lãnh đạo cải tạo xã hội cũ xâydựng thành công CNXH
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác huấn luyệncán bộ Cùng với việc khẳng định cán bộ là gốc của mọi công việc, Người đãnhấn mạnh :”Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [44, tr.296].Người cũng xác định “Việc huấn luyện học tập không phải là một việc đơngiản, muốn làm được thì phải hiểu cho rõ” [45, tr.45] Theo Người, phảihiểu thấu đáo các vấn đề “huấn luyện ai?”, “ai huấn luyện?”, “huấn luyện cái
Trang 30gì?”, “huấn luyện như thế nào?”, “tài liệu huấn luyện”… [45, tr46 - 49] Đểlàm tốt công tác huấn luyện thì tất cả những nội dung này đều phải đượcchuẩn bị chu đáo và thực hiện tốt
Người đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản của việc huấn luyện và chỉ
ra những điều cần tránh trong huấn luyện một cách rất cụ thể Đó là vềphương pháp tổ chức, huấn luyện cần thiết thực chu đáo, hơn tham nhiều.Người phê phán những yếu kém trong huấn luyện cán bộ như không chuẩn
bị chu đáo, mở lớp quá đông, mở lớp lung tung, lựa chọn không đúng ngườidạy và người học,
Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng Thiếu người giảng thìhọc viên đâm chán nản Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vìthế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp lướt qua lớp này mộtchút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đập nước”, dạy khôngđược chu đáo Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”,người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa làcó hại cho đoàn thể
Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì táp nhoang
Vậy phải làm thế nào ?Phải hợp lý hóa, nghĩa là:
- Mở lớp nào cho ra lớp ấy
- Lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận
- Đừng mở lớp lung tung[45, tr.52]
Về nội dung, chương trình tài liệu huấn luyện, Người chỉ rõ:
Những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiếtcủa quần chúng Phải hỏi: người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụngđược ngay không? Có thực hành được ngay không? Nếu không thiếtthực như thế thì huấn luyện mấy năm cũng vô ích [44, tr.248]
“Huấn luyện cán bộ cốt là để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác:Đoàn thể, Mặt trận, Chính quyền, Quân đội Các ngành công tác như là
Trang 31người tiêu thụ Ban huấn luyện như người làm ra hàng Làm ra hàng phảiđúng với nhu cầu của người tiêu thụ” [45, tr.48] Vì vậy, huấn luyện cán bộphải đúng nhu cầu.
Khi đã có nội dung, chương trình đào tạo và tài liệu học tập có chấtlượng tốt thì chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được quyết định chủ yếu bằngchất lượng đội ngũ giảng viên Người cho rằng “Không phải ai cũng huấnluyện được
Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạonghề rèn, nghề nguội Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu vềmọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc” [45, tr.46] Có nghĩa là ngườigiảng viên phải đủ các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, giỏichuyên môn, có phương pháp sư phạm tốt
Về phương châm đào tạo: công tác huấn luyện cán bộ phải quán triệtphương châm “lý luận gắn với thực tiễn”, “học đi đôi với hành” bởi “Thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng.Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.”[46, tr.496]; Ngườinhấn mạnh học để hành Học với hành phải đi đôi, học mà không hành thì
vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy
Quá trình dạy học diễn ra theo hai chiều tác động và bổ sung chonhau Người luôn quan tâm đến việc hình thành mục đích, động cơ học tậpcủa người học Người yêu cầu người học phải xác định đúng: “Học để làmviệc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhândân, Tổ quốc và nhân loại” [44, tr.684] Người yêu cầu người học phát huytính chủ động, sáng tạo trong học tập, coi trọng khâu tự học, phải chủ độngsuy nghĩ, ham học hỏi, ham tìm tòi, học ở trường, học ở sách vở, học lẫnnhau và học nhân dân: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học Học tập ởtrường của Đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải cóthầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập” [45, tr.50]
Trang 32Hơn 80 năm qua, Đảng ta rất quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
CB, ĐV có khả năng tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng củaĐảng, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập, đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay.Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TW Đảng khóa VIII đã khẳngđịnh:
Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đàotạo, bồi dưỡng thống nhất trong hệ thống các trường Nội dung đàotạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu của từng loại cán bộ, chútrọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn,bồi dưỡng kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành Chú trọng bồidưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmđường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các kiếnthức về lịch sử, địa lý văn hóa , bồi dưỡng kiến thức về quản lýNhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, khoa học công nghệ,chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách lãnh đạo [31, tr.84]
Từ quan niệm trên, có thể khái quát: Công tác đào tạo, bồi dưỡng là một quá trình tạo nên phẩm chất, giá trị một con người, làm cho con người
đó có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Khi nhu cầu, cuộc sống thay đổi thì tiếp tục bồi bổ làm cho phẩm chất năng lực tăng thêm để đáp ứng sự đòi hỏi đó
Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp cho người họcnâng cao năng lực thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể Công tác đàotạo, bồi dưỡng phải hoàn thành được hai chức năng chính là đào tạo, bồidưỡng để thực thi và đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện sự thay đổi nhằm nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước thông qua năng lực công tác củacán bộ Đối với chức năng thứ nhất cần quan tâm xác định “lỗ hổng” trongcông việc và lấp đầy bằng kiến thức, kỹ năng thông qua đào tạo, bồi dưỡng.Đối với chức năng thứ hai thì cần xác định kiến thức, kỹ năng và thái độ mớicần có trong môi trường thay đổi
Trang 331.2.1.2 Quan niệm về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Theo Từ điển tiếng Việt: Chất là "cái tạo nên một sự vật" Lượng: "mức
độ nhiều ít, có thể xác định được bằng con số cụ thể" Chất lượng là "cái làmnên phẩm chất, giá trị một con người, một sự vật" Như vậy, chất lượng chính
là nội dung bên trong, nội dung cốt lõi nhất của một sự vật, một con người
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "chất lượng" biểu thị những thuộctính của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệtnó với các sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chấtlượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về sự vật của nó vàkhông thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thốngnhất giữa số lượng và chất lượng
Theo Từ điển Triết học: Chất là tính qui định bản chất của sự vật, đó
là những đặc điểm và tính cách vốn có của sự vật, chính tính qui định đó mà
ta có thể phân biệt được sự vật này với sự vật khác Lượng là biểu hiện mức
độ, giai đoạn phát triển và cấu tạo về lượng của sự vật Lượng và chất có mộtmối quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Chất lượng có thể hiểunó là một phạm trù liên quan đến việc đánh giá mức độ đạt được với nhữngtiêu chuẩn đã qui định, là sự thể hiện yếu tố khách quan tạo ra nó và sự nỗ lựcchủ quan để đạt tới
Tổ chức bộ trưởng các nước Đông - Nam Á (SEAMEO) năm 2002 đãđưa ra tài liệu “Thực hiện chính sách bảo đảm chất lượng giáo dục đại họctrong khu vực Đông Nam Á” trong đó có nêu ra định nghĩa khái quát như sau:
“Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”, song mục tiêu giáo dục cụ thể là gìthì không chỉ ra cụ thể, có lẽ vì không cần và cũng không thể xác định đượcmột mục tiêu chung cho giáo dục tất cả các nước, bởi lẽ yêu cầu thực tiễnkhông nước nào giống nước nào
Trang 34Xung quanh vấn đề quan niệm như thế nào là chất lượng trong giáodục - đào tạo, bồi dưỡng, ta có thể bắt gặp những quan điểm sau đây:
- Chất lượng là sự vượt trội (quality as exceptional)
- Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as perfection)
- Chất lượng là sự phù hợp mục tiêu (quality as fitness; quality for/ofpurpose)
- Chất lượng là sự đáng giá tiền đầu tư (quality as value for money)
- Chất lượng là sự vượt qua ngưỡng (quality as threshold)
- Chất lượng là sự biến đổi (quality as transformation)
Từ những điểm trình bày trên và thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡngcủa các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh có thể đưa raquan niệm về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm như
sau: Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của các yếu tố của công tác đào tạo, bồi dưỡng, qui định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm giai đoạn hiện nay
Những yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng của trung tâm gồm: sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ; chất lượng độingũ giảng viên; nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng; phương phápgiảng dạy và học tập; công tác tổ chức, quản lý đào tạo, bồi dưỡng; cơ sở vậtchất; kinh phí; tổ chức bộ máy; sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Trung tâm vớicác ban ngành chức năng cùng cấp; tài liệu, giáo trình, phương tiện phục vụgiảng dạy - học tập và kết quả học tập, rèn luyện của học viên Ngoài ra, sựquan tâm hướng dẫn, chỉ đạo của Phòng Huấn học và Ban Tuyên giáo Thànhủy; sự giúp đỡ của Trường Cán bộ Thành phố và các trường cao đẳng, đại họctrên địa bàn cũng góp phần tạo nên chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồidưỡng của các Trung tâm Các yếu tố trên, yếu tố nào cũng quan trọng, nhưngsuy cho cùng thì chất lượng đội ngũ giảng viên là quan trọng nhất
Trang 35Do đó, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trungtâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay là thực hiệnnhững chủ trương, biện pháp của các cấp ủy, tổ chức đảng tác động vào cácTrung tâm, làm cho chất lượng của các Trung tâm ngày càng cao, đáp ứng tốthơn yêu cầu, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT quận, huyện trong từng thời kỳ.
Để nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm, đòihỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các yếu
tố cần có của các Trung tâm và các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của nó
Việc nâng cao chất lượng các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP HồChí Minh cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, đó là: Bảo đảmthực hiện đúng chủ trương, đường lối, quan điểm, Điều lệ của Đảng, chínhsách và pháp luật của nhà nước; bảo đảm tính đồng bộ, sự lãnh đạo, chỉ đạotrực tiếp của cấp ủy cấp trên; bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay
Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các
Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh là tập hợp các dấu hiệu,điều kiện, đặc trưng, các chỉ số định tính, định lượng làm căn cứ, để nhậnbiết, đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm nàytrên thực tế
Việc đánh giá chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng của các Trung tâm BDCT cấp huyện nói riêng có nhiều cáchnhìn nhận khác nhau bởi chưa thống nhất về tiêu chí Có ý kiến cho rằng việcđánh giá nên căn cứ vào các yếu tố: mục tiêu giáo dục; quan điểm của Đảng
về giáo dục; nhu cầu phát triển nguồn nhân lực; mức kinh phí đầu tư cho giáodục; so sánh quá trình trước và sau đào tạo, bồi dưỡng; so sánh với quốc tế…Có thể xem xét chất lượng giáo dục ở hai mặt: nhân cách của con người cụ
Trang 36thể (sản phẩm giáo dục) và chất lượng nguồn nhân lực Đánh giá nhân cáchcủa con người cụ thể có thể xét ở các khía cạnh: ý thức chính trị, năng lực tựhọc và năng lực hoạt động thực tiễn Đánh giá chất lượng giáo dục cụ thể là
đánh giá nhân cách con người
Có ý kiến cho rằng đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng củacác Trung tâm BDCT nên theo phương thức "case study" (nghiên cứu trườnghợp điển hình) Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được đánh giáqua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của các chương trình đào tạo, bồidưỡng Đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâmBDCT cấp huyện tức là đánh giá sản phẩm cụ thể của nó Đó chính là hiệuquả công tác của CB, ĐV, kể cả cán bộ không phải là đảng viên sau khi tham
dự các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại các Trung tâm BDCT cấp huyện
Trên cơ sở quan niệm về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng củacác Trung tâm BDCT quận, huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh và quan niệm
về tiêu chí đánh giá như trên, việc đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng của các Trung tâm BDCT này cần dựa trên các căn cứ sau:
Một là, chức năng của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh Hai là, nhiệm vụ của các Trung tâm BDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí
Minh
Ba là, các yếu tố cấu thành Trung tâm và các mặt hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng chủ yếu của Trung tâm
Bốn là, yêu cầu về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các
Trung tâm hiện nay
Đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâmBDCT quận, huyện ở TP Hồ Chí Minh hiện nay cần dựa trên các tiêu chí:
1.2.2.1 Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy
Đây là yếu tố quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm Cấp ủy đảng, đặc biệt, BTV cấp
Trang 37huyện là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện hoạt động của Trung tâmBDCT để đảm bảo cho hoạt động của Trung tâm được tiến hành thườngxuyên, liên tục, đúng kế hoạch và tiến độ đề ra, đạt hiệu quả và chất lượngcao Thực tế cho thấy: nơi nào cấp ủy quan tâm thì nơi đó công tác đào tạo,bồi dưỡng đạt hiệu quả cao và ngược lại.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy được thể hiện ở những mặt sau :
- Xây dựng, ban hành chế độ khuyến khích CB, ĐV không ngừng họctập nâng cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm cho côngtác đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng CB, ĐV thuộc phạm vi quản lý; tổ chức thực hiện chế độ đàotạo, bồi dưỡng CB, ĐV theo quy định
- Tổ chức quản lý và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồidưỡng trong phạm vi trách nhiệm được giao đảm bảo yêu cầu sát với thựctiễn, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương
- Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên chuyêntrách, giảng viên kiêm chức; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chínhsách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng học tập và phương tiện làm việc đảm bảo cho các trung tâm hoạt động cóhiệu quả; thực hiện tốt chế độ đãi ngộ; quan tâm đào, tạo bố trí đội ngũ cán
dạy-bộ kế cận cho Trung tâm
1.2.2.2 Tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm trước hết phụthuộc vào chất lượng tổ chức bộ máy và phẩm chất, năng lực của giảng viên.Trên cơ sở biên chế được giao, Trung tâm BDCT củng cố, kiện toàn tổ chức
bộ máy và xây dựng quy chế hoạt động; phân công nhiệm vụ cụ thể phù hợpvới năng lực sở trường của từng cán bộ là yếu tố quan trọng có tính chất quyết
Trang 38định hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm Cán bộ công tác tạiTrung tâm phải có năng lực, trình độ và đảm bảo các tiêu chuẩn chức danhtheo qui định; gương mẫu, không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lốisống; trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Giảng viên là người truyền đạt nội dung của chương trình đến vớingười học, giúp người học chuyển hóa kiến thức thành niềm tin, thành nănglực và kỹ năng hoạt động Khác với hệ thống các trường phổ thông, đốitượng của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm là những CB,
ĐV và cán bộ trong HTCT là những người có trình độ học vấn, có bề dàykinh nghiệm, am hiểu sâu sắc thực tiễn nên đòi hỏi giảng viên phải có nănglực, trình độ, có phẩm chất đạo đức mới đảm bảo yêu cầu đào tạo, bồi dưỡngcó hiệu quả và chất lượng
Giảng viên có chất lượng tốt phải là những người có bản lĩnh chính trịvững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống trong sạch, lành mạnh, gầngũi học viên và đảm bảo các tiêu chuẩn giảng viên theo qui định Yêu cầuđặc thù đối với giảng viên của Trung tâm là phải thường xuyên rèn luyệnphẩm chất đạo đức, tích cực học hỏi, kịp thời cập nhật thông tin và bổ sungnhững quan điểm mới của Đảng vào nội dung chương trình; kết hợp, sửdụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng tham gia đào tạo,bồi dưỡng
1.2.2.3 Mức độ phù hợp của nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy
Để đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của các Trung tâm
không thể không tính đến mức độ phù hợp của n ội dung chương trình và
phương pháp giảng dạy Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phảituân thủ các qui định và hướng dẫn của TW Đối tượng dự học của cácTrung tâm là CB, ĐV, cán bộ trong HTCT ở cơ sở nên cần phải đảm bảophương châm: hướng về cơ sở, phục vụ cơ sở và tạo sự chuyển biến cho cơ
Trang 39sở Chính vì vậy, xây dựng nội dung, chương trình cần chú ý kết hợp lý luậnvới thực tiễn, gắn đào tạo, bồi dưỡng LLCT với bồi dưỡng kỹ năng thựchành, xử lý tình huống
Khi đã xác định nội dung, chương trình thì việc sử dụng phương phápgiảng dạy phù hợp là điều cần thiết để đem lại hiệu quả cao cho công tác đàotạo, bồi dưỡng Phương pháp giảng dạy là cách thức chuyển tải nội dung đếnngười học Có phương pháp phù hợp, đúng đắn thì quá trình chuyển tải đạthiệu quả cao và ngược lại Sử dụng phương pháp phù hợp kết hợp vớiphương tiện kỹ thuật hiện đại trong giảng dạy sẽ giúp người học tiếp cậnnhững vấn đề lý luận dễ dàng hơn; tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức
và kinh nghiệm trong quá trình dạy - học tạo sự hứng thú và kích thích tư duyđộc lập ở người học Hiện nay, phương pháp giảng dạy tích cực, lấy ngườihọc làm trung tâm rất được quan tâm sử dụng trong hệ thống giáo dục
1.2.2.4 Phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng cần phải căn cứ vào tiêuchí phương thức tổ chức vì nó đóng vai trò quan trọng trong thực hiện mụctiêu đào tạo, bồi dưỡng Phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng là một quátrình, được bắt đầu từ công tác phối kết hợp với các ngành hữu quan xác địnhđối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng đến tổ chức chiêu sinh, quản lý quátrình thực hiện và đánh giá kết quả đạt được
- Công tác phối kết hợp với các ngành hữu quan.
Đây là việc làm không thể thiếu để xây dựng mục tiêu, kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng hàng năm của Trung tâm hoặc trong cả nhiệm kỳ của cấp ủynhằm đảm bảo xác định đối tượng; xây dựng nội dung, chương trình, hìnhthức, thời gian mở lớp sao cho phù hợp, tránh trùng lắp khiến hiệu quả khôngcao mà lại tốn kém
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Trang 40Tổ chức, quản lý quá trình đào tạo, bồi dưỡng một cách khoa học làđiều kiện cơ bản để đảm bảo nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng Cơ sở đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượnghọc tập của học viên là các qui chế, qui định của BTG TW và BTG Thành
ủy ban hành gồm: Qui chế giảng dạy, qui chế học tập, qui chế thi, cấp bằngtốt nghiệp, giấy chứng nhận
Với đặc thù của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâmnên việc kiểm tra đánh giá sau mỗi khóa học cần được thực hiện thông quaviết thu hoạch, phiếu lượng giá dành cho học viên Đây không chỉ là côngviệc cần thiết để Trung tâm đánh giá kết quả học tập của học viên mà còngiúp các Trung tâm có thể bổ sung, điều chỉnh nội dung và phương pháp đàotạo, bồi dưỡng phù hợp hơn ở những lớp tiếp theo
1.2.2.5 Mức độ vận dụng kiến thức của học viên trong thực tiễn
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc rất lớn vào người học, đây lànhân tố bên trong có ý nghĩa quyết định Người học có mục đích, động cơhọc tập đúng đắn sẽ tích cực tham gia quá trình học tập và có khả năng ứngdụng kiến thức đã học vào thực tiễn công việc Đó chính là tinh thần tráchnhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ năng tác nghiệphoàn thành nhiệm vụ được giao với năng suất và chất lượng ngày càng cao,có thái độ tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nhất là phong trào thi đuayêu nước Đây là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng của các Trung tâm
Cán bộ, đảng viên phải ý thức học tập để không ngừng nâng cao trình
độ mọi mặt, đặc biệt là nâng cao lý luận, nâng cao khả năng tổng kết thựctiễn Thực tế cho thấy, không có khả năng tổng kết kinh nghiệm, tổng kết thựctiễn thì không thể có lý luận chân chính Việc nâng cao trình độ lý luận phụthuộc vào trình độ tổng kết thực tiễn Muốn nâng cao trình độ lý luận thì phải