MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, liên minh giữa giaicông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức là động lực cách mạng tolớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi vì đây không chỉ là biện phap tăngcường lực lượng cách mạng, đảm bảo quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân vớitoàn xã hội, mà cũng là điều kiện để mỗi lực lượng trong khối liên minh thựchiện được những lợi ích của mình, qua đó góp phần có ý nghĩa quyết định vào sựnghiệp cách mạng chung của dân tộsc.Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã vận dụng sángtạo quan điểm mác xít về liên minh giai cấp vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam,đồng thời thường xuyên đổi mới, củng cố khối liên minh với những nội dung,hình thức và phương pháp cho phù hợp với thực tiễn vận động của cách mạngnước ta.Nhận thức đúng vai trò của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập quốc tế, Đại hội lần thứ XI Đảng ta khẳng định: “ Khối đạiđoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộngvà tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” [tr. 158]Song, hiện nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang diễnra trong bối cảnh phức tạp, bên cạnh những thuận lợi chúng ta gặp không ít khókhăn, thách thức. Điều đó đang tác động mạnh mẽ và làm ảnh hưởng đến tínhbền vững của khối liên minh.Thanh hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc Miền Trung, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là11.106 km2, chiếm 3,37% diện tích cả nước. Thanh Hoá bao gồm cả 4 vùng đồng1 bằng, trung du, miền núi và miền biển, đó là điều kiện tự nhiên thuận lợi. Nhữngnăm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân,Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc trong tỉnh Thanh Hoá đã đoànkết thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - chính trị xã hội. Các chủ trương,chính sách đã tạo điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, gópphần củng cố khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức trên địa bàntỉnh, điển hình như: Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn, chìa khoá thành côngcủa công ty đó chính là dựa trên khối liên minh giữa công nhân, nông dân và tríthức vững chắc. Công ty thường xuyên cộng tác với Viện KHKT nông nghiệpViệt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp I, Trung tâm nghiên cứu mía Bến Cát để“cập nhật” kỹ thuật và giống mía mới; phối hợp với Trường Đại học Bách khoaHà Nội để cập nhật công nghệ chế biến đường; phối hợp với Đại học Thươngmại, Học viện Tài chính để nghiên cứu thị trường, đào tạo cán bộ quản lý chocông ty, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp trong sảnxuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, bảo đảm lợi ích của nông dân và doanhnghiệp, giải quyết việc làm… Tuy nhiên, cùng với cả nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, bên cạnh những thành tựu đãđạt được, mối quan hệ giữa các lực lượng trong khối liên minh cũng đã nảy sinhnhững mâu thuẫn. Chẳng hạn, tình trạng người nông dân mất đất sản xuất; hiệntượng phá vỡ hay lạm dụng hợp đồng, thiếu gắn kết trong hợp tác kinh tế; sựchênh lệch trong hưởng thụ phúc lợi xã hội; sự thiếu công bằng trong việc tiếpcận sử dụng tư liệu sản xuất, nhất là sự chênh lệch giá cả hàng hoá công nghiệp,dịch vụ với giá cả nông sản ngày càng lớn đã và đang tác động đến mối liên kếttrong chính nội bộ khối liên minh…Vì vậy, việc tăng cường củng cố liên minhgiữa công nhân, nông dân và trí thức, tạo động lực thực hiện thắng lợi nhữngmục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng bộ tỉnh đề ra là vấn đề cấp thiết hiện2 nay cần được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Với ý nghĩa đó, tôi chọnđề tài: “Liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay” làm luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoahọc.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, liên minh giữa giaicông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức là động lực cách mạng tolớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì đây không chỉ là biện phap tăngcường lực lượng cách mạng, đảm bảo quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân vớitoàn xã hội, mà cũng là điều kiện để mỗi lực lượng trong khối liên minh thựchiện được những lợi ích của mình, qua đó góp phần có ý nghĩa quyết định vào sựnghiệp cách mạng chung của dân tộsc
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã vận dụng sángtạo quan điểm mác xít về liên minh giai cấp vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam,đồng thời thường xuyên đổi mới, củng cố khối liên minh với những nội dung,hình thức và phương pháp cho phù hợp với thực tiễn vận động của cách mạngnước ta
Nhận thức đúng vai trò của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập quốc tế, Đại hội lần thứ XI Đảng ta khẳng định: “ Khối đạiđoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng
và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” [tr 158]
Song, hiện nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang diễn
ra trong bối cảnh phức tạp, bên cạnh những thuận lợi chúng ta gặp không ít khókhăn, thách thức Điều đó đang tác động mạnh mẽ và làm ảnh hưởng đến tínhbền vững của khối liên minh
Thanh hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc Miền Trung, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là11.106 km2, chiếm 3,37% diện tích cả nước Thanh Hoá bao gồm cả 4 vùng đồng
Trang 2bằng, trung du, miền núi và miền biển, đó là điều kiện tự nhiên thuận lợi Nhữngnăm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân,Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc trong tỉnh Thanh Hoá đã đoànkết thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - chính trị xã hội Các chủ trương,chính sách đã tạo điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, gópphần củng cố khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức trên địa bàntỉnh, điển hình như: Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn, chìa khoá thành côngcủa công ty đó chính là dựa trên khối liên minh giữa công nhân, nông dân và tríthức vững chắc Công ty thường xuyên cộng tác với Viện KHKT nông nghiệpViệt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp I, Trung tâm nghiên cứu mía Bến Cát để
“cập nhật” kỹ thuật và giống mía mới; phối hợp với Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội để cập nhật công nghệ chế biến đường; phối hợp với Đại học Thươngmại, Học viện Tài chính để nghiên cứu thị trường, đào tạo cán bộ quản lý chocông ty, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp trong sảnxuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, bảo đảm lợi ích của nông dân và doanhnghiệp, giải quyết việc làm…
Tuy nhiên, cùng với cả nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, bên cạnh những thành tựu đãđạt được, mối quan hệ giữa các lực lượng trong khối liên minh cũng đã nảy sinhnhững mâu thuẫn Chẳng hạn, tình trạng người nông dân mất đất sản xuất; hiệntượng phá vỡ hay lạm dụng hợp đồng, thiếu gắn kết trong hợp tác kinh tế; sựchênh lệch trong hưởng thụ phúc lợi xã hội; sự thiếu công bằng trong việc tiếpcận sử dụng tư liệu sản xuất, nhất là sự chênh lệch giá cả hàng hoá công nghiệp,dịch vụ với giá cả nông sản ngày càng lớn đã và đang tác động đến mối liên kếttrong chính nội bộ khối liên minh…Vì vậy, việc tăng cường củng cố liên minhgiữa công nhân, nông dân và trí thức, tạo động lực thực hiện thắng lợi nhữngmục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng bộ tỉnh đề ra là vấn đề cấp thiết hiện
Trang 3nay cần được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Với ý nghĩa đó, tôi chọn
đề tài: “Liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay” làm luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa
học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thực tế cho thấy, trong các công trình nghiên cứu, các luận văn và các bàiviết trong những năm qua, nhiều nhà khoa học đã thường xuyên quan tâm bànđến vấn đề liên minh giai cấp trong cách mạng, tiêu biểu là các công trình sau :
Đề tài "Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường liên minh công nhân nông dân - trí thức trong thời kỳ mới ở nước ta" (1992) do tiến sĩ Vũ Đình Hòe
-chủ biên, trong đó, các tác giả đề cập đến thực trạng của liên minh và đề suất bốngiải pháp xây dựng liên minh công nhân - nông dân - trí thức trong tình hìnhmới
- Đề tài: "Một số điều kiện để tăng cường khối liên minh công nông trong
cơ chế thị trường với sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa" (1993- 1994),
TS Dương Văn Duyên chủ biên Các tác giả bước đầu nghiên cứu với quan điểmđổi mới quá trình xây dựng khối liên minh công nông ở nước ta, từ đó rút ranhững bài học kinh nghiệm; nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu kinh tế -xã hội giaicấp, sự phân hóa giàu nghèo của công nhân và nông dân do tác động của cơ chếthị trường; nghiên cứu những điều kiện cần thiết nhằm tăng cường khối liênminh công nông trong giai đoạn hiện nay
- “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về liên minh công - nông - trí thức”, Tạp chí
Nghiên cứu số 2 - 1993, của tác giả PTS Đỗ Khánh Tặng, Ban Tư tưởng - Vănhoá Trung ương Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu tư tưởng Hồ ChíMinh trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề liên minhcông, nông, trí thức vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; làm rõ vai trò của công
Trang 4nông, trí thức trong khối liên minh, khẳng định tư tưởng của Người về vấn đề đoànkết trong khối liên minh là nhân tố quan trọng vượt qua mọi khó khăn trở ngại.
- “Các nhà kinh điển Mác - Lênin bàn về liên minh công - nông - trí thức”,
Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 7 - 1998 của tác giả Lê Khắc Thành Trong bàiviết này, tác giả đã tập trung khai thác di sản kinh điển tư tưởng của C Mác, Ph.Ănghen và V.I Lênin về vấn đề liên minh và khẳng định đây là nội dung cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin và là vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản vàxây dựng XHCN; nêu lên một số nguyên tắc cơ bản của liên minh giai cấp côngnhân với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trong tư tưởng các nhàkinh điển mác - xít
- “Về sự liên minh công - nông - trí thức trong kinh tế thị trường” Tạp chí
Cộng sản số 3, năm 1998 của tác giả Đan Tâm Trong bài viết này, tác giả đãluận giải sự tất yếu và khả năng thực hiện liên minh công - nông - trí thức trongnền kinh tế thị trường trên ba lĩnh vực cơ bản; chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội.Trên cơ sở đó, để tăng cường củng cố khối liên minh trong nền kinh tế thịtrường, theo tác giả giai cấp công nhân cần phải có sức mạnh kinh tế, xây dựng
tổ chức vững mạnh
- Đề tài: "Những căn cứ lý luận và thực tiễn cấp thiết để thực hiện tốt liên minh công nông trí thức ở nước ta hiện nay" (2000), PGS,TS Nguyễn Đức Bách
chủ biên, trong đó nêu lên những căn cứ lý luận và thực tiễn chủ yếu và cấp thiết
của "Liên minh công nông trí thức" theo tinh thần đổi mới ở nước ta hiện nay,
qua khảo sát một số tỉnh ở đồng Bằng Bắc Bộ và một số ngành, cơ quan côngnghiệp Từ đó, đề tài đã khái quát những thành quả và hạn chế, sai sót trong việcthực hiện liên minh ở nước ta từ khi đổi mới Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất giảipháp khá toàn diện nhằm thực hiện có kết quả cao và vững chắc hơn liên minhcông, nông, trí thức ở nước ta hiện nay
Trang 5- “ Tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới ”, Tạp chí Lý luận chính trị số 2- 2002
của tác giả TS Nguyễn Quang Du, Trung tâm Công tác lý luận Uỷ ban Trungương MTTQ Việt Nam Trong bài viết này, trên cơ sở đánh giá những thành tựuđạt được trong quá trình thực hiện 15 năm đổi mới ở nước ta, tác giả đã khẳngđịnh vị trí, vai trò của liên minh công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, những vấn đề đặt ra trong liên minh sau
15 năm đổi mới, nguyên nhân hạn chế Từ đó, tác giả đưa ra năm giải pháp nhằmtăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ tríthức ở nước ta
- Luận án tiến sĩ “Liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - cái phổ biến và cái đặc thù” (2003) của tác giả Trương Quang
Khải, trong đó tác giả đã khái quát các quan điểm chủ yếu của C.Mác,Ph.Ănghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về liên minh giai cấp, chỉ rõ tính phổ biếncủa liên minh giai cấp Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến liên minh giaicấp ở Việt Nam, nêu lên những nét đặc thù của liên minh giai cấp trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm tăngcường khối liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức ở ViệtNam
- “Hoạt động khuyến nông Việt Nam Ý nghĩa chính trị - xã hội”, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, 2006 do PGS, TS Phan Thanh Khôi (chủ biên)
Tác giả đã tiếp cận vấn đề liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân
và trí thức qua việc nghiên cứu hoạt động và vai trò của tổ chức Khuyến nôngViệt Nam, nhấn mạnh vai trò của tổ chức khuyến nông, coi tổ chức này như làcầu nối giữa người nông dân với trí thức, nông dân với công nhân và ngược lại,thông qua các lĩnh vực mà các giai tầng tham gia như: công nghiệp, nông nghiệp,
Trang 6dịch vụ, khoa học công nghệ, giáo dục Nhóm tác giả đã nêu một số mô hình liênminh giữa công nhân, nông dân và trí thức hiện nay.
- “Bài học kinh nghiệm từ những điển hình thực hiện liên minh công - nông
- trí thức ở nước ta hiện nay”, Thông tin chủ nghĩa xã hội - lý luận và thực tiễn,
số 16 (tháng 12/2007) của TS Bùi Thị Ngọc Lan
Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát một số điển hình thực hiện tốt liênminh công - nông - trí thức, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cần thiết từnhững điển hình đó
“Một số chuyên đề về những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin” TS Phạm Công Nhất, PGS, TS Phan Thanh Khôi (đồng chủ biên) Nxb
-Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, Tập III, chuyên đề 3
Trong chuyên đề này, tác giả đã làm sáng tỏ lý luận về liên minh trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đã đưa ra quanniệm về liên minh, vị trí, vai trò của liên minh trong thời kỳ quá độ; khái quátquá trình thực hiện liên minh, khẳng định quan điểm của Đảng ta về xây dựngkhối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giữa công nhân với nông dân
và trí thức, từ đó đưa ra một số phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục tăng cườngkhối liên minh ở nước ta hiện nay
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung bàn đến vấn
đề liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, trong đó, làm rõ những thành tựu, hạn chế của liên minh quamột số mô hình điển hình Song, trong thực tế bên cạnh những thành tựu đãđạt được thì việc tăng cường củng cố liên minh giữa giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong giai đoạn cách mạng hiện nay cònkhông ít những bất cập, hạn chế Do đó, việc nhận thức cho đúng vị trí, vai trò
và biện pháp tăng cường củng cố liên minh này ở từng đơn vị địa phươngkhông chỉ là vấn đề lý luận, mà còn là vấn đề thực tiễn cấp bách hiện nay
Trang 7Từ thực tế nghiên cứu cho thấy, vấn đề liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí trong những năm gần đây chưa được quan tâmnghiên cứu, mặc dù vấn đề này trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi và
có nhiều nét đặc thù ở từng địa phương Ở Thanh Hoá, tuy đã có nhiều đề tài, bàiviết phản ánh đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Nhưng vấn đề liênminh công nhân - nông dân - trí thức còn là đề tài bỏ ngỏ
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng liên minh công nhân - nông dân - trí thứctrên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăngcường khối liên minh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hộinhập ở tỉnh Thanh Hoá
* Nhiệm vụ
- Làm rõ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàĐảng Cộng sản Việt Nam về liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội chủnghĩa
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực tiễn việc thực hiện liên minh qua một số
mô hình trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường, củng cố liên minh công nhân
- nông dân - trí thức ở tỉnh Thanh Hoá
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 85 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề liênminh
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một sốphương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phươngpháp điều tra, chọn mẫu, phương pháp lịch sử và lôgic…
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về liên minh côngnhân - nông dân - trí thức trong giai đoạn hiện nay
- Luận văn góp phần đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường củng cốkhối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, trước hết trên địa bàn tỉnh ThanhHoá và có thể tham khảo trên phạm vi cả nước
7 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể là cơ sở thực tiễn cung cấp cho đội ngũ cán bộ lãnh đạoquản lý trong việc nhận thức, hoạch định chính sách nhằm tăng cường củng cốkhối liên minh công nhân - nông dân - trí thức; đồng thời có thể được sử dụng lànguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy về liên minh công,nông, trí thức ở các trường chính trị, thành phố trên phạm vi cả nước và địa bàntỉnh Thanh Hoá
8 Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1
Trang 9LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC Ở
THANH HOÁ 1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP
Liên minh giai cấp là một trong những nội dung quan trọng của lý luậnchủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta, đây là cách thứcnhằm tập hợp lực lượng cách mạng Tư tưởng này được C.Mác đưa ra khi phântích những sự kiện chính trị ở Pháp vào những năm 1848 – 1849 Sau này cácĐảng Cộng sản của giai cấp công nhân tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển
và làm phong phú thêm nội dung, biện pháp và giá trị thực tiễn của nó đối vớicách mạng vô sản ở mỗi nước
1.1.1 Quan niệm về liên minh giai cấp
Vấn đề liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức đã được nhiềunhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, để nhận thức đúng nộidung và biện pháp nhằm tăng cường liên minh giai cấp giữa công nhân, nôngdân và trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước ở Việt Nam nói chung và trênđịa bàn tỉnh Thanh Hoá nói riêng, trước hết cần làm rõ khái niệm liên minh giaicấp
Khái niệm liên minh giai cấp có quan hệ với các khái niệm, như: “ Liênhiệp”, “Liên minh” , “Liên minh công nông”
“Liên hiệp” là quá trình hợp lại với nhau, đoàn kết thống nhất theo đườnglối chung để tạo thành một sức mạnh nhằm đạt tới những mục tiêu chung [1tr.160- 162]
Trang 10“Liên minh” là sự liên kết giữa hai hay nhiều lực lượng về mặt chính trị,kinh tế hay quân sự để nhằm một mục đích chung.[2tr 160-161]
“Liên minh công nông” là khối đoàn kết đặc biệt giữa giai cấp công nhân
và giai cấp nông dân lao động, là lực lượng nòng cốt của cách mạng giải phóngdân tộc và cách mạng XHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo [3 tr.200]
Trong lý luận của C Mác, thuật ngữ liên minh lúc đầu được ông sử dụng
để chỉ sự “liên hợp” giữa những người công nhân với nhau trong cuộc đấu tranh
giành chính quyền Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C Mác đã phân
tích cuộc đấu tranh của công nhân chống tư bản và cho rằng đững trước các nhà
tư bản luôn liên kết với nhau, việc giữ vững hội liên hiệp đối với người côngnhân trở nên cần thiết Ông viết:“ Trong cuộc đấu tranh ấy - đó là một cuộc nộichiến thực sự - tất cả những yếu tố cần thiết cho một cuộc chiến đấu sắp tới,đang được tập hợp lại và đang phát triển Khi đã đạt đến chỗ ấy, thì liên minhmang một tính chất chính trị” [4.tr.256]
Cùng với quá trình phát triển của giai cấp và đấu tranh giai cấp, khái niệmliên minh được dùng để chỉ sự liên kết cúa các giai cấp khác nhau Khi tổng kếtcác phong trào đấu tranh năm 1847 ở Châu Âu, Ph.Ăng – ghen cho rằng, sở dĩgiai cấp tư sản ở đây giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấpquý tộc phong kiến là nhờ có sự ủng hộ của giai cấp nông dân Điều kiện để thựchiện sự liên minh ấy chính là họ có sự thống nhất những lợi ích căn bản
Như vậy, liên minh ở đây là sự ủng hộ, sự phối hợp của giai cấp nông dânvới giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến vì những lợi ích chungtrong hoàn cảnh lúc lịch sử lúc đó Nhưng khi giai cấp tư sản đã quay lưng lạovới người nông dân bằng việc cầm cố và cho vay nặng lãi thì liên minh này bịphá vỡ Vì thế, người nông dân đã đứng lên chống lại giai cấp tư sản Đồng thời,
Trang 11trong cuộc đấu tranh ấy người nông dân đã tìm được người bạn đồng minh,người lãnh đạo là giai cấp vô sản.
Đối với Lênin, khi nói về liên minh giai cấp và chuyên chính vô sản,Người xác định: “chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minhgiữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động với đông đảo cáctầng lớp lao động không phải là vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, tríthức…)” [ 5.tr.452] Bởi vì theo ông, việc thực hiện mối liên minh giữa giai cấpcông nhân và các giai tầng khác trong xã hội được thực hiện qua nhiều giai đọankhác nhau, tuỳ vào điều kiện và hoàn cảnh nhất định Nếu như trong thời kỳ đấutranh giành chính quyền, phải thực hiện liên minh về quân sự nhằm tạo ra sứcmạnh để giữ vững chính quyền cách mạng và đấu tranh chống lại các thế lựcphản cách mạng, thì trong giai đoạn cách mạng mới – cách mạng xã hội chủnghĩa khối liên minh ấy cần được củng cố trên cơ sở các hình thức khác, nhất làliên minh về kinh tế, nhằm giải quyết hài hoà lợi ích của các giai tầng trong xãhội
Theo chúng tôi, các cách tiếp cận trên về liên minh giai cấp của các nhàkinh điển đã bao quát tính tất yếu, vai trò và các nội dung kinh tế, chính trị, xãhội của liên minh
Theo Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học, liên minh giữa giai cấp côngnhân với nông dân là hình thức hợp tác giai cấp đặc biệt giữa hai giai cấp laođộng trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựngthành công xã hội cộng sản chủ nghĩa (CSCN) Sự ra đời và củng cố khối liênminh này bắt nguồn từ những lợi ích căn bản của những giai cấp kể trên và làmột quy luật lịch sử khách quan.[6.tr 200]
Như vậy, liên minh giai cấp hiểu theo nghĩa chung nhất là sự liên kết giữacác lực lượng xã hội có lợi ích phải phối hợp hành động để thực hiện những mục
Trang 12tiêu xác định những lợi ích chung; đồng thời là một hình thức đặc biệt của đấutranh giai cấp, chỉ sự liên kết giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội nhằm phốihợp hành động để cùng thực hiện những mục tiêu chính trị chung trong một giaiđoạn lịch sử nhất định.
Cơ sở chủ yếu của liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội là vấn
đề lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp Ở đó, các giai cấp lấy mục tiêu đấutranh chung làm lợi ích thống nhất để hành động, củng cố và phát triển khối liênminh
Từ các quan niệm như đã nêu trên về liên minh giai cấp cho thấy, tuy đượcdiễn đạt bởi những cách thức khác nhau, nhưng đều đi đến thống nhất cho rằng:liên minh giai cấp là sự liên kết, thống nhất hành động dựa trên cơ sở lợi ích giữacác giai cấp, lực lượng trong xã hội Do đó, liên minh giai cấp là một phạm trùlịch sử, gắn với từng giai đoạn lịch sử Bởi vì lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi lựclượng trong khối liên minh, cũng như lợi ích của cả khối liên minh luôn cónhững biến động theo theo gian và không gian xác định Mỗi giai đoạn phát triểncủa lịch sử, do thực tiễn mâu thuẫn của xã hội luôn xuất hiện sự liên kết giữa cácgiai cấp, các lực lượng xã hội để giải quyết mâu thuẫn đó và bảo vệ lợi íchchung, do đó các giai cấp phải phối hợp hành động để thực hiện những mục tiêulợi ích đó
Trong CNTB, dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì thân phận mọingười lao động, kể cả trí thức, giai cấp nông dân hay giai cấp vô sản thì đều phảichịu sự áp bức, bóc lột của các nhà tư bản Để thoát khỏi sự áp bức, bất côngtrong điều kiện trong tay không có tư liệu sản xuất, không còn con đường nàokhác là phải thực hiện liên minh giữa các giai cấp vì mục tiêu lật đổ giai cấp tưsản, giành chính quyền về tay giai cấp lao động Do vậy, liên minh giai cấp giữacông nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức thực chất là sự liên kết giữa
Trang 13công nhân, nông dân và trí thức để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cáchmạng vô sản, xây dựng CNXH Sự liên minh ấy là nhu cầu thực tiễn khách quancủa cách mạng vô sản
Tiếp thu và kế thừa những nội dung về liên minh giai cấp như đã nêu,
Chúng tôi thống nhất với quan niệm của tác giả Phan Thanh Khôi cho rằng, liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức là sự đoàn kết, hợp lực, hợp tác, liên kết của công nhân, nông dân, trí thức nhằm thực hiện nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó vì lợi ích không chỉ cho một lực lượng, mà còn cho cả khối liên minh, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của chủ nghĩa xã hội
[6.tr114]
Với cách hiểu nêu trên về liên minh giữa công nhân với cấp nông dân vàtrí thức, nội dung khái niệm đó bao hàm các đặc trưng cơ bản sau là:
Thứ nhất, liên minh phải có mục đích xác thực, nhằm thực hiện một nhiệm
vụ Trong liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức nhiệm vụ trực tiếp
là đấu tranh để xây dựng chế độ mới đó là xã hội XHCN, trong thời kỳ quá độlên CNXH là xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, pháthuy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc,thống nhất vì dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Thứ hai, hình thức của liên minh là đoàn kết, hợp lực, hợp tác, liên kết.
Việc lựa chọn các hình thức liên kết phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xã hộigắn với nhiệm vụ lịch sử của giai cấp công nhân để lựa chọn hình thức liênminh Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam xét trên lĩnh vực kinh tế, hìnhthức của liên minh là mô hình hiệp hội, HTX kiểu mới, liên kết các nhà (phổbiến là 4 nhà)…, trên lĩnh vực chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chứcliên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, là bộ phận của hệ
Trang 14thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Thứ ba, liên minh giữa các giai cấp là nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích của
các lực lượng Vì vậy, muốn kết hợp đúng đắn các lợi ích khi thực hiện liênminh, chúng ta phải xác định đúng các nhu cầu về mọi mặt của công nhân, nôngdân, trí thức và của toàn xã hội ở từng thời điểm lịch sử cụ thể của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, từ đó giải quyết đúng đắn, hài hòa mối quan hệ giữa lợiích trước mắt và lợi ích lâu dài của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Thứ tư, điều kiện bảo đảm tính định hướng của liên minh Đó chính là
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với khối liên minh giai cấp trước hết thểhiện ở việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược, định hướng cho toàn bộhoạt động của giai cấp, tầng lớp trong xã hội Đường lối cách mạng đúng đắncủa Đảng là ngọn cờ tập hợp đông đảo quần chúng, gắn kết mọi giai cấp, tầnglớp với nhau trên cơ sở lợi ích chính đáng của các giai cấp đều được đáp ứng, tạo
sự đồng thuận phù hợp với sự phát triển chung, góp phần vào sự nghiệp củaCNXH
Trong thực tế, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức diễn ra trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức chính trị, các đoànthể là đại biểu cho họ như: doanh nghiệp, viện nghiên cứu, hợp tác xã, hội nôngdân, gia đình…
Từ các quan niệm nêu trên, liên minh giai cấp là một tất yếu khách quancủa xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, là một nội dung quan trọng củachiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản trong việc phân tích mâu thuẫn giaicấp, tầng lớp để nhận biết đúng tình thế, thời cơ Qua đó, xác định đúng sđốitượng, nội dung, nhiệm vụ liên minh, trong từng giai đoạn lịch sử của cáchmạng
Trang 151.1.2 Tính tất yếu và nội dung của liên minh giai cấp
Như đã nêu, liên minh giai cấp chính là sự phối hợp của các giai cấp, tầnglớp xã hội trong cuộc đấu tranh giai cấp, đây là tất yếu khách quan của xã hội cógiai cấp và đấu tranh giai cấp
Lịch sử xã hội đã chỉ ra rằng, trong các cuộc đấu tranh giai cấp, liên minhgiai cấp có vai trò to lớn, nhân sức mạnh đấu tranh lên nhiều lần Nó vừa làmcho lực lượng trong khối liên minh được tăng cường, vừa cô lập lực lượng củaphe đối lập Khẳng định điều đó, trước đây khi tổng kết các cuộc cách mạng
1848 – 1852 ở Pháp và Đức, đặc biệt là sau Công xã Pari 1871, C Mác vàPh.Ăngghen đã chỉ ra việc xây dựng khối liên minh công - nông và các tầng lớplao động là nhiệm vụ quan trọng để tập hợp sức mạnh trong cách mạng vô sản; lànhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng vô sản C Mác đã viết: “Côngnhân Pháp không thể tiến thêm một bước nào và cũng không thể đụng tới mộtsợi tóc nào của chế độ tư sản trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp tưsản và giai cấp vô sản tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản chưa nổi dậy chốnglại sự thống trị của tư sản, chưa bị tiến trình cách mạng buộc phải đi theo nhữngngười vô sản như là đi theo đội tiên phong của mình” [7, tr.26 - 27]
Luận điểm trên của C Mác cho thấy, giai cấp công nhân nếu không liênminh được với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động (trong đóđặc biệt là tầng lớp trí thức) thì sẽ không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử củamình Bởi vì, cách mạng vô sản để đi đến thành công, ngoài vai trò lãnh đạo củagiai cấp vô sản thông qua chính đảng của nó, còn cần lực lượng cách mạng đểtạo nên sức mạnh to lớn Do vậy, liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức
là tất yếu khách quan của cách mạng vô sản, là nhiệm vụ quan trọng của giai cấpcông nhân trong cách mạng XHCN
Trang 16Lịch sử cho thấy, bất kỳ một xã hội có giai cấp nào cũng cần đến đội ngũtrí thức, và trí thức có vai trò to lớn giúp giai cấp cầm quyền Do đó, để tập hợplực lượng, giai cấp công nhân cần phải liên minh với đội ngũ trí thức Khẳngđịnh điều này, trước đây Ph Ăngghen đã chỉ ra: “Sự nghiệp giải phóng giai cấpcông nhân cần phải có những bác sỹ, kỹ sư, nhà hoá học, nông học và cácchuyên gia khác, vì vậy vấn đề là phải nắm lấy quản lý không phải bộ máy chínhtrị mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần nhiều đến kiến thứcvững chắc” [8, tr.613-614].
Phát triển tư tưởng về liên minh giai cấp của C Mác và Ph Ăngghen, V.I.Lênin coi liên minh giai cấp là nguyên tắc cơ bản của chuyên chính vô sản.Người chỉ rõ: “Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minhgiữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnhđạo và chính quyền nhà nước” [44, tr.57] Theo V.I Lênin, liên minh giữa giaicấp công nhân với giai cấp nông dân không chỉ là nguyên tắc tối cao, quyết định
sự thành bại trong cuộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân, mà quantrọng hơn, đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng quyết định sự sống còn để xâydựng và củng cố chính quyền, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới – xã hội
xã hội chủ nghĩa Liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp tríthức, theo V.I Lênin không chỉ có vai trò to lớn trong thời kỳ giành chính quyền
mà cả trong thời kỳ cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa Người chỉ rõ: “Chỉ khinào nước ta đã điện khí hoá, chỉ khi nào công nghiệp, nông nghiệp và vận tải đãđứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại công nghiệp hiện đại, thì lúc đó, chúng tamới có thể đạt thắng lợi hoàn toàn” [10, tr.195] Theo Lênin, nền sản xuất đạicông nghiệp tất yếu đòi hỏi giai cấp công nhân phải liên minh với trí thức, đó là
“sự hợp tác của các đại biểu khoa học và công nhân, chỉ có sự hợp tác như thếmới có thể thủ tiêu được toàn bộ nạn nghèo khổ, bệnh tật và bẩn thỉu” và “Trước
Trang 17sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, khôngmột thế lực đen tối nào đứng vững được” [11, tr.218].
Trong điều kiện kinh tế - xã hội Nga sau Cách mạng tháng Mười năm
1917, V.I Lênin đã đặc biệt coi trọng lợi ích của nông dân, bởi đó là điều kiệnthu hút họ tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố khối liên minh côngnông Bởi vậy, trước sự khủng hoảng kinh tế, xã hội ở nước Nga xô viết sau thời
kỳ nội chiến, cùng Đảng Bôn sê vích, Lênin đã đưa ra chính sách kinh tế mới(NEP) thay cho chính sách cộng sản thời chiến bắt đầu từ thuế lương thực Sự rađời của NEP đã phản ánh biện pháp cốt lõi bảo đảm lợi ích cho giai cấp nông dânNga Nhờ đó nước Nga vượt qua được cuộc khủng hoảng, nội chiến và làm cơ sởcho sự phát triển sau này
Từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, và yêu cầu xây dựng lực lượng cáchmạng, đòi hỏi cần nhận thức đúng vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, nông dân
và trí thức Điều đó đòi hỏi, xây dựng và củng cố khối liên minh giữa công nhânvới nông dân và trí thức là tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH
* Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về liên minh giai cấp.
Tiếp thu chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam, từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn nhận thức rõ sức mạnh của nông dân, coi đây là lực lượngcách mạng to lớn Người khẳng định, cách mạng Việt Nam muốn đi đến thắnglợi, phải biết lấy quần chúng công nông làm gốc
Một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam, vấn đề dân tộc “thực chất làvấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân dogiai cấp công nhân lãnh đạo, và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyềncủa công nông” [12, tr.17-18] Bởi vì, thời kỳ đó Việt Nam là quốc gia với trên90% số dân là nông dân, nên việc giải phóng dân tộc về cơ bản là giải phóngnông dân; nên dân chủ nhân dân thực chất là chính quyền của công – nông, do
Trang 18giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân và chuẩn bị các tiền đề, điều kiện để tiến lênCNXH Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, động lực cơ bản của cách mạngViệt Nam là công nhân và nông dân; công nông liên minh là trụ cột của mọi sựtập hợp dân tộc, trong đó giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng.
Vì vậy, phải thực hiện cho được liên minh công – nông vì đó là sự đảm bảo chắcchắn nhất những thắng lợi của cách mạng Chỉ có khối liên minh công – nông, dogiai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng Việt Nam mới có thể đánh đổ các thế lựcphản động, giành lấy chính quyền về tay nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm
vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân [13, tr.302]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam muốn thành công thìnhất thiết phải tập hợp, đoàn kết được giai cấp công nhân với giai cấp nông dânđến các lực lượng “bầu bạn” khác thành khối thống nhất Do đó, Người đã chăm
lo xây dựng khối liên minh công nhâ, nông dân và trí thức Tuy nhiên, để xâydựng khối liên minh thống nhất ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải cómột cương lĩnh cách mạng đúng đắn để thắt chặt khối liên minh công nhân -nông dân Vì vậy, ngay từ “Chánh cương vắn tắt” được thông qua tại Đại hộithành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu hành động: “Đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “Làm cho nước Nam được hoàntoàn độc lập”; “Dựng ra Chính phủ công nông binh”; “Tổ chức ra quân đội côngnông”, “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân càynghèo” [14, tr.1,2] Đây là mục tiêu chung của các giai cấp làm cách mạng
Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh rằng, khối đại đoàn kết toàndân tộc chỉ được tập hợp và phát huy mạnh mẽ khi giai cấp công nhân nắm vaitrò lãnh đạo Vì, trong khối đại đoàn kết toàn dân ấy, mỗi tầng lớp, giai cấp thamgia, đều mưu cầu cho mình những lợi ích riêng Do đó chỉ bằng năng lực, uy tín
Trang 19của Đảng mới đủ khả năng thống nhất được lợi ích của các giai cấp và lợi íchchung của toàn xã hội; Chỉ có chính Đảng cách mạng mới tìm ra biện pháp, conđường đấu tranh để biến mục tiêu ấy thành hiện thực Khi đó, sức mạnh đoàn kếtcủa dân tộc được nhân lên, đủ sức đánh đổ kẻ thù, giải phóng và bảo vệ vữngchắc tổ quốc Công nhân và nông dân bao giờ cũng là “gốc”, là “nền” của cáchmạng Nên, để có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân,đoàn kết tất cả những người thực sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, không phân biệtđảng phái, tôn giáo
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên minh về kinh tế là nộidung hàng đầu trong liên minh giai cấp Nên phải đẩy mạnh phát triển kinh tế,từng bước gắn kết giữa công nghiệp với nông nghiệp, làm cho nông nghiệp thực
sự trở thành cơ sở để phát triển công nghiệp Trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minhviết: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế Nông nghiệpphải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân, cung cấp đủnguyên liệu (như bông, mía, chè ) cho nhà máy Cung cấp đủ nông sản (như lạc,
đỗ, đay…) để xuất khẩu đổi lấy máy móc Công nghiệp phải phát triển để cungcấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân; cung cấpmáy bơm nước, phân hoá học, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp Côngnghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển Cho nên công nghiệp và nôngnghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đềuthì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích Thế là, thực hiện liênminh công - nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sungsướng cho nhân dân” [15, tr.544-545]
Không chỉ yêu cầu liên minh giữa công nhân và nông dân, theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, trong lực lượng cách mạng còn chú ý liên minh với trí thức, đây làđiều kiện để đảm bảo sự vững chắc cho khối liên minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
Trang 20viết: “Cách mạng cũng cần có trí thức… thí dụ: cần có thầy thuốc để săn sóc sứckhoẻ cho nhân dân, cần có thầy giáo để dạy văn hoá và đào tạo cán bộ; cần có kỹ
sư để xây dựng kinh tế… Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang;
và công, nông, trí thức cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối” [16,tr.214 215], “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với phát triển khoa học và kỹ thuật,với sự phát triển văn hoá của nhân dân Những người trí thức của chúng ta đãđóng góp một phần xứng đáng trong kháng chiến Họ đã được Đảng luôn luôngiúp đỡ để tiến bộ Cho nên họ đi theo chủ nghĩa xã hội Giai cấp công nhânđoàn kết chặt chẽ với trí thức để giúp họ phục vụ cách mạng, phục vụ chủ nghĩa
-xã hội” [17, tr.165]
Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vềliên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức Dưới sự lãnh đạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi nắm quyền lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đãquyết tâm xây dựng và củng cố khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức,coi đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.Đảng ta đã đưa ra quan điểm nhất quán rằng, lực lượng cách mạng, ngoài haigiai cấp cơ bản là công nhân và nông dân cần đặc biệt chú trọng tầng lớp trí thức.Đảng nêu rõ “… chính quyền dân chủ của nhân dân dựa vào Mặt trận dân tộcthống nhất, lấy liên minh công nhân, nông dân và lao động trí thức làm nền tảng
và do giai cấp công nhân lãnh đạo”[ 18, tr 121] Từ đó, Đảng ta luôn giải quyếtnhiều vấn đề thực tiễn cách mạng trong các giai đoạn một cách khoa học trênnền tảng lý luận về liên minh công nhân, nông dân và trí thức của chủ nghĩa Mác– Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước; luôn nắm vững vàgiải quyết đúng đắn vấn đề, củng cố được liên khối minh công nhân, nông dân vàtrí thức Do đó, Đảng đã quy tụ và đoàn kết xung quanh minh tất cả các giai cấp,các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp
Trang 21Có thể khẳng định, với đường lối chính trị xây dựng và phát huy vai tròcủa khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức, Đảng ta đã huy động đượcsức mạnh đoàn kết toàn dân, vượt qua muôn vàn khó khăn đánh thắng hai kẻthực dân lớn là Pháp và Mỹ Thắng lợi đó làm sáng tỏ chân lý, một dân tộc dù lànhỏ yếu, nhưng khi đã đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạocủa một chính Đảng cách mạng hoàn toàn có thể giành độc lập Thắng lợi đócũng đã chứng tỏ rằng, chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng mới có thể tạođiều kiện cho các tầng lớp nhân dân đoàn kết một lòng, cùng chung chí hướng đểđánh bại quân thù giành tự do, độc lập
Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, một lần nữa, Đảng ta đã khẳng định:
“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liênminh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợiích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của cácthành phần kinh tế của toàn xã hội” [19, tr.86]
Quan điểm trên của Đảng ta là bước phát triển tư duy lý luận về liên minhcông nhân, nông dân và trí thức là tìm thấy cơ sở nền tảng để xây dựng khối liênminh công nhân, nông dân và trí thức là giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữacác giai cấp
Trên phương diện chính trị, để xây dựng và củng cố khối liên minh côngnhân, nông dân và trí thức, Đảng ta xác định, cách mạng vì mục tiêu: Độc lậpdân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đây là nội dung cốt lõi để tạo sự thốngnhất giữa các giai cấp và tầng lớp; là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàndân tộc
Chính nhờ có sự thống nhất chung về chính trị là “Độc lập dân tộc gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã thu hút được sức mạnh của cả dân tộc vào quátrình xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Từ đó, nhân dân ta trở thành
Trang 22người chủ thực sự của đất nước và tham gia hoạt động ngày càng nhiều vào cáclĩnh vực để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh Để củng
cố liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức trên lĩnh vực chính trị, vấn đềcốt lõi là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công, nông,trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng nhấn mạnh: “… Xây dựng nhànước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấyliên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nềntảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo” [ 20, tr.9] Từ đó, Đảng luôn quan tâm đổimới biện pháp quản lý của bộ máy nhà nước và Hệ thống chính trị nhằm mởrộng quyền dân chủ của nhân dân
Để bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngay từ cơ sở, Đảng ta
đã lãnh đạo nhà nước ban hành “Quy chế dân chủ ở cơ sở” (nay là Pháp lệnh dânchủ ở cơ sở); phát huy vai trò của hệ thống chính trị để vận động nhân dân thựchiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đạiđoàn kết toàn dân Đây là cơ sở quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dântộc, nâng cao chất lượng và phát huy sức mạnh của khối liên minh giữa côngnhân, nông dân và trí thức trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp, lạc hậu,vấn đề liên minh kinh tế giữa công, nông, trí thức là một “mắt khâu” xuyên suốt
là nền tảng củng cố khối đoàn kết thống nhất Do vậy, đòi hỏi phải kết hợp đúngđắn các lợi ích kinh tế
Trên thực tế, do nóng vội muốn đến sớm chủ nghĩa xã hội, trong cơ chế
cũ, chúng ta đã vấp phải một số sai lầm, nhất là sai lầm trong định hướng pháttriển ngành kinh tế, như chưa tạo ra cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý; chưa tập
Trang 23trung đúng mức cho phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lươngthực, thực phẩm; chưa kết hợp chặt chẽ nông, lâm, ngư nghiệp Quan trọng hơn,chưa gắn công nghiệp với nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến; chưa đầu
tư thỏa đáng cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nôngnghiệp, và công nghiệp…Chính điều đó làm cho trình độ kỹ thuật của sản xuấtnông nghiệp còn rất thấp, chưa cung ứng đủ công cụ, vật tư cần thiết cho sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp Sự hạn chế trên đã ảnh hưởng lớn đến đời sống củađông đảo nông dân, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến khối liên minh giữa công nhân,nông dân và trí thức
Khắc phục sai lầm chủ quan trên, Đảng ta đã khởi xướng sự nghiệp đổimới, với việc thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần Đó là giải pháp để mọi tầng lớp dân cư được mở rộng sản xuất kinh doanh,
từ đó đã giải phóng sức sản xuất của xã hội, khơi dậy khả năng sáng tạo trongnhân dân; tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật và đưa kỹ thuật tiến bộ vào sảnxuất nông nghiệp Chính đường lối đổi mới đúng đắn này đã đưa nước ta ra khỏicuộc khủng hoảng kinh tế và tạo bước phát triển mới cho đất nước Đảng ta đãchủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế, trong đó trước hết là thực hiệnCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, với mục tiêu hiện đại hoá kinh tế nôngnghiệp Đây là biện pháp nhằm thực hiện tốt liên minh kinh tế giữa công nhân,nông dân và trí thức Đảng ta đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo cơ bản, trong đóđặc biệt nhấn mạnh:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn
bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp, nông thôn
Trang 24- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực conngười, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường đểsản xuất hàng hoá quy mô lớn
- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bênngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc
- Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoáđói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển xã hội; nâng cao đời sống vật chất
và văn hoá của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùngsâu, vùng xa; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục
- Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thônvới xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhândân, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xãhội của cả nước, của các ngành và địa phương
Các quan điểm trên thể hiện một cách toàn diện đường lối của Đảng vềliên minh kinh tế giữa các giai cấp; là tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêucông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, biện pháp quan trọng nhằm thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa các giai cấp, các khu vực trên con đường phát triển
Thực tiễn chỉ rõ, các nội dung kinh tế, chính trị của liên minh công, nông,trí thức đều nhằm thực hiện các mục tiêu là đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhucầu vật chất và tinh thần của nhân dân; từng bước nâng cao đời sống vật chất,văn hoá tinh thần cho các giai cấp công nhân, nông dân và trí thức và các tầnglớp nhân dân lao động khác
Trang 25Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm văn hoá, xã hội ở nước ta là nước nôngnghiệp lạc hậu và chịu hậu quả chiến tranh tàn phá nặng nề, nên tình trạng nghèođói, những tiêu cực, tệ nạn xã hội nảy sinh…còn diễn ra phổ biến, trên diện rộng.Khắc phục tình trạng trên, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết từng bước tình trạngđói nghèo cho nông dân, công nhân, trí thức Thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng vàNhà nước ta đã có những chính sách xã hội, chương trình phát triển kinh tế nhằmgiải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh, từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Thực hiện công bằng xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, trước hết cần phải phát huy vai trò nhân tố con người, phát triển khoahọc và công nghệ, phát triển giáo dục và đào tạo Đây là giải pháp nhằm khắcphục hạn chế để tạo nên sức mạnh nội sinh của đất nước
Hiện nay, khi nhân loại đang hướng tới nền kinh tế tri thức thì việc tăngcường đoàn kết thống nhất trong liên minh công, nông trí thức trên lĩnh vực xãhội càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn bao giờ hết Trên lĩnh vực văn hoá,
xã hội, đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng, vì họ là đại diện cho nguồnlực trí tuệ của đất nước, là lực lượng nòng cốt chuyển tải các giá trị văn hoá đếncác giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động Hơn thế, có sự hợp tác giữa trí thức vớicông nhân, nông dân mới tạo ra được đội ngũ “công, nông, trí thức” hùng hậuđáp ứng đòi hỏi của sự phát triển của nền sản xuất hiện đại Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục đề ra những biện pháp cụ thể nhấnmạnh vai trò của trí thức Đồng thời chú trọng giải quyết lợi ích thiết thực củacác giai cấp và tầng lớp như: vấn đề việc làm, nâng cao dân trí, đào tạo chuyênmôn nghiệp vụ, bảo đảm sức khoẻ, tạo môi trường làm việc thuận lợi, ứng dụngcác thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Thông qua việc giải quyết cácnhu cầu, lợi ích của mỗi giai cấp và tầng lớp trong xã hội, Đảng và Nhà nước đã
Trang 26tạo ra những điều kiện quan trọng để củng cố khối liên minh giữa công nhân,nông dân và trí thức trong điều kiện mới
Như vậy, liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức là một chỉnh thểcác nội dung chính trị, kinh tế và văn hoá, xã hội Các nội dung đó có quan hệchặt chẽ, chi phối lẫn nhau Liên minh chính trị nhằm đạt các mục tiêu kinh tế,văn hoá, xã hội và ngược lại điều này là đúng với xu thế của thời đại
Do vị trí, vai trò của khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thứcrất to lớn đối với mọi thời kỳ cách mạng nói chung và trong giai đoạn CNH,HĐH đất nước nói riêng Vì vậy, để tăng cường củng cố khối liên minh côngnhân, nông dân và trí thức trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ quan trọng là thựchiện tốt quan hệ hợp tác cả về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội giữa giai cấpcông nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, vì sự gắn kết chỉ được phát huy khi bảođảm trên thực tế về lợi ích
Tuy nhiên, tuỳ theo từng thời gian và điều kiện lịch sử cụ thể, mặt nào đótrong nội dung chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội liên minh công nhân, nông dân
và trí thức nổi lên chiếm vị trí hàng đầu
1.2 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THANH HOÁ VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá
* Đặc điểm về địa kinh tế của tỉnh
Thanh Hóa là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 150 km vềphía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km Là tỉnh nằm trong vùng có sựảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng kinh
tế trọng điểm Trung bộ, Nam bộ
Trang 27Vị trí địa lý của tỉnh có những thuận lợi như, có đường sắt, đường quốc lộ1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu hànghoá và tiếp biến văn hoá với các tỉnh và thành phố khác trong cả nước
Hệ thống sông ngòi ở Thanh Hoá phân bố khá đều, với 4 hệ thống sôngchính, 5 cửa lạch thông ra biển Đặc biệt, Thanh Hoá còn có cảng nước sâu NghiSơn tiếp nhận tàu tải trọng 5 vạn DWT đã làm thay đổi các luồng vận tải hànghóa xuất khẩu trong toàn quốc
Đặc điểm vị trí địa lý nêu trên của Thanh Hoá trong bối cảnh hiện nay cótác động hết sức mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Biểuhiện cụ thể trên các mặt:
- Mạng lưới giao thông với kết cấu hạ tầng đường sắt, đường bộ và đườngbiển tạo ra cơ hội và là động lực quan trọng để thực hiện; sự hỗ trợ chuyển giaocông nghệ từ các thành phố lớn
- Tạo môi trường thuận lợi trong việc tiếp cận các thị trường, đặc biệt là thịtrường tiêu thụ nông sản, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp…
Tuy nhiên, do vị trí địa kinh tế quy định nên bên cạnh những thuận lợi,Thanh hoá cũng phải đối mặt với thách thức, đó là sự cạnh tranh gay gắt với cácđịa phương có kinh tế phát triển, như Hà Nội, Đà Nẵng…Vì vậy, để có thể hộinhập nhanh vào xu thế chung của nền kinh tế trong vùng và của cả nước, ThanhHóa cần phải phát huy những tiềm năng và lợi thế của tỉnh cùng với sự nỗ lựccao của toàn thể cán bộ và nhân dân trong tỉnh
* Về tài nguyên thiên nhiên
Thanh Hóa có diện tích đất tự nhiên 1.112.033 ha, với 10 nhóm đất, trong
đó đất sản xuất nông nghiệp là 245.367 ha; đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha;đất nuôi trồng thủy sản 10.157 ha Đa phần các nhóm đất thích hợp cho phát
Trang 28triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả Đây làtiềm năng để phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng Khaithác triệt để nguồn tài nguyên này là điều kiện quan trọng để phát huy được thếmạnh nông nghiệp, qua đó góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội trênđịa bàn tỉnh.
Là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn, với diện tích rừng là484.246 ha, trữ lượng gỗ khoảng 16,64 triệu m3 Rừng Thanh Hóa có nhiều loại
gỗ quý hiếm, hàng năm có thể khai thác 50.000 m3 - 60.000 m3 như lát, sa mu,lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ Ngoài ra, Thanh Hoá còn là tỉnh
có diện tích luồng, tre, nứa lớn nhất trong cả nước, với diện tích trên 50.000 ha,trữ lượng trên 1 tỷ cây, trong đó có 60 triệu cây luồng Đây là tiềm năng để pháttriển các ngành kinh tế công nghiệp chế biến lâm, thổ sản
Thanh Hóa có 102 km bờ biển chạy dài từ cửa Đáy (tỉnh Ninh Bình) đếnĐông Hồi (huyện Tỉnh Gia) và vùng lãnh hải rộng lớn diện tích 1,7 vạn km2.Biển Thanh Hoá có trữ lượng lớn về hải sản khoảng (100.000 - 120.000 tấn),với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao Dọc biển có 7 cửa lạch lớn nhỏ, tạođiều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy, và cho tàu thuyền đánh cá ra vào,hơn thế còn là bến đậu, là tụ điểm giao lưu, trung tâm nghề cá của tỉnh Vùng cửalạch với bãi bồi rộng, nơi để nuôi trồng hải sản, có thể nuôi cá song, trai ngọc, tômhùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ để nuôi nhuyễn thể vỏ cứng (ngao,sò…) Đây là sự ưu đãi lớn của thiên nhiên cho Thanh Hóa, cần phát huy để pháttriển kinh tế
Là tỉnh có nguồn tài nguyên nước rất phong phú, với tổng diện tích lưuvực là 39.756 km2, lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3 Nước ngầm ởThanh Hóa rất phong phú về trữ lượng và chủng loại, hiện tại có khả năng cungcấp khoảng 400.000m3/ ngày Nhìn chung, nguồn nước ở tỉnh Thanh Hóa khá dồi
Trang 29dào cả nước mặt và nước ngầm, có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và đời sống an sinh của nhân dân.
Thanh Hóa còn là một trong các tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú và
đa dạng, có trữ lượng lớn, chất lượng tốt, như đá vôi (trên 370 triệu tấn), crôm(khoảng 21 triệu tấn), quặng sắt (2 triệu tấn), secpentin (15 triệu tấn), đôlômit(4,7 triệu tấn)… Nguồn tài nguyên tự nhiên này là điều kiện để phát triển cácngành công nghiệp khai khoáng, tạo nên sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, cóđiều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế
* Những đặc điểm về xã hội
Dân số Thanh Hoá trong độ tuổi lao động có khoảng 2,16 triệu người(chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh), tương đối trẻ, có trình độ văn hóa Lựclượng lao động đã qua đào tạo trên địa bàn tỉnh chiếm 31% dân số, trong đó laođộng trong nông nghiệp chiếm 67%, tương đương với 2.495.750 người Số laođộng chưa có việc làm còn nhiều, nếu được đào tạo đây sẽ là nguồn bổ sungnhân lực quan trọng trong tương lai, phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội củatỉnh
Là vùng đất địa linh nhân kiệt, Thanh Hóa có truyền thống lịch sử và vănhóa lâu đời; quật cường trong kháng chiến, và có vị thế trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Con người xứ Thanh có truyền thống hiếu học, laođộng cần cù, sáng tạo, ý chí vượt khó thành tài
Nhìn chung, ở Thanh Hóa bên cạnh những thuận lợi để thu hút đầu tư pháttriển, cũng còn không ít những thách thức, khó khăn Đó là: Diện tích miền núirộng, địa hình hiểm trở, thời tiết khí hậu diễn biến thất thường, lụt bão, lốc xoáy,nắng hạn và rét hại thường xuyên xảy ra Sự khác biệt giữa các mùa cao, tínhchất thời vụ hết sức khắt khe, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp Kếtcấu hạ tầng còn yếu kém, trình độ phát triển kinh tế còn lạc hậu, điểm xuất phát
Trang 30thấp, sức hấp dẫn để thu hút đầu tư còn hạn chế Dân số đông, lao động dồi dàonhưng kỹ năng, kỹ xảo còn thấp; tư tưởng phong kiến của một bộ phận dân cưcòn nặng nên năng lực tiếp cận cơ chế thị trường không cao; tập quán tự túc, bảothủ, ỷ lại, mặc cảm, tự ti, còn diễn ra không ít
1.2.2 Tính tất yếu của liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
Như đã phân tích trên, liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức là vấn
đề có tính nguyên tắc đối với những nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội Liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức là động lực, là điều kiện bêntrong có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, nước ta đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN từ điểm xuất phátthấp, có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, người lao động đa số chưa qua đào tạo,công cụ lao động thủ công, năng suất lao động thấp Nhiều tiền đề, điều kiện vậtchất kinh tế, văn hoá xã hội của nền sản xuất công nghiệp còn thiếu vắng Để tạobước phát triển không có con đường nào khác là phải tiến hành CNH, HĐH.Đúng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định "thực hiệncông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế trí thức và bảo
vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả
và bền vững, gắn kết chặt chẽ với công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Coi trọngphát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng vàcác ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càngđạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xâydựng nông thôn mới" [21, tr.75]
Như vậy, đối với nước ta đẩy mạnh CNH, HĐH là tất yếu và bức thiết.Chính sự nghiệp ấy đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội Thực tiễn đó đặt ra, cần phải huy động và phát huy sức mạnh của
Trang 31đông đảo các tầng lớp nhân dân Bởi vì, chỉ khi phát huy được sức mạnh củanhân dân, trực tiếp là sức mạnh của khối liên minh công nhân, nông dân và tríthức mới bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa nông nghiệp với công nghiệp và khoahọc công nghệ, qua đó, tạo nên động lực phát triển
Thực tế đẩy mạnh CNH, HĐH ở những nước phát triển, là quá trình sửdụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới và hiện đại để thúc đẩy kinh tế
xã hội phát triển hơn Nhưng đối với nước ta, CNH, HĐH trước hết đòi hỏi côngnghiệp cần gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, đó là quá trình sử dụng nhữngthành tựu khoa học công nghệ để tạo bước chuyển căn bản bộ mặt kinh tế, chínhtrị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và tinh thần của xã hội trước hết ở nông thôn,khơi dậy tiềm năng kinh tế nông thôn Thực hiện yêu cầu đó, đòi hỏi phải làmcho khoa học, công nghệ thấm sâu vào mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống Do đó,
để tạo động lực phát triển và sự gắn kết giữa kinh tế công nghiệp, nông nghiêp,dịch vụ; khai thác các tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy nhanh kinh tế - xã hội pháttriển đòi hỏi phải khơi dậy sức sáng tạo của đông đảo tầng lớp nhân dân, trướchết là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức Đây là đòi hỏi tấtyếu sự liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức
Cùng xu thế chung của đất nước, Thanh Hóa phải tiến hành CNH, HĐH.Thực chất quá trình CNH, HĐH là nhằm chuyển đổi căn bản nền sản xuất xã hội
từ lao động thủ công là chính sang lao động máy móc, phương tiện kỹ thuật tiêntiến, hiện đại, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững củatoàn bộ nền kinh tế quốc dân Mặt khác quá trình thực hiện CNH, HĐH ở ThanhHóa hiện tại cần phải bảo đảm sự thống nhất, liên kết giữa công nghiệp, nôngnghiệp và khoa học công nghệ, do vậy tất yếu cần có sự liên minh giữa côngnhân, nông dân và trí thức
Trang 32Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên và các đặc điểm về kinh tế, văn hoá,
xã hội của tỉnh, thời gian qua Đảng bộ tỉnh và hệ thống chính trị tỉnh Thanh Hoá
đã xây dựng các chương trình, nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh tế giai đoạn
2010 – 2015 Tập trung khơi dậy và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội,khai thác có hiệu quả các tiềm năng kinh tế Đại hội tỉnh Đảng bộ khoá XVII( nhiệm kỳ 2010 – 2015) đã xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động tối đa
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo bước đột phá về tốc độ, chất lượngtăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường đầu tư xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế – xã hội; tạo sự chuyển biến rõ nét về chất lượng nguồn nhânlực; đẩy mạnh xã hội hoá, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội;nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; tăng cường bảo vệ tàinguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; kết hợp tốt giữaphát triển kinh tế – xã hội với giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng,
an ninh; phấn đấu đến năm 2015 đạt mức thu nhập bình quân của cả nước, đếnnăm 2020 trở thành một trong những tỉnh tiên tiến” [22, tr 36 ]
Để thực hiện được mục tiêu trên, cần khơi dậy và phát huy vai trò sáng tạotrong quần chúng, đây là động lực quan trọng thúc đẩy các phong trào thực tiễn
Do vậy, việc củng cố và phát huy vai trò của liên minh giữa công nhân, nông dân
và trí thức trên địa bàn tỉnh là tất yếu khách quan
Hiện tại, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trênđịa bàn tỉnh chưa được khai thác có hiệu quả Hơn thế, các ngành kinh tế côngnghiệp, kinh tế dịch vụ ở Thanh Hoá phát triển còn chậm Nhiều lợi thế về kinh
tế, nhất là những lợi thế về các nguồn lực trong nông nghiệp và nông thôn chưađược phát huy đúng vai trò trong thời kỳ CNH, HĐH
Trang 33Vốn là tỉnh có nguồn lực lao động dồi dào cả sức trẻ và trình độ văn hóa.Theo thống kê, hiện tại, tỉnh Thanh Hoá có nguồn lao động trong độ tuổi chiếm58,8% trong tổng dân số của tỉnh, các nguồn lực khác khá phong phú nhưng,thực tế các nguồn lực vẫn còn tồn tại ở dạng tiềm năng
Để phát huy và khai thác các tiềm năng nguồn lực trên, đòi hỏi cần đẩymạnh quá trình CNH, HĐH kinh tế nông nghiệp và nông thôn Nhấn mạnh điềunày, Văn kiện Đại hội tỉnh Đảng bộ khoá XVI chỉ rõ : “…phát huy nội lực, khaithác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực, ưu tiênđầu tư phát triển các ngành, các lĩnh vực có tiềm năng lợi thế của tỉnh, đáp ứngyêu cầu thị trường, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐHđảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững, nâng cao hiệu quả vàsức cạnh tranh, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới" [22 –36] Trên tinh thần ấy, những năm qua, Đảng bộ Thanh Hoá đã chủ động xâydựng quy hoạch phát triển kinh tế ngành và vùng, trong đó chú trọng ưu tiên choquá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; từng bước đưa công nghiệp vềnông thôn, tạo sự gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp Do đó nhiều tiềmnăng kinh tế nông nghiệp phục vụ cho công nghiệp đã được phát huy
Do có chính sách phát triển kinh tế phù hợp, sự gắn kết giữa công nhân,nông dân và trí thức ngày được tăng cường và củng cố Chính sự liên minh ấytạo động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH trên địa bàn của tỉnh Nhiều vùngnông thôn trong tỉnh, nhất là khu công nghiệp ngành mía đường, các khu chếxuất nông lâm sản thuộc các huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành, NôngCống, Tĩnh Gia…đã có bước phát triển đáng kể, đã và đang hình thành các trungtâm đô thị, các cụm công nghiệp tại nông thôn, qua đó, xác lập nên mô hình mới
về liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức khá sâu sắc làm cơ sở để tăngcường khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh
Trang 34Tiến hành CNH, HĐH ở Thanh Hoá là quá trình hướng tới để thực hiệnmục tiêu xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuậthiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânđược nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc Quá trình đó được thực hiệnbằng chính sức mạnh của con người Thanh Hóa, trực tiếp là sức mạnh của khốiliên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức tại địa phương, trong đó lấy mụctiêu chung là xây dựng Thanh Hoá giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh
Như vậy ở Thanh Hoá CNH, HĐH là nhằm bảo đảm phát triển bền vững,hài hoà giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; xây dựng cơ sở vật chất, kỹthuật hiện đại; đưa nền sản xuất ngày càng đạt đến trình độ phát triển cao, đẩymạnh việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất.Muốn vậy phải chăm lo đào tạo đội ngũ người lao động có trình độ chuyên môn
và tay nghề tương ứng với yêu cầu CNH, HĐH Trong khi đó, hiện tại lao độngThanh Hoá chiếm 58,8% dân số toàn tỉnh chủ yếu vẫn là lao động nông nghiệp,nông dân Bên cạnh nhiều ưu điểm, nguồn lực lao động này còn bộc lộ nhiều hạnchế Nhất là tư duy còn nặng về kinh nghiệm, kiến thức về sản xuất hàng hoá vàkinh tế thị trường thiếu vắng; sự liên kết, liên doanh và hợp tác trong sản xuấtlỏng lẻo, thiếu tính kỷ luật; năng lực ứng dụng khoa học vào sản xuất còn nhiềuhạn chế Điều đó trở thành rào cản cho quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Vì vậy,tăng cường liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức là biện pháp quantrọng nhằm khắc phục tình trạng yếu kém trên, đồng thời tạo động lực đẩy nhanhquá trình CNH,HĐH và phát triển nguồn lực
Thực tế cho thấy, kinh tế của Thanh Hóa hiện nay chủ yếu vẫn là sản xuấtnông nghiệp, chất lượng và hiệu quả chưa cao; cơ cấu kinh tế nông nghiệpchuyển dịch chậm và không đều giữa các vùng, miền Khả năng cạnh tranh củahàng hoá nông sản thấp; năng suất, chất lượng các sản phẩm chưa cao Tuy có
Trang 35nhiều lợi thế về phát triển các mặt hàng từ nông nghiệp, nhưng thực tế phát triểncòn chậm Kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm; khai thác và nuôi trồng thuỷ sảnphát triển chưa gắn với chế biến; ý thức hợp tác, liên doanh, liên kết trong sảnxuất kinh doanh chưa được xác định đúng đắn Kết cấu hạ tầng ở nhiều địaphương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc miền núi, biên giới, venbiển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Để giải quyết được bài toán này đòi hỏiphải có sự chung tay, thống nhất của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong tỉnh Vìvậy tất yếu phải thực hiện liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức.
Kết luận chương 1
Liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân và trí thức là sự đoàn kết,hợp tác, liên kết của công nhân, nông dân, trí thức nhằm thực hiện một nhiệm vụ,giải quyết một vấn đề nào đó vì lợi ích không chỉ cho một lực lượng mà còn cho
cả khối liên minh, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của chủ nghĩa xã hội.Đây là một tất yếu khách quan của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp
Lịch sử xã hội đã chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh giai cấp khác nhau vớinhiều hình thức liên minh khác nhau, nhưng đều thống nhất hành động dựa trên
cơ sở lợi ích giữa các giai cấp, lực lượng trong xã hội Do đó liên minh giai cấp
là một phạm trù lịch sử, gắn với từng giai đoạn lịch sử
Lý luận liên minh giai cấp là một trong những nội dung cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin Trong cách mạng vô sản, liên minh giai cấp cũng là vấn đề
có tính quy luật Trong đấu tranh giành chính quyền, cũng như trong quá trìnhxây dựng xã hội mới, liên minh công nhân, nông dân và trí thức là nền tảng sứcmạnh chính trị, là sức mạnh cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp
Vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về liên minh giai cấp của chủnghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng về liên minhgiai cấp trong cách mạng Việt Nam, đó là: Cách mạng Việt Nam phải lấy liên
Trang 36minh công – nông làm gốc; liên minh công – nông là nền tảng của khối đại đoànkết, những nội dung này đã trở thành kim chỉ nam cho đường lối cách mạng củaĐảng Cộng sản Việt Nam và cho các chủ trương, chính sách liên minh, đoànkết… ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ của cách mạng Việt Nam.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh CNH, HĐH là tất yếu
và là vấn đề bức thiết Chính sự nghiệp ấy đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, và tỉnh Thanh Hoá cũng không nằm ngoài
xu thế chung đó Thực tiễn đó đặt ra, cần phải huy động và phát huy sức mạnhcủa đông đảo các tầng lớp nhân dân Quá trình thực hiện CNH, HĐH ở tỉnhThanh Hoá hiện tại cần phải bảo đảm sự thống nhất, liên kết giữa công nghiệp,nông nghiệp và khoa học công nghệ, do vây tất yếu cần có sự liên minh giữacông nhân, nông dân và trí thức
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC Ở TỈNH THANH HOÁ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 THỰC TRẠNG LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN VÀ TRÍ THỨC
Ở Việt Nam, vai trò của khối liên minh giữa công nhân, nông dân và độingũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là động lực cơ bản, xuyên suốt của mọithời kỳ cách mạng; là vấn đề chiến lược trong suốt thời kỳ CNH, HĐH đất nước.Ngày nay, đường lối đổi mới của Đảng đã làm cho khối liên minh giữa côngnhân, nông dân và trí thức không ngừng được củng cố, tăng cường và phát triển.Tính cố kết về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giữa các giai cấp và tầng lớptrong khối liên minh không ngừng được củng cố
Thành tựu nổi bật về vai trò của khối liên minh trong quá trình đổi mới làcác giai cấp có sự thống nhất giữa lợi ích chính trị với kinh tế, văn hoá, xã hộitrong khối liên minh Do đó, đã khơi dậy được sức mạnh, phát huy năng lực sángtạo từ trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, chính từ đó đã khai thác và phát huytiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam trong quá trình đổi mới vì mục tiêuXHCN Lợi ích của các giai cấp, các nhóm xã hội và từng cá nhân về cơ bản làthống nhất và được bảo đảm trên thực tế dựa trên nền tảng lợi ích chung của dân
Trang 38tộc, trực tiếp là thống nhất, ổn định phát triển theo định hướng XHCN vì mộtnước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh Khẳngđịnh vai trò, sức mạnh và sự gắn kết trong khối đại đoàn kết dân tộc xây dựngnước Việt Nam hoà bình, Đảng ta khẳng định: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộctrên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng và tăng cường trên cơ sởthống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh” [23, tr 158]
Thực tiễn đã chỉ rõ, liên minh giữa giai cấp công nhân - nông dân và độingũ trí thức ở nước ta luôn là cơ sở, nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết toàndân, là cơ sở vững chắc của chính quyền dân chủ nhân dân Chính nhờ khối liênminh giữa công nhân, nông dân và trí thức được thiết lập và tăng cường, củng cốtrong thực tiễn đã làm cho quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và pháthuy tích cực Nhân dân thực sự là người làm chủ xã hội thông qua bộ máy nhànước và các tổ chức chính trị - xã hội
Đối với Thanh Hoá, suốt chiều dài lịch sử phát triển của quê hương, sứcmạnh khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức luôn được khơi dậy và tăngcường, từ đó đã góp phần làm nên những chiến công lịch sử trong xây dựng vàbảo vệ quê hương, đất nước
Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự liên kết và gắn
bó của khối liên minh ngày càng được củng cố vững chắc Biểu hiện về liênminh công nhân, nông dân và trí thức tại Thanh Hoá trước hết là sự thống nhấtlợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức Trong khuôn khổ của luậnvăn, chúng tôi tập trung khảo sát một số mô hình liên minh tiêu biểu nổi bậttrong những năm qua ở Thanh Hoá
Liên minh qua mô hình Mía đường Lam Sơn
Trang 39Thực tế cho thấy, từ mô hình liên kết bốn nhà: Nhà nước, nhà nông, nhàdoanh nghiệp và nhà khoa học trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp tại các khucông nghiệp mía đường ở Thanh Hoá, với mục tiêu là phát huy sức mạnh tổnghợp để khai thác các tiềm năng, lợi thế so sánh đẩy nhanh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
có bước phát triển Từ Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn cho thấy, sự ra đờicủa nhà máy đường Lam Sơn (trước đây) đã biến một vùng trên 80% là đất đồi,
có độ dốc cao, đồng ruộng, địa hình phức tạp: khe, suối, hồ, đập nhiều, đường xá
đi lại khó khăn Với tổng số dân trong vùng 290.000 người, bao gồm các dân tộcKinh - Mường – Thái, trình độ lao động thấp, mức sống của nhân dân trong vùnggặp nhiều khó khăn, sản xuất tự túc, tự cấp Tập quán sản xuất của nông dân làtrồng sắn, ngô, lúa, thiếu đói triền miên đến nay đã trở thành vùng kinh tế hànghoá, đã hình thành vùng mía sản xuất hàng hoá, chuyên canh tập trung trải dàitrong 11 huyện tập trung vào 119 xã, gắn trung tâm công nghệ chế biến đườngthành một cơ cấu kinh tế hiệu quả Trên cơ sở phát triển công nghiệp mía đường
đã thu hút đầu tư, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, mở mangdịch vụ, tạo ra sự gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp; giữa công nhân vànông dân
Đồng thời, thông qua liên kết kinh tế tại khu công nghiệp mía đường LamSơn đã khơi dậy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực ở nông thôn, nhất là đất đai,lao động, thúc đẩy sự phát triển của các nghề dịch vụ thu gom, chế biến, tiêu thụsản phẩm; đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ; gắn khoa học - công nghệvới sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống Sự liên kết ấy vì mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đã đưa nhà khoa học, đội ngũ trí thức vềphục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Đến nay, diện tích mía toàn vùngcủa Công ty ước đạt 16.000 ha, đáp ứng 100% công suất chế biến của cả 2 nhà
Trang 40máy, thu hút trên 5 vạn lao động có việc làm Ngoài ra, thời vụ thu hoạch míacòn thu hút hàng vạn lao động ở các vùng xuôi lên lao động.
Mô hình liên kết 4 nhà tại khu công nghiệp mía đường Lam Sơn, ThanhHoá cho thấy, một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã có nhiều chính sách
hỗ trợ cho nông dân, giúp nông dân giảm bớt khó khăn Cụ thể, cho phép nôngdân được vay vốn, ứng vật tư trả chậm… Nông dân vùng nguyên liệu của khuvực kinh tế này có thể thanh toán tiền vật tư bằng bán sản phẩm cho doanhnghiệp Mặt khác, cùng với nhà nước, doanh nghiệp đã chú ý đưa lực lượng cácnhà khoa học, đội ngũ trí thức về cơ sở hướng dẫn nông dân sản xuất Từ đó đãtạo ra hướng mới trong liên kết, thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp côngnhân, nông dân và trí thức trên địa bàn Thực tế hoạt động của mô hình kinh tếcông nghiệp mía đường Lam Sơn, Thanh Hoá cho thấy, Công ty đã có chính sáchkhuyến khích các đơn vị, các hộ nông dân tích tụ và phục hồi diện tích đất đãtrồng mía Đối với vùng đất trồng lúa hiệu quả kém hoặc đất màu bãi Công ty
hỗ trợ vốn, vật tư và khuyến khích chuyển sang trồng mía Đối với diện tích đất
mở rộng, phục hồi phải được quy hoạch tập trung, liền vùng, liền khoảnh với quy
mô từ 5,0 ha trở lên sẽ được Công ty hỗ trợ 3,0 triệu đồng/ha (Trong đó hộ nông dân 2,0 triệu đồng/ha; địa phương vận động và tổ chức thực hiện 1,0 triệu đồng/ha) Số tiền này sẽ được thanh toán khi có kết quả nghiệm thu sau khi trồng Chính nhờ coi trọng phát huy khối liên minh này của công ty nên nông
dân nhiều địa phương đã tích cực mở rộng diện tích trồng mía, qua đó đã đem lạilợi nhuận trong sản xuất, đồng thời khai thác các tiềm năng sẵn có một cách hiệuquả
Những hộ nông dân khi góp cổ phần bằng quyền sử dụng đất trở thành cổđông của Công ty, được tuyển dụng 1 lao động theo chế độ hợp đồng lao động(theo luật lao động) Mặt khác, với các hộ nông dân trồng mía có diện tích từ 20 hatrở lên, sản lượng hàng năm bán cho Công ty ổn định lâu dài trên 2.000 tấn sẽ được