Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tìm thấy rằng các ảnh hưởng này có sự khác biệt trong mức độ tác động giữa các nhóm nước, mức độ tác động của FDI đối với tăng trưởng và phát triển tại các nướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
-oOo -
LÊ KHÁNH LINH
ẢNH HƯỞNG CỦA FDI LÊN TĂNG TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TPHCM - NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
-oOo -
LÊ KHÁNH LINH
ẢNH HƯỞNG CỦA FDI LÊN TĂNG TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TPHCM - NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của thầy
hướng dẫn Số liệu thống kê được lấy từ các nguồn đáng tin cậy, nội dung và
kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ
công trình nào cho tới thời điểm này
TP Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2014
Học Viên (Đã ký)
Lê Khánh Linh
Trang 4
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt và thuật ngữ
Danh mục các bảng biểu
Danh mục đồ thị
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1 3
1.1 Đặt vấn đề 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 5
1.6 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 2 7
2.1 Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu 7
2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 7
2.1.2 Ảnh hưởng của FDI làm mở rộng vốn đầu tư mới của quốc gia 7
2.1.3 Ảnh hưởng của FDI tăng năng suất sản xuất thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu 8
2.1.4 Ảnh hưởng của FDI lên phát triển kinh tế 9
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 12
CHƯƠNG 3 17
3.1 Mô hình nghiên cứu 17
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 17
3.1.2 Các biến nghiên cứu 18
3.2 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng 20
3.2.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng 20
Trang 53.3 Dữ liệu nghiên cứu 25
3.3.1 Mô tả dữ liệu 25
3.3.2 Xử lý dữ liệu 25
CHƯƠNG 4 29
4.1 Thống kê mô tả các biến 29
4.2 Thống kê mô tả biến tại Việt Nam 37
4.3 Kết quả hồi quy 40
4.3.1 Ảnh hưởng FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế 40
4.3.2 Ảnh hưởng FDI lên tăng trưởng và phát triển phân theo nhóm quốc gia 43
CHƯƠNG 5 46
5.1 Kết luận quan trọng 46
5.2 Hạn chế của nghiên cứu 48
5.3 Gợi ý các vấn đề nghiên cứu 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 6Chữ viết
tắt
Tăng năng suất sản xuất thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát
triển Liên Hiệp quốc
United Nations Conference on Trade and Development UNDP Chương trình Phát triển Liên
Trang 7Bảng 4.1a: Thống kê mô tả biến trong giai đoạn nghiên cứu 29
Bảng 4.1c: Bảng thống kê mô tả tổng mẫu nghiên cứu 31 Bảng 4.1d: Bảng thống kê mô tả biến FDI theo nhóm quốc gia 32 Bảng 4.1e: Bảng thống kê mô tả biến GDP/người theo nhóm quốc gia 33 Bảng 4.1f: Bảng thống kê mô tả biến HDI theo nhóm quốc gia 33 Bảng 4.1g: Bảng thống kê mô tả biến HEALTH theo nhóm quốc gia 34 Bảng 4.1h: Bảng thống kê mô tả biến EDU theo nhóm quốc gia 34 Bảng 4.1i: Bảng thống kê mô tả biến ECO theo nhóm quốc gia 35 Bảng 4.2d: Kiểm định nhân quả ba biến PGDP, ECO, FDI tại Việt Nam 39
Bảng 4.2.2b: Kết quả hồi quy mô hình nhóm 2 44
Trang 8Hình 4.1: Đồ thị GDP/người các quốc gia giai đoạn 2003-2011 36 Hình 4.2a: Bảng phân tích đồ thị tần suất thống kê của GDP/người 37 Hình 4.2b: Đồ thị tăng trưởng GDP/người, FDI tại Việt Nam từ 2003-2011 38 Hình 4.2c: Bảng phân tích đồ thị tần suất thống kê của FDI 38
Trang 9TÓM TẮT
Trong nhiều thập niên gần đây, dưới làn sóng toàn cầu hoá, dòng vốn đầu tư từ các nước có xu hướng đổ vào các khu vực, các nước có tiềm năng Và do đó, tạo nên nhiều cơ hội tăng trưởng và phát triển kinh tế nước được đầu tư Nghiên cứu thực nghiệm hướng đến điều tra và trả lời câu hỏi rằng liệu FDI có ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia được đầu tư hay không Nghiên cứu sử dụng mẫu số liệu gồm tám nước tại các quốc gia Châu Á từ năm
2003 – 2011, sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng trong phân tích số liệu Ngoài biến FDI, nghiên cứu sử dụng thêm chỉ số tự do hóa quốc gia được đánh giá bởi Fraser Institute, để đại diện cho tình trạng chung của quốc gia về kinh tế, chính trị, tự do hóa thương mại, và các yếu tố khác trong thu hút FDI Biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế được chọn là GDP/người và biến đại diện cho phát triển kinh tế là chỉ số HDI, chỉ số giáo dục và chỉ số y tế theo nghiên cứu của Stiglitz (2006), Reiter và Steensma (2010), Tintin (2012) Ngoài ra, nghiên cứu còn hướng đến trả lời câu hỏi là liệu có sự khác biệt trong tác động của FDI tại hai nhóm nước đang phát triển và phát triển Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu thêm vào biến giả phân biệt giữa hai nhóm nước và tiến hành hồi quy dữ liệu bảng để tìm ra kết quả Kết quả tìm thấy đồng thuận với nhiều nghiên cứu là FDI
có tác động tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả kiểm định trong nhóm mẫu các quốc gia Châu Á cho thấy kết quả hệ số cao hơn hầu hết các nghiên cứu trước đây của Li và Liu (2005) trong mẫu gồm 84 quốc gia và Tintin (2012) trong mẫu gồm 125 quốc gia Đồng thời các nước càng tự do hóa quốc gia thì càng thuận lợi trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Hệ số biến này cũng có kết quả cao hơn các nghiên cứu của Tin Tin (2012) Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tìm thấy rằng các ảnh hưởng này có sự khác biệt trong mức độ tác động giữa các nhóm nước, mức độ tác động của FDI đối với tăng trưởng và phát triển tại các nước đang phát triển thì cao hơn tác động của FDI tại các nước phát triển Ngược lại, tác động của yếu tố tự do hóa quốc gia đến tăng trưởng và phát triển kinh tế tại các nước phát triển lại cao hơn tác động đối với các nước
Trang 10đang phát triển Hầu hết kết quả tìm thấy tại mức ý nghĩa 1% Các mô hình đều
có R2 hiệu chỉnh từ 59% trở lên, cho thấy mức độ giải thích của các biến độc lập trong mô hình khá cao Ngoài ra, thống kê mô tả biến tại Việt Nam cho thấy Việt Nam vẫn còn một khoảng cách xa so với mốc trung bình giá trị đạt được của nhóm nước đang phát triển trong mẫu GDP/người thấp hơn 2,9 lần và FDI thấp hơn 1,4 lần tính trên giá trị trung bình của Việt Nam và giá trị trung bình của nhóm nước đang phát triển trong mẫu
Trang 11CHƯƠNG 1
1.1 Đặt vấn đề
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng tăng, dòng vốn FDI đổ vào các nước cũng ngày càng tăng Nhiều nước hướng đến nới lỏng chính sách nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Và câu hỏi đặt ra là liệu thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có kích thích tăng trưởng và phát triển đất nước hay không? Xuất phát vấn đề nêu trên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đi vào kiểm định và trả lời câu hỏi đó Kết quả nghiên cứu có nhiều khác biệt giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển, và giữa các quốc gia với nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, cấu trúc tổ chức của quốc gia đó
Tuy nhiên, nhìn chung thì FDI đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong những năm qua Đặc biệt, vói việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong những năm qua, cùng với quy mô thị trường nội địa với khoảng 90 triệu dân, với hơn 61 triệu người (chiếm 69% tổng dân số) đang ở độ tuổi lao động, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong thu hút FDI và thu hút FDI cũng là một trong những chủ trương trọng tâm của nhà nước trong thời gian tới Trên cơ sở đó, để
có thể dành được lợi thế trong thu hút FDI so với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam càng cần hiểu rõ hơn FDI nhạy cảm với những yếu tố nào, nền tảng kinh tế nào làm ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng, phát triển kinh tế quốc gia càng cao sẽ mục tiêu và trọng tâm của Việt Nam trong thời gian tới Vì vậy, nghiên cứu này thực hiện ước lượng và kiểm định mức độ ảnh hưởng của FDI lên các tăng trưởng và phát triển của các quốc gia Châu Á trong thời gian qua Các quốc gia có điều kiện nền tảng như thế nào sẽ làm cho ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế càng lớn Sau cùng, liệu có sự khác biệt giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển về ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng và phát triển kinh tế hay không
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hướng đến mục tiêu kiểm định sự ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển của các nước Châu Á Cụ thể, nghiên cứu điều tra thực nghiệm rằng liệu đầu tư FDI tăng lên thì có kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế nước chủ nhà hay không, nói cách khác là mức độ ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngoài ra, nghiên cứu còn tiến hành kiểm định trong điều kiện khác biệt quốc gia về điều kiện quy mô kinh tế, điều kiện
về pháp lý, cấu trúc tổ chức, an ninh, kinh tế, tự do thương mại, và các yếu tố khác – sau đây sẽ được gọi chung là yếu tố tự do hoá quốc gia thì tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế có khác biệt hay không và như thế nào Ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển tại các quốc gia phát triển, đang phát triển tại Châu Á có khác nhau hay không cũng là một mục tiêu nữa của nghiên cứu này
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu hướng đến trả lời 3 câu hỏi
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu sử dụng các lý thuyết nghiên cứu trước đây để rút ra ảnh hưởng kỳ vọng của FDI và tự do hóa quốc gia lên tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thực nghiệm điển hình về vấn đề này, cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu đó Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượng các biến phù hợp trong khả năng thu thập số liệu
Trang 13thực tế, cơ sở dữ liệu của các quốc gia thuộc Châu Á Sau khi đã có các biến, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu, phân tích định tính, rút
ra cái nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu, mối tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc cũng như mối tương quan giữa các biến giải thích với nhau So sánh dấu kỳ vọng với lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước
đó Cuối cùng, sử dụng phân tích hồi quy mô hình dữ liệu bảng để xử lý và phân tích số liệu nhằm trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất và thứ hai, mô hình hồi quy với tất cả các biến thuộc tất cả các nước trong mẫu, sau đó thông qua các kiểm định và tiêu chí để xác định mô hình thích hợp và tốt nhất để trả lời cho câu hỏi thứ nhất và thứ hai Riêng câu hỏi thứ ba,
mô hình thêm biến giả nhằm phân loại hai nhóm quốc gia đang phát triển và phát triển, và cũng tiến hành hồi quy tổng thể mẫu quan sát, xác định mô hình tốt nhất và kết quả kiểm định chính là câu trả lời cho câu hỏi thứ ba Thông qua kết quả, tiến hành so sánh với dấu kỳ vọng trong khung lý thuyết đã trình bày cũng như các nghiên cứu thực nghiệm ở trên để rút ra kết luận, hạn chế của nghiên cứu cùng những gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu góp phần giúp Việt Nam xác định được mức độ ảnh hưởng của FDI
và yếu tố tự do quốc gia tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia như thế nào, mức độ giải thích là bao nhiêu, có xét đến cả nhóm quốc gia đang phát triển, phát triển thì sự ảnh hưởng này thay đổi ra sao Từ đó, giúp nhận thức về tầm quan trọng của FDI trong tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như tầm quan trọng của yếu tố tự do hoá quốc gia góp phần trong tăng trưởng
và phát triển kinh tế quốc gia Từ nhận thức đó, việc chuẩn bị tiền đề về các yếu
tố tự do hoá quốc gia trước khi thu hút FDI cũng như các ưu tiên trong chính sách FDI được chú trọng hơn nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển Việt Nam
Trang 14và chuyên sâu hơn
Trang 15CHƯƠNG 2
2.1 Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu
2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là danh mục đầu tư quốc tế vào một doanh nghiệp nào đó
mà trong đó sở hữu ít nhất 10% vốn cổ phần của doanh nghiệp được đầu tư Điều làm cho FDI khác biệt so với danh mục đầu tư nước ngoài khác là hình thức chuyển giao vốn đến nước chủ nhà được đầu tư FDI nghĩa là hoặc là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một công ty hiện hữu, hoặc là thành lập một công
ty mới (như một nhà máy, một chi nhánh) tại nước sở tại Xuất phát từ hình thức đầu tư trực tiếp bằng vốn vật thể, FDI sẽ tạo nên sự thay đổi lên bảng cân đối kết toán, lên nguồn vốn, nhân công, năng suất lao động, tăng trưởng và phát triển nước chủ nhà Trong nghiên cứu này chỉ nhắm đến làm cách nào FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế nước được đầu tư thông qua những cách thức sau đây đề cập
2.1.2 Ảnh hưởng của FDI làm mở rộng vốn đầu tư mới của quốc
gia
FDI là hình thức đầu tư vốn vật thể nên sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu công ty, do
đó làm tăng vốn quốc gia được đầu tư Ảnh hưởng này còn tùy thuộc vào lĩnh vực hay loại đầu tư Ví dụ như khi FDI đầu tư thiết lập một nhà máy mới, đầu tư lĩnh vực năng lượng thì sự gia tăng vốn là rất đáng kể Theo mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow (1956), sự gia tăng vốn vật thể từ FDI sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người cả trong ngắn hạn và dài hạn tại nước được đầu tư bởi lẽ sẽ làm tăng lượng hàng hoá vốn đang có, nhưng điều này chỉ mới đẩy mạnh tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế trong suốt giai đoạn chuyển giao, vì trong giai đoạn đầu tư sẽ làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn Và thời gian chuyển giao này còn khác biệt giữa các quốc gia (theo nghiên cứu của Aghion
và Howitt 2009) Do đó, những quốc gia khan hiếm vốn đầu tư thì việc đầu tư
Trang 16này sẽ mở rộng vốn cho nền kinh tế và làm tăng phúc lợi xã hội FDI có thể được xem như là một nhân tố quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng
Mặt khác, loại hình đầu tư FDI vào lĩnh vực xây dựng tái thiết, tái quy hoạch sẽ không dẫn đến sự gia tăng vốn mà chỉ làm thay đổi tình trạng vốn sở hữu hiện hữu, do đó ảnh hưởng lên tăng trưởng sẽ giới hạn (theo Johnson 2006) Điều được giả định ở đây là FDI không ảnh hưởng lên trình độ công nghệ nước chủ nhà Yếu tố công nghệ này sẽ trình bày trong phần tiếp theo
2.1.3 Ảnh hưởng của FDI tăng năng suất sản xuất thông qua đầu
tư vốn theo chiều sâu
Ảnh hưởng của FDI thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu ám chỉ sự chuyển giao kiến thức và công nghệ khi đầu tư FDI vào nước chủ nhà Các công ty đa quốc gia đem vốn cùng công nghệ cao vào làm hệ thống quản lý hiệu quả hơn, tối đa hoá lợi nhuận tại nước được đầu tư (theo OECD 2002) Dù vậy điều này cũng chưa phải là lý do chính yếu tại sao đầu tư FDI làm tăng thu nhập trên đầu người trong ngắn hạn và dài hạn
Theo nhiều mô hình tăng trưởng khác nhau thì có nhiều cách lý giải làm cách nào FDI tác động lên tăng trưởng Đầu tiên là theo mô hình tăng trưởng của Solow (1956), FDI ngăn chặn việc suy giảm vốn đầu tư vào trong những lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi thấp vì có sự đóng góp của tăng trưởng công nghệ Thứ hai là mô hình tăng trưởng AK của Frankel (1962) và Romer (1986), mở đầu cho làn sóng mô hình tăng trưởng nội sinh, mô hình này cho rằng FDI tạo nên hoạt động thương mại, công nghiệp, làm phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế Thứ ba là mô hình phân hoá sản phẩm của Romer (1990) tranh cãi rằng tăng trưởng kinh tế và năng suất xuất phát từ mở rộng và chuyên biệt hoá các sản phẩm trung gian (theo Aghion và Howitt 2009) Một số lại cho rằng chính tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng sự đầu tư mở rộng các sản phẩm trung gian được chuyên biệt hoá Hơn nữa, các nhà nghiên cứu của nước chủ nhà thích việc đầu tư vào các sản phẩm trung gian này vì nó làm lan toả và nhân rộng FDI Cuối cùng, theo mô hình Schupeterian của Aghion và Howitt (1992) tăng trưởng
Trang 17đến từ việc cải thiện chất lượng chất lượng hàng hoá vốn tại quốc gia Do đó, kinh tế mở cửa sẽ tạo điều kiện cho FDI cùng những chuyển giao công nghệ tiên tiến và những hệ thống cải thiện chất lượng, và do đó sẽ tăng năng suất, tăng trưởng kinh tế
2.1.4 Ảnh hưởng của FDI lên phát triển kinh tế
Lý thuyết FDI tác động lên phát triển kinh tế không được thiết lập rõ ràng như FDI đối với tăng trưởng Thứ nhất là vì mô hình lý thuyết và toán chưa phát triển trong khái niệm kinh tế phát triển so với mô hình tăng trưởng kinh tế Thứ hai là vì chưa có sự nhất trí về lý thuyết phát triển và phương cách tác động FDI
và mô hình phát triển Ngoài ra, chưa có sự đồng thuận trong việc đo lường mức
độ phát triển của quốc gia theo lý thuyết Việc thảo luận để xây dựng chỉ số phát triển tốt hơn là phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu Do đó, nghiên cứu này sử dụng thước đo phát triển được nhận biết rộng rãi, đó là chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI) nêu bởi UNDP và phân tích đó như là kết quả phát triển kinh tế
mà FDI tạo ra
Chỉ số HDI được phát triển bởi UNDP được sử dụng rộng rãi trong lý thuyết phát triển kinh tế không chỉ bởi vì nó bao quát mà còn vì nó đưa ra một cách thức đo lường phổ quát được cho tất cả các nước trên thế giới, bao gồm các nước chậm phát triển (theo Stiglitz 2006, Tin Tin 2012) HDI đo lường phát triển kinh tế trung bình của một quốc gia với sự kỳ vọng ngang bằng trong ba khía cạnh:
- Thành quả kinh tế, biểu hiện thông qua GDP trên đầu người
- Chỉ số giáo dục, đo lường bằng chỉ số đọc hiểu của người trưởng thành và chỉ số lương gộp
- Chỉ số y tế, đo lường bằng kỳ vọng tuổi thọ
Về cơ bản, tăng trưởng năng suất, tăng trưởng kinh tế thông qua mở rộng vốn và đầu tư vốn theo chiều sâu qua hình thức FDI, chính phủ từ đó có khả năng hơn
để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế Mặt khác, thu nhập trên đầu người cao hơn của công dân nước sở tại ám chỉ rằng các cá nhân có thể cho phép chi
Trang 18tiêu y tế và giáo dục nhiều hơn Cả hai kênh chính phủ và tư nhân đều cho rằng đầu tư FDI càng nhiều thì càng dẫn đến thu nhập trên đầu người cao hơn, chỉ số giáo dục được cải thiện, và kỳ vọng tuổi thọ cao hơn Về lý thuyết, FDI sẽ tạo nên ảnh hưởng tích cực trên ba khía cạnh của HDI Sau cùng, nhà nghiên cứu cho rằng có thể sử dụng HDI trong việc kiểm định mức độ ảnh hưởng của FDI lên phát triển (theo Reiter và Steensma 2010, Tin Tin 2012)
Giả định rằng ảnh hưởng của FDI sẽ dẫn đến quy mô GDP lớn hơn và làm tăng
tỷ phần thu nhập của hộ gia đình trong GDP Deininger và Squire (1996) tìm ra tăng trưởng kinh tế giúp tăng tỷ phần thu nhập hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu
108 quốc gia Hay kết quả nghiên cứu của Dollar và Kraay (2004) đồng thuận với vấn đề là tăng trưởng kinh tế giúp giảm nghèo và cải thiện mức sống của người dân
Theo Stiglitz (2006) phát triển thành công đồng nghĩa với tự do dân chủ, công bằng và bền vững và tập trung vào mục tiêu nâng cao tiêu chuẩn sống, không chỉ được đo lường bằng GDP Do đó, theo Hoff và Stiglitz (2001) phát triển không còn cơ bản là một tiến trình tăng vốn mà còn là một tiến trình thay đổi tổ chức Với sự hiện diện vốn nước ngoài gia tăng tại nước chủ nhà, các tổ chức (bao gồm cả tổ chức tư và công) trong đất nước đó sẽ cải thiện và cải tiến cấu trúc tổ chức vì sự lan toả (như chuyển giao công nghệ, kỹ năng) của FDI Điều này sẽ dẫn đến mức độ phát triển cao hơn cho nước chủ nhà (theo Gorg và Greenaway 2004)
Ngoài ra, vai trò của tổ chức trong thương mại quốc tế theo lý thuyết và và tổ chức FDI được nhận biết rộng rãi trong việc góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế (theo Acemoglu và Johnson 2005)
Nhiều nghiên cứu cố gắng chứng minh mức độ ảnh hưởng và sự tác động FDI lên các tổ chức được đầu tư bằng cách sử dụng nhiều biến đại diện cho ảnh hưởng của các tổ chức trong nước Các biến được đề cập đến như tăng trưởng cung tiền, lạm phát, mức độ tư hữu, được sử dụng để đại diện cho chất lượng của tổ chức tại nước chủ nhà (theo nghiên cứu của Li và Liu 2005) Cũng có vài nghiên cứu sử dụng các biến tổng hợp về tổ chức được thiết kế để đo lường chất
Trang 19lượng của tổ chức tại các nước chủ nhà như là biến chỉ số tự do hoá quốc gia và chỉ số chính phủ Kaufmann
Trong nghiên cứu này, chúng ta chấp nhận khái niệm tổ chức theo diện rộng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, và do đó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế (theo Hsiao và Shen 2003; Acemoglu và Johnson 2005) Để làm điều này, ta sử dụng chỉ số tự do hoá quốc gia được tập hợp bởi Fraser Institute, có 5 tiêu chí phân loại chính và 42 biến phụ Chỉ số tự do hoá quốc gia như một biến tổng hợp về tổ chức, biến này cũng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước đây như Azman-Saini 2010, Bengoa và Sanchez-Robles 2003 Chúng ta chọn sử dụng chỉ số tự do hoá quốc gia vì các tiêu chí phân loại này liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, và do tính sẵn có trong một thời gian dài và mẫu dữ liệu rộng lớn đầy đủ các quốc gia
Tóm lại, khi sử dụng biến chỉ số tự do hoá quốc gia nghiên cứu kỳ vọng sẽ phản ánh đầy đủ khía cạnh của chất lượng tổ chức tại quốc gia, quan trọng nhất là về các hoạt động kinh tế Thứ hai là sử dụng biến chỉ số tự do hoá quốc gia có thể tránh được tình trạng khuyết biến do biến này được thu thập một cách đầy đủ, cũng như là biến này được này sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước Phần sau đây nghiên cứu sẽ đi vào tìm hiểu các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 202.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Nghiên cứu của Moran 2011 chỉ ra rằng ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế lên các nước phát triển và đang phát triển thì khác nhau tuỳ thuộc vào cấu trúc chính trị và điều kiện kinh tế quốc gia đó Theo nghiên cứu của Olofsdotter 1998 và Acemoglu 2003 những nước có điều kiện tổ chức yếu kém thì tác động của FDI lên tăng trưởng và phát triển cũng thấp
Nghiên cứu của OECD (2002) tìm thấy rằng FDI đóng góp chính yếu vào phát triển kinh tế nước chủ nhà Tương tự, Ozturk (2007) khảo sát những nghiên cứu gần đây về FDI và tăng trưởng kinh tế Ông ta tìm ra rằng FDI ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kết quả này thay đổi theo phương pháp định lượng và phân loại nhóm mẫu (các nước đang phát triển và phát triển) Stehrer và Woers (2009) kiểm định ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh tế nước chủ nhà Nghiên cứu sử dụng mẫu các nước OECD và không thuộc OECD trong giai đoạn 1981-2000 Kết quả chỉ ra có sự đồng biến giữa FDI và tăng trưởng cũng như cả năng suất và xuất khẩu FDI tăng 10% thì kết quả tăng trưởng 1,2%
Li và Liu (2005) sử dụng dữ liệu bảng của 84 quốc gia trong thời gian từ
1970-1999 để tìm hiểu tác động FDI và tăng trưởng kinh tế Kết quả là FDI không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trực tiếp mà còn làm tăng trưởng thông qua những yếu tố nội tại Nghiên cứu này kiểm định sâu hơn bằng cách chia mẫu ra nhóm nước phát triển và đang phát triển Và kết quả vẫn là FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, 10% FDI tăng lên kéo theo 4,1% tăng lên trong tăng trưởng kinh tế, biến FDI tính theo phần trăm của GDP
Johnson (2006) kiểm định liệu FDI có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu bảng của 90 nước phát triển và đang phát triển từ 1980-2002,
sử dụng hồi quy OLS và kết luận là FDI có tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế các nước đang phát triển nhưng các nước đã phát triển thì không
Ewing và Yang (2009) tìm hiểu ảnh hưởng của FDI trong lĩnh vực sản xuất lên tăng trưởng kinh tế, sử dụng bộ dữ liệu 48 tiểu bang của Mỹ từ 1977-2001
Trang 21Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là tỷ lệ tăng trưởng trên đầu người của tiểu bang (GSP), biến độc lập là FDI tính theo phần trăm của GSP, một số biến kiểm soát được dùng là tỷ lệ tăng trưởng của lao động bang, vốn con người Phương pháp được hồi quy dữ liệu bảng OLS, mô hình FEM cho các tiểu bang, kết quả FDI có thúc đẩy tăng trưởng nhưng ảnh hưởng không đồng nhất giữa các khu vực Ngoài ra, yếu tố vốn nhân lực cũng tác động tích cực lên tăng trưởng
Hausen và Rand (2006) kiểm định đồng liên kết và mối quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng trong mẫu 31 nước đang phát triển từ 1970-2000, xác nhận
là có tồn tại đồng liên kết Hơn nữa, kết quả chỉ ra FDI có ảnh hưởng tích cực lên GDP nhưng không chỉ ra mức độ phát triển như thế nào Nghiên cứu này cũng đồng thuận với nghiên cứu của Herzer (2008), rằng FDI ảnh hưởng lên GDP thông qua chuyển giao tri thức và tiếp thu công nghệ mới
Azman-Saini (2010) điều ra mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế thông qua đưa vai trò của tự do hoá quốc gia (chất lượng tổ chức) vào tính toán Họ sử dụng dữ liệu bảng của 85 quốc gia từ 1976-2005 Kết quả là các nước đẩy mạnh
tự do hoá quốc gia thì kết quả sẽ cao hơn vì sẽ tạo ra yếu tố nội tại tích cực Bengoa (2003) điều tra vai trò giữa tự do hoá quốc gia, FDI và tăng trưởng kinh
tế Họ sử dụng 18 nước Mỹ La tinh từ 1970-1999, hồi quy dữ liệu bảng OLS cho
cả mô hình FEM và REM Kết quả là FDI và tự do hoá quốc gia là yếu tố góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia, 1% FDI (FDI tính trên phần trăm GDP) tăng lên sẽ làm tăng trưởng kinh tế 0,5% Do đó, chính sách mở rộng tự
do hoá quốc gia và mở cửa thu hút FDI sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Tintin (2012) về tác động của FDI lên tăng trưởng và phát triển tại trên dữ liệu gồm 125 quốc gia từ 1980-2010 cũng cho kết quả tác động tích cực của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đánh giá mức độ tác động của FDI phân theo ba nhóm nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển Kết quả chỉ ra là tác động của FDI tại các nước đang phát triển cao hơn hai nhóm nước còn lại Ngoài ra, tại nghiên cứu
Trang 22này cũng chỉ ra tác động tích cực của biến tự do hóa quốc gia đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Bende cùng cộng sự (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh
tế các nước Asean-5 giai đoạn 1970-1996 Kết quả là FDI có ảnh hưởng trực tiếp hoặc là gián tiếp thông qua tác động lan tỏa Nghiên cứu này tìm ra FDI ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê tại Indonesia, Maylaysia, Philippines, trong khi đó lại tìm thấy kết quả nghịch biến tại Singapore và Thái Lan Tương
tự, Marvah và Tavakoli (2004) đã kiểm định ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh tế tại Indonesia, Maylaysia, Philippines, Thái Lan Nghiên cứu này sử dụng
dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm từ 1970-1998 và tìm thấy FDI có tương quan dương đối với tăng trưởng kinh tế tại cả bốn nước kể trên Nghiên cứu tại Indonesia còn có nghiên cứu của Bachtiar (2003), sử dụng dữ liệu hàng năm từ 1970-2000, kết quả hồi quy xác nhận ảnh hưởng tích cực của FDI lên tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Vu và cộng sự (2006) dòng FDI phân theo khu vực tại Trung Quốc giai đoạn 1985-2002 và Việt Nam giai đoạn 1990-2002 Kết quả hồi quy chỉ ra FDI có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực lên tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng gián tiếp thông qua tác động lên năng suất lao động Trong đó, khu vực sản xuất thì nhận được nhiều FDI hơn các khu vực khác
Không phải các nghiên cứu đều chỉ ra FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như lý thuyết chỉ ra Thực tế, có vài nghiên cứu như của Herzer (2008) cho 28 nước đang phát triển từ 1970-2003, kết quả là chỉ 4 trong 28 nước đang phát triển là FDI tác động tích cực lên tăng trưởng dài hạn Nghiên cứu tương tự khác được thực hiện của Blomstrom (1994) sử dụng 78 nước đang phát triển, chỉ có những nước đang phát triển có thu nhập cao FDI mới thúc đẩy tăng trưởng, ngược lại các nước có thu nhập thấp thì không tìm thấy ảnh hưởng tích cực của FDI đối với tăng trưởng
Nghiên cứu của Tekin (2012) về mối quan hệ nhân quả giữa GDP thực, xuất khẩu thực và FDI tại các nước chậm phát triển từ 1970-2009 Kết quả chỉ ra là FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng chỉ trong 2 nước trên 18 nước trong mẫu,
Trang 23trong khi FDI có tác động đến xuất khẩu là kết quả của 5 trên 18 nước Kết quả chỉ chứng minh mức độ tác động của FDI chỉ ở mức thấp Và không có quốc gia nào có FDI tác động ngược chiều và có ý nghĩa đối với GDP Tác giả xem kết quả này như là một minh chứng cho FDI tác động đến tăng trưởng tại các nước chậm phát triển là trường hợp không nhiều
Ngoài việc nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng, cũng có nhiều nghiên cứu tác động của FDI lên phát triển kinh tế Điển hình như nghiên cứu của Reiter và Steensma (2010) với đối tượng mẫu là 49 nước đang phát triển trong giai đoạn 1980-2005 Nghiên cứu này sử dụng chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI) của UNDP để đại diện cho mức độ phát triển Kết quả chỉ ra FDI có ảnh hưởng tích cực lên HDI, và cũng kết luận ảnh hưởng của FDI lên phát triển sẽ cao hơn nếu không có tham nhũng
Dollar và Kraay (2004) nghiên cứu mối quan hệ nội sinh giữa thương mại quốc
tế, tăng trưởng FDI và nghèo đói Nghiên cứu sử dụng GMM và phương pháp biến công cụ (instrumental variable methods) cho hơn 100 nước, và sử dụng giá trị trung bình của 10 năm với giai đoạn mẫu từ 1970-2000 Kết quả tìm thấy FDI
và thương mại ảnh hưởng tốt lên mức sống của người dân thông qua tăng thu nhập và giảm nghèo đói
Nghiên cứu của Basu và Guariglia (2007) về mối liên hệ giữa FDI, tăng trưởng
và bất bình đẳng bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 119 nước từ giai đoạn 1970-1999 Nghiên cứu thay thế biến Gini trong đo lường bất bình đẳng vốn nhân lực bằng cấp độ giáo dục Dữ liệu sử dụng giá trị trung bình 5 năm và theo phương pháp OLS với FEM và GMM Kết quả là FDI và bất bình đẳng trong giáo dục có mối quan hệ đồng chiều, đầu tư FDI cũng kích thích tăng trưởng, dòng tiền FDI sẽ dẫn đến giảm thị phần đầu tư vào nông nghiệp của nước chủ nhà
Agosin và Machado (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của FDI lên phát triển kinh tế thông qua FDI vào hoặc FDI của nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài
Họ sử dụng dữ liệu bảng của 36 nước phát triển Mỹ La Tinh, Châu Á, và Châu Phi từ giai đoạn 1970-2000 Kết quả FDI không có ảnh hưởng tích cực lên phát
Trang 24triển kinh tế trong trường hợp đối với dòng tiền FDI vào, và họ kết luận trong trường hợp tác động của FDI tại các nước đang phát triển không được xác nhận Tóm lược lại phần nghiên cứu thực nghiệm về FDI như sau Thứ nhất, tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế có nhiều kết quả Trong đó, kết quả phổ biến nhất là đầu tư FDI có kích thích tăng trưởng Thứ hai là chứng minh FDI ảnh hưởng đến phát triển yếu hơn cả về số lượng nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Phân tích ảnh hưởng của FDI lên phát triển kinh tế tập trung chủ yếu vào liệu đầu tư FDI có làm tăng thu nhập, chất lượng cuộc sống theo thước đo HDI, FDI vào và FDI ra của đầu tư nội địa Đặc biệt là ảnh hưởng của FDI lên phát triển nhân lực ít được nghiên cứu Thứ ba là các nước chậm phát triển ít được quan tâm tìm hiểu do thiếu dữ liệu nghiên cứu, dòng FDI vào thấp Thứ tư là ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển thì khác nhau về cấp độ phát triển,
và nghiên cứu chỉ lấy ra một vài tiêu chí để phân tích Phần tiếp theo đây sẽ trình bày sâu hơn về mô hình nghiên cứu, phương pháp sử dụng cũng như việc thu thập, xử lý dữ liệu
Trang 25CHƯƠNG 3
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu kiểm định tính ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Những kết quả nghiên cứu trước đây của Deininger và Squire (1996), Dollar và Kraay (2004) đã chỉ ra FDI làm tăng thu nhập và cải thiện mức sống người dân Do đó, nghiên cứu này sử dụng GDP trên đầu người để đại diện cho tăng trưởng kinh tế Mô hình nghiên cứu nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh
tế sẽ là:
GDP trên đầu người = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia) Đối với phát triển kinh tế, nghiên cứu sử dụng biến đại diện là chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI), chỉ số giáo dục, chỉ số y tế Do bộ dữ liệu gồm nhiều nước và thu thập trong nhiều năm nên để thuận tiện trong thu thập biến sẵn có, nghiên cứu chọn chỉ số HDI và chỉ số giáo dục, chỉ số y tế để đại diện cho phát triển kinh tế Theo đó, mô hình nghiên cứu tính ảnh hưởng của FDI lến phát triển sẽ như sau:
Chỉ số phát triển nguồn nhân lực = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia) Chỉ số giáo dục = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia)
Chỉ số y tế = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia) Biến độc lập gồm FDI và nhóm biến biểu thị tự do hóa quốc gia, đại diện cho điều kiện kinh tế quốc gia Nhóm biến được đo lường bởi bốn mươi hai biến nhỏ khác nhau, theo năm lĩnh vực (phụ lục E), cho phép ta kiểm định điều kiện hiện tại của quốc gia góp phần như thế nào trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Bốn phương trình trên gọi là mô hình nhóm một
Ngoài ra, để đánh giá đóng góp của FDI đối với tăng trưởng và phát triển trong trường hợp khác biệt về nhóm nước phát triển và đang phát triển trong mẫu đang xét, ta thêm biến phân loại KINDit, KIND = 1 nếu nước là phát triển và KIND =
0 nếu đó là nước đang phát triển Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng tăng trưởng và phát triển kinh tế (mô hình nhóm hai) trong trường hợp như sau:
Trang 26GDP trên đầu người = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia, KIND) Chỉ số phát triển nguồn nhân lực=f(FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia, KIND)
Chỉ số giáo dục = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia, KIND) Chỉ số y tế = f (FDI, FDIt-1, tự do hoá quốc gia, KIND)
3.1.2 Các biến nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các biến như sau:
PGDP: Biến thu thập được lấy log của thu nhập bình quân trên đầu người (USD) HDI: Biến thu thập được lấy log của chỉ số phát triển nhân lực
EDU: Biến thu thập được lấy log của chỉ số giáo dục
HEALTH: Biến thu thập được lấy log của chỉ số y tế
Các chỉ số HDI, EDU, HEALTH được đánh giá theo thang tỷ lệ từ 0 đến 1 tùy theo xếp hạng của nước đó trong mối tương quan so sánh với các nước khác Các biến này được sử dụng rộng rãi trong các lý thuyết phát triển, cũng như trong nhiều nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Reiter và Steensma 2010, Tin Tin 2012
FDIt: Biến thu thập được lấy log của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được chứng khoán hoá trên đầu người (USD) Dữ liệu này được nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng như là nghiên cứu của Tin tin (2012), Chauffour (2011), Carkovic và Levine (2005), Blonigen và Wang (2005) Trong nghiên cứu này sử dụng dữ liệu được chứng khoán hoá thay vì dòng tiền FDI vào vì ba lý do Thứ nhất là dựa trên nghiên cứu của Johnson 2006, dữ liệu này phản ảnh tốt hơn khía cạnh ảnh hưởng dài hạn của FDI đến nước chủ nhà Thứ hai là tính biến động của dòng tiền vào FDI cao hơn so với dữ liệu FDI chứng khoán hoá Thứ ba là
số quan sát bị bỏ sót ít hơn trong dữ liệu được chứng khoán hoá
FDIt-1: Biến thu thập được lấy log của độ trễ một giai đoạn của FDI (trường hợp này là một năm) Trong mô hình nghiên cứu này, ta cũng áp dụng độ trễ của biến FDI để phản ánh ảnh hưởng trễ của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh
tế (theo nghiên cứu của Tin tin 2012, Agosin và Machado 2005 đã sử dụng) Và
Trang 27theo hầu hết những kết quả nghiên cứu trước đây, nghiên cứu cũng kỳ vọng sẽ tìm thấy ảnh hưởng tích cực của FDI và độ trễ của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế
ECO: Biến thu thập được lấy log của chỉ số tự do hoá quốc gia Theo như nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng chỉ số này như nghiên cứu của Tin Tin (2012), Basu và Guariglia (2007), Li và Liu (2005), Borensztein (1998), nghiên cứu kỳ vọng với sự đánh giá mang tính so sánh giữa các quốc gia theo bốn mươi hai tiêu chí chia làm năm lĩnh vực chính về tình hình tự do hoá của các quốc gia, sẽ góp phần đưa ra một cái nhìn tương quan về nền tảng quốc gia ban đầu khi thu hút FDI và tác động của nó đến tăng trưởng và phát triển Chỉ số tự do hoá quốc gia của Fraser Institute là một hệ số đánh giá tổng quát về tự do hoá của quốc gia trên thế giới thông qua bốn mươi hai tiêu chí, các tiêu chí được đánh giá thông qua nguồn dữ liệu được công bố rộng rãi, được thu thập, tóm lược Tự do hóa quốc gia được đánh gia theo thang tỷ lệ từ 0 đến 10 đại diện cho mức độ tự
do hoá tăng dần Theo chỉ số này, mức độ tự do hoá được đánh giá dựa trên năm lĩnh vực:
1 Quy mô chính phủ: Chi tiêu, thuế, doanh nghiệp
2 Cấu trúc pháp lý và an toàn trong sở hữu tư
3 Khả năng chuyển đổi thành tiền
4 Tự do thương mại quốc tế
5 Luật về tín dụng, lao động, kinh doanh
Chỉ số này phản ảnh thực trạng kinh tế tại thời điểm của quốc gia được xét Theo đó, chỉ số này mang tính tổng quát nhiều khía cạnh, được đo lường theo cách thức chuẩn hoá, làm tiêu chí so sánh giữa các quốc gia Chỉ số càng tăng thì
ám chỉ rằng mức độ tự do hoá của quốc gia đó càng được cải thiện, và vì thế ta
có thể kỳ vọng là khi mức độ tự do hoá của quốc gia đó càng được cải thiện thì càng ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng và phát triển kinh tế như nhiều lý thuyết và kết quả của nhiều nghiên cứu khác đã đề cập
Trang 283.2 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng
3.2.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Theo Gujarati,biểu thức cho mô hình có dạng như sau:
it X2it X3it kXkit uit (3.13) với i, t N*,
Chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến từng trường hợp, xem xét những ưu nhược điểm
để từ đó chọn ra mô hình phù hợp cho nghiên cứu
Trường hợp 1 là hệ số trục tung và hệ số độ dốc không đổi theo thời gian và các đơn vị chéo Trường hợp này thể hiện trong biểu thức (3.13) Đây là trường hợp đơn giản nhất, trong trường hợp này ta bỏ qua kích thước dữ liệu gộp theo không gian và thời gian mà chỉ hồi quy đơn thuần theo theo OLS Tuy nhiên, phương pháp này thường dẫn đến hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu hay ràng buộc phần dư làm cho giá trị Durbin-Watson thấp Bên cạnh đó, ràng buộc của giả định trong trường hợp này rất cao, đây cũng là một hạn chế của mô hình Trong trường hợp của nghiên cứu này, giả định có nghĩa là giá trị tung độ gốc của tám nước là như nhau cũng như hệ số độ dốc của các biến giải thích đồng nhất cho cả tám nước trong mẫu
Trang 29Trường hợp 2: Hệ số độ dốc không đổi nhưng hệ số trục tung khác nhau
giữa các đơn vị chéo Mô hình (3.13) có thể viết lại như sau:
it i X2it X3it kXkit uit (3.14) Trong đó, sự khác biệt về hệ số trục tung có thể biểu thị cho đặc tính của mỗi
nước, như lối điều hành, chính sách, đặc tính thương mại, kinh tế, lượng vốn
FDI và các đặc tính khác Mô hình (3.14) được gọi là FEM Mô hình thích hợp
trong trường hợp mẫu có kích thước thời gian tương đối ngắn
Ý tưởng sự khác biệt trong tung độ gốc thể hiện thông qua biến giả được đưa
vào mô hình đại diện cho đặc tính nào của dữ liệu chéo mà nghiên cứu muốn đề
cập Mô hình khi có biến giả được thể hiện như sau:
it D2i 3D3i X2it X3it kXkit uit (3.15)
Mô hình (3.15) còn được gọi là LSDV Khác biệt giữa (3.15) với (3.13) là hệ số
tung độ gốc có thể thay đổi giữa các nước Để so sánh mô hình (3.13) và (3.15)
xem mô hình nào tốt hơn, ta có thể dùng kiểm định Wald
Trường hợp 3: Tương tự mô hình (3.15) có thể giải thích được trong trường
hợp hệ số tung độ gốc biến đổi giữa các đơn vị chéo và theo thời gian bằng cách
thêm biến giả giải thích vào mô hình (3.15) Tuy nhiên, giới hạn của FEM và
LSDV là giảm bậc tự do của dữ liệu đi rất nhiều, nguy cơ đa cộng tuyến vì có
quá nhiều biến
Trường hợp 4: Tất cả các hệ số độ dốc và hệ số trục tung biến đổi theo các
đơn vị chéo Trường hợp này ta giả định tất cả các hệ số khác nhau theo các đơn
vị chéo, ví dụ điều kiện tự do kinh tế khác nhau giữa các nước Mô hình ước
lượng có thể mở rộng LSDV bằng cách thêm những biến giả giải thích Mô hình
hồi quy có thể viết lại:
it D2i X2it X3it D X2i 2it D Xi it u it
(3.16) Những biến có thể hiện hệ số độ dốc khác nhau, các biến thể hiện hệ số
tung độ gốc khác nhau Nếu nào có ý nghĩa thì chứng tỏ hệ số độ dốc của biến
đó khác biệt so với các biến còn lại Ví dụ như và có ý nghĩa thống kê, thì
là giá trị hệ số độ dốc của biến
Trang 30Nhìn chung, giới hạn của FEM và LSDV là giảm bậc tự do của dữ liệu đi rất
nhiều, nguy cơ đa cộng tuyến vì có quá nhiều biến Mô hình LSDV có quá nhiều
biến giả gây phức tạp mô hình và không hiệu quả trong sử dụng biến giả mô tả
ảnh hưởng theo thời gian Sau đây trình bày một cách hồi quy dữ liệu theo hình
thức tiếp cận ảnh hưởng ngẫu nhiên
Mô hình hồi quy theo hình thức tiếp cận ảnh hưởng ngẫu nhiên Ý tưởng của
tiếp cận này cho rằng sự khác biệt về các điều kiện đặc thù của các đơn vị chéo
được chứa đựng trong phần sai số ngẫu nhiên Mô hình được đề xuất có tên gọi
là REM Ý tưởng cơ bản của mô hình được viết như sau:
it i X2it X3it kXkit uit (3.17) trong đó, thay vì icố định, mô hình giả định ilà một biến ngẫu nhiên với giá
trị trung bình là Và giá trị hệ số tung độ gốc cho mỗi giá trị chéo có thể được
diễn tả như sau:
lấy từ một tập hợp và có giá trị trung bình của tung độ gốc là và sự khác biệt
trong giá trị hệ số tung độ gốc của mỗi nước được phản ánh qua i
Mô hình (3.16) có thể được viết lại như sau:
it 2X2it 3X3it i uit (3.18) Hay it 2X2it 3X3it w it; với wit i uit
it
u là sai số của dữ liệu bảng
Nhìn chung, mô hình FEM hay REM tốt hơn cho nghiên cứu phụ thuộc vào giả
định có hay không sự tương quan giữa i và các biến giải thích X Nếu giả định
rằng không tương quan, thì REM phù hợp hơn, và ngược lại Ngoài ra, nếu căn
cứ vào N (số dữ liệu chéo) và T (độ dài thời gian nghiên cứu) thì theo Judge,
REM và FEM không phân biệt khi T lớn và N nhỏ, khá khác biệt khi N lớn và T
Trang 31nhỏ Bên cạnh đó, Hausman test cũng là một phương án trong việc chọn phương pháp tốt nhất giữa FEM và REM
Trong trường hợp chuyên đề, dữ liệu bảng với kích thước thời gian ngắn từ năm 2003-2011 không thể ước lượng mô hình mà tất cả các hệ số thay đổi giữa các đơn vị chéo Do vậy, dự đoán có hai mô hình khả thi trong trường hợp này là FEM với giả định hệ số độ dốc không đổi nhưng hệ số trục tung khác nhau giữa các đơn vị chéo và REM Tuy thế trong phần hồi quy, nghiên cứu sẽ lần lượt đi qua cả ba mô hình là OLS, FEM và REM để chọn mô hình thích hợp nhất Ngoài ra, nghiên cứu sẽ xem xét cả mô hình có hiệu chỉnh tự tương quan hoặc phương sai thay đổi nếu cần (EGLS)
Trang 323.2.2 Các kiểm định trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Kiểm định Durbin-Watson (DW)
Kiểm định này nhằm xác định có hay không hiện tượng tự tương quan trong mô hình Thông thường, kết luận cho hiện tượng tự tương quan này như sau:
Nếu giá trị d trong kiểm định DW:
1< d < 3: không có hiện tượng tự tương quan
0 <d <1: mô hình có hiện tượng tự tương quan dương
3 <d <4: mô hình có hiện tượng tự tương quan âm
Kiểm định Wald
Nhằm mục đích xác định xem hệ số tung độ gốc có bằng nhau giữa các biến hay không, điều này đồng nghĩa với hệ số tung độ gốc của các nước có bằng nhau không Nếu bằng nhau tức là thoả giả định trường hợp 1, ta có thể dùng kiểm định gộp trường hợp (3.13) để hồi quy dữ liệu
H: FEM và REM khác biệt đáng kể
Nếu > p-value cho phép kết luận giả thiết H0bị bác bỏ, khi đó ta kết luận là FEM phù hợp hơn để sử dụng Ngược lại, REM phù hợp cho mô hình nếu chấp nhận giả thiết H0
Kiểm định hệ số của các biến giải thích (i)
Trang 33H : hệ số không có ý nghĩa thống kê
1
H: hệ số không có ý nghĩa thống kê
Nếu > p-value thì giả thiết H bị bác bỏ, hay nói cách khác là biến được kiểm 0định đó tác động một cách có ý nghĩa thống kê
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Biến độc lập gồm FDI và nhóm biến biểu thị tự do kinh tế, đại diện cho điều kiện kinh tế quốc gia Biến FDI được thu thập tại UNCTAD Biến tự
do hóa quốc gia được thu thập tại Fraser Institute
Nguồn thu thập: UNDP, UNDATA, UNCTAD, Fraser Institute Các nguồn dự liệu này được lấy tương tự như theo nguồn nghiên cứu của Tin Tin (2012) và các nghiên cứu khác
3.3.2 Xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập dữ liệu các biến như trên Ta dựa vào chỉ số HDI như trong báo cáo của UNDP để phân loại nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển (theo nghiên cứu của Tekin 2012, Tin Tin 2012 đã đề cập) Trong đó, nhóm quốc gia
có HDI cao và trung bình được xếp vào nhóm quốc gia đang phát triển, nhóm quốc gia chậm phát triển có HDI thấp Dựa theo dữ liệu lấy đến năm nào thì xem chia nhóm HDI của UNDP năm đó
Trang 34Trình bày ma trận tương quan trong phân tích hồi quy cho nhóm tất cả các nước Xem xét dấu giữa các biến trong ma trận tương quan Tiếp theo, ta sẽ hồi quy dữ liệu bảng để xét xem dấu của các biến này có ý nghĩa thống kê không
Nhằm mục tiêu trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu nêu ở phần trên, phần xử lý và phân tích dữ liệu sẽ chia thành hai nhóm mô hình tương ứng Nhóm mô hình 1
sẽ hướng đến trả lời cho câu hỏi thứ nhất, thứ hai là xác định ảnh hưởng của FDI, tự do hóa quốc gia lên tăng trưởng và phát triển kinh tế trong toàn mẫu nghiên cứu Mô hình sẽ đi qua lần lượt ba trường hợp nhằm xác định mô hình phù hợp nhất - tiêu chuẩn mô hình phù hợp nhất chủ yếu dựa vào các kiểm định
đã được trình bày ở phần trên - để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu như sau:
Trường hợp 1: Hồi quy OLS thông thường, trong đó giả định tất cả các hệ
số (độ dốc và trục tung) không thay đổi trong chín năm và giữa tám nước
Mô hình hồi quy trường hợp này có dạng:
Mô hình Tăng trưởng kinh tế:
lPGDP lFDI lFDI lECO u
Mô hình Phát triển kinh tế:
lHDI lFDI lFDI lECO u
lPGDP: log của thu nhập bình quân trên đầu người
lHDI: log của chỉ số phát triển nhân lực
lEDU: log của chỉ số giáo dục
lHEALTH: log của chỉ số y tế
lFDIt: log của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được chứng khoán hoá (trên đầu người)
lFDIt-1: log của độ trễ 1 giai đoạn của FDI (trường hợp này là một năm)
lECO: log của chỉ số tự do hoá quốc gia
Trang 35Phương trình nhóm một gồm bốn phương trình trên cho tất cả các nước trong mẫu để xác định ảnh hưởng của FDI, tự do hóa quốc gia lên tăng trưởng và phát triển kinh tế nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu một và hai
Trước khi tiến hành hồi quy mô hình theo FEM hay REM, kiểm định Hausman được thực hiện nhằm xác định trong hai mô hình đã nêu là FEM hay REM, mô hình nào là lựa chọn tối ưu Dựa theo đó, mô hình hồi quy tiếp theo có thể là FEM (trường hợp 2) hay REM (trường hợp 3) như sau đây
Trường hợp 2: Hệ số độ dốc không đổi nhưng hệ số trục tung khác nhau giữa tám nước Mô hình hồi quy theo phương pháp FEM:
Mô hình Tăng trưởng kinh tế:
lPGDP lFDI lFDI lECO
Mô hình Phát triển kinh tế:
lHDI lFDI lFDI lECO
lEDU lFDI lFDI lECO
lHEALTH lFDI lFDI lECO
Trường hợp 3: Mô hình hồi quy theo phương pháp REM
Mô hình Tăng trưởng kinh tế:
lPGDP lFDI lFDI lECO +w
Mô hình Phát triển kinh tế:
lHDI lFDI lFDI lECO +w
lEDU lFDI lFDI lECO +w
lHEALTH lFDI lFDI lECO +w
Sau mô hình hồi quy tổng mẫu quan sát như trên, nghiên cứu cũng tiến hành hồi quy các nhân tố ảnh hưởng phân theo nhóm nước Từng mô hình cũng đi theo ba trường hợp nêu trên nhằm xác định mô hình phù hợp nhất giải thích ý nghĩa nghiên cứu
Phương trình nhóm hai tương tự mô hình nhóm một, gồm bốn phương trình nêu trên nhưng phân nhóm theo hai nhóm nhỏ: nhóm quốc gia phát triển, đang phát triển để xem xét tính ảnh hưởng của FDI có khác biệt giữa các nhóm quốc gia
Trang 36hay không, trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ ba Với ý tưởng đó, bên cạnh việc hồi quy như nhóm mô hình một, nghiên cứu thêm vào một biến giả như sau:
Mô hình Tăng trưởng kinh tế:
Mô hình Phát triển kinh tế:
Ngoài ra, nghiên cứu cũng xét xét mô hình EGLS, mô hình có sự điều chỉnh phương sai thay đổi và tự tương quan dữ liệu để cho kết quả nhận định tốt nhất,
mô hình phù hợp nhất
Trang 37
CHƯƠNG 4
4.1 Thống kê mô tả các biến
Dữ liệu thu thập theo từng năm của các nước Châu Á, tuy nhiên do tính sẵn có
và đầy đủ của dữ liệu nên nghiên cứu này chỉ chọn mẫu gồm tám nước, thu thập trong chín năm từ năm 2003 đến 2011 Kết quả phân loại các quốc gia đang phát triển, phát triển theo UNDP và theo nghiên cứu của Tin Tin 2012 cho kết quả như sau Mẫu nghiên cứu chỉ có Nhật Bản và Israel là thuộc các nước phát triển, còn lại sáu nước thuộc nhóm nước đang phát triển gồm Maylaysia, Indonesia, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Việt Nam; không có quốc gia thuộc nhóm chậm phát triển trong mẫu này Cụ thể thống kê mô tả biến cho kết quả như sau:
Bảng 4.1a: Thống kê mô tả biến trong giai đoạn nghiên cứu
Trong giai đoạn nghiên cứu đang xét, có sự tăng đáng kể trong giá trị các biến quan sát Tuy nhiên, có sự khác biệt trong mức độ gia tăng giữa hai nhóm nước
Cụ thể ta rút ra một số nhận xét sau