Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sáchnhà nước liên quan đến nhiều vấn đề như: đầu tư, đầu tư công, quản lý dự đầu tư,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư công có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu đầu tư của nềnkinh tế thị trường Đối với Việt Nam, đầu tư công (vốn nhà nước) chiếm đến50% tổng vốn đầu tư xã hội, là nguồn lực rất quan trọng đảm bảo sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế Trong cơ cấu đầu tư vốn nhà nước, đầu tư xâydựng vốn ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng trên 40% Các dự án đầu tưxây dựng vốn ngân sách nhà nước hàng năm đã triển khai với hàng ngàn dự
án, với khối lượng vốn rất lớn và ngày càng có xu hướng gia tăng
Nhiều dự án đầu tư xây dựng vốn ngân sách nhà nước những năm qua đã
và đang đóng góp vào việc phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cho khu vựccông, phát triển các công trình công cộng, tăng năng lực sản xuất, đóng góp đáng
kể vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Các dự án đầu tư vốn ngân sách nhà nước đòi hỏi mộtchu trình quản lý đặc biệt vừa phải tuân thủ luật pháp về đầu tư, xây dựng, vừaphải tuân thủ các nguyên tắc và quy trình quản lý vốn ngân sách nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng của các dự án đầu tư xây dựng vốnngân sách nhà nước cũng như việc quản lý các dự án thời gian qua, các cấp,các ngành đã chú trọng đổi mới công tác quản lý các dự án này từ quy trình,nội dung, phương thức, tổ chức và đã đạt được những kết quả khả quan Banđầu đã thiết lập và vận hành cơ chế quản lý đầu tư xây dựng vốn ngân sáchnhà nước
Tuy nhiên, công tác quản lý đối với các dự án đầu tư xây dựng vốnngân sách nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết, từ khâu kếhoạch đến đến tổ chức bộ máy, kiểm tra, kiểm soát Hiệu lực và hiệu quảquản lý đối với lĩnh vực này còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sựphát triển Do vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước
Trang 2đối với các dự án đầu tư xây dựng vốn ngân sách nhà nước là rất cần thiếttrong giai đoạn hiện nay.
Đối với Bắc Ninh là một thành phố trung tâm của một tỉnh đang có tốc
độ phát triển kinh tế khá cao, mức độ phát triển đô thị và công nghiệp mạnh.Việc triển khai cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ởcấp thành phố trực thuộc tỉnh cũng có nhiều vấn đề vừa mang tính chất chungvừa mang tính đặc thù riêng Để nâng cao hiệu quả đầu xây dựng cả về lý
luận và thực tiễn đối với công tác quản lý dự án Tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh” được lựa chọn làm đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sáchnhà nước liên quan đến nhiều vấn đề như: đầu tư, đầu tư công, quản lý dự đầu
tư, quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng v.v Đến nay, ở nước ta
đã có một số công trình nghiên các vấn đề có liên quan đến đề tài và đã đượccông bố dưới các hình thức như: sách chuyên khảo, sách tham khảo, luận án tiến
sĩ, các bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và các loại công trình khác.Tổng hợp lại có ba nhóm nghiên cứu chủ yếu liên quan đến đề tài luận án, gồm:(1) nhóm các nghiên cứu về quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng, quản
lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng; (2) nhóm các nghiên cứu về quản lývốn đầu tư xây dựng và quản lý sử dụng ngân sách nhà nước cho dự án đầu tưxây dựng; (3) nhóm các nghiên cứu khác có liên có liên quan như: kinh tế đầu tưxây dựng, quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý nhà nước về kinh tế
và các vấn đề khác Dưới đây là các nhóm nghiên cứu chủ yếu
2.1 Các nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quản lý nhà nước đối dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam của tác giả Tạ Văn Khoái (2009) [18] Công trình nghiên cứu được
Trang 3xuất bản dưới dạng sách chuyên khảo Tác giả làm rõ các vấn đề cơ bản của
dự án đầu tư, nội dung kinh tế của dự án đầu tư xây dựng, đánh giá hiệu quảkinh tế - xã hội của dự án đầu tư; phân tích tài chính dự án đầu tư; làm rõ cácnội dung, quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (chuẩn bị, thựchiện, kết thúc dự án); đưa ra các xu hướng ứng dụng chương trình máy tínhtrợ giúp quản lý dự án đầu tư
Quản lý dự án - cơ sở lý thuyết và thực hành của Nguyễn Văn Phúc
(2008) [19] Công trình được xuất bản dưới dạng sách chuyên khảo, đã làm rõnhững vấn đề cơ bản về dự án và quản lý dự án, phân tích nội dung các khâucủa chu trình dự án, từ chuẩn bị và lập kế hoạch dự án đến quản lý quá trìnhthực hiện dự án, kết thúc dự án Nghiên cứu quản trị dự dự án là mục tiêu củacông trình này
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về dự án và quản lý dự ánđầu tư xây dựng của một số tác giả như: Bùi Mạnh Hung (2006),Từ QuangPhương (2004)
2.2 Các nghiên cứu về quản lý vốn đầu tư xây dựng, vốn ngân sách nhà nước cho dự án đầu tư xây dựng
Quản lý tài chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, tác giả Thái Bá Cẩn
(2003) Công trình này đã làm rõ được những đặc trưng cơ bản của hoạt độngđầu tư xây dựng, chi phí xây dựng, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, các giảipháp và cơ chế quản lý tài chính nhằm ngăn ngừa lãng phí, thất thoát trongđầu tư xây dựng ở tất cả các khâu của chu trình đầu tư xây dựng Cách tiếpcận và giải quyết vấn đề của tác giả theo lôgic phân tích thực tiễn và căn cứvào các đặc trưng vốn có của hoạt động đầu tư xây dựng để tìm kiếm các giảipháp về tài chính nhằm hạn chế lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng sửdụng vốn Nhà nước trong đó có vốn từ ngân sách nhà nước
Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước - Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giải Trần Văn Hồng (2002) [16] Công
Trang 4trình đã làm rõ những nội dung cơ bản về vốn đầu tư xây dựng và quản lý sửdụng vốn đầu tư xây dựng từ các nguồn khác nhau của nhà nước, đặc biệt làm
rõ cơ chế quản lý nguồn vốn này trong tất cả các khâu của quá trình đầu tưxây dựng từ khâu lập kế hoạch đầu tư xây dựng đến thẩm định, thực hiện,nghiệm thu quyết toán vốn
2.3 Các nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài luận án
Quản lý nhà nước trên lĩnh vực đầu tư xây dựng trong cơ chế thị trường
có định hướng xã hội chủ nghĩa - Tác giả Hồ Hoàng Đức (2005) [15] Tác giả
đã hệ thống hoá những vẫn đề lý luận, phân tích và làm rõ thực trạng củaquản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, từ
đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này dướigóc độ pháp luật Công trình này này chỉ đi sâu nghiên cứu một khía cạnh củaquản lý nhà nước đối đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng - khía cạnh pháp luật
Các công trình khác nghiên cứu về quản lý vốn đầu tư xây dựng vànhững mặt khác có liên quan đến đề tài của một số tác giả có tác dụng tham
khảo như: Quản lý nhà nước về kinh tế và quản trị kinh doanh trong xây dựng, của tác giả Nguyễn Văn Chọn (2004); Giáo trình kinh tế đầu tư, do hai
đồng chủ biên Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2003);
Trên đây là các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đềtài luận án Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã công bố có những đónggóp quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tưxây dựng trong giai đoạn lịch sử nhất định, có thể tham khảo, kế thừa có chọnlọc trong quá trình nghiên cứu của luận án
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa và tổng kết lý luận
về quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng vốn ngân sách nhànước, qua đó phân tích đánh giá thực trạng quản lý, luận chứng đề xuất các
Trang 5giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từvốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các dự ánđầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước ở cấp độ toàn quốc nói chung vàcấp độ một địa phương (thành phố trực thuộc tỉnh) nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện quản lý nhà nước đối vớicác dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phốBắc Ninh giai đoạn 2006 - 2010
- Luận chứng đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lýnhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước giaiđoạn 2010 - 2015 trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu luận văn là quản lý
nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trêncác giai đoạn chu trình dự án
4.2 Phạm vi nghiên cứu: được xác định là quản lý nhà nước đối với
các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước, thuộc nguồnvốn ngân sách thành phố
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đểnhận thức xem xét các vân đề một cách khách quan, logic, cụ thể lịch sử, từ
đó đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học Cụ thể là:
Thứ nhất, bám sát các quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về
quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhànước đối với một địa phương cụ thể thể
Trang 6Thứ hai, sử dụng lý luận về quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư
xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước, từ đó luận chứng các quan điểm giảipháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốnngân sách nhà nước
Thứ ba, bám sát điều kiện thực tế của thành phố Bắc Ninh để đề ra giải pháp
hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sáchnhà nước sát với tình hình thực tiễn, phù hợp với đặc thù riêng của địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu kinh tế và quản lý phổ biến như tổng hợp, phân tích, thống
kê, so sánh, điều tra, khảo sát số liệu
6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Làm rõ nội dung quản lý nhà nước phân cấp cho cấp thành phố(huyện) trong quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng vốn ngânsách nhà nước
- Làm rõ các vấn đề và nguyên nhân trong quản lý nhà nước đối với các dự
án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Đề xuất giải pháp mới nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự
án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
7 Kết cấu của của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 9 tiết
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
Dự án đầu tư xây dựng là các dự án gắn với hoạt động đầu tư xây dựng,bao gồm các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng trước hết phải là một dự án đầu tư, gắn với quátrình đầu tư Trong nền kinh tế thị trường đầu tư là hoạt động sử dụng, kết hợpcác nguồn lực (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ) vào một công việc nhấtđịnh ở hiện tại nhằm mục đích thu được các kết quả trong tương lai Đầu tư làhoạt động rất đa dạng, phức tạp với nhiều hình thức như: đầu tư gián tiếp, đầu
tư trực tiếp, đầu tư chuyển dịch, đầu tư phát triển
Đầu tư trực tiếp là hình thức thực hiện và vận hành kết quả đầu tư, cònđầu tư gián tiếp thì người đầu tư chỉ bỏ vốn mà không trực tiếp tham gia quản
lý, điều hành Đầu tư chuyển dịch là việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển quyền sởhữu giá trị tài sản mà không làm tăng năng lực sản xuất Đầu tư phát triểnnhằm duy trì và tạo ra năng lực sản xuất mới, tài sản mới cho nền kinh tế Đầu
tư phát triển có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tếcủa mỗi quốc gia, tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa tác động tớitổng cung, vừa tác động tới tổng cầu của nền kinh tế
Đầu tư xây dựng là hoạt động đầu tư, trong đó có tiến hành các côngviệc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp nhà của và các tài sản cố định, mua sắm
và lắp đặt các thiết bị và công việc liên quan khác trên cơ sở tính toán hiệuquả kinh tế, xã hội theo kế hoạch đã định nhằm duy trì, tạo mới hoặc cải tạocác năng lực sản xuất cho nền kinh tế [13]
Trang 8Đầu tư xây dựng được nhìn nhận dưới nhiều giác độ khác nhau Sự khácnhau về quan niệm này bắt buộc từ sự khác nhau trong quan niệm về dự ánđầu tư nói chung Tại điều 5, Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hànhtheo Nghị định 52/199/NĐ-CP quy định:
Dự án đầu là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất địnhnhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến,nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thờigian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) [5]
Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng:
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới,
mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được
sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng củasản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhấtđịnh [17, tr.4]
Luật đầu tư năm 2005 tại Điều 3, khoản 8 quy định: “Dự án đầu tư là tậphợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tưtrên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [20]
Theo tác giả Tạ Văn Khoái: “Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động lienquan mật thiết với nhau về sử dụng các nguồn lực để tạo mới, mở rộng hoặccải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể nhằm đạt được mục tiêutrong khoảng thời gian xác định” [18]
Dự án đầu tư xây dựng trong nền kinh tế thị trường có thể sử dụng nhiềunguồn vốn khác nhau Các nguồn vốn cho dự án đầu tư xây dựng có thể là:vốn ngân sách nhà nước, vốn khác của nhà nước (vốn tín dụng cho dự án đầu
tư xây dựng của nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và vốnkhác của nhà nước), vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư, vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài
Trang 9Dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước là dự án đầu tư xâydựng sử dụng nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước Như vậy, dự án đầu
tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước có đặc điểm là nguồn vốn đáp ứngcho dự án được cấp phát trực tiếp từ ngân sácnh nhà nước Từ những phântích trên, có thể định nghĩa dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
như sau: Dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước là tập hợp các hoạt động sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước kết hợp với các đầu vào khác
để thực hiện một phần công trình, một công trình hay một số công trình xây dựng nhằm duy trì, phát triển, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm dịch vụ trong một thời gian nhất định.
1.1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, nhà nước cầnthực hiện hai vai trò: vai trò chủ đầu tư (thực hiện quản trị, quản lý trực tiếp
dự án) và vai trò quản lý nhà nước Để quản trị dự án thường có ban quản lý
dự án làm đại diện thay mặt chủ đầu tư trực tiếp quản lý sử dụng phần vốncủa nhà nước Tuy vậy, hoạt động quản lý của các ban quản lý dự án chỉ giớihạn trong phạm vi quản trị dự án chứ không phải hoạt động quản lý nhà nướcđối với các dự án nhà nước Các ban quản lý dự án vẫn phải chịu sự quản lýcủa tất cả các cơ quan quản lý nhà nước vì ba lý do:
Ban quản lý dự án thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư Họ làngười đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư Như vậy các ảnh hưởng kháccủa dự án như tác động của môi trường, anh ninh quốc phòng, trình độ côngnghệ…, họ không có trách nhiệm và không đủ khả năng để quan tâm đến.Nếu không có sự quản lý nhà nước đối với đối với các Ban quản lý dự ánnày, các dự án nhà nước trong khi theo đuổi các mục tiêu chuyên ngành cóthể sẽ làm tổn hại quốc gia ở một số mặt mà họ không lường hết được hoặckhông quan tâm
Trang 10Mặt khác, bản thân các Ban quản lý dự án cũng có thể không thực hiệntrọn vẹn trách nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sử dụng vốn sai mục đích,kém hiệu quả, thậm chí tham ô, chiếm đoạt vốn nhà nước Do vậy, cần cóquản lý nhà nước ở tầm báo quát và toàn diện nhằm đinh hướng các hoạt độngđầu tư vốn nhà nước.
Cuối cùng, các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước cần phảituân thủ các định mức, tiêu chuẩn, chế độ đánh giá chung của nhà nước trongxác định chi phí và lựa chọn dự án
Do vậy quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngânsách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên,đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chốngtham ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư ngân sách nhà nước và khai tháccác kết quả của đầu tư
- Đảm bảo cho quá trình đầu tư, xây dựng công trình đúng quy hoạch vàthiết kế được duyệt, đảm bảo bền vững và có mỹ quan, đảm bảo chất lượng vàthời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của cácchủ dự án không đúng trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác có thể gây ra như các côngtrình xây dựng được tạo ra làm ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến cảnh quan, thuầnphong mỹ tục, anh ninh quốc gia
- Hỗ trợ các ban quản lý dự án thực hiện đúng vai trò chức năng nhiệm
vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án
- Kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sửdụng vốn ngân sách nhà nước
Trang 111.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách có đặc điểm là:
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế- xã hội- môi trường đóng vai trò chính trongviệc đánh giá hiệu quả của dự án
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư cho dự án thường là hỗ trợ, tài trợ, dẫn đến sửdụng không có hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư
Thứ ba, các dự án đòi hỏi phải có sự quy hoạch đồng bộ trong quy hoạchtổng thể phát triển kinh tế- xã hội
Thứ tư, dự án bị tác động của nhiều bên liên quan từ khâu ra chủ trươngđầu tư, quy hoạch, lập dự án, thu xếp vốn đến khâu triển khai đầu tư, sử dụngkết quả đầu tư
Thứ năm, bên thụ hưởng kết quả đầu tư cũng là một nhân tố quan trọngtrong việc xác định hiệu quả đầu tư
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, Nhà nước quản lý toàn
bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án,quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xâydựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng
1.2.1 Công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch dự án có vai trò rất quan trọng, đảm bảo cho hoạtđộng đầu tư phù hợp với mục tiêu chiến lược, giúp cho kinh tế - xã hội pháttriển lành mạnh, đúng hướng, hiệu quả và bền vững
*Những căn cứ để lập quy hoạch dự án là:
Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng đã được phê duyệt
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng, quy hoạch pháttriển ngành có liên quan (nếu có)
Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và hệ thống
hạ tầng kỹ thuật quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Trang 12Các kết quả điều tra, khảo sát và các số liệu, tài liệu có liên quan.
Quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng
* Nội dung của công tác quy hoạch
Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; xác định cácđộng lực phát triển vùng
Xác định hệ thống các đô thị, các điểm dân cư; các khu công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, du lịch; các khu vực bảo vệ di sản,cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử văn hoá; các khu vực cấm xây dựng vàcác khu dự trữ phát triển
Xác định mạng lưới, vị trí, quy mô các công trình đầu mối hạ tầng kỹthuật mang tính chất vùng hoặc liên vùng
Dự kiến những hạng mục ưu tiên phát triển và nguồn lực thực hiện
Dự báo tác động môi trường vùng và đề xuất biện pháp để giảm thiểu
ảnh hưởng xấu đến môi trường trong đồ án quy hoạch
1.2.2 Công tác kế hoạch hoá nguồn vốn cho các dự án đầu tư
Các dự án chỉ được bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của Nhà nướckhi có đủ các điều kiện sau:
Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quyhoạch và dự toán chi phí công tác quy hoạch được duyệt theo thẩm quyền Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch phát triểnngành và lãnh thổ được duyệt; có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tưđược duyệt theo thẩm quyền
Đối với các dự án thực hiện đầu tư: phải có quyết định đầu tư từ thờiđiểm trước 31 tháng 10 năm trước năm kế hoạch, có thiết kế, dự toán và tổng
dự toán được duyệt theo quy định
Trường hợp dự án được bố trí vốn trong kế hoạch thực hiện đầu tưnhưng chỉ để làm công tác chuẩn bị thực hiện dự án thì phải có quyết định đầu
tư và dự toán chi phí công tác chuẩn bị thực hiện dự án được duyệt
Trang 13Đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, nếu chưa có tổng
dự toán được duyệt thì công trình, hạng mục công trình thi công trong năm kếhoạch phải có thiết kế và dự toán được duyệt, chậm nhất là đến khi thực hiệnđược 30% giá trị xây dựng trong tổng mức đầu tư phải có tổng dự toán đượcduyệt; nếu các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A có các tiểu dự ánhoặc dự án thành phần thì từng tiểu dự án hoặc dự án thành phần được quản
* Phân bổ vốn:
Đối với vốn đầu tư thuộc Trung ương quản lý: các Bộ phân bổ kế hoạchvốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện quyđịnh, đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư; cơ cấuvốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu ngành kinh tế; mức vốn các dự ánquan trọng của Nhà nước và đúng với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo củaChính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngânsách nhà nước hàng năm [2]
Đối với vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý: Ủy ban nhân dân các cấplập phương án phân bổ vốn đầu tư trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyếtđịnh Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phân bổ vàquyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý đã
đủ các điều kiện quy định, đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổngmức đầu tư; cơ cấu vốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu ngành kinh tế;mức vốn các dự án quan trọng của Nhà nước và đúng với Nghị quyết Quốc
Trang 14hội, chỉ đạo của Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và
dự toán ngân sách nhà nước hàng năm
Sở Tài chính có trách nhiệm cùng với Sở Kế hoạch và Đầu tư dự kiếnphân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do tỉnh quản lý trước khi báo cáo Ủy bannhân dân tỉnh quyết định
Phòng Tài chính Kế hoạch huyện có trách nhiệm cùng với các cơ quanchức năng của huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện phân bổ vốn đầu
tư cho từng dự án do huyện quản lý
Sau khi việc phân bổ vốn đã được cơ quan Tài chính thẩm tra, chấpthuận, các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, các huyện giao chỉ tiêu kế hoạchcho các chủ đầu tư để thực hiện, đồng gửi Kho bạc nhà nước nơi dự án mở tàikhoản để theo dõi, làm căn cứ kiểm soát, thanh toán vốn
1.2.3 Lập dự án đầu tư xây dựng công trình
Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư phải tổ chức lập dự án để làm
rõ về sự cần thiết phải đầu tư và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình Nộidung dự án bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
* Nội dung phần thuyết minh của dự án
Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư, đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sảnphẩm đối với dự án sản xuất, kinh doanh, hình thức đầu tư xây dựng côngtrình, địa điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất, điều kiện cung cấp nguyên liệu,nhiên liệu và các yếu tố đầu vào khác
Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục côngtrình bao gồm công trình chính, công trình phụ và các công trình khác, phântích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ và công suất
* Các giải pháp thực hiện bao gồm:
Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và phương án hỗ trợ xâydựng hạ tầng kỹ thuật nếu có;
Trang 15Các phương án thiết kế kiến trúc đối với công trình trong đô thị và côngtrình có yêu cầu kiến trúc;
Phương án khai thác dự án và sử dụng lao động;
Phân đoạn thực hiện, tiến độ thực hiện và hình thức quản lý dự án
Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp phòng, chống cháy, nổ vàcác yêu cầu về an ninh, quốc phòng
Tổng mức đầu tư của dự án; khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn và khả
năng cấp vốn theo tiến độ; phương án hoàn trả vốn đối với dự án có yêu cầuthu hồi vốn; các chỉ tiêu tài chính và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệuquả xã hội của dự án
* Nội dung thiết kế cơ sở của dự án
Nội dung phần thiết kế cơ sở của dự án phải thể hiện được giải pháp thiết
kế chủ yếu, bảo đảm đủ điều kiện để xác định tổng mức đầu tư và triển khaicác bước thiết kế tiếp theo, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ
- Thuyết minh thiết kế cơ sở được trình bày riêng hoặc trình bày trên cácbản vẽ để diễn giải thiết kế với các nội dung chủ yếu sau:
- Tóm tắt nhiệm vụ thiết kế; giới thiệu tóm tắt mối liên hệ của công trìnhvới quy hoạch xây dựng tại khu vực; các số liệu về điều kiện tự nhiên, tảitrọng và tác động; danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng
- Thuyết minh công nghệ: giới thiệu tóm tắt phương án công nghệ và sơ
đồ công nghệ; danh mục thiết bị công nghệ với các thông số kỹ thuật chủ yếuliên quan đến thiết kế xây dựng
- Thuyết minh xây dựng: Khái quát về tổng mặt bằng: giới thiệu tóm tắtđặc điểm tổng mặt bằng, cao độ và toạ độ xây dựng; hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và các điểm đấu nối; diện tích sử dụng đất, diện tích xây dựng, diện tích câyxanh, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, cao độ san nền và các nội dung cầnthiết khác Đối với công trình xây dựng theo tuyến: giới thiệu tóm tắt đặc điểmtuyến công trình, cao độ và tọa độ xây dựng, phương án xử lý các chướng
Trang 16ngại vật chính trên tuyến; hành lang bảo vệ tuyến và các đặc điểm khác củacông trình nếu có Đối với công trình có yêu cầu kiến trúc: giới thiệu tóm tắtmối liên hệ của công trình với quy hoạch xây dựng tại khu vực và các côngtrình lân cận; ý tưởng của phương án thiết kế kiến trúc; màu sắc công trình;các giải pháp thiết kế phù hợp với điều kiện khí hậu, môi trường, văn hoá, xãhội tại khu vực xây dựng.
- Phần kỹ thuật: giới thiệu tóm tắt đặc điểm địa chất công trình, phương
án gia cố nền, móng, các kết cấu chịu lực chính, hệ thống kỹ thuật và hạ tầng
kỹ thuật của công trình, san nền, đào đắp đất; danh mục các phần mềm sửdụng trong thiết kế;
- Giới thiệu tóm tắt phương án phòng chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Dự tính khối lượng các công tác xây dựng, thiết bị để lập tổng mức đầu
tư và thời gian xây dựng công trình
1.2.4 Thẩm định dự án
*Nội dung thẩm định dự án
Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạchphát triển ngành, quy hoạch xây dựng; trường hợp chưa có các quy hoạch trên thìphải có ý kiến thoả thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó
Nội dung thuyết minh của dự án:
Sự phù hợp của thiết kế cơ sở về quy hoạch xây dựng, quy mô xây dựng,công nghệ, công suất thiết kế, cấp công trình; các số liệu sử dụng trong thiết
kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng; các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật so vớiyêu cầu của dự án
Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với phương án kiến trúc đã được lựa chọnthông qua thi tuyển đối với trường hợp có thi tuyển phương án kiến trúc
Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế trong thiết kế cơ sở
Điều kiện năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghềcủa cá nhân lập dự án và thiết kế cơ sở theo quy định
Trang 171.2.5 Thiết kế, tổng dự toán công trình xây dựng
1.2.5.1 Các bước thiết kế xây dựng công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình có thể gồm một hoặc nhiều loại công
trình với một hoặc nhiều cấp công trình khác nhau Tuỳ theo quy mô, tính chất
của công trình xây dựng, việc thiết kế xây dựng công trình có thể được thựchiện theo một bước, hai bước hoặc ba bước như sau:
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trìnhchỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình
Thiết kế hai bước bao gồm bước thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi
công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án
Thiết kế ba bước bao gồm bước thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết
kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và cóquy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp dongười quyết định đầu tư quyết định
Đối với những công trình đơn giản như hàng rào, lớp học, trường học,nhà ở thì có thể sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành để triển khai thiết kế bản vẽ thi công
Thiết kế xây dựng phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải được thể hiện trên các bản
vẽ theo quy định Thiết kế phải thể hiện được các khối lượng công tác xây dựng chủ yếu để làm cơ sở xác định chi phí xây dựng công trình.
1.2.5.2 Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình
* Nội dung thẩm định thiết kế:
Sự phù hợp với các bước thiết kế trước đã được phê duyệt;
Sự tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng;
Đánh giá mức độ an toàn công trình;
Sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ, nếu có;
Trang 18Bảo vệ môi trường; phòng, chống cháy, nổ.
*Nội dung thẩm định dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình gồm:
Sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán;
Tính đúng đắn của việc áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, địnhmức chi phí, đơn giá; việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ, chính sách
có liên quan và các khoản mục chi phí trong dự toán theo quy định;
Xác định giá trị dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình.
1.2.6 Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng
Việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng nhằm chọn được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực để cung cấp sản phẩm, dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu
tư và các mục tiêu của dự án
Việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng được thực hiện theo
hai giai đoạn như sau:
* Giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu.
Việc sơ tuyển nhằm lựa chọn các nhà thầu có đủ điều kiện năng lực phù hợp với yêu cầu của gói thầu để tham dự đấu thầu ở giai đoạn sau Tuỳ theo quy mô, tính chất gói thầu, chủ đầu tư thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi thư mời thầu Chủ đầu tư xem xét, đánh giá năng lực của các nhà thầu dự sơ tuyển để loại bỏ những nhà thầu không đủ điều kiện năng lực theo yêu cầu trong hồ sơ mời dự thầu.
* Giai đoạn đấu thầu:
Chủ đầu tư cung cấp hồ sơ mời đấu thầu cho các nhà thầu được lựa chọnvào giai đoạn đấu thầu Nhà thầu tham dự đấu thầu phải nộp hồ sơ đấu thầukèm theo bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo nhà thầu đàm phán ký kết hợpđồng sau khi được tuyên bố trúng thầu
Trang 19Tuỳ theo quy mô, tính chất và yêu cầu của gói thầu, bên mời thầu có thểthực hiện kết hợp hai giai đoạn nêu trên hoặc chỉ thực hiện giai đoạn đấu thầukhi lựa chọn nhà thầu.
* Nguyên tắc đánh giá, lựa chọn nhà thầu
Trong giai đoạn sơ tuyển, bên mời thầu kiểm tra sự đáp ứng của nhàthầu đối với các yêu cầu của gói thầu và sử dụng phương pháp chấm điểm
để đánh giá năng lực về kinh nghiệm, kỹ thuật và khả năng tài chính củanhà thầu tham dự
Trong giai đoạn đấu thầu, bên mời thầu xem xét khả năng cung cấp cácsản phẩm, dịch vụ của nhà thầu trên cơ sở đánh giá đồng thời các tiêu chí nhưtiến độ thực hiện, giá dự thầu và tiêu chuẩn của sản phẩm, dịch vụ, các điềukiện hợp đồng và các điều kiện khác do nhà thầu đề xuất nhằm đạt được mục
tiêu đầu tư và hiệu quả của dự án Nhà thầu được lựa chọn là nhà thầu có giá
dự thầu hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất cho dự án
1.2.7 Tổng mức đầu tư, dự toán và tổng dự toán, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
1.2.7.1 Tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình
Tổng mức đầu tư dự án là khái toán chi phí của toàn bộ dự án được xácđịnh trong giai đoạn lập dự án, gồm chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phíđền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; chi phí khác bao gồm cả vốn lưuđộng đối với các dự án sản xuất kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng
và chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư dự án được ghi trong quyết định đầu tư là cơ sở để lập
kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án Đối với
dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, tổng mức đầu tư là giới hạn chi phítối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình
Trang 20Tổng mức đầu tư dự án được xác định trên cơ sở khối lượng các côngviệc cần thực hiện của dự án, thiết kế cơ sở, suất vốn đầu tư, chi phí chuẩn xâydựng, chi phí xây dựng của các dự án có tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật tương tự
đã thực hiện
Việc điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách nhànước phải được người quyết định đầu tư cho phép và được thẩm định lại đốivới các phần thay đổi so với tổng mức đầu tư đã được phê duyệt Đối vớicác dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tư xây dựng công trình tự quyết
định việc điều chỉnh.
1.2.7.2 Dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình
Dự toán xây dựng được xác định theo công trình xây dựng Dự toán xâydựng công trình bao gồm dự toán xây dựng các hạng mục, dự toán các côngviệc của các hạng mục thuộc công trình
Dự toán xây dựng công trình được lập trên cơ sở khối lượng xác địnhtheo thiết kế hoặc từ yêu cầu, nhiệm vụ công việc cần thực hiện của công trình
và đơn giá, định mức chi phí cần thiết để thực hiện khối lượng đó Nội dung
dự toán xây dựng công trình bao gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phíkhác và chi phí dự phòng
Dự toán xây dựng công trình được phê duyệt là cơ sở để ký kết hợp đồng,thanh toán giữa chủ đầu tư với các nhà thầu trong các trường hợp chỉ địnhthầu; là cơ sở xác định giá thành xây dựng công trình
Tổng dự toán xây dựng công trình của dự án là toàn bộ chi phí cầnthiết để đầu tư xây dựng công trình, được xác định trong giai đoạn thiết kế
kỹ thuật đối với trường hợp thiết kế 3 bước, thiết kế bản vẽ thi công đối vớicác trường hợp thiết kế 1 bước và 2 bước và là căn cứ để quản lý chi phíxây dựng công trình
Trang 21Tổng dự toán bao gồm tổng các dự toán xây dựng công trình và các chiphí khác thuộc dự án Đối với dự án chỉ có một công trình thì dự toán xâydựng công trình đồng thời là tổng dự toán.
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà
nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước khi khởi công xâydựng công trình phải có thiết kế, dự toán và tổng dự toán được duyệt Đối vớicác dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A nếu chưa có tổng dự toán đượcduyệt nhưng cần thiết phải khởi công thì công trình, hạng mục công trình khởi
công phải có thiết kế và dự toán được duyệt Chậm nhất là đến khi thực hiện được 30% giá trị xây dựng trong tổng mức đầu tư phải có tổng dự toán được phê duyệt.
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, nếu tổng dự toánđược điều chỉnh vượt tổng dự toán đã được phê duyệt thì chủ đầu tư phảithẩm định, phê duyệt lại và báo cáo người quyết định đầu tư và chịu tráchnhiệm về việc phê duyệt của mình Trong trường hợp tổng dự toán đã đượcđiều chỉnh vượt tổng mức đầu tư đã phê duyệt thì phải được người quyết địnhđầu tư cho phép
1.2.7.3 Thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Việc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, nhóm công việc hoặc toàn
bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và cáchoạt động xây dựng khác phải căn cứ theo giá trị khối lượng thực tế hoànthành và nội dung phương thức thanh toán trong hợp đồng đã ký kết
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trong năm kết thúcxây dựng hoặc năm đưa công trình vào sử dụng thì chủ đầu tư phải thanh toántoàn bộ cho nhà thầu giá trị công việc hoàn thành trừ khoản tiền giữ lại theoquy định để bảo hành công trình
Cơ quan cấp phát, cho vay vốn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại việc thanh toán chậm do lỗi của mình gây ra
Trong quá trình thực hiện dự án, nếu chủ đầu tư chậm thanh toán khốilượng công việc đã hoàn thành thì phải trả khoản lãi theo lãi suất ngân hàng
Trang 22do các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng cho nhà thầu đối với khối lượngchậm thanh toán.
1.2.7.4 Quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựngcông trình ngay sau khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theoyêu cầu của người quyết định đầu tư
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thựchiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợppháp là chi phí được thực hiện đúng với thiết kế, dự toán được phê duyệt, bảođảm đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế đã kýkết và các quy định khác của Nhà nước có liên quan Đối với các dự án sửdụng vốn ngân sách nhà nước thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm tronggiới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án hoànthành để trình người có thẩm quyền phê duyệt chậm nhất là 9 tháng đối vớicác dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và 6 tháng đối với các dự ánnhóm B và 3 tháng đối với các dự án nhóm C kể từ khi công
1.3 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản
lý nhà nước nói riêng Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước các dự
án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước là công việc khó khăn và phức tạp bởi
lẽ, hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động mang tính đặc thù Hoạt độngnày không trực tiếp sáng tạo ra các giá trị vật chất nhưng bản thân nó cónhững ảnh hưởng nhất định đến quá trình tạo ra giá trị vật chất, làm cho quátrình này diễn ra một cách nhanh chóng hay chậm chạp Chính vì thế, kết quảcủa hoạt động này nhiều khi được đánh giá chủ yếu mang tính chất định tính
Trang 23chứ không phải định lượng Bên cạnh đó, còn có nhiều yếu tố không thể địnhlượng một cách cụ thể, chính xác; chẳng hạn như năng lực, uy tín, trình độ, kỹnăng, kinh nghiệm và sự am hiểu về các lĩnh vực xã hội cơ bản của chủ thểtiến hành hoạt động quản lý nhà nước Những yếu tố này có vai trò, tác dụngrất lớn đối với hoạt động quản lý nhà nước nhưng không thể lượng hoá nhưcác chỉ số khác.
Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánhgiá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ nguồn ngân sáchcũng cần có những tiêu chí nhất định Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận
cứ khoa học bảo đảm cho việc đánh giá được khách quan và đúng đắn Một
dự án đầu tư được xem là có hiệu quả nếu như nó phù hợp với chủ trương đầu
tư, đảm bảo các yếu tố về mặt chất lượng, kỹ thuật, thời gian thi công với chiphí thấp nhất và thỏa mãn được yêu cầu của các bên hưởng thụ kết quả đầu tưMột số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với các dự
án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước như sau:
Thứ nhất, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngânsách nhà nước hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, từ đó tác độngtích cực đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Quản lý dự án đầu tư liênquan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốn trong nền kinh tế.Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phầnlàm tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, gia tăng mức đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng Ngượclại các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực quản lý yếu kém
có thể dẫn đến sự mất cấn đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và mức
độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến tácđộng tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế Chẳng hạn, với chính sách bao cấp
Trang 24trong đầu tư (qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng ) một mặt sẽ tạo ra sự khanhiếm và lãng phí vốn trong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốnkhông hợp lý dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao, do đó tác động tiêu cực đếntăng trưởng và phát triển kinh tế.
Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý họat động đầu tưcủa các cấp, các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nềnkinh tế thị trường có tác động mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và cácnguồn lực khác và sau cùng, tác động đến sự tăng trưởng và phát triển củanền kinh tế
Thứ hai, những chuyển biến trong công tác chống thất thoát, lãng phí, kéo dài thời gian thi công trong đầu tư
Vốn đầu tư thất thoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phêduyệt dự án đầu tư đến khâu thực hiện đầu tư và xây dựng Tình trạng đầu tưkhông theo quy hoạch được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng
bộ, không đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu,bảo vệ môi trường, điều tra thăm dò thị trường không kỹ; chủ trương đầu tưkhông đúng khi xem xét, phê duyệt dự án đầu tư Việc thẩm định và phê duyệtchỉ quan tâm tới tổng mức vốn đầu tư, không quan tâm tới hiệu quả, điều kiệnvận hành của dự án, nên nhiều dự án sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụngkhông phát huy tác dụng, gây lãng phí rất lớn
Lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang là vấn đềnhức nhối, cả xã hội quan tâm; kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầmtrọng mà đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế
Một số Bộ, ngành, địa phương khi xác định mức vốn đầu tư ít quantâm đến việc tiết kiệm vốn đầu tư, sử dụng đơn giá, định mức trong tính toáncao hơn quy định, làm tăng khối lượng, tăng dự toán công trình Nhiều dự án
Trang 25không làm đúng thiết kế, chủ đầu tư và bên thi công móc nối, thoả thuận khaităng khối lượng, điều chỉnh dự toán để rút tiền và vật tư từ công trình.
Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các banquản lý dự án, các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoátvốn đầu tư
Nguyên nhân chính, tổng quát của hiện tượng lãng phí và thất thoát nằm
ở chính những cơ chế kiểm soát hiện có; vừa cồng kềnh, vừa chồng chéonhau, làm cho có quá nhiều người có thẩm quyền can thiệp vào công trìnhnhưng không thể xác định được trách nhiệm chính thuộc về ai, do đó khôngthể quản lý được hoặc quản lý rất kém hiệu quả
Đặc biệt, cơ chế không quy định rõ chủ thực sự của các công trình Nếunhư có được một cơ chế đơn giản, không chồng chéo nhau, trong đó mỗi khâuchỉ có một người chịu trách nhiệm toàn bộ trước pháp luật, thì chắc chắn tìnhhình sẽ không tồi tệ như vậy Do vậy chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư
là tiêu chí rất quan trọng trong phản ánh hiệu quả quản lý nhà nước đối vớicác dự án đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, những đảm bảo vể chất lượng, tuổi thọ các công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng lâu nay vẫn là vấn đề được xã hội hếtsức quan tâm, chú ý Chất lượng công trình xây dựng càng trở nên nhạy cảmhơn, sau một sự cố tại một vài công trình làm xôn xao dư luận
Sự đổi mới công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là cả câu
chuyện dài mà mục tiêu quan trọng là hướng tới sự thay đổi về nhận thức củachính quyền, tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đảm bảo chất lượngcông trình xây dựng Trước đây, nội hàm của quản lý dự án đầu tư xây dựngthì quản lý tiền vốn và tiến độ được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến quản lýchất lượng công trình Nhưng từ khi Luật Xây dựng ban hành, thì quản lý chất
Trang 26lượng công trình được đặt lên hàng đầu trong năm nội dung cơ bản của Quản
lý dự án đầu tư xây dựng Đây là một thay đổi rất quan trọng về luật phápnhằm tạo ra sự thay đổi về nhận thức: chất lượng công trình xây dựng trướchết, không chỉ mang đến sự hài lòng cho người thụ hưởng công trình xâydựng mà còn bảo đảm cho sự phát triển bền vững, chất lượng công trình đượcquan tâm, coi trọng không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà hơn thế là vì conngười Và như vậy, chất lượng công trình xây dựng, nay cần được hiểu theonghĩa rộng hơn rất nhiều Nghĩa là khái niệm về chất lượng công trình xâydựng không chỉ như bảo đảm độ bền của công trình (hữu hình) … mà cònđem lại các giá trị quan trọng khác (vô hình), như sự hài lòng của người sửdụng, sự thân thiện với môi trường, vẻ đẹp tổng thể của đất nước… Tất cả yếu
tố đó của chất lượng công trình xây dựng góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống của con người
Thứ tư, hiệu quả thực thi các quyết định quản lý nhà nước
Một hình thức hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước là ban hànhcác quyết định quản lý nhà nước nhằm đưa ra các chủ trương, biện pháp, đặt
ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng các quy tắc đó giải quyết một công việc cụthể trong đời sống xã hội Suy đến cùng, các quyết định quản lý nhà nước chỉthực sự có ý nghĩa khi được thực hiện một cách có hiệu quả trong đời sống xãhội Việc thực hiện có hiệu quả các quyết định quản lý nhà nước là yếu tố rấtquan trọng để hiện thực hóa ý chí của nhà quản lý thành những hoạt độngthực tiễn Điều này chỉ đạt được khi việc tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý,đúng lúc, kịp thời, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của đời sống xã hội Quátrình tổ chức thực hiện không hợp lý, không kịp thời không thể mang lại kếtquả như mong muốn và hơn thế nữa, có thể trực tiếp làm giảm sút uy quyềncủa cơ quan quản lý
Thứ năm, tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động quản lý nhà nước
Trang 27Thực chất hoạt động quản lý nhà nước là tổ chức thực hiện pháp luật vàcác chủ trương, chính sách của chính quyền cấp trên vào trong cuộc sống.Đây là một chuỗi hoạt động kế tiếp nhau rất phức tạp từ khâu nắm bắt tìnhhình, lên kế hoạch hoạt động, tổ chức lực lượng, giao nhiệm vụ cho từng
bộ phận, đến việc chỉ đạo thực hiện, điều hòa phối hợp hoạt động và kiểmtra tiến độ thực hiện Suy đến cùng, đây là hoạt động để biến cái chungthành cái riêng, thậm chí là cái đơn nhất; là hoạt động hiện thực hóa nhữngquy định ở trạng thái tĩnh Vì thế, nó đòi hỏi chủ thể quản lý nhà nước căn
cứ vào tình hình, đặc điểm mà đề ra các biện pháp quản lý thích hợp Hơnnữa, tính chủ động và sáng tạo còn được quy định bởi chính bản thân sựphức tạp, phong phú của đối tượng quản lý Tiêu chí này được đánh giáthông qua số lượng các sáng kiến tạo bước phát triển đột phá cho của cáccấp quản lý
Thứ sáu, tính kinh tế của các hoạt động quản lý nhà nước
Để đánh giá đầy đủ, chính xác hiệu quả hoạt động của quản lý nhà nướcđối với các dự án đầu tư, không thể không xem xét những chỉ số về tính kinh
tế trong hoạt động quản lý Đó là những chi phí tối thiểu hoặc có thể chấpnhận được về ngân sách, thời gian, lực lượng tham gia và những chi phí khác
có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước (có thể có những chi phí không
dễ dàng lượng hóa) Tất cả những chi phí cho hoạt động của quản lý nhà nướccần phải ở mức thấp nhất hoặc có thể chấp nhận được nhưng phải bảo đảmcho hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở phát huy tác dụng ở mức cao nhất.Tính kinh tế trong hoạt động của quản lý nhà nước đòi hỏi phải tính toánđược trước những chi phí cho hoạt động quản lý nhà nước và lựa chọn nhữngphương án hoạt động ít tốn kém nhất
Trang 281.4 PHÂN LOẠI VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH
* Phân loại dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhànước Có thể phân loại dự đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước theocác tiêu chí sau đây:
- Theo quy mô tính cách vốn đầu tư và tầm quan trọng của ngành, lĩnhvực đầu tư: theo tiêu chí này, dự án đầu tư xây dựng nói chung và từ ngânsách nhà nước nói riêng được phân chua thành bốn loại dự án: dự án quantrọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C
Theo Nghị định số 12/NĐ-CP [8], từ ngày 30/3/2009, việc phân loại dự
án đầu tư xây dựng công trình như sau:
+ Nhóm các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủtrương đầu tư và Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư Tiêu chí về nhómnày được Quốc hội quyết định theo từng thời kỳ Hiện nay, dự án quan trọngquốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư được thực hiện theoNghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội Cụ thể là:
Các dự án, công trình có một trong năm tiêu chí sau đây là dự án,công trình quan trọng quốc gia: (1) quy mô vốn từ hai mươi ngàn
tỷ đồng trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươiphần trăm vốn nhà nước trở lên; (2) có ảnh hưởng lớn đến môitrường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môitrường; (3) phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên
ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác; (4)đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốcphòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt về lịch
Trang 29sử văn hoá; (5) đòi hỏi áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cầnđược Quốc hội quyết định [21].
+ Dự án nhóm A: gồm các dự án không kể mức vốn thuộc lĩnh vực bảo
vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, dự án sản xuất chất độchại, chất nổ, hạ tầng khu công nghiệp; các dự án đầu tư xây dựng công trìnhcông nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, chế tạo máy, các dự án giaothông, xây dựng khu nhà ở có mức vốn trên 1.500 tỷ đồng [8]
+ Dự án nhóm B bao gồm: các dự án đầu tư xây dựng công trình côngnghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, chế tạo máy, xi măng v.v có mứcvốn đầu tư từ 75 tỷ đồng đến 1.500 tỷ đồng; các dự án đầu tư xây dựng côngtrình thuỷ lợi, giao thông, cấp thoát nước có mức vốn đầu tư từ 50 đến 1.000
tỷ đồng v.v [8]
+ Dự án nhóm C: gồm các dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệpđiện, khai thác dầu khí, hoá chất, chế tạo máy, xi măng v.v có mức vốn đầu tưdưới 75 tỷ đồng; các dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, giao thông,cấp thoát nước có mức vốn đầu tư dưới 50 tỷ đồng v.v [8]
Thẩm quyền quyết định đầu tư các nhóm dự án theo quy định củapháp luật theo từng thời kỳ Từ ngày từ ngày 30/3/2009, thẩm quyền quyếtđịnh đầu tư thực hiện theo quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP Cụthể như sau:
+ Dự án quan trọng quốc gia: Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tưtheo Nghị quyết của Quốc hội
+ Dự án nhóm A, B và C: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp bộ, Chủtịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư Bộ trưởng, Thủ trưởng cơquan cấp bộ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện được uỷ quyền hoặcphân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấpdưới trực tiếp [8]
Trang 30* Quy trình quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Các dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách trên địa bàn thành phố Bắc Ninhchủ yếu là các dự án nhóm C do UBND thành phố làm chủ đầu tư mà đại diện
là Ban quản lý dự án xây dựng thành phố
Trình tự để triển khai một dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sáchnhà nước trải qua các bước như sau:
- Xin chủ trương đầu tư
- Phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư
- Lập dự án đầu tư (hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật)
- Thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư gồm:
Thẩm định dự án đầu tư (hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật)
Thẩm định thiết kế cơ sở (hoặc thẩm định thiết kế BVTC):
- Lập thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán hoặc tổng dự toán
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuât- tổng dự toán
- Trình cắt đất, giao đất (nếu có)
- Thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có)
- Đấu thầu (hoặc chỉ định thầu):
Trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu
Trình thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu
Thông báo mời thầu, bán thầu, mở thầu, chấm thầu
Thẩm định phê duyệt kết quả đấu thầu
- Thi công xây dựng
- Kiểm toán, quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán
- Bàn giao công trình đưa vào khai thác (hoặc sử dụng)
1.4.1 Lập và phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư
- Đối với các dự án do UBND thành phố quyết định đầu tư:
Trang 31Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với các phòng ban căn cứ quihoạch đã được phê duyệt, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và đượcHĐND thành phố thông qua tổng hợp đề xuất danh mục dự án báo cáo UBNDthành phố phê duyệt.
- Đối với các dự án thẩm quyền UBND xã, phường quyết định đầu tư Căn cứ quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,cân đối ngân sách, dự toán thu, Nghị quyết của Đảng uỷ, HĐND xã, phường.UBND xã, phường trình UBND thành phố phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu
tư và phê duyệt dự toán kinh phí chuẩn bị đầu tư
- Phòng Tài chính - Kế hoạch là cơ quan đầu mối tiếp nhận thẩm địnhbáo cáo kinh tế - kỹ thuật, trình UBND thành phố xem xét phê duyệt nhiệm
vụ chuẩn bị đầu tư
1.4.2 Lập dự án đầu tư (báo cáo kinh tế kỹ thuật), thẩm định, phê duyệt dự án
1.4.2.1 Lập dự án đầu tư
- Các công trình có tổng mức trên 15 tỷ thì lập dự án đầu tư
- Các công trình có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ thì lập báo cáo kinh tế kỹ thuật
- Thời gian để lập xong dự án nhóm C không quá 3 tháng, nhóm B khôngquá 6 tháng, nhóm A không quá 1 năm kể từ khi có quyết định giao vốn
1.4.2.2 Thẩm định dự án đầu tư (báo cáo kinh tế kỹ thuật)
- Cơ quan đầu mối thẩm định: Phòng Tài chính - kế hoạch
- Tổ chức thẩm định:
* Hồ sơ trình duyệt và tổ chức thẩm định (vòng 1)
+ Hồ sơ trình duyệt: gồm Văn bản cho phép chuẩn bị đầu tư; tờ trình,Thuyết minh dự án đầu tư (hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật); thiết kế cơ sở hoặcthiết kế bản vẽ thi công; các văn bản liên quan khác
* Hồ sơ trình duyệt và tổ chức thẩm định (vòng 2)
Trang 32+ Hồ sơ trình duyệt: Gồm Văn bản cho phép chuẩn bị đầu tư; tờ trình,Thuyết minh dự án đầu tư (hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật) đã chỉnh sửa; Thiết
kế cơ sở hoặc thiết kế bản vẽ thi công được duyệt và đóng dấu đã thẩm định;các văn bản liên quan khác;
+ Thời gian thẩm định trong vòng 18 ngày; nếu hồ sơ phải chỉnh sửa thì
có văn bản yêu cầu chủ đầu tư chỉnh sửa và trong vòng 8 ngày phải tổ chứcthẩm định xong khi chủ đầu tư hoàn chỉnh lại hồ sơ theo yêu cầu
+ Phê duyệt dự án: Thời gian xem xét phê duyệt dự án của cấp có thẩmquyền 2 ngày
1.4.3 Điều chỉnh dự án
- Chủ đầu tư được phép tự điều chỉnh dự án khi việc điều chỉnh khônglàm thay đổi qui mô, mục tiêu đầu tư và không làm vượt tổng mức đầu tư đãđược phê duyệt, và sau đó phải báo cáo người quyết định đầu tư
- Trường hợp điều chỉnh dự án dẫn đến làm thay đổi qui mô, kết cấu,mục tiêu đầu tư và làm vượt tổng mức đầu tư thì chủ đầu tư phải trình ngườiquyết định đầu tư xem xét, quyết định
Trong cả hai trường hợp đều phải tổ chức thẩm định những nội dungthay đổi theo qui định
- Hồ sơ trình duyệt: Văn bản cho phép bổ sung của cấp có thẩm quyền,
tờ trình xin điều chỉnh bổ sung, hồ sơ thiết kế phần điều chỉnh bổ sung đượcduyệt, tổng dự toán bổ sung được duyệt, báo cáo giám sát đầu tư và các vănbản liên quan khác
1.4.4 Thẩm định thiết kế cơ sở (thiết kế bản vẽ thi công)
- Cơ quan thẩm định: Phòng Quản lý đô thị thành phố
- Hồ sơ:
+ Tờ trình xin phê duyệt thiết kế cơ sở (bản vẽ thi công)
+ Quyết định cho phép chuẩn bị đầu tư;
Trang 33+ Thiết kế cơ sở (bản vẽ thi công) được lập theo qui định khoản 3, điều
1 Nghị định 112/CP [6]
+ Biên bản nghiệm thu hồ sơ thiết kế cơ sở (bản vẽ thi cô)
+ Quyết định phê duyệt kết quả chỉ định thầu đơn vị tư vấn
+ Hồ sơ pháp lý của đơn vị tư vấn, chứng chỉ hành nghề của người chủtrì thiết kế, khảo sát
Các văn bản liên quan khác: tuỳ theo tính chất của công trình còn cóthêm Báo cáo địa chất, khoan, chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, quihoạch ngành, thoả thuận phòng cháy chữa cháy, khai thác nước ngầm, thoảthuận môi trường, rà phá bom mìn, cấp thoát nước, điện
- Thời gian thẩm định thiết kế cơ sở: không quá 14 ngày làm việc kể từngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trong trường hợp chưa đủ điều kiện phê duyệtthiết kế cơ sở (thiết kế bản vẽ thi công) theo qui định, phòng Quản lý đô thịphải thông báo bằng văn bản (một lần) nêu rõ những nội dung đồng ý, khôngđồng ý, lý do và những nội dung cần bổ sung hoàn chỉnh để gửi cho đơn vịlập dự án bổ sung hoàn thiện
1.4.5 Thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán
1.4.5.1 Thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công – dự toán, tổng dự toán
* Các dự án do các đơn vị làm chủ đầu tư thì chủ đầu tư tự tổ chức thẩmđịnh hoặc thuê đơn vị tư vấn thẩm định; Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế kỹthuật - tổng dự toán
* Các dự án do thành phố làm chủ đầu tư: Cơ quan được uỷ quyền lậpthiết kế kỹ thuật - tổng dự toán trình UBND thành phố thẩm định, phê duyệt.Phòng Quản lý đô thị thẩm định thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán, trìnhUBND thành phố phê duyệt; thời gian thẩm định không quá 10 ngày làm việc
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trong trường hợp chưa đủ điều kiện phê
Trang 34duyệt Thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán theo qui định phòng Quản lý đô thị phảithông báo bằng văn bản (một lần) nêu rõ nội dung những vấn đề đồng ý,không đồng ý, lý do và những nội dung cần bổ sung hoàn chỉnh để gửi chochủ đầu tư hoặc đơn vị được uỷ quyền thực hiện dự án yêu cầu bổ sung hoànthiện, trong vòng 5 ngày làm việc phải tổ chức thẩm định xong khi yêu cầu bổsung đã được đáp ứng.
1.4.5.2 Thẩm định giá máy móc, thiết bị
Đối với các dự án có mua sắm máy móc thiết bị thì phần thẩm định giá
do phòng giá của Sở Tài chính thẩm định;
Dự toán, tổng dự toán chỉ được phê duyệt khi có thông báo thẩm địnhgiá của Sở Tài chính
1.4.6 Chỉ định thầu, đấu thầu gói thầu tư vấn, xây lắp: (các dự án
thẩm quyền do UBND thành phố phê duyệt)
1.4.6.1 Chỉ định thầu
* Đối với gói thầu tư vấn.
- Chủ đầu tư tự lựa chọn, quyết định và chịu trách nhiệm về việc chỉ địnhđơn vị tư vấn có giá trị dưới 500 triệu đồng
- Chủ đầu tư là UBND thành phố: Cơ quan đơn vị được UBND thànhphố uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ của chủ đầu tư tiến hành lựa chọnđơn vị tư vấn, trình UBND thành phố xem xét, phê duyệt
- Hồ sơ trình phê duyệt:
+ Tờ trình xin phê duyệt chỉ định thầu
+ Quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật
+ Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán
+ Hồ sơ yêu cầu
+ Hồ sơ đề xuất của đơn vị xây lắp (đóng dấu xác nhận của đơn vị uỷ quyền)
Trang 35Phòng Tài chính - Kế hoạch: thẩm định, trình UBND thành phố xem xétphê duyệt chỉ định thầu đơn vị tư vấn; Thời gian thẩm tra hồ sơ trình phêduyệt chỉ định thầu là 12 ngày, thời gian phê duyệt là 03 ngày
- Qui trình, thủ tục lựa chọn chỉ định thầu đơn vị tư vấn:
Chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyền: Chuẩn bị, phát hành hồ sơ yêu cầu; tiếpnhận, đánh giá hồ sơ đề xuất; trình cấp thẩm quyền phê duyệt chỉ định thầu
* Đối với gói thầu xây lắp.
Chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyền tiến hành lựa chọn đơn vị xây lắp,trình UBND thành phố xem xét, phê duyệt:
Chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyền: Chuẩn bị, phát hành hồ sơ yêu cầu; tiếpnhận, đánh giá hồ sơ đề xuất; trình cấp thẩm quyền phê duyệt chỉ định thầu
- Hồ sơ trình phê duyệt:
+ Tờ trình
+ Các quyết định phê duyệt
+ Hồ sơ yêu cầu, hồ sơ đề xuất của đơn vị xây lắp
Phòng Tài chính - Kế hoạch: tiếp nhận, thẩm tra, trình UBND thành phốxem xét phê duyệt chỉ định thầu đơn vị xây lắp; Thời gian thẩm tra hồ sơ trìnhphê duyệt chỉ định thầu là 12 ngày, thời gian phê duyệt là 03 ngày
* Căn cứ quyết định chỉ định thầu chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyềnthương thảo ký hợp đồng với đơn vị được chỉ định thầu
1.4.6.2 Đấu thầu
* Kế hoạch đầu thầu, hồ sơ mời thầu
Chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyền làm chủ đầu tư lập kế họach đấu thầu
- Hồ sơ mời thầu trình UBND thành phố xem xét phê duyệt
+ Tờ trình xin phê duyệt kế hoạch đấu thầu
+ Quyết định phê duyệt dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật
+ Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán
Trang 36+ Kế hoạch đấu thầu lập theo qui định
- Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định, trình UBND thành phố phêduyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu;
- Hồ sơ trình kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu:
+ Tờ trình xin phê duyệt kết quả đấu thầu
+ Quyết định phê duyệt dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật
+ Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán
+ Hồ sơ mời thầu
+ Báo cáo kết quả xét thầu của chủ đầu tư hoặc đơn vị được uỷ quyềntheo qui định của luật đấu thầu
+ Hồ sơ dự thầu của đơn vị trúng thầu, chủ đầu tư đã kiểm tra đóng dấuxác nhận
Thời gian thẩm định 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;thời gian phê duyệt kế hoạch đấu thầu 10 ngày
* Đấu thầu: Đăng báo mời thầu, bán hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu,
chấm thầu, trình kết quả trúng thầu
* Phê duyệt kết quả đấu thầu.
Căn cứ kết quả chấm thầu, chủ đầu tư, đơn vị được uỷ quyền làm chủđầu tư trình UBND thành phố xem xét phê duyệt kết quả đấu thầu
Phòng Tài chính - Kế họach thẩm định, trình UBND thành phố phê duyệtkết quả đấu thầu, hồ sơ mời thầu;
- Hồ sơ trình kết quả đấu thầu:
+ Tờ trình xin phê duyệt kết quả đấu thầu
+ Quyết định phê duyệt dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật
+ Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán
+ Hồ sơ mời thầu
+ Báo cáo kết quả xét thầu của chủ đầu tư hoặc đơn vị được uỷ quyềntheo qui định của luật đấu thầu
Trang 37+ Hồ sơ dự thầu của đơn vị trúng thầu, chủ đầu tư đã kiểm tra đóng dấuxác nhận
1.4.7 Cấp, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư
Cấp, thanh toán vốn phải đúng tiến độ, theo đúng khối lượng hoàn thànhđược nghiệm thu, trong phạm vi tổng dự toán hoặc giá trung thầu đã đượcduyệt Không ứng trước vốn cho các dự án chưa được cơ quan có thẩm quyềnphê duyệt Đối với các dự án đã bố trí vốn nhưng không đảm bảo tiến độ thìphải điều chuyển vốn cho dự án khác
Phòng Tài chính - Kế hoạch chịu trách nhiệm tham mưu, thẩm tra, trìnhUBND thành phố cấp, thanh toán và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư theophân cấp
1.4.8 Giám sát đầu tư
UBND thành phố giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác giám sát,đánh giá đầu tư cho các đơn vị như sau:
Phòng Tài chính - Kế hoạch: Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, đôn đốc,tổng hợp việc thực hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư hàng năm; Tổchức giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo yêu câu của UBND thành phố Các phòng Quản lý đô thị, Tài nguyên môi trường: Tổ chức giám sát,đánh giá dự án đầu tư theo yêu cầu của UBND thành phố
Các chủ đầu tư: Chịu trách nhiệm trước UBND thành phố về thực hiệnnhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư; Chịu trách nhiệm về nội dung và chấtlượng các báo cáo và về hậu quả không tổ chức thực hiện công tác giám sát,đánh giá đầu tư hoặc không báo cáo theo qui định Định kỳ gửi báo cáo giámsát, đánh giá đầu tư cho Phòng Tài chính - Kế hoạch, để tổng hợp và báo cácUBND thành phố
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2006 - 2015
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH
2.1.1 Các yếu tố tiềm năng và nguồn lực phát triển trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Các yếu tố tiềm năng: Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh
tiếp giáp và cách Thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km;cách cảng biển Hải Phòng 110km Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tamgiác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm côngnghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh có các tuyến trục giaothông lớn, quan trọng chay qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, vănhoá và thương mại của phía Bắc; đường quốc lộ 1A- 1B, quốc lộ 18 (Thànhphố Hạ Long - sân bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt điTrung Quốc Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận
và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Vị trí địa lý Bắc Ninh là một trong nhữngthuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn choviệc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh.Phía Bắc giáp huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang
Phía đông giáp huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
Phía Tây giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Phía Nam giáp huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Tháng 1 năm 2006 Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định nâng cấp Thị
xã Bắc Ninh lên thành Thành phố Bắc Ninh trực thuộc tỉnh, diện tích 82,61
km2 với dân số trung bình 153 nghìn người Tháng 4 năm 2007 thành phố Bắc
Trang 40Ninh được mở rộng theo Nghị định số 60/2007/NĐ-CP của Chính phủ mởrộng địa giới thành phố, tiếp nhận thêm 9 xã và thành lập 4 phường, nângtổng số phường, xã thành 13 phường và 6 xã.
- Nguồn lực tài chính
Ngoài vốn đầu tư của Nhà nước - nguồn vốn quan trọng quyết định sựphát triển kinh tế - xã hội, thành phố Bắc Ninh có khả năng thu hút tài chínhkhá lớn từ bên ngoài: nguồn tài chính tín dụng liên doanh liên kết
Với những tiềm năng và thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế, đặcbiệt là công nghiệp, du lịch và dịch vụ Thành phố Bắc Ninh có điều kiện thuhút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài và vốn đầu tư phát triển chính thức
Hiện trên địa bàn thành phố có 2 khu công nghiệp tập trung, 5 cụm côngnghiệp, 1 làng ghề thu hút 229 doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh vàgiải quyết việc làm cho gần 30.000 lao động Tỷ lệ lấp đầy các cụm côngnghiệp năm 2010 ước đạt 80% [26]
2.1.2 Tình hình đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Trong những năm qua, công tác đầu tư trên địa bàn thành phố đã cónhững bước phát triển nhanh trên tất cả các lĩnh vực kể cả đầu tư hạ tầng kỹthuật, hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Trong đó không kể các dự án đầu tưcủa các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, vốn đầu tư từ ngân sách trungương trên địa bàn thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đã triển khai 700công trình và hạng mục công trình do Ủy ban nhân dân thành phố và Ủy bannhân dân các xã, phường làm chủ đầu tư, bao gồm các công trình hạ tầng kỹthuật, hệ thống giao thông nội thành, đường giao thông nông thôn - đô thịđấu nối giữa các trung tâm Thành phố Tình hình đầu tư bằng nguồn ngânsách nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh được thể hiện trên cácphương diện sau: