1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi việt nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

108 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác, Phát Huy Nguồn Lực Người Cao Tuổi Việt Nam Trong Sự Nghiệp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, đặc biệt là nhờ sự pháttriển của khoa học và công nghệ, dẫn tới những thành tựu vượt bậc về kinh tếcùng với

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, đặc biệt là nhờ sự pháttriển của khoa học và công nghệ, dẫn tới những thành tựu vượt bậc về kinh tếcùng với những tiến bộ xã hội, tuổi thọ trung bình của con người đã khôngngừng được nâng lên Từ nửa cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI,thế giới đã chứng kiến một cuộc “cách mạng” về tăng tuổi thọ, châu Âu, Bắc

Mỹ, sau đó là Đông Á cùng với sự giảm nhanh tỷ lệ sinh, làm cho số lượngngười cao tuổi (NCT) ngày càng tăng và ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong dân

số Đó là xu thế “già hoá dân số” mang tính toàn cầu và trở thành một vấn đề

xã hội có tác động rất lớn tới tiến trình phát triển chung của tất cả các nướctrên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, nghệ thuật

Kéo dài tuổi thọ con người là một thành tựu vĩ đại của văn minh kinh tế

- xã hội nhân loại Song vấn đề “già hoá dân số” lại đặt ra cho chúng ta nhữngthách thức mới to lớn Đây là là vấn đề toàn cầu, và được thế giới cảnh báo từrất sớm (khoảng 30 năm về trước) Xuất phát từ mối quan tâm đó, năm 1982Liên hợp quốc đã triệu tập kỳ họp của Đại hội đồng tại Viên (Thủ đô nướcÁo) bàn về vấn đề NCT Đại hội lịch sử này đã trịnh trọng tuyên bố: “Cần bảođảm không một hạn chế nào mọi quyền lợi của NCT theo đúng tuyên ngôn vềquyền con người của Liên hợp quốc”; đồng thời đã thông qua Chương trìnhquốc tế dài hạn về NCT (nghị quyết số 37/51) Năm 1990, Đại hội đồng đãchỉ định lấy ngày 1/10 hàng năm là ngày Quốc tế NCT (nghị quyết số45/106) Năm 1991 Đại hội đồng đã thông qua bản Những nguyên tắc đạođức của Liên hợp quốc đối với NCT (nghị quyết số 46/91) Năm 1992, Đạihội đồng thông qua chiến lược toàn cầu giai đoạn 1992 - 2001 về NCT (nghịquyết số 47/86) Đến năm 2002, Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT được tổchức tại Madrid - Tây Ban Nha Hội nghị đã ra Tuyên bố chính trị và Chương

Trang 2

trình hành động quốc tế về NCT trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh:

“Cần phải nhận thức được khả năng đóng góp của NCT cho xã hội không chỉbằng việc chính họ làm cho cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn, màcòn làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn” và “Chúng ta cùng thừa nhận rằngNCT cũng phải được hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ, có sức khoẻ, được antoàn và tham gia tích cực vào đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trịcủa quốc gia mình…”

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của sự già hóa dân số,

và đã sớm triển khai các hoạt động trợ giúp, phát huy vai trò NCT Đây khôngchỉ là cam kết của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế mà còn là nétđẹp truyền thống của nền văn hoá, của nhân dân Việt Nam, một biểu hiện caoquý về tình người, về đạo đức Việt Nam Chúng ta đều biết, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam, đời sống của nhân dân không ngừng được cảithiện, nhất là từ khi nhân dân ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, cùng với sự tiến

bộ của y học, tuổi thọ trung bình của nhân dân ngày càng cao và NCT cũngnhờ đó ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng cuộc sống

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ đã luôn luôn coi trọngviệc phát huy vài trò và lực lượng của các cụ phụ lão Những quan điểm nhấtquán và có hệ thống của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí xã hội và trách nhiệmcủa NCT rất sâu sắc, phong phú và cần được coi là một bộ phận quan trọngcủa tư tưởng Hồ Chí Minh Trước yêu cầu đổi mới đất nước và trước xu thếgià hóa dân số toàn cần hiện nay, chúng ta cần nhận thức đầy đủ và vận dụngsáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, để chăm sóc và khai thác, phát huy cao nhấtnguồn lực NCT trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ quan điểm cơ bản của Đảng ta xem con người vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, từ thực tiễn hoạt động của NCTtrong những năm qua, có thể thấy rõ: NCT nước ta không chỉ là một trong những

Trang 3

mục tiêu ưu tiên, xứng đáng được tôn vinh, chăm sóc, phụng dưỡng; mà còn làmột bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc, cần được trântrọng, khai thác và phát huy vì mục tiêu: “Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủnghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [27].

Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn lựcNCT ở Việt Nam để có những giải pháp tạo ra một sự chuyển biến về chất,phát huy nguồn lực này nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết

Với ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài "Khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội" để làm

luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các hội thảo khoa học, cácluận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nhà khoa học về đề tài nguồn lực phát triển kinh

tế xã hội ở nhiều góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau như:

- GS.TS Nguyễn Đình Cử (2011), Chăm sóc và phát huy nguồn lực NCT ở nước ta, Tạp chí Cộng sản số 56 tháng 8/2011.

- PGS.TS Ngô Thắng Lợi (2011), Mô hình phát triển vì con người ở Việt Nam: mười năm nhìn lại và con đường phía trước, Bản tin số 26 tháng

5/2011, Viện Khoa học Lao động xã hội

- GS Lê Thi (2011), Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay và việc phát huy vai trò tích cực của người cao tuổi, Tạp chí Khoa học xã hội

Việt Nam 11/2011

- Bruce Campbell - Trưởng đại diện quỹ dân số của Liên Hợp Quốc tại

Việt Nam (7/2011), Già hóa dân số và NCT ở Việt Nam - thực trạng, dự báo

và một số khuyến nghị, chính sách, Báo cáo của Quỹ dân số tại Việt Nam.

- GS.TS Phạm Minh Hạc, "Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH", "Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH".

Trang 4

- TS Đoàn Khải, Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam.

- TS Vũ Bá Thể, Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH.

- TS Hồ Anh Dũng, Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay.

- PGS.TS Bùi Thế Cường (1996), Nghiên cứu xã hội về NCT ở Việt Nam: thử nhìn lại một chặng đường, Báo cáo khoa học - Viện Xã hội học.

- PGS.TS Bùi Thế Cường (2003) Phúc lợi xã hội ở Việt Nam - Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh, Báo cáo đề tài cấp bộ Hà Nội: Viện Khoa học xã

hội Việt Nam

- Hội NCT Việt Nam (1997), Tuổi già: Mối liên quan giữa các thế hệ.

Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Những nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận, những vấn đề về nguồnlực con người nói chung đã được giải quyết khá đầy đủ cả về lý luận, phân tíchthực tiễn, những nghiên cứu chung về xu hướng “già hóa dân số” và NCT ở ViệtNam cũng được đề cập đến nhiều trong những năm gần đây Đó là những nghiêncứu tạo cơ sở cho tác giả luận văn kế thừa và triển khai nghiên cứu tiếp ở nhữngkhía cạnh nguồn lực NCT Việt Nam trong phát triển kinh tế xã hội

Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu nguồn lực lao động,một số tác giả bàn đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong một số ngành

cụ thể Theo các nguồn tài liệu xuất bản trong nước mà tác giả được tiếp cận,việc đi sâu nghiên cứu về nguồn lực NCT đối với phát triển kinh tế - xã hộichưa có công trình nghiên cứu có tính chất tổng thể Ngay cả những đề tàinghiên cứu về NCT đã nêu ở trên, cũng chủ yếu tập trung về khía cạnh xã hội,phúc lợi xã hội về NCT, mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề nguồn lực NCTvới phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Còn có quan niệm chưa đầy đủ vềNCT, đó là còn nặng về khía cạnh phúc lợi xã hội và “đền ơn, đáp nghĩa”chưa coi trọng lực lượng NCT như là một nguồn lực phát triển Vì vậy, việc

Trang 5

nghiên cứu đề tài: "Khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội" là cách tiếp cận vừa kế thừa các

nghiên cứu trước vừa có tiếp cận mới đến nguồn lực NCT cụ thể trong lĩnhvực phát triển kinh tế - xã hội

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu lý luận về nguồn lực NCT, tạo cơ sở khoa học phân tíchthực trạng khai thác, phát huy nguồn lực NCT

- Đề xuất các giải pháp khai thác, phát huy nguồn lực NCT nhằm đáp ứngphát triển kinh tế-xã hội của đất nước

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm rõ những vấn đề lý luận về NCT, nguồn lực NCT Đồng thời, chỉ

ra những thách thức của sự già hóa dân số

- Luận giải một cách khoa học nguồn lực NCT là một tài sản vô giá,thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc,góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội đất nước

- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng nguồn lực NCT Việt Nam, làm rõnhững điểm mạnh, điểm yếu của nguồn lực đó, đưa ra những giải pháp khả thinhằm khắc phục những hạn chế, chuyển thách thức thành cơ hội cho sự pháttriển của tương lai; đề xuất một số phương hướng, giải pháp khai thác, pháthuy nguồn lực nội sinh quý giá này trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xãhội của đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thựctrạng số lượng, chất lượng nguồn lực NCT, thực trạng khai thác, phát huynguồn lực NCT để từ đó tìm ra các giải pháp cơ bản để khai thác, phát huynguồn lực NCT, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam

Trang 6

4.2 Giới hạn nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề về nguồn lực NCT trên giác độkinh tế - xã hội, về khai thác, phát huy nguồn lực này, để có các giải pháp cơbản phát huy nguồn lực NCT trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử; tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, có sựtham khảo nhận thức của thế giới về NCT;

Về phương pháp chuyên môn: Luận văn sử dụng các phương phápnghiên cứu của kinh tế học dân số, kinh tế phát triển, kinh tế phúc lợi…làm cơ sở, kết hợp sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cậnlịch sử và các phương pháp điều tra xã hội học, thống kê, so sánh, minhhọa để thực hiện đề tài Hệ thống tư liệu trong luận văn chủ yếu dựa trêncác dữ liệu thứ cấp của các cuộc điều tra quốc gia và các cuộc điều tra cótính đại diện khác nhau

6 Đóng góp của luận văn

- Luận giải, tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực NCT

và về khai thác, phát huy nguồn lực NCT trong phát triển kinh tế - xã hội

- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn lực NCT và khai thác, phát huynguồn lực NCT trong những năm qua

- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm khai thác, phát huy nguồnlực NCT ở Việt Nam

- Bằng xây dựng một hệ thống lý luận chặt chẽ và bằng minh chứng các

số liệu cụ thể, đầy đủ, luận văn đã khẳng định nguồn lực NCT là nguồn lựcnội sinh, quan trọng, quý giá trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3chương, 8 tiết

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực NCT trong sự

nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Chương 2: Thực trạng nguồn lực NCT và phát huy nguồn lực NCT

trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội những năm vừa qua

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm khai thác, phát

huy nguồn lực NCT trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI TRONG SỰ NGHIỆP

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 LÝ LUẬN, NHẬN THỨC VỀ NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI

1.1.1 Những khái niệm chủ yếu

1.1.1.1 Già hóa và tuổi già

- Già hóa cá nhân: Mỗi con người bình thường (tức là không bị chết

yểu vì các loại dịch, bệnh hoặc vì thảm họa chiến tranh, thiên tai và các tainạn khác) đều trải qua hành trình từ thủa lọt lòng, qua tuổi ấu thơ, tuổi thiếuniên, rồi đến tuổi trưởng thành, sau đó chuyển sang tuổi trung niên, rồi bướclên tuổi già, cuối cùng sẽ đi vào "cõi vĩnh hằng" Đó là quá trình tiến tới sựgià hóa cá nhân - quy luật của tự nhiên, quy luật của muôn đời

- Già hóa tiên phát và già hóa thứ phát: Bộ môn lão khoa phân biệt sự

già hóa tiên phát là già hóa tự nhiên, quá trình này phù hợp với quy luật sinhhọc; sự già hóa thứ phát là sự già hóa bệnh lý Đối với già hóa tự nhiên, conngười chỉ có thể tác động khiến nó đến muộn hơn và diễn ra chậm rãi hơn,chứ không thể xóa bỏ được nó - nghĩa là không có ai "trẻ mãi không già" hoặc

"trường sinh bất tử" cả Đối với sự già hóa bệnh lý, con người có thể phòngngừa và khắc phục được, trừ một vài dịch, bệnh hiểm nghèo

- Tuổi già: Có thể xem tuổi già là chặng đường cuối cùng trong hành

trình sống của mỗi con người bình thường trên "con tàu cuộc đời" Mỗi conngười tiến đến tuổi già một cách khác nhau, không ai giống ai Sự già hóatheo một hành trình không đều đặn, liên tục, mà khúc khuỷu, gặp nhiều vậtcản, có những đoạn tăng tốc, có lúc chậm lại Bởi vì, già hóa là quy luậtchung cho tất cả mọi người; và giống như mọi cái chung, nó chỉ tồn tại trongcái riêng, được biểu hiện thành những hành trình riêng biệt, độc đáo, không

Trang 9

lặp lại của từng cá nhân đơn nhất Ranh giới giữa tuổi già và chưa phải tuổigià tùy thuộc vào từng thời đại lịch sử và tùy thuộc vào trình độ phát triển củamỗi dân tộc, mỗi quốc gia Ví dụ như: Ở Việt Nam, vào thế kỷ XIII, các vuanhà Trần khoảng 37- 40 tuổi được xem như là đã bước sang tuổi già, nên đềunhường ngôi cho con, tự mình trở thành Thái Thượng hoàng Trong nửa đầuthế kỷ XX, tuổi 50 vẫn còn được xem là tuổi "lên lão" (năm 1945, Chủ Tịch

Hồ Chí Minh mới chỉ 55 tuổi nhưng chính Người cũng tự nhận mình là "mộtngười già" và đồng bào cả nước đều gọi Người một cách tôn kính là "Cụ Hồ",

là "Già Hồ") Đến năm 2000, Pháp lệnh NCT, nay là Luật NCT quy định:người 60 tuổi trở lên là NCT (người già) Còn trên thế giới, hiện nay LiênHợp quốc và hầu hết các nước đều thống nhất quy định 60 tuổi trở lên làngười già Riêng Nhật Bản, trong những năm gần đây đã thống kê số ngườigià là từ 65 tuổi trở lên Trong khi đó, ở tiểu khu Sahara (Châu Phi), 40 tuổiđược xem như đã bước vào tuổi già

1.1.1.2 Tuổi thọ trung bình và già hóa dân số

- Tuổi thọ trung bình: Là tuổi hy vọng sống vào lúc mới sinh Trong

tiến trình phát triển của lịch sử loài người, tuổi thọ trung bình đã không ngừngđược nâng lên Thế kỷ XX đã chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cuộccách mạng khoa học và công nghệ, dẫn tới những thành tựu vượt bậc về kinh

tế, cùng với những tiến bộ xã hội, tuổi thọ trung bình đã tăng rất nhanh, trướchết là ở các nước phát triển Theo số liệu của Liên hợp quốc (năm 2001) thìtuổi thọ trung bình của cả loài người đã nâng lên 66, trong đó ở các nước pháttriển là 75 và các nước đang phát triển là 63; dự báo đến năm 2050, tuổi thọtrung bình ở các nươc phát triển sẽ là 82, ở các nước đang phát triển sẽ là 75.Đối với Việt Nam hiện nay khoảng 72,8 tuổi

- Quan niệm dân số “già hóa”, “già”, “rất già”, “siêu già”: theo phân

loại của Cawgil và Holmes (1970) [15].theo đó, khi tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trởlên chiếm từ 7 - 9,9% tổng số dân, thì được coi là dân số “già hóa”, tương tự

Trang 10

chiếm từ 10 - 19,9% là dân số “già”, chiếm từ 20 - 29,9% là dân số “rất già”,chiếm trên 30% là dân số “siêu già”, một số báo cáo của Liên hợp quốc vàmột số nước phát triển cũng sử dụng tiêu chí này Tuy nhiên cũng có nhữngbáo cáo, những nước (trong đó có Việt Nam) sử dụng mốc 60 tuổi chiếm ≥10% dân số là “già hóa”, tương ứng mức “già” là ≥ 20%, mức “rất già” là ≥30%, mức “siêu già” là ≥ 35%.

- Già hóa dân số: Sự nâng lên không ngừng tuổi thọ của con người là

một xu thế khách quan xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại,qua các thời đại Nét đặc trưng của xu hướng già hóa trong thời đại hiện naylà: Sự gia tăng ngày càng nhanh số người từ 60 tuổi trở lên (dân số già) lạigắn liền với sự giảm nhanh số trẻ em dưới 15 tuổi (dân số trẻ) Như vậy tỷ lệngười từ 60 tuổi trở lên trong dân số sẽ tăng cao Xu thế đó được Liên hợpquốc gọi là sự già hóa dân số Và nước nào có tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lênchiếm trên 10% dân số thì nước đó được coi là đã già hóa dân số Thực trạnggià hóa dân số ban đầu bộc lộ rõ nét ở các nước phát triển vào đầu thập kỷ 80của thế kỷ XX; đến nay được nhận thức như là một xu thế khách quan, có tínhtoàn cầu Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ này khoảng hơn 9%, tức là đang ởngưỡng cửa của sự già hóa dân số

Bà Thoraya Obaid - Giám đốc điều hành quỹ dân số Liên Hợp Quốc

phát biểu tại Hội nghị quốc tế lần thứ hai về “Già hóa dân số” tại Madrid

năm 2002: Vấn đề già hóa dân số là vấn đề cần được coi trọng trong các vấn

đề phát triển toàn cầu Hiện nay NCT là nhóm dân số tăng nhanh nhất, cũng lànhóm dân số nghèo nhất Bây giờ cứ 10 người thì mới có 1 NCT từ 60 tuổi trởlên, nhưng đến năm 2050 thì cứ 5 người đã có 1 NCT Chúng ta cần đáp ứngđược nhu cầu của NCT hiện nay và lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của NCTtrong tương lai Phần lớn trong số khoảng 400 triệu người từ 60 tuổi trở lênđang sống ở các nước đang phát triển là phụ nữ và con số này sẽ tăng lên rấtnhanh trong những thập kỷ tới [15]

Trang 11

Báo cáo “Già hóa dân số” của Liên Hợp Quốc năm 2009 cũng chỉ rõ:

Do tỷ lệ NCT trên thế giới ngày càng tăng, nên nhu cầu về thông tin và phântích già hóa dân số ngày càng lớn Những thông tin và phân tích đó rất cầnthiết cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xác định, xây dựng vàđánh giá các mục tiêu và chương trình cũng như nâng cao nhận thức và sự hỗtrợ của toàn xã hội trong thay đổi chính sách [15]

- Chỉ số già hóa: Theo Vụ kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc(UNDESA, 2005) thì chỉ số già hóa dân số được tính bằng tỷ lệ % giữa NCT(từ 60 tuổi tuổi trở lên) và người thấp tuổi hay trẻ em - dưới 15 tuổi

- Chỉ số hỗ trợ tiềm năng: là tỷ lệ giữa số người trong độ tuổi lao độngvới số người trên độ tuổi lao động

1.1.1.3 Tuổi hành chính và tuổi sinh học

- Tuổi hành chính: Là tuổi được tính theo số năm đã sống của mỗi

người, dựa vào giấy khai sinh gốc xác thực Đối với những ai không có hoặckhông còn giấy khai sinh gốc, lại không nhớ được tuổi thực của mình, đếnnay các nhà chuyên môn đã có nhiều biện pháp khác nhau để xác định tuổihành chính của từng trường hợp cho chính xác hoặc tương đối chính xác

- Tuổi sinh học: Là tuổi được xác định không dựa vào số năm đã sống,

mà dựa vào thực thể sinh học của mỗi người Việc phân định già, trẻ theo tuổihành chính nhiều khi không phản ánh được đúng thực trạng sinh học của mỗingười Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những người đã 70 - 75 tuổi màvẫn khỏe mạnh, minh mẫn, đầy sức sống; trái lại, có những người mới chỉ 45

- 50 tuổi mà đã hốc hác, hom hem, suy kiệt như ông lão hoặc bà lão 75 - 80tuổi Tóm lại, xét theo tuổi sinh học có những người trẻ hơn nhiều so với tuổihành chính và có những người lại già sớm- già trước tuổi hành chính

Số người cao tuổi (≥ 60 tuổi)

I già hóa = - x 100%

Số người thấp tuổi (≤ 15 tuổi)

Trang 12

Xu hướng chung ở các nước đang phát triển là tuổi thọ hành chính tăngnhanh hơn tuổi sinh học, tuổi thọ khỏe mạnh lại chậm cải thiện hơn Chi phíphục hồi và duy trì sức khỏe cho NCT thường rất lớn, gấp 5 - 7 lần so vớinhóm tuổi trẻ Tuy nhiên khả năng đáp ứng các phúc lợi này ở các nước đangphát triển còn thấp Phấn đấu nâng cao tuổi thọ hành chính phải đồng thời vớinâng cao tuổi thọ khỏe mạnh cho NCT.

1.1.1.4 Sự phân chia các độ tuổi: Trên thế giới có nhiều cách phân

chia các độ tuổi dựa vào tuổi hành chính

- Có cách chia nhỏ độ tuổi: Sơ sinh, tiền học đường, nhi đồng, thiếuniên, thanh niên, trung niên, lão niên

- Liên hợp quốc chia thành 3 lớp tuổi: Tuổi thứ nhất là tuổi trẻ em (dưới

18 tuổi); tuổi thứ hai là tuổi thành niên và trung niên (từ 18 đến 59 tuổi); tuổithứ ba là tuổi già hay NCT (từ 60 tuổi trở lên)

- Tổ chức y tế thế giới (WHO) phân chia một số độ tuổi như sau: 45 -59tuổi là tuổi trung niên; 60 - 74 tuổi là người có tuổi; 75 - 90 là người già; vàtrên 90 tuổi là người già sống lâu Tuy vậy, WHO cũng thống nhất quy định từ

60 tuổi trở lên là người già (NCT)

- Theo yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu cầu lao động, các nướctrên thế giới và nhiều tổ chức quốc tế thống nhất quy định các nhóm tuổi lệthuộc cần được chăm sóc và nuôi dưỡng gồm trẻ em dưới 15 tuổi và ngườigià từ 60 tuổi trở lên, nhóm tuổi lao động là từ 15 - 59

Việc phân chia các độ tuổi tuy còn có sự khác nhau và đều dựa vào tuổihành chính, nhưng đó không chỉ là những quy định thuần túy mang tính hànhchính mà còn thể hiện những khác biệt về chất có ý nghĩa phổ biến đối với sốđông dân cư trong từng nhóm tuổi Sự khác biệt về chất đó bao gồm cả vềsinh lý, tâm lý, thể chất, tâm thần và xã hội

Trong xu thế già hóa dân số toàn cầu, hiện đã bộc lộ thành thực trạng ởcác nước phát triển, cơ cấu dân số ở từng quốc gia này đã có những xáo trộn

Trang 13

ghê gớm Các nhà nhân khẩu học, dân số học gọi đây là “cuộc cách mạngnhân khẩu học”, là “biến động tuổi nhân khẩu học”, là “trật tự mới về dân sốquốc tế” Bởi vì, tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi ngày càng giảm và tỷ lệ NCT ngàycàng tăng nhanh; trong khi bộ phận dân cư thuộc nhóm tuổi lao động (từ 15 -

59 tuổi) ngày càng giảm thiểu Nét đặc trưng đáng chú ý là: Sự nâng cao tuổithọ trung bình là một xu thế tất yếu xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sửloài người, qua tất cả các thời đại Sự nâng cao tuổi thọ trung bình không chỉđơn thuần là kéo dài tuổi già mà còn bao gồm cả sự kéo dài tuổi trung niên(tức là kéo dài cả thời kỳ tráng niên, độ tuổi lao động tích cực của con người).Rõ ràng là lực lượng những người từ 60 tuổi trở lên không chỉ tăng nhanh về

số lượng, mà còn tăng mạnh về chất lượng Ranh giới giữa tuổi trung niên vàtuổi già trong lịch sử loài người đã không ngừng di động, tăng lên cùng với sựtăng lên của tuổi thọ trung bình Đến nay, tuổi 60 vẫn giữ nguyên là mốc giớibắt đầu tuổi già Đây là một vấn đề cần phải được lý giải cho sáng rõ Cácnước phát triển, dù thiếu nguồn lao động trẻ để hằng năm thay thế nhữngngười 60 tuổi được nghỉ hưu, nhưng họ lại có sẵn nguồn lao động trẻ khỏe di

cư từ các nước đang phát triển sang để bổ sung Còn các nước đang phát triểnlại còn quá đông số người lao động dưới 60 tuổi bị thất nghiệp hoặc nửa thấtnghiệp Vì vậy, hầu như các nước đều như chưa nâng tuổi nghỉ hưu lên Điềunày khiến người ta còn thấy sự nâng cao tuổi thọ trung bình dường như chỉđơn thuần là sự kéo dài tuổi già, tăng số lượng người già Trong thực tế,những người ở nhóm tuổi 60 - 64 hiện nay nói chung còn khỏe mạnh, minhmẫn, đầy sức sống, hơn cả nhóm tuổi 55 - 59 giữa thế kỷ XX Nghĩa là trênthực tế ranh giới giữa tuổi trung niên và tuổi già không còn là 60 mà phải là

65 mới phù hợp Căn cứ vào thực trạng sức khỏe và năng lực lao động củaNCT, các nhà khoa học đã chia “nhóm tuổi thứ ba” thành hai nhóm nhỏ:Nhóm từ 60 - 74 tuổi: là NCT còn trẻ; Nhóm từ 75 tuổi trở lên là NCT thực sự(đã già) Tùy trình độ phát triển và những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các

Trang 14

quốc gia, thậm chí của từng khu vực trong mỗi quốc gia, sự chia hai nhómnhỏ này cũng có thể là 60 - 79 tuổi và từ 80 tuổi trở lên.

1.1.1.5 Khái niệm về người cao tuổi

- Từ hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, trên thế giới đã xuất hiệnkhái niệm “người cao tuổi” thay thế cho khái niệm “người già” để chỉ nhữngngười từ 60 tuổi trở lên

- Theo Luật NCT Việt Nam: “Người cao tuổi Việt Nam là công dânViệt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [59]

1.1.1.6 Hiểu thế nào là nguồn lực người cao tuổi

Nguồn lực NCT không chỉ là nguồn lao động xét theo thể lực mà quantrọng là trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, uy tín, kỹ năng nghiệp vụ

Để hiểu sâu nguồn lực NCT cần phân loại nhóm NCT theo các khíacạnh:

- Về tuổi: Những NCT từ 60 đến 75 tuổi: Là nhóm người nói chung cònkhỏe mạnh, minh mẫn, có nhiều điều kiện đóng góp, hầu hết vẫn còn tham giavào các hoạt động lao động sản xuất, làm kinh tế gia đình, hoạt động xã hội,hoặc tiếp tục tham gia cống hiến theo kỹ năng nghiệp vụ của mình; chí ít làlàm việc nội trợ, chăm sóc con cháu Nhóm tuổi này chiếm gần 70% tổng sốNCT ở nước ta Nhóm NCT từ 76 tuổi trở lên: Là nhóm già thực sự, cần đượcchăm sóc nhiều hơn

- Về học vấn: Những NCT được đào tạo, có chuyên môn nghiệp vụ, cókhả năng đóng góp nhiều hơn những người ít được học hoặc mù chữ

- Về chuyên môn nghiệp vụ:

+ Các nhà khoa học, trí thức khi về hưu tiếp tục nghiên cứu khoa học,tham gia đào tạo;

+ Các thầy giáo, thầy thuốc về hưu tiếp tục công việc chuyên môn;+ Các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ về hưu tiếp tục cống hiến;

+ Các nhà doanh nghiệp, công nhân kỹ thuật, tuy tuổi cao vẫn tiếp tụctham gia phát triển kinh tế - xã hội;

Trang 15

+ NCT còn khỏe mạnh đều tham gia lao động sản xuất, làm kinh tế giađình, làm việc nội trợ, chăm sóc con cháu

Tóm lại, các thế hệ NCT nước ta đã từng có rất nhiều công lao đối với gia

đình và đất nước, có uy tín và vai trò quan trọng trong xã hội Tuy tuổi cao,nhiều người vẫn hăng hái phát huy sáng kiến, kinh nghiệm trong việc xây dựngđời sống văn hóa, phát triển giáo dục, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tham gia tích cực các hoạt động xãhội; sống mẫu mực nêu gương sáng cho con cháu noi theo; góp phần thực hiệnmục tiêu “Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh” [27]; một số cụ đã được tôn vinh là Anh hùng laođộng, Chiến sĩ thi đua thời kỳ đổi mới Thực tế đã và đang khẳng định với uy tíncao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn trithức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình,NCT thật sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dântộc Chúng ta cần trân trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy

1.1.2 Đặc điểm nguồn lực người cao tuổi

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý chung nguồn lực người cao tuổi

Tự do: NCT thường có con đã trưởng thành, thường có tâm lý không

muốn hoặc ít bị ràng buộc trách nhiệm vật chất trong gia đình Do vậy quỹthời gian cho hoạt động một cách tự do khá lớn

Tự trọng: NCT thường có tính tự trọng cao, thận trọng, mực thước

trong từng câu nói, hành động Thường coi nhẹ nhu cầu vật chất, nặng nhucầu tinh thần

Kinh nghiệm: NCT là những người từng kinh qua quá trình làm việc

lâu dài, những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại là nguồn vốn quýbáu cho các thế hệ đi sau

Từng trải: với kinh nghiệm của mình, NCT sẽ có bản lĩnh, ý chí, nghị

lực cao hơn, “thắng không kiêu, bại không nản” Là những người hiểu biết

Trang 16

cuộc đời; thường trọng đạo lý, sống có kỷ cương, chuẩn mực, tôn ty trật tự,sinh hoạt nề nếp,…

Bảo thủ: do tuổi cao, sức khỏe giảm sút nên hay bảo thủ, sợ mạo hiểm,

làm theo nếp quen, chậm chạp với cái mới…

Tự tôn: thích được người khác tôn trọng, kính trọng trong gia đình và

xã hội, thích được khen và thừa nhận: “Một miếng giữa làng bằng một sàng

xó bếp”, nhưng cũng dễ tự ái, dễ xúc động, tủi thân,…

Bên cạnh đặc điểm về tâm lý chung ấy, nhiều NCT nước ta có xuhướng mang tính tích cực xã hội cao với những khát vọng hướng về phíatrước thông qua việc hướng đích cho con cháu Dù không còn đảm nhậncương vị công tác cũ, thế hệ NCT vẫn không muốn ở tình trạng nghỉ ngơi, họvẫn có nguyện vọng được đóng góp trí tuệ và sức lực của mình vào sự pháttriển của gia đình và xã hội Đây cũng là đặc điểm quý báu trong truyền thốnglao động cần cù của dân tộc ta

Ngoài ra, NCT còn có đặc điểm là hay lo lắng: Âm hưởng chủ đạotrong tâm trạng của NCT Việt Nam là “lo”: lo mọi thứ, lo cho con cháu, locho bản thân, cho xã hội, lo ngày hôm nay và ngày mai Về mặt tình cảm củaNCT cũng có nhiều nét nổi bật, cần đáng lưu ý như: Tình sâu nghĩa nặng, nhất

là tình cảm quê hương, xóm làng, con cháu, tình đồng chí, đồng đội, tình cảmnghĩa vụ, tình cảm trách nhiệm, lương tâm; thường có độ nhạy cảm cao vớinhững đụng độ trong cuộc sống, đặc biệt là thuộc các khía cạnh tinh tế trongứng xử xã hội động chạm đến đời sống tinh thần Họ dễ bị tổn thương và bịkhuấy động đối với những ứng xử mà những nhóm xã hội khác - có thể không

có ảnh hưởng gì

1.1.2.2 Đặc điểm dân số học của nguồn lực người cao tuổi

Quá trình già hóa dân số là hệ quả của quá trình tiến bộ về khoa học vàkinh tế xã hội nói chung dẫn đến tỷ lệ sinh giảm dần và tỷ lệ chết cũng giảmdần, nói cách khác tỷ trọng dân số trẻ giảm dần và tỷ trọng dân số già tăng

Trang 17

dần Nghĩa là chỉ số già hóa tăng nhanh, trong khi đó chỉ số hỗ trợ tiềm nănggiảm xuống Quá trình đó dẫn tới nguy cơ thiếu nguồn nhân lực trẻ, trong khi

đó chi phí phúc lợi xã hội tăng dần, đó là thách thức lớn cho nền kinh tế

Quá trình già hóa diễn ra với tốc độ khác nhau, nếu như ở nhóm cácnước phát triển diễn ra một cách chậm chạp, thì ở nhóm các nước đi sau -nhóm nước đang phát triển lại diễn ra với tốc độ cực kỳ nhanh, dễ gây sốc quátải về phúc lợi Nguy cơ nền kinh tế chưa giàu thì dân số đã già là có thật, hơnnữa một số khá lớn người già ở nông thôn không có thu nhập hoặc thu nhậpthấp sẽ có ít cơ hội tiếp cận đến các dịch vụ xã hội

Quá trình già hóa diễn ra với tốc độ nhanh hơn ở nhóm rất già Tỷ lệNCT ở độ tuổi 75 trở lên sẽ ngày càng cao Đây là nhóm dân số đã suy giảmđáng kể khả năng hoạt động, nhưng khả năng duy trì và phục hồi rất kém, chiphí lớn gấp nhiều lần so với các nhóm dân số khác

1.1.2.3 Đặc điểm xã hội học của nguồn lực người cao tuổi

Sống khuyết thế hệ (ông bà sống với cháu) hoặc sống không cùng concháu do con đi làm xa

Sống độc thân hoặc góa (vợ, chồng) và tỷ lệ giới tính nghiêng về nữ dotuổi thọ nữ chênh cao hơn so với nam từ 5 - 7 tuổi

1.1.2.4 Đặc điểm đời sống kinh tế của nguồn lực người cao tuổi

Do tuổi cao, thể lực, trí lực không còn ở độ sung mãn, cho nên thu nhập

về kinh tế của NCT thường thấp, thậm chí không có nguồn thu độc lập Mặtkhác, phần lớn NCT trước đó có thu nhập không cao, do vậy khả năng tự tíchlũy cho tuổi già thường rất thấp, thậm chí không có gì, nhất là những ngườisinh sống ở nông thôn và làm các công việc giản đơn Do vậy họ gặp nhiềukhó khăn trong đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho riêng mình

1.1.3 Vai trò nguồn lực người cao tuổi Việt Nam đối với phát triển kinh tế - xã hội

Về vai trò, vị trí NCT trong xã hội đã được Bác Hồ khẳng định trongthư gửi các vị phụ lão cả nước năm 1941:

Trang 18

Nước nhà hưng, suy, tồn, vong, phụ lão đều gánh vác trách nhiệmrất nặng nề… Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão có tráchnhiệm là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với con cái, phụ lão có

sự tín nhiệm lớn lao, phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng, phụ lão làmnhân dân làm theo Hô điều nên hô, làm điều nên làm [30, tr.7-8] Trong thực tế, ở mỗi NCT, thường đã trải qua những sự thành đạt, trắctrở, vui buồn, ngọt bùi, đắng cay trong sự nghiệp, cuộc sống Với NCT ViệtNam hiện nay, ít nhiều còn thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc, truyền thốngdựng nước và giữ nước của cha ông Ở thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnhđạo của Đảng đã có bao nhiêu người sôi sục bầu máu nóng đi tìm đường cứunước, giành lại chính quyền về cho dân, đứng trong đạo quân hùng hậu, làmnên sự nghiệp vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh, là lớp người đi đầukhai phá con đường đổi mới và góp phần không nhỏ tạo ra thành tựu rất quantrọng của đất nước ngày nay Cuộc đời và sự nghiệp của họ gắn liền với sựthành công, phát triển và những thăng trầm của đất nước Họ hiểu sâu sắc vềquá khứ, đang sống trong hiện tại, có tầm nhìn về tương lai

Cũng như trong lớp thanh niên và trung niên, lớp NCT về tài năng, đạo đứckhông đồng đều, sống có ích cho xã hội không như nhau, thậm chí có người trởthành gánh nặng cho gia đình, xã hội và đất nước nhưng đó cũng là số rất ít

Như chúng ta đều biết, hiện nay có không ít cán bộ cao tuổi đang giữvai trò chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể từ Trung ươngđến xã, phường; là các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang; là những ngườiđứng đầu trong các doanh nghiệp lớn, các trung tâm khoa học - công nghệ,giáo dục - đào tạo, y tế, văn học - nghệ thuật…; các chuyên gia đầu ngành vềcác lĩnh vực Nhiều người về hưu vẫn tiếp tục nghiên cứu, phát huy trí tuệ, tàinăng trong cuộc sống; Nhiều NCT tích cực tham gia các hoạt động ở địaphương như tham gia xây dựng hương ước, quy ước làng xã, cụm dân cư vănhóa, phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn

Trang 19

xã hội và hòa giải các tranh chấp, mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư; tham giakhôi phục truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương, những vốn quý vănhóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, múa hát…; truyền thụ những kiến thứcvăn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ…

Số đông NCT không thuộc diện hưởng lương, trước nay chỉ là dânthường, nhưng họ là chủ gia đình, chủ hộ kinh tế nông nghiệp, nghư nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, doanh nghiệp cá thể, tư nhân; là đội ngũ đông đảo người nộitrợ, là các nghệ nhân ở các làng nghề… Họ có vai trò nuôi dưỡng, giáo dục đầu

tư cho con cháu lớn khôn, học tập nên người, thành tài ra phục vụ xã hội

Như vậy, từng NCT và cả cộng đồng NCT là một kho trí tuệ tài năng kinh nghiệm đáng quý; đã, đang và sẽ là lực lượng quan trọng góp phần làmcho đất nước ổn định và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chúng

-ta cần khai thác, phát huy hơn nữa nguồn lực quý báu này

1.2 THẾ GIỚI NGÀY CÀNG NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN HƠN VỀ VAI TRÒ

VÀ TIỀM NĂNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI, ĐẶT VẤN ĐỀ NGƯỜI CAO TUỔI TRONG KHUÔN KHỔ CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Diễn biến và thách thức của xu thế già hóa dân số trên thế giới

Từ sau thế chiến thứ II trở đi, tỷ lệ sinh và tử ngày càng giảm, tuổi thọtrung bình ngày càng cao, kết quả là dân số cao tuổi ngày càng tăng nhanh cả

về số lượng và tỷ lệ trong dân cư, tạo nên cuộc cách mạng nhân khẩu toàn cầu

mà lịch sử loài người chưa từng chứng kiến Năm 1950, thế giới có khoảng

200 triệu NCT Năm 2000, số NCT là 550 triệu (chiếm khoảng 10% dân số),

dự tính đến năm 2025 đạt tới 1,2 tỷ người (chiếm khoảng 20% dân số) [22,tr1] và đến giữa thế kỷ XXI sẽ là 2 tỷ người (chiếm 21% dân số); khi đó, tạicác nước đang phát triển, số NCT sẽ tăng lên 4 lần và chiếm 19% dân số, còn

tỷ lệ trẻ em sẽ giảm xuống còn 22% Theo tính toán của Liên hợp quốc, đểtăng gấp đôi số NCT, các nước phát triển phải mất khoảng 100 năm; nhưng

Trang 20

các nước đang phát triển chỉ mất 25 năm, thậm chí ít hơn (chỉ khoảng 20 nămViệt Nam sẽ chuyển từ cơ cấu dân số vàng sang cơ cấu dân số già Trong khi

đó, quá trình này của Pháp là 115 năm, Thụy Điển là 85 năm, Nhật Bản là 26năm, Thái Lan là 22 năm,…) Sự già hóa dân số ở các nước phát triển diễn ratương đối chậm và vào lúc mà những nước ấy đã thịnh vượng, đủ nguồn lựckinh tế để đáp ứng hỗ trợ người già Ngược lại, khi các nước đang phát triểnbắt đầu già hóa, thì quá trình này diễn ra với tốc độ rất nhanh, trong khi phầnlớn dân cư vẫn còn nghèo khổ Trong những nước đó, cả xã hội, nhà nướccũng như gia đình và cá nhân NCT đều có rất ít nguồn lực kinh tế “Già hóanhanh, già trước khi giàu” là một thách thức lớn đối với các nước đang pháttriển hiện nay Già hóa dân số làm đảo lộn cấu trúc xã hội và đặt ra nhữngthách thức về nhiều mặt đối với mỗi quốc gia:

- Sự thiếu hụt nguồn lao động trẻ để hằng năm thay thế cho số người về hưu;

- Chế độ chính sách tiền lương hưu trí và chế độ trợ cấp NCT sao chothích ứng với điều kiện số lượng NCT ngày càng đông;

- Sản xuất và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư ngàycàng đông đảo là NCT;

- Việc làm và thu nhập cho một bộ phận khá đông NCT còn khỏe mạnh(nhất là nhóm tuổi từ 60 - 65)

- Đối với nước ta hiện nay, quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã tạo ratính chủ động sáng tạo của các đơn vị kinh tế, thúc đẩy sự vận dụng các tiến

bộ và thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo nên tính năng động kinh

tế và tính cơ động xã hội cao, nhưng cùng với nó cũng bộc lộ những khuyếttật mà hệ lụy dễ thấy thường thể hiện trên các lĩnh vực xã hội, trong đó NCT,người về hưu thường phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất

1.2.2 Những đối sách, khuyến nghị của Liên hợp quốc về bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi và phát huy nguồn lực người cao tuổi

Trang 21

Cách đây gần 30 năm, Liên hợp quốc đã cảnh báo về hiện tượng già

hóa dân số và xác định đây là vấn đề có tính toàn cầu và trong tương lai không xa sẽ là kỷ nguyên người cao tuổi Xuất phát từ mối quan tâm đó, năm

1982, lần đầu tiên Liên hợp quốc đã họp Đại hội đồng bàn về vấn đề NCT tạiViên (Thủ đô nước Áo) Đại hội lịch sử này đã trịnh trọng tuyên bố: “Cần bảođảm không một hạn chế nào mọi quyền lợi của NCT theo đúng tuyên ngôn vềquyền con người của Liên hợp quốc”; đồng thời đã thông qua Chương trìnhquốc tế dài hạn về NCT (nghị quyết số 37/51) Chương trình này đã nêu lên

50 khuyến nghị cụ thể, bao quát 6 lĩnh vực chủ yếu liên quan đến NCT là:

1/ Sức khỏe và dinh dưỡng;

2/ Nhà ở và môi trường;

3/ Củng cố gia đình;

4/ Bảo trợ xã hội;

5/ Việc làm và thu nhập;

6/ Giáo dục thường xuyên

Năm 1990, Đại hội đồng đã quyết định lấy ngày 01/10 hàng năm làngày Quốc tế NCT, bắt đầu từ 01/10/1991 (nghị quyết số 45/106)

Năm 1991, Liên hợp quốc đã rà soát lại và bổ sung thành 62 khuyếnnghị, bao quát 7 lĩnh vực chủ yếu liên quan đến NCT (bổ sung 1 lĩnh vực là:bảo vệ NCT với tư cách là người tiêu dùng) Đồng thời, Đại hội đồng đãthông qua bản Những nguyên tắc đạo đức của Liên hợp quốc đối với NCT(nghị quyết số 46/91), nêu lên 18 khuyến nghị cụ thể thuộc 5 nguyên tắc cơbản bảo đảm các quyền của NCT:

1/ Quyền được độc lập (bằng mọi cách tránh và hạn chế tình trạng bị lệthuộc của NCT);

2/ Quyền được tham gia vào mọi công việc của cộng đồng có liên quanđến NCT;

3/ Quyền được chăm sóc khi cần thiết;

Trang 22

4/ Quyền được phát triển bản sắc riêng;

5/ Quyền được tôn trọng nhân phẩm

Về những quyền cơ bản này, báo cáo của Tổng Thư ký Liên hợp quốctại kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 50 nêu rõ:

1/ Về những nguyên tắc liên quan đến quyền độc lập, NCT có quyềnđược hưởng các dịch vụ cơ bản và được chăm sóc sức khỏe, có cơ hội đượclàm việc hoặc có nguồn thu nhập khác, được tham gia vào các quyết định khinào thì họ thôi làm việc, được tham gia vào các chương trình giáo dục và đàotạo, được sống trong môi trường đảm bảo và trong cộng đồng của mình đếntrọn đời

2/ Những nguyên tắc liên quan đến quyền được tham gia bao gồm thamgia vào các quyết định, quyền chia sẻ kiến thức, quyền được làm việc có íchcho tập thể và quyền tham gia vào việc thành lập các phong trào, vào phườnghội của NCT

3/ Các nguyên tắc liên quan đến quyền được chăm sóc bao gồm sựchăm sóc của gia đình và tập thể, quyền được hưởng các dịch vụ y tế, các dịch

vụ xã hội và pháp lý và quyền được chăm sóc tại bệnh viện

4/ Về các nguyên tắc liên quan đến sự phát triển cá nhân, NCT có quyềnđược đảm bảo phát huy đầy đủ khả năng của mình và được hưởng các phúc lợi

xã hội trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, tinh thần và nghỉ ngơi, giải trí

5/ Các nguyên tắc liên quan đến quyền được tôn trọng nhân phẩm, khẳngđịnh NCT phải được đối xử công bằng và được đánh giá đúng mà không dựatrên sự đóng góp của họ về mặt kinh tế

Năm 1992, Đại hội đồng thông qua chiến lược toàn cầu giai đoạn 1992

- 2001 về NCT (nghị quyết số 47/86) Tiếp đó Liên hợp quốc quyết định lấynăm 1999, năm cuối cùng của thế kỷ XX là Năm quốc tế NCT lần thứ II vớichủ đề “Hướng tới một xã hội cho mọi lứa tuổi” nhằm thực hiện mục tiêu tạocho NCT một môi trường pháp lý, một môi trường sống lành mạnh với các

Trang 23

dịch vụ chăm sóc tốt hơn, nhằm khai thác, phát huy nguồn lực NCT, bảo đảmcho NCT sống khỏe, sống vui, sống hữu ích

Đến năm 2002, một lần nữa đại diện các chính phủ của các quốc gia(trong đó có đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam) họp mặt tại Madrid - TâyBan Nha để cùng bày tỏ, chia sẻ mối quan tâm của mình tới NCT, lớp người

mà mỗi người trong họ là “một thư viện quý giá” của nhân loại Theo nhậnđịnh của Hội nghị Madrid, sự chuyển biến về nhân khẩu toàn cầu có tác độngsâu sắc tới mọi khía cạnh của đời sống cá nhân, cộng đồng, của mỗi quốc gia

và cộng đồng quốc tế…, buộc tất cả các quốc gia phải mở rộng các cơ hội choNCT thực hiện được tiềm năng của họ để tham gia đầy đủ vào tất cả các mặtcủa đời sống Bởi vì tuổi thọ tăng không chỉ là một thành tựu lớn của loàingười mà còn là một nhân tố quan trọng của sự phát triển Các văn kiện củaHội nghị Madrid đã nêu lên những tư tưởng cơ bản như sau:

1/ Đánh giá cao sự tăng tuổi thọ của con người, xem đó như một thànhtựu quan trọng của loài người

2/ Khẳng định kỹ năng, kinh nghiệm, tri thức và nguồn lực của NCT làtài sản vô giá cho sự phát triển của lứa tuổi đang trưởng thành

3/ Cam kết loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với NCT

4/ Thừa nhận NCT phải được hưởng một cuộc sống đầy đủ, có sứckhỏe, được an toàn và được tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực hoạt động củađời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục…

5/ Tôn trọng nhân phẩm NCT, xóa bỏ mọi hình thức xao nhãng, lạmdụng và bạo lực đối với NCT

6/ Khẳng định thế giới hiện đại đã đạt được sự giàu có và năng lựccông nghệ chưa từng thấy, đang tạo ra các cơ hội phi thường để bảo đảm chocon người đạt được một tuổi già mạnh khỏe hơn, với cuộc sống đầy đủ hơn,được phát huy mọi khả năng đóng góp vào quá trình phát triển xã hội

Trang 24

Hội nghị Madrid còn nhấn mạnh: Cần phải nhận thức được khả năngđóng góp của NCT cho xã hội không chỉ bằng việc chính họ làm cho cuộcsống của mình ngày càng tốt đẹp hơn, mà còn làm cho xã hội trở nên tốt đẹphơn Chúng ta cùng thừa nhận rằng NCT cũng phải được hưởng thụ một cuộcsống đầy đủ, có sức khỏe, được an toàn và tham gia tích cực vào đời sốngkinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của quốc gia mình… Hình ảnh về NCTnhư những cá nhân hấp dẫn, đa dạng và sáng tạo có những đóng góp quantrọng phải thu hút được sự quan tâm chú ý của công chúng.

Vì vậy cần đưa vấn đề NCT vào các chương trình nghị sự toàn cầu, gắnkết vấn đề NCT với các khuôn khổ khác về phát triển kinh tế - xã hội và quyềncon người Cần tạo cơ hội cho NCT tiếp tục tham gia vào đời sống văn hóa, kinh

tế, chính trị, xã hội…; tham gia vào quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp

Các chính phủ có trách nhiệm hàng đầu trong việc xây dựng và thựchiện Chương trình hành động về NCT, đưa vấn đề NCT vào khuôn khổ pháttriển quốc gia và lồng ghép trong các chiến lược xóa đói giảm nghèo, việclàm, phát triển nhân lực… Cần thu hút sự tham gia của các tổ chức chính trị,kinh tế, xã hội, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, các cơ quan thông tin cũngnhư của gia đình và cộng đồng

Những quan điểm và phương pháp tiếp cận hiện đại của thế giới về NCTtrên đây thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, đồng thời cũng mang tính khoa học

và tính thực tiễn sâu sắc; rất phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vànêu bật quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về NCT đã đi trước thời đại

1.2.3 Già hóa dân số và vấn đề người cao tuổi ở một số nước

1.2.3.1 Nhật Bản

Nhật Bản đã trải qua sự thay đổi nhân khẩu học chưa từng có trong tiền

lệ Tỉ lệ sinh sụt giảm mạnh trong nửa thế kỷ qua Đầu những năm 70 của thế

kỷ XX, đạt khoảng 2,1con/phụ nữ, và năm 2005 xuống mức thấp kỷ lục 1,26con/phụ nữ

Trang 25

Cùng những năm này, dân số bắt đầu giảm bớt Những nhà phân tích dựbáo, dựa trên xu thế hiện tại, dân số Nhật Bản đến năm 2050, có thể giảm hơn20% Tuy nhiên, thời gian sống của người Nhật Bản - vốn nổi tiếng bởi sựtrường thọ - cũng đang dài hơn Trong năm 2006, tuổi thọ trung bình của dânNhật Bản là 82

Nhật Bản có tỉ lệ người già cao nhất thế giới Hơn 20% dân số hiện naytrên độ tuổi 65 Tới năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 40% Ở khắpNhật Bản, người dân đều hiểu rằng, sự thay đổi nhân khẩu học này là một tháchthức to lớn “Vấn đề sẽ không chỉ là sự tác động với nền kinh tế, công nghiệphay xã hội, mà còn là sự tồn tại của Nhật Bản ở tư cách một quốc gia’’

Ở vùng nông thôn, kết quả từ sự thay đổi nhân khẩu học trở nên rõ néthơn bao giờ hết Trong rất nhiều thị trấn và làng mạc, tỉ lệ người già nhiều gấpđôi với mức trung bình của quốc gia Lớp trẻ đã rời nông thôn lên thành phố.Nhiều trường học đóng cửa, dịch vụ xe buýt chạy cầm chừng…

Những thay đổi ở thành phố cũng không khó nhận ra Tại phía bắcTokyo, trung tâm mua bán Sugamo đã trở thành nơi tụ tập của những ngườigià cả Ở đây không có bar, cửa hàng bán đĩa CD hay điểm thưởng thức càphê Trên thực tế, những cửa hiệu ở đây phần lớn bán quần áo, đồ ăn truyềnthống, sản phẩm y tế và tất cả những gì phục vụ những người về hưu - nhưnhắc nhở về sự hiện diện và vai trò ngày một lớn của thế hệ này trong thayđổi nhân khẩu học

Chính phủ Nhật Bản liên tiếp có những biện pháp thúc đẩy tỉ lệ sinh vàgiới thiệu các cải cách tài chính, nhưng khó khăn vẫn tồn tại

Chỉ trong vài thập niên tới, tỉ lệ người về hưu ở Nhật Bản sẽ thay đổinhanh chóng Năm 1990, cứ gần một người già thì có sáu người đang ở độtuổi lao động Tới năm 2025, con số này giảm xuống còn gần hai người

Trang 26

Điều đó đồng nghĩa với việc, ngày càng có ít người nộp thuế và ngàycàng nhiều người cần trợ cấp của nhà nước Thu nhập của chính phủ giảmmạnh, trong khi chi phí lương hưu và chăm sóc y tế lại gia tăng

Và Nhật Bản giải quyết vấn đề chi phí này như thế nào Đã có không ítngười quan ngại rằng, mạng lưới an sinh xã hội có thể bị đổ sập

Dĩ nhiên, để giải quyết những hậu quả do việc dân số già đi nhanhchóng đặt ra, và để đáp ứng những nhu cầu mới của một xã hội già hóa, NhậtBản đã và đang có một số giải pháp căn bản sau:

- Những chính sách lao động: Từ giữa những năm 80 của thế kỷ

XX, chính phủ và giới kinh doanh Nhật Bản đã nghiên cứu áp dụng nhữngbiện pháp nhằm khắc phục tình trạng thiếu lao đông nảy sinh cùng vớiviệc già hóa dân số và tận dụng đến mức cao nhất những nguồn lao độngchưa sử dụng hết để cân bằng cung - cầu lao động Sử dụng lại nhữngngười về hưu còn sức khỏe vào những công việc thích hợp Khuyến khíchcác xí nghiệp sử dụng NCT ở bất cứ dạng và mức độ nào Khuyến khích

áp dụng chế độ giờ làm việc linh hoạt và rút ngắn thời gian làm việc đểnhững người lao động cao tuổi và phụ nữ có nhiều cơ hội hơn tham giavào thị trường lao động

- Những chính sách bảo hiểm xã hội: Chuyển một phần những chi tiêubảo hiểm xã hội sang cho những người được hưởng bảo hiểm xã hội Tức làcác cá nhân phải tự gánh vác một phần lớn hơn những chi phí dịch vụ côngcộng bằng tiền túi của mình Khuyến khích mọi người lao động tăng phần

“tiết kiệm bắt buộc” (đóng bảo hiểm hưu trí), đồng thời khuyến khích pháttriển các chế độ hưu trí tư nhân

- Chính sách khai thác triệt để thị trường NCT: Thành lập các viện,trung tâm nghiên cứu và dự báo về nhu cầu NCT; thành lập các trung tâm y tế vàdịch vụ phục vụ cho các nhu cầu giải trí và chữa bệnh cho NCT; phát triển cácloại hàng hóa và thiết bị chuyên dùng và tiện lợi cho NCT; mở các khóa học để

Trang 27

đáp ứng nhu cầu tiếp tục nâng cao kiến thức của NCT; đầu tư xây dựng ở nướcngoài các trung tâm giải trí và du lịch cho NCT Nhật Bản thích đi du lịch.

Chính quyền gần đây đã nỗ lực giảm bớt chi tiêu Những dự án côngcộng bị hủy bỏ, bộ máy hành chính được thu hẹp lại và chi phí cho khu vựcnông thôn giảm xuống

Tình trạng này không chỉ có riêng ở Nhật Bản Hàn Quốc và Đài Loanđều có tỉ lệ sinh ngày một thấp Italy, Hy Lạp, Đức và một số nước Đông Âucũng đang phải đối mặt với tình trạng sụt giảm dân số

Nhật Bản và một số nước đã có những cải cách thích ứng với biến độngdân số cho phát triển bền vững

và sẽ là 2/1 vào năm 2040 sách

Tăng độ tuổi về hưu từ 50 lên 55 (đối với nữ) và từ 55 lên 60 (đối vớinam) cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế là một giải pháp để xoá đi áp lựcđáng kể cho hệ thống chi trả lương hưu hiện nay Nhưng theo nhận định củacác chuyên gia an sinh xã hội, tăng tuổi về hưu cũng tạo ra hàng hàng loạt cácvấn đề cho chính phủ Trung Quốc

Ba thập kỷ qua (1980 - 2010), chính sách một con của Trung quốc đãgiúp tăng cường sức mạnh trỗi dậy kinh tế của nước này Với số người ít hơn,các gia đình có thể tiết kiệm Đói nghèo đã giảm, đời sống được cải thiện

Trang 28

Trong khi đó, người già được dự đoán là đang tăng lên Vào giữa thế kỷ này,hơn 1/3 dân số Trung Quốc sẽ ở tuổi 60+ hoặc già hơn, so với 26% ở Mỹ Dựđoán Trung quốc sẽ có số công dân già là 438 triệu người vượt quá toàn bộ dân

số Mỹ Với rất ít lao động trợ giúp cho một xã hội đang già hóa cần có sự chămsóc, “Vấn đề là ở chỗ số NCT đang tăng trong khi Trung Quốc vẫn còn nghèo”Ông Richard Jachson thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế có trụ

sở tại Washington cho biết “Trung Quốc có thể là quốc gia đầu tiên trở nên già

đi trước khi giàu có” Đây là một thách thức không nhỏ…

Thay đổi cơ cấu dân số đang đe dọa khả năng cải thiện cuộc sống củaNCT không theo kịp với tiến triển xã hội, điều đó đặt gánh nặng tài chính lênvai những người trẻ, trong nghịch lý tỷ lệ dân số trẻ giảm dần và dân số giàtăng lên IMF kêu gọi các nước cần có kế hoạch chủ động đối phó với xuhướng già hóa dân số, mà trước hết ở các nước có tốc độ già hóa cao như:Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha và Hàn Quốc… các nước này đã phải kéo dàituổi nghỉ hưu thêm đến gần 1 thập kỷ

1.3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI KHAI THÁC, PHÁT HUY NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI

1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi Việt Nam

1.3.1.1 Trước hết Bác Hồ khẳng định vai trò, vị thế của phụ lão, coi

phụ lão là lực lượng quan trọng để tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kếttoàn dân, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và chế độ: Bác Hồ luôn kính trọng ngườigià và yêu quý con trẻ Người xem những vị thượng thọ “là của quý vô giácủa dân tộc” và những tấm gương sáng của các cụ phụ lão và thanh thiếu niên

là “tượng trưng phúc đức của nước nhà” Trong đường lối cách mạng dựa vàosức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương “vậnđộng tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào,góp thành lực lượng toàn dân” [46, tr.698]; trong đó, giới phụ lão có vai trò

Trang 29

đặc biệt quan trọng Bác nhấn mạnh: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng

ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lãogây dựng Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức Nước mất phụ lão cứu, nướcsuy sụp phụ lão phù trì ” [30, tr.7-8] Trong bài kính cáo đồng bào (6-6-1941), sau khi phân tích thời cơ giải phóng dân tộc đã đến, Bác kêu gọi thathiết: “Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Mong các ngàinoi gương phụ lão đời Nhà Trần trước họa giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt

hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc” [44, tr.197] Người còn nói:

“Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kết trước để làm gươngcho con cháu ta” [45, tr.24]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận đã được thể hiện vừa uyên bác, vừanôm na dễ hiểu trên bài Dân vận (đăng trên báo Sự thật ngày 15-10-1949).Nói đến dân vận, Bác xác định gốc của nước là dân và động lực dựng nước,giữ nước là dân chủ Quan điểm về động lực phát triển xã hội và đất nước lànhân dân được thể hiện sâu sắc và nhất quán trong mọi thời kỳ cách mạng: từkhởi nghĩa giành chính quyền đến kháng chiến chống xâm lược, cũng nhưtrong xây dựng chủ nghĩa xã hội Do vậy, Hồ Chí Minh đã coi dân vận là huyđộng lực lượng toàn dân, trong đó có lực lượng phụ lão là vấn đề cơ bản vàthường xuyên trọng đại, có tầm đường lối cách mạng, quốc kế dân sinh “Lấysức ta giải phóng cho ta” Dân vận tốt có ý nghĩa quyết định cả trên mặt xâydựng và thực hiện mọi quyết sách Bác chỉ giáo: Nước ta là nước dân chủ

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Cộng việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc

là công việc của dân ” “Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơidân” Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thànhcông [46, tr.698]

1.3.1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tuổi cao, chí càng cao,

lòng yêu nước càng lớn; phụ lão cần gương mẫu tham gia vào công cuộc

Trang 30

kháng chiến, kiến quốc: Người bác bỏ quan niệm “Lão lai tài tận”, “Lão giả

an chi” và phê phán ý nghĩ cho rằng: “Thôi mình tuổi hạc ngày càng cao,không bay nhảy gì được nữa! Việc đời để cho con cháu bầy trẻ làm Chúng tagần đất xa trời rồi, không cần hoạt động nữa” [45, tr.24] Bác khẳng định:

“Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không.Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước,càng già càng anh hùng” “Quốc dân ta bất kỳ già trẻ, đều phải ra sức gánhmột vai” [45, tr.24] Người luôn luôn nhắc nhở: “Càng già càng giỏi”, “Tuổicao, chí khí càng cao” và mong muốn mỗi NCT đều nêu gương sáng cho concháu về lòng yêu nước, về tinh thần bất khuất, về đạo đức cách mạng; tùytheo sức lực, khả năng từng người để gương mẫu tham gia vào công cuộckháng chiến, kiến quốc

1.3.1.3 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, NCT phải có trách nhiệm dìu dắt,

bồi dưỡng lớp trẻ và tự mình phải học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí:Nói truyện với các đảng viên lâu năm, Bác đã căn dặn: “Các đồng chí già là rấtquý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ.Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ , phải có thái độ độ lượng,dìu dắt đồng chí trẻ Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa ”[51, tr.462] Bác luôn nhắc nhở cán bộ già phải thường xuyên học tập:

Công việc ngày càng nhiều, càng mới Một mặt, Đảng phải đàotạo, dìu dắt đồng chí trẻ Một mặt, đảng viên già phải cố gắng màhọc Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Việc lớn, việcnhỏ, tôi phải tham gia Công việc cứ tiến mãi Không học thì khôngtheo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau [51, tr.464]

Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và Người đã chủ trươngphải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và giặc ngoại xâm Các cụ già cóthành tích học chữ quốc ngữ đã được Bác khen “chẳng những làm kiểu mẫusiêng năng cho con cháu mà lại còn tỏ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”

Trang 31

1.3.1.4 Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Hội Phụ lão cứu

quốc và xây dựng các hình thức tổ chức để tập hợp và phát huy vai trò củaphụ lão: Trong thư gửi các cụ phụ lão (21-9-1945), Người kêu gọi “Các vịphụ lão Hà thành ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc hội” để cho cácphụ lão cả nước bắt chước và để hùn sức gìn giữ nền độc lập của nước nhà”[45, tr.24] Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, Hội Phụ lão cứu quốc đã pháttriển khắp nơi và góp phần tích cực vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩđại của dân tộc ta Bác khẳng định: “Truyền thống “Điện Diên Hồng” làtruyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân tộc ta và riêng của các cụ phụlão ta” [51, tr.213] và kêu gọi:

Tiếp tục truyền thống Diên Hồng vĩ đại, các cụ phụ lão cũngkhông vì tuổi cao, tóc bạc mà hưởng thú thanh nhàn Các cụ thườngtùy điều kiện mà tổ chức đội Bạch đầu quân để làm những công việcnhư: khuyến khích con cháu tham gia bộ đội và thanh niên xungphong; gìn giữ trật tự, trị an trong làng xóm; giúp đỡ dân quân, tănggia sản xuất; trồng cây gây rừng; cổ động bà con đặt hũ gạo chống

Mỹ, cứu nước [52, tr.519]

Bác yêu cầu: “Các cấp đảng bộ, Mặt trận ở các địa phương nên ra sức giúpcác cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển đội Bạch đầu quân Đó cũng là mộtlực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước” [52, tr.520]

1.3.1.5 Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương sáng về “Tuổi cao, chí càng

cao”: Cả cuộc đời Bác đã chiến đấu, hy sinh không mệt mỏi vì dân, vì nước,quên cả tuổi già, quên cả bản thân Năm Bác tròn 60 tuổi, Bác đã tự nhủ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,

So với ông Bành vẫn thiếu niên

Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe,

Trần mà như thế kém chi tiên!

Đến tuổi 74, Bác nói:

Trang 32

Hiện nay ở miền Nam ruột thịt, từ các cụ già, đến các cháuthanh niên và nhi đồng đều đang anh dũng hy sinh, ra sức chiếnđấu để giành lại quyền độc lập, tự do thì tôi không thể:

Thảnh thơi vui thú thanh nhàn,Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu giao [52, tr.245]

Cho đến năm 1968, Người vẫn làm thơ:

Bảy mươi tám tuổi, chưa già lắm,Vẫn vững hai vai việc nước nhà

Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,Tiến bước, ta cùng con em ta [53, tr.357]

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về NCT được thể hiện cô đọng trong

“18 chữ vàng” mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề tặng NCT Việt Nam:

“Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc” Tư tưởng đó bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp cáchmạng, thể hiện đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc và còn nguyên giá trịđối với công tác vận động NCT trong giai đoạn mới hiện nay Trước yêu cầuđổi mới đất nước và trước xu thế già hóa dân số toàn cầu hiện nay, chúng ta cầnnhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, để chăm sóc,khai thác, phát huy cao nhất nguồn lực NCT trong công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi

Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận từ xa xưa, Nhà nước phong kiến cũng như làng xã

và gia đình đều rất quan tâm đến NCT Kế tục truyền thống đó, từ sau Cáchmạng tháng 8/1945, Nhà nước ta đã xây dựng nhiều chương trình xã hội thựchiện bảo đảm chế độ chính sách đối với NCT Điều đó được quy định và thể hiện

từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (Điều 14 của Hiến phápnăm 1946 quy định: Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì

Trang 33

được giúp đỡ); được kế thừa và phát triển trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992(Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi: Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật.

Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…; Điều 59, Điều

64 của Hiến pháp 1980 quy định: Bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức nhànước, xã viên hợp tác xã và người lao động Trách nhiệm của cha mẹ trong việcgiáo dục con cái, trách nhiệm của con cái trong việc kính trọng và chăm sóc chamẹ; Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: Con cái có trách nhiệm kính trọng vàchăm sóc ông bà, cha mẹ ; cũng trong Hiến pháp 1992, Điều 87 quy định:Người già, người tàn tật, trẻ em mồ coi không nơi nương tựa được Nhà nước và

xã hội giúp đỡ); được cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ

và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Hình sự, …(Mục 4,Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ con có nghĩa vụ kính trọng,chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụngdưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc,giúp đỡ nhau”; Luật Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã dành mộtchương riêng quy định “Bảo vệ sức khỏe NCT, thương binh, bệnh binh ” vàĐiều 41 của Luật này ghi: “Người cao tuổi được ưu tiên trong khám bệnh, chữabệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏecủa mình”; Bộ Luật lao động đã có riêng một mục về lao động cao tuổi thể hiện

ưu đãi và chăm sóc sức khỏe Điều 123 quy định: “Người sử dụng lao động cótrách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động cao tuổi, không được

sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm ảnh hưởngsức khỏe”; Một số điều của Bộ Luật Hình sự quy định tội ngược đãi nghiêmtrọng hoặc hành hạ cha mẹ; hay có điều quy định hình thức giảm nhẹ tội đối vớitội phạm là NCT và tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội với NCT) vànhiều văn bản dưới luật Để hệ thống hóa các văn bản pháp luật về NCT và đềcập đầy đủ các quy định pháp lý về chăm sóc và phát huy vai trò của NCT, năm

2000 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh NCT tạo khung pháp

Trang 34

lý và chuẩn mực đạo đức xã hội trong việc phát huy, chăm sóc NCT, bảo vệquyền lợi hợp pháp của NCT và phát huy tiềm năng to lớn của họ Sau đó, Chínhphủ và các Bộ, ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnhNCT Đặc biệt, từ Đại hội IX của Đảng, lần đầu tiên nêu định hướng về NCT vàcông tác NCT trong Văn kiện của Đại hội

đối với các lão thành cách mạng, những người có công vớinước, cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi, thực hiện chính sách đền

ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần và vậtchất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu được thông tin, phát huykhả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xãhội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng chothanh niên, thiếu niêu [25];

"Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia cáchoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng,những người có công với nước, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh và cha

mẹ, vợ con liệt sĩ, người được hưởng chính sách xã hội” [25] Đến Văn kiện Đạihội X, đã khẳng định rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chăm sóc, pháthuy vai trò NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Đến Đại hội

XI, quan điểm đó tiếp tục được khẳng định Ngày 13/4/2007, Chính phủ banhành Nghị định số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ

xã hội, trong đó có người cao tuổi Ngày 03/02/2010, Ban Bí thư TW Đảng banhành Thông báo số 305-TB/TW về kết quả thực hiện Chỉ thị số 59-CT/TWngày 27/9/1995 của Ban Bí thư (khóa VII) về chăm sóc NCT Năm 2009,Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật NCT, bao gồm 6 chương, 31 điều, trong

đó có chương 3 về phát huy vai trò NCT Luật NCT đã thể chế hóa một cách

hệ thống, thể hiện đầy đủ và toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước ta về NCT và hoạt động của Hội NCT trong thời kỳ mới; khuyến khích

sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân nhằm xã hội hóa công tác chăm

Trang 35

sóc và phát huy vai trò NCT; là nguồn cổ vũ động viên lớn đối với NCT vàcác tầng lớp nhân dân Đây còn thể hiện sự quan tâm lớn của Nhà nước đốivới NCT trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn và đây cũng là bước

đi rất thích hợp để Nhà nước có những chính sách và giải pháp chuẩn bị đối

phó với một xã hội mà tỷ lệ người già ngày càng tăng Ngày 14/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2011/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT Ngày 18/02/2011, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 21/2011/TT-BTC về việc quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho NCT tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ

và biểu dương khen thưởng NCT Ngày 19/5/2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành thông Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH về việc quy định hồ sơ thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng; hỗ trợ kinh phí mai táng và tiếp nhận NCT vào cơ sở bảo trợ xã hội Ngày 01/7/2011, Bộ Giao thông - Vận tải ban hành Văn bản số 3873/BGTVT-PC về việc triển khai thực hiện quy định về giảm giá vé, giá dịch vụ cho NCT khi tham gia giao thông bằng tàu thủy trở khách, tàu hỏa trở khách, máy bay trở khách Ngày 15/10/2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 35/2011/TT-BYT về việc hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khoẻ NCT.

Ngoài ra còn các văn bản chính sách trên các lĩnh vực, các điều lệ củacác tổ chức hội, đoàn thể cũng quan tâm đến chăm sóc và phát huy vai trò củaNCT một cách thích hợp

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NHỮNG NĂM QUA

2.1 THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM

2.1.1 Về số lượng người cao tuổi

Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, tính đến ngày 01/4/2009,

cả nước có khoảng 7.452.747 NCT, chiếm 8,68% dân số Nếu so với năm

1999 (6.136.399 NCT), mỗi năm NCT tăng lên 131.634 người, tức tăng2,1%/năm Như vậy, đến nay, cả nước có khoảng 7.772.491 NCT, chiếm9,05% dân số Tuổi thọ trung bình của Việt Nam hiện nay khoảng 72,8 tuổi,trong đó nam đạt 70,2 tuổi, nữ đạt 75,6 tuổi Nếu tính tuổi từ 85 trởlên, thì cứ có 100 người là nam thì có 238 người là nữ

Theo nhóm tuổi như sau:

Bảng 2.1: Số lượng NCT năm 1999 và 2009 phân theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Chung (total)

Nam (male)

Nữ (female)

Chung (total)

Nam (male)

Nữ (female) Tổng dân số 76323173 37469117 38854056 85846997 42413143 43433854

[Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009].

Phân tích số liệu trên ta thấy tỷ lệ tăng dân số bình quân/năm giữa 2cuộc Tổng điều tra dân số 1999 và 2009 là 1,2%/năm; trong khi đó ở nhómNCT, tỷ lệ này là 2,1%/năm; càng ở nhóm tuổi cao hơn thì tỷ lệ nữ càng caohơn nam Cũng theo kết quả điều tra dân số trên, Việt Nam đang trong thời kỳ

Trang 37

“cơ cấu dân số vàng”, thời kỳ các nhóm trong độ tuổi lao động cao gấp đôinhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc So với năm 1999, tỷ trọng dân số dưới

15 tuổi giảm từ 33% xuống còn 25% năm Trong khi đó, tỷ trọng dân số nhóm

15 – 59 tăng từ 58% lên 66% vào năm 2009 Nhóm dân số từ 60 trở lên tăng

từ 8% lên 9% [Nguồn: Tác giả phân tích dựa trên Kết quả Tổng điều tra dân

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ NCT trong dân số ở Việt Nam qua các năm

Trang 38

Điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ lệ NCT so với nhóm người trong

độ tuổi lao động (từ 15 - 59 tuổi) cũng tăng lên rõ nét: Năm 1999, cứ có 8người trong độ tuổi lao động thì có 1 NCT; năm 2009, cứ có 6 người trong độtuổi lao động thì có 1 NCT; dự báo đến năm 2029, cứ có 4 người trong độ tuổilao động, thì có 1 NCT

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ NCT/nguồn lao động

Theo kết quả và dự báo, trong giai đoạn 1999-2029, bình quân mỗi nămNCT tăng 3,26%, trong khi đó người trong độ tuổi lao động (từ 15-59) chỉtăng 1,23% và trẻ em (từ 0-14 tuổi) lại giảm 1,19%

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ dân số già tăng nhanh, tỷ lệ dân số trẻ giảm

(Dự báo giai đoạn 1999-2029)

2.1.2 Về chất lượng nguồn lực người cao tuổi

Trang 39

Tuổi cao, tuy khả năng thích nghi có giảm sút so với thời kỳ trẻ trung,nhưng kinh nghiệm, trí tuệ bao giờ cũng là ưu thế của NCT Rõ ràng tuổi tínhtheo năm tháng dù rất quan trọng, nhưng chưa đủ để đánh giá khả năng, hiệusuất làm việc, sự cống hiến của mỗi một con người Quan sát thực tế chúng tathấy có rất nhiều NCT vẫn khỏe mạnh minh mẫn và hoạt động sôi nổi, đónggóp cho xã hội, cho đất nước không nhỏ Thật vậy, số người từ 60 - 70 tuổichiếm tỷ lệ khá lớn (gần 50% tổng số NCT), nhiều người đã được rèn luyệntrong đấu tranh cách mạng, rèn luyện trên các chiến trường, nhất là nhữngngười về hưu đã được bồi dưỡng về văn hóa, nghề nghiệp, trình độ đại học,trên đại học, chịu khó rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực và năng lực hoạtđộng còn khá Đặc biệt, rất nhiều người về hưu, trước đây là cán bộ cao cấptrong lực lượng vũ trang, trong cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cácđoàn thể, các xí nghiệp quốc doanh, trở về đời thường vẫn nêu cao được đạođức cách mạng, phục vụ nhân dân và tham gia các cơ quan của Đảng, đoànthể, chính quyền cơ sở khu phố, phường, làng xã, nêu gương sáng cho xã hội.Khá đông NCT về hưu vẫn giữ mối liên hệ gắn bó với cơ quan cũ, họ luôn có

ý thức xây dựng, đóng góp ý kiến cho cơ quan và cán bộ đương chức; không

ít người ký hợp đồng tiếp tục làm việc, hoặc mở cơ sở sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, dạy học, khám chữa bệnh, phát triển kinh tế… Nhiều nhà khoa học,văn nghệ sĩ cao tuổi đã có những tác phẩm, công trình nghiên cứu giúp íchcho đời, được xã hội đánh giá cao Nhiều người là trụ cột trong gia đình, chủ

hộ kinh tế, giúp đỡ con cháu, chăm lo gia đình…

- Về học vấn của NCT: Do hoàn cảnh lịch sử, nên có tới trên 70%

NCT không được đi học trong hệ thống giáo dục chính quy Tuy nhiên, donhiều người đã tự học nên có gần 60% NCT biết đọc, biết viết Trong số NCT,

có 0,034% là giáo sư (chiếm 40% tổng số giáo sư trong cả nước); có 0,044%

là tiến sĩ; 0,019% số người có trình độ thạc sĩ; 0,106% số người có trình độđại học; 1,2% có trình độ trung cấp; 0,89% số người nguyên là công nhân kỹ

Trang 40

thuật Bên cạnh đó, dù tuổi cao, nhiều người vẫn luôn có ý thức vươn lên tựhọc tập, học tập suốt đời, tự bồi dưỡng tìm tòi, tiếp tục phát huy tiềm năng trítuệ, kinh nghiệm cho sự nghiệp phát triển của đất nước [70].

- Về mức sống của NCT: Việt Nam đang trải qua thời kỳ tăng trưởng

kinh tế liên tục và tương đối cao, mức sống của đa số người dân tăng lên, Nhànước có điều kiện chi tiêu nhiều hơn cho phúc lợi xã hội, NCT cũng được hưởnglợi một phần từ những thành quả nói trên của xã hội và gia đình Theo số liệucủa Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam, hiện có khoảng 1.400.000 NCT hưởnglương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; 680.000 người hưởng chế độ chính sách đốivới người có công; 1.319.368 NCT hưởng trợ cấp xã hội [35], [70]

Hiện nay, trên 75% số NCT đang sống cùng với con cháu, nên họ có

cuộc sống cả về vật chất và tinh thần tương đối tốt; có 8,3% số NCT sống độcthân tại cộng đồng; có 13,06% số NCT đang sống 2 vợ chồng đều là NCT[69]; có 3% số NCT còn lại, đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, các trungtâm dưỡng lão, nhà thờ, nhà chùa…

Biểu đồ 2.4: Mức sống của người cao tuổi

Ngày đăng: 16/07/2022, 02:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Quốc Anh (2006), Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng, Đề tài khoa học cấp Bộ 2005 - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc trưng của ngườicao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổiđang áp dụng
Tác giả: TS. Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2006
4. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quảtoàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 2010
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), NCT Việt Nam - thực trạng và giải pháp, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NCT Việt Nam - thựctrạng và giải pháp
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 1999
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2006), Niên giám thống kê lao động thương binh và xã hội 2005, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê laođộng thương binh và xã hội 2005
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2006
11. Bộ Y tế (1992), Hội thảo lão khoa xã hội, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo lão khoa xã hội
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1992
15. B.Campbell (2011) , Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam - thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị, chính sách , Báo cáo của Quỹ dân số tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam - thựctrạng, dự báo và một số khuyến nghị, chính sách
20. PGS.TS Bùi Thế Cường (1996), Nghiên cứu xã hội về NCT ở Việt Nam:thử nhìn lại một chặng đường, Báo cáo khoa học - Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội về NCT ở Việt Nam:"thử nhìn lại một chặng đường
Tác giả: PGS.TS Bùi Thế Cường
Năm: 1996
21. PGS.TS Bùi Thế Cường (2003), Phúc lợi xã hội ở Việt Nam - Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh, Báo cáo đề tài cấp bộ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc lợi xã hội ở Việt Nam - Hiệntrạng, vấn đề và điều chỉnh
Tác giả: PGS.TS Bùi Thế Cường
Năm: 2003
22. PGS.TS Bùi Thế Cường (2005), Trong miền an sinh xã hội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong miền an sinh xã hội
Tác giả: PGS.TS Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 2005
23. GS.TS Nguyễn Đình Cử (2011), “Chăm sóc và phát huy nguồn lực người cao tuổi ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (56) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và phát huy nguồn lực ngườicao tuổi ở nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: GS.TS Nguyễn Đình Cử
Năm: 2011
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
28. ThS. Phạm Vũ Hoàng (2011), “Đời sống vật chất người cao tuổi Việt Nam - thực trạng và khuyến nghị”, Báo điện tử Gia đình.NET.VN, Thứ tư, 16/11/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống vật chất người cao tuổi ViệtNam - thực trạng và khuyến nghị”, "Báo điện tử Gia đình.NET.VN
Tác giả: ThS. Phạm Vũ Hoàng
Năm: 2011
29. Học viện Chính trị khu vực I (2007), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Học viện Chính trị khu vực I
Nhà XB: NxbThống kê
Năm: 2007
30. Hội Người cao tuổi Việt Nam (1996), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Người cao tuổi Việt Nam
Tác giả: Hội Người cao tuổi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1996
31. Hội Người cao tuổi Việt Nam (1997), Tuổi già: Mối liên quan giữa các thế hệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi già: Mối liên quan giữa cácthế hệ
Tác giả: Hội Người cao tuổi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
36. Trần Thanh Khoát (2005), “Người cao tuổi với xóa đói giảm nghèo”, Tạp chí Dân số & Phát triển, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi với xóa đói giảm nghèo”,"Tạp chí Dân số & Phát triển
Tác giả: Trần Thanh Khoát
Năm: 2005
37. Hương Linh (2011), “Hàn Quốc đối mặt với xã hội siêu già”, Báo Sức khỏe và đời sống, 7/6/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc đối mặt với xã hội siêu già”, "Báo Sứckhỏe và đời sống
Tác giả: Hương Linh
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng NCT năm 1999 và 2009 phõn theo nhúm tuổi - khai thác, phát huy nguồn lực người cao tuổi việt nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 2.1 Số lượng NCT năm 1999 và 2009 phõn theo nhúm tuổi (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w