Bảo trợ xã hội là một hoạt động mang tính chất từ thiện, tương thântương ái, giúp đỡ nhau của con người, đó là các hình thức, biện pháp giúp đỡcủa nhà nước, xã hội về thu nhập và các điề
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống, các cá nhân, gia đình và nhiều khi cả cộng đồng không may gặp phải những rủi ro do thiên tai hay những biến động do đời sốngkinh tế, xã hội gây ra hoặc những lý do bất khả kháng khác, mà bản thân họcũng như những người thân của họ không thể tự khắc phục được; cũng có một
số người bị thiệt thòi, yếu thế bởi nhiều lý do khác nhau như người già cô đơnkhông nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, người tàn tật, trẻ bịnhiễm HIV/AISD Những đối tượng này cần sự trợ giúp của Nhà nước, của xãhội, cộng đồng để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, có điều kiện đểtồn tại và có cơ hội tái hoà nhập cộng đồng Xét đến cùng, con người là độnglực của sự phát triển xã hội, là mục tiêu của việc xây dựng xã hội vì vậy trênthế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng đều có các chính sách với nhiềubiện pháp khác nhau nhằm che chở, bảo vệ các thành viên yếu thế trong xã hộicủa mình, các công cụ bảo vệ đấy chính là các chính sách bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội là một hoạt động mang tính chất từ thiện, tương thântương ái, giúp đỡ nhau của con người, đó là các hình thức, biện pháp giúp đỡcủa nhà nước, xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọithành viên của xã hội trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro không đủ khảnăng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Vì vậy, công tác bảotrợ xã hội luôn là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Trong quá trình chuyển đổi kết cấu nền kinh tế, các đối tượng thuộcnhóm trợ giúp xã hội (bảo trợ xã hội) tồn tại một cách tất yếu và đòi hỏi có sựquan tâm của nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội, không chỉ ở các nước ĐôngNam Á mà còn là nhu cầu của hầu hết các nước đang phát triển Tuy vậy, dohạn chế về khả năng kinh tế nên các nước có nền kinh tế chuyển đổi thì trongthời kỳ đầu thường quan tâm đến các chương trình phát triển kinh tế gắn vớiviệc giải quyết việc làm để mọi người có thể kiếm được thu nhập từ việc làm
Trang 2mà ít quan tâm đến nhóm đối tượng yếu thế như người tàn tật, người không cònkhả năng lao động, không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa làm cho
họ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn trong việc tồn tại và hoà nhập cộng đồng
Trong những năm qua cùng với quá trình đổi mới đất nước, xây dựngkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chúng ta đã thu đượcnhững thành quả lớn về kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, nước ta là nướcnghèo, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiên tai (bão lụt, hạn hán )thường xuyên xảy ra gây, thiệt hại không nhỏ về người và tài sản, ảnh hưởngtrực tiếp đến đời sống nhân dân và điều kiện phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội.Mặt trái của kinh tế thị trường: phân hoá giàu nghèo, chạy theo lối sống thựcdụng suy giảm đạo đức, lối sống, thất nghiệp đang là những nguyên nhân làmtăng đối tượng xã hội: Người già cô đơn, người lang thang, người tàn tật, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tệ nạn xã hội Đây là nhóm đối tượng cần
có sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội
Là nước có bề dày hàng ngàn năm lịch sử, với truyền thống tương thân
tương ái “lá lành đùm lá rách” giúp đỡ lẫn nhau chính vì vậy, để phát huy
truyền thống quý báu đó đồng thời nhằm mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, tiếntới công bằng xã hội, trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước,Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn tới công tác bảo trợ xã hộinhằm đảm bảo ổn định đời sống của các đối tượng dễ bị tổn thương Vì vậy, cóthể thấy Bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó có ýnghĩa kinh tế, chính trị xã hội và nhân văn sâu sắc, đồng thời là nền tảng thựchiện mục tiêu công bằng xã hội Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật về chính sách bảo trợ xã hội (Luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến công tác bảo trợ xã hội), các chính sách theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn
nhằm điều chỉnh, mở rộng đối tượng cứu trợ xã hội đột xuất, thường xuyên và
hỗ trợ về giáo dục, y tế đối với nhóm người yếu thế
Trang 3Tuy nhiên, với những tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế, nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và diễn biến phức tạp Sự bấtbình đẳng trong thu nhập, tình trạng phân hoá giàu nghèo, nông dân mất đấtsản xuất, mất việc làm, nguy cơ về bệnh tật, đau ốm đang là vấn đề bức xúc,
là mầm mống cho những bất ổn định xã hội
Thành phố Đà Nẵng, địa phương được xem là hạt nhân của vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên, với đặc trưng và lợi thế, tốc độ pháttriển kinh tế-xã hội luôn ổn định và giữ ở mức cao trên 11%, hệ thống chínhsách an sinh xã hội, nhất là trợ cấp xã hội và xoá đói giảm nghèo khôngngừng phát triển, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng để lại không ít những hệ luỵ nhưphân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục,các tệ nạn xã hội tăng nhanh làm cho đối tượng yếu thế trên địa bàn thànhphố cũng tăng theo, nhất là người già cô đơn, các đối tượng mắc các tệ nạn xãhội, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa
Chính vì vậy trong công tác bảo trợ xã hội, thành phố Đà Nẵng khôngchỉ là địa phương chịu sự điều chỉnh của những chính sách chung của Đảng vàNhà nước mà còn là chủ thể thực hiện các chính sách, quy định riêng có củathành phố Những năm qua, Đà Nẵng cũng đã ban hành những chính sách, quyđịnh riêng nhằm mục tiêu quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa nhất có thểcho các đối tượng đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị - xã hội đặcthù của địa phương như quy định mức trợ cấp xã hội thường xuyên, chế độ cứutrợ xã hội Song, do mục tiêu phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường nhiềukhi cuốn theo sự phát triển kinh tế bằng mọi giá nên việc thực hiện công tácbảo trợ xã hội, thực thi các chính sách bảo trợ xã hội của trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng vẫn còn có những hạn chế, có nơi, có lúc những đối tượng yếu thếtrên địa bàn thành phố vẫn chưa được quan tâm chăm sóc một cách đúng mức,chưa tạo điều kiện để họ có thể tự tin vươn lên và hoà nhập cộng đồng
Trang 4Để công tác bảo trợ xã hội của thành phố tiếp tục đi vào cuộc sống mộtcách thiết thực, thực sự trở thành công cụ hữu ích nhằm giúp đỡ, bù đắp nhữngthiệt thòi đối với các đối tượng “yếu thế” góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tiếntới sự công bằng về mọi mặt trong đời sống xã hội của địa phương, thành phố
Đà Nẵng còn rất nhiều việc phải làm, cả ngắn hạn và dài hạn Xuất phát từ
thực tế và với ý nghĩa như vậy, tôi lựa chọn đề tài "Chính sách bảo trợ xã hội
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn thạc
sỹ Kinh tế chuyên ngành kinh doanh và Quản lý kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Bảo trợ xã hội là một biện pháp cơ bản tác động đến các đối tượng yếuthế trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu an sinh xã hội Chính vì vậy đã cónhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về An sinh xã hội trong đó có
đề cập đến công tác bảo trợ xã ở góc độ lý luận, chính sách, thực tiễn cũng cónhững công trình, bài viết viết riêng về bảo trợ xã hội nhưng ở các góc độ, khíacạnh khác nhau Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
- Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung,
Bach, Robert Leroy (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, Nxb Thế Giới Hà Nội, 2005 Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các
nhu cầu và những vấn đề có liên quan của ba nhóm xã hội thiệt thòi ở Việt Nam
đó là các hộ gia đình nghèo ở nông thôn, lao động di cư từ nông thôn ra thànhthị và những người khuyết tật kể cả người có HIV/AIDS như: Vấn đề nghèođói ở nông thôn và nhu cầu bảo trợ xã hội của các hộ nông dân nghèo, nhu cầubảo trợ xã hội của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị; những vấn đề màngười khuyết tật, người có HIV/AISD đang phải đối mặt từ đó định hướng bảotrợ xã hội cho các nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương ở Việt Nam
- Nguyễn Thị Kim Phụng, Giáo trình “Luật an sinh xã hội”, Nxb Tư
pháp, Hà Nội (2005) Cuốn sách viết về hệ thống các chính sách an sinh xã hộibao gồm các nội dung như: lý luận chung về pháp luật an sinh xã hội, quan hệ
Trang 5pháp luật an sinh xã hội và pháp luật về an sinh xã hội trong đó có pháp luật vềbảo trợ xã hội.
- Cục bảo trợ xã hội, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Hệ thống các văn bản pháp luật về Bảo trợ xã hội, Nxb lao động xã hội, 2000: Cuốn sách hệ
thống hoá các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (năm2000) về Bảo trợ xã hội tại Việt Nam
- GS,TS Mai Ngọc Cường (chủ biên), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Đề tài nghiên cứu
cấp nhà nước đã khái quát về hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam thờigian qua, với những cấu thành chủ yếu là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp
xã hội và ưu đãi xã hội Với nhiều số liệu được cập nhật, phân tích cặn kẽ, đặc biệtcông trình đã phân tích chỉ rõ những hạn chế yếu kém của hệ thống các chính sách
an sinh xã hội cũng như đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống ở nước ta trong giai đoạn 2010-2015 Là tài liệu tham khảo hữu ích chocác nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực an sinh xã hội
- Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh
Dũng, Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (Phân tích thực tiễn ở Đồng Nai),
Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội, 2009 Cuốn sách trình bày những bất cập, xuhướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ansinh xã hội, đồng thời phân tích an sinh xã hội nhìn từ đối tượng thụ hưởng vànhững trụ cột chính trong an sinh xã hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai
- Phạm Văn Bích (chủ nhiệm đề tài), Tổng quan một số tài liệu về an sinh xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2005) Công trình đi vào nghiên
cứu, hệ thống một cách tổng quan các tài liệu về an sinh xã hội trong đó có Bảotrợ xã hội (cứu trợ xã hội)
- Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài),Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-
2015, Đề tài cấp nhà nước, Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước,
Bộ Khoa học và công nghệ, 2009 Công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề
Trang 6cơ bản về An sinh xã hội và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thịtrường; đánh giá thực trạng của hệ thống ASXH và việc thực hiện chính sáchASXH; phân tích xu hướng đổi mới hệ thống ASXH, hệ thống chính sáchASXH; đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ởViệt Nam giai đoạn 2006-2015.
- Đặng Cảnh Khanh (1994), Vấn đề cứu trợ xã hội trong chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu công tác
cứu trợ xã hội trong hệ thống chính sách đảm bảo xã hội ở Việt nam nói chung
- Nguyễn Tiệp (2002), Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hoá công tác cứu trợ xã hội, đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu thực
trạng về xã hội hoá công tác cứu trợ xã hội từ đó đề xuất các giải pháp nhằmthực hiện xã hội hoá công tác cứu trợ xã hội
- Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội (1990), Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà
Nội Công trình nghiên cứu các cơ sở có tính khoa học đòi hỏi phải đổi mới vàhoàn thiện các chính sách đảm bảo xã hội trong điều kiện phát triển kinh tếhàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta
- Phạm Trọng Nghĩa, Định hướng hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã
hội ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Đình Liêu (2002), Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế - luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/2002 Bài
viết nêu vai trò của trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
- Lê Thị Hoài Thu (2004), Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 6/2004 Bài viết đề cập đến hệ thống pháp
luật an sinh xã hội ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2004 từ đó đưa ra một số ýkiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật an sinh xã hội ở nước ta trong đó có phápluật về bảo trợ xã hội
Trang 7Có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìntổng quát về an sinh xã hội với các mô hình, chính sách trên thế giới và ở ViệtNam, các giải pháp hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội Trong đó có chínhsách về Bảo trợ xã hội (tại mỗi thời điểm phù hợp với nghiên cứu) song chưa
có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào hệ thống các chính sách bảo trợ xã hội ởthành phố Đà Nẵng, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng vềbảo trợ xã hội tại thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, để từ đó đề xuất các giảipháp phù hợp để thực thi chính sách bảo trợ xã hội một cách hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá các chính sách bảo trợ xã hội của Việt Nam nóichung và của thành phố Đà Nẵng nói riêng, qua đó đánh giá thực trạng chínhbảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất phương hướng
và hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo tốt hơn cho các đối tượng cần được bảotrợ xã hội trên địa bàn
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp phù hợp cho việc thực hiện tốthơn công tác bảo trợ xã hội tại Đà Nẵng đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm: Hệ thốngchính sách về bảo trợ xã hội của Nhà nước áp dụng tại Đà Nẵng; Các quy địnhcủa chính quyền địa phương; các biện pháp thực thi của các chủ thể có liên quan
Trang 84.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vớigiới hạn thời gian từ 2006-2010
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
- Phương pháp cụ thể: Để đạt mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hìnhhoá Trong đó chú trọng hai phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê: Để thống kê thực trạng các nhóm đối tượngyếu thế, thống kê các nguồn lực thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân chia đối tượng nghiên cứuthành từng bộ phận, lĩnh vực để có thể nhìn thấy một cách rõ ràng hơn, chi tiếthơn về thực trạng chính sách bảo trợ xã hội từ đó khái quát, tổng hợp nhữngmặt được, chưa được của chính sách bảo trợ xã hội
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác nhằm thựchiện mục tiêu đề ra
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá các chính sách, quy định liên quan đến bảo trợ xã hội ởTrung ương và Đà Nẵng
- Chỉ rõ những tồn tại và nguyên nhân của công tác bảo trợ xã hội trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt công tác bảo trợ
xã hội ở Đà Nẵng đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; kiến nghị với Trungương và địa phương về những nội dung cụ thể của chính sách bảo trợ xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănkết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1 BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm, đối tượng bảo trợ xã hội
1.1.1.1 Khái niệm
Do sự khác nhau về truyền thống, văn hoá, các thể chế chính trị, cơ cấu
tổ chức, cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều định nghĩa khác nhau về Bảotrợ xã hội Bảo trợ xã hội là một thuật ngữ đã được các sách báo, tạp chí bànđến song vẫn chưa được ghi nhận chính thức trong hệ thống các văn bản phápluật của Việt Nam Tính phổ biến của thuật ngữ “Bảo trợ xã hội” có thể thấyqua các tài liệu thảo luận chính sách trong thời gian mới đây và được nhắc đếnrộng rãi ở các nước đang phát triển Khái niệm này vẫn còn mơ hồ, chưa cómột khái niệm thống nhất và phân định rõ ràng đối với “Bảo trợ xã hội” chủyếu là do cách định nghĩa, cách giải thích và tiếp cận khác nhau
Bảo trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xãhội Theo nghĩa thông thường, bảo trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xãhội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục nhữngkhó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống Việc đảm bảo này thôngqua các hoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vậtchất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời)của đối tượng
Bảo trợ xã hội có thể được hiểu theo nghĩa rộng đó là sự bảo đảm thựchiện các quyền của con người được sống trong hoà bình, tự do làm ăn, sinhsống, được học tập, có việc làm nhà ở, được đảm bảo thu nhập để thoả mãnnhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già cũng có thể được
Trang 10hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sống thiết yếu khác chongười lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặcmất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ
mồ côi, người tàn tật, người nghèo, người bị thiên tai địch hoạ
Theo nghĩa hẹp: Có quan điểm cho rằng bảo trợ xã hội (cứu trợ xã hội)
là thuật ngữ được kết hợp từ thuật ngữ “trợ giúp xã hội” và "cứu tế xã hội"trong đó "cứu tế xã hội" là sự giúp đỡ mang tính chất tức thì, cấp thiết bằngtiền hoặc hiện vật để giúp đỡ cho những thành viên trong xã hội không thể tự
lo liệu cuộc sống do gặp rủi ro, bất hạnh thoát khỏi cảnh hiểm nghèo, có thểdẫn đến cái chết; còn trợ giúp xã hội là hoạt động chủ yếu của trợ cấp xã hội,
nó vừa mang tính chất “cấp cứu” tức thời vừa mang tính chất tương trợ lâudài bằng tiền, điều kiện sinh hoạt để cho thành viên trong xã hội gặp hoàncảnh khó khăn bất hạnh, rủi ro có thể phát huy nội lực hoà nhập vào cộngđồng và xã hội
Có quan điểm cho rằng, bảo trợ xã hội (cứu trợ xã hội) là hoạt độngmang tính chất từ thiện của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp cho các đốitượng bị rủi ro, bất hạnh vì những lý do khác nhau không thể tự bảo đảm cuộcsống giúp họ hoà nhập vào cộng đồng Với quan điểm này, Bảo trợ xã hội làkhái niệm dùng để chỉ mọi hình thức và biện pháp giúp đỡ của nhà nước và xãhội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xãhội trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng
để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Bảo trợ xã hội còn được hiểu là trợ giúp các đối tượng xã hội hay cứutrợ xã hội, là nhu cầu khách quan của mọi xã hội Khi mà một bộ phận thànhviên trong xã hội không đủ khả năng tự bảo đảm cuộc sống; Nhà nước, cộngđồng và gia đình có trách nhiệm bảo đảm an toàn cuộc sống cho họ, tạo cơhội cho họ phát triển và hoà nhập cộng đồng
Trang 11Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì Bảo trợ xã hội là sự cung cấpphúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua các cơ chế nhà nước hoặctập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp.ILO nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đốitượng ở khu vực kinh tế không chính thức.
Theo Cơ quan Quốc tế Phát triển (ODI) thì Bảo trợ xã hội đề cập nhữnghành động công ích nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương, nguy cơ gây sốc
và sự bần cùng hoá, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội.Với quan điểm này, bảo trợ xã hội được hướng đến những người nghèo nhất,
dễ bị tổn thương nhất hoặc khó khăn nhất, đấy là những người thuộc tầng lớp
có hoàn cảnh không ai mong muốn trong xã hội
Theo Ngân hàng thế giới: “Bảo trợ xã hội là tập hợp các can thiệp củaNhà nước nhằm mục đích hỗ trợ những thành viên nghèo hơn và dễ tổnthương hơn trong xã hội, cũng như giúp đỡ những cá nhân, gia đình và cộngđồng quản lý rủi ro” [17, tr.550]
Theo báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tàitrợ cho Việt Nam tại Hà Nội năm 2008, Ngân hàng thế giới đã đưa ra địnhnghĩa bảo trợ xã hội là (i) sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và
dễ bị tổ thương, (ii) bảo hiểm xã hội và (iii) các hoạt động khác nhằm làmgiảm tính dễ bị tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp, tuổigià và khuyết tật Đây có thể được xem là định nghĩa bao quát, được cácchuyên gia nghiên cứu và các cán bộ công tác trong lĩnh vực bảo trợ xã hộikhông phản đối
Theo từ điển bách khoa Việt Nam [27, tr.641] thì Bảo trợ xã hội (trợgiúp xã hội) “là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính cấp thiết, “cấpcứu” ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không cókhả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình”, “là sựgiúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để
Trang 12đối tượng được giúp đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống củamình và gia đình, sớm hoà nhập cộng đồng”.
Giới hạn nghiên cứu của Luận văn tiếp cận Bảo trợ xã hội ở góc độhẹp, đó là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân vàcộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức
và biện pháp khác nhau đối với đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh,yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo đượccuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Tóm lại, có thể định nghĩa bảo trợ xã hội như sau: “Bảo trợ xã hội là
sự giúp đỡ dưới các hình thức khác nhau của nhà nước và cộng đồng cho các thành viên yếu thế trong xã hội (bị rủi ro, bất hạnh, khó khăn không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình), giúp họ bảo đảm và ổn định cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng”.
Bảo trợ xã hội được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống cáclưới đỡ an sinh xã hội Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mangtính nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt
1.1.1.2 Đối tượng
Đối tượng bảo trợ xã hội là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự
cố xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau làm họ không đủkhả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình Tuỳ thuộcvào điều kiện phát triển kinh tế và quy định của mỗi nước mà đối tượng bảo trợ
xã hội được xem xét và mở rộng Với những nước phát triển, vấn đề xã hộithường được quan tâm nhiều hơn thì đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội ngàycàng được mở rộng, ngược lại những nước kém phát triển thường tập trung vàophát triển kinh tế là chính, vấn đề xã hội ít được quan tâm hơn do vậy đối tượngthuộc diện bảo trợ xã hội thu hẹp song có thể nói đối tượng bảo trợ xã hội lànhững đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trong xã hội như trẻ mồ côi,người già không nơi nương tựa, người tàn tật, người tâm thần những người gặp
Trang 13hoàn cảnh khó khăn do hậu quả của thiên tại hoặc nguyên nhân bất khả khángkhác Có 02 nhóm đối tượng yếu thế chủ yếu sau:
Nhóm đối tượng truyền thống như:
- Người cao tuổi nghèo đói, người tàn tật, trẻ mồ côi, goá phụ;
- Nạn nhân chiến tranh, cựu chiến binh, bộ đội xuất ngũ và người vôgia cư;
- Người nghèo, không được giáo dục, không có tài sản, khủng hoảng vềkinh tế;
- Người dân thuộc tầng lớp thấp;
- Phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình;
- Người nghèo ở nông thôn;
- Người tâm thần;
- Những hộ gia đình bố mẹ độc thân
Nhóm đối tượng yếu thế mới xuất hiện như:
- Người di cư trong nước hoặc quốc tế;
- Người tị nạn trong nước và quốc tế;
- Người lao động nghèo do chuyển đổi kinh tế;
- Thất nghiệp;
- Dân tộc thiểu số;
- Người nghiện, nhiễm HIV/AIDS;
- Trẻ lang thang đường phố, trẻ bị lạm dụng tình dục, sức lao động
Theo pháp luật bảo trợ xã hội của Việt Nam hiện nay, đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm
(1) Trẻ có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm:
Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ emkhuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ emnhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếpxúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang
Trang 14thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em viphạm pháp luật [19, tr.1]
Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước vì vậy đầu tưcho trẻ em chính là đầu tư cho phát triển đất nước Đối với những trẻ khôngmay rơi vào hoàn cảnh khó khăn như mồ côi cha, mẹ, tàn tật, bị xâm hại,nghiện ma tuý hoặc phải lang thang kiếm sống càng cần sự quan tâm đặcbiệt của gia đình, cộng đồng, Nhà nước và xã hội để bù đắp những thiệt thòi
và tạo cho trẻ có được cơ hội phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ, nhâncách, để trở thành những công dân có ích, có cơ hội đóng góp sức mình vàocông cuộc phát triển đất nước Đấy chính là lòng nhân ái, tính nhân văn, làtruyền thống quý báu của dân tộc ta đồng thời là quan điểm chỉ đạo xuyên suốtcủa Đảng, Nhà nước ta trong quá trình phát triển đất nước, góp phần ổn định và
an toàn xã hội Để trợ giúp cho nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt một cách hiệuquả thì cần xem xét, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng để có hìnhthức giúp đỡ thích hợp, đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinhthần của trẻ, tạo điều kiện tốt nhất có thể để trẻ hoà nhập cộng đồng
(2) Người cao tuổi chỉ gồm người già cô đơn không nơi nương tựa, không
có nguồn thu nhập (từ đủ 60 tuổi trở lên theo Luật người cao tuổi) và người cótuổi thọ cao từ 85 tuổi trở lên Đây đang là vấn đề xã hội đang được nhiều quốcgia đặc biệt quan tâm, nhất là trước xu thế già hoá dân số hiện nay Người cao tuổicần được quan tâm chăm sóc đặc biệt, đó là vấn đề đạo lý, nhân văn, nhất là đốivới Việt Nam, một đất nước vốn có truyền thống tôn trọng người già
(3) Người khuyết tật "là những người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều
bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tậtkhiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn" [20, tr.1]
Người khuyết tật có khả năng và có nguyện vọng trở thành người cóích cho xã hội Đặc biệt trong giai đoạn phát triển hiện nay, người khuyết tật
có xu hướng tăng lên với nhiều lý do khác nhau như: tai nạn lao động, thiên
Trang 15tai Để người khuyết tật không trở thành gánh nặng cho xã hội cần tạo dựngmột xã hội hoà nhập hơn cùng cơ hội việc làm cho người khuyết tật thông quacác chính sách cải thiện điều kiện tiếp cận giáo dục cơ sở, đào tạo nghề liênquan đến nhu cầu thị trường lao động và việc làm phù hợp với kỹ năng,nguyện vọng và khả năng của người khuyết tật, đồng thời có những thay đổicần thiết phù hợp cho người khuyết tật Đồng thời xoá bỏ rào cản khác đối vớingười khuyết tật như tạo tiếp cận với môi trường vật thể, cung cấp thông tindưới nhiều hình thức khác nhau, đấu tranh và loại bỏ những thái độ định kiếnsai lệch về người khuyết tật
(4) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộgia đình nghèo Đại dịch HIV/AIDS không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến kinhtế- xã hội mà còn huỷ hoạt cả thế hệ con người trong đó có thế hệ tương lai đó
là trẻ em Vì vậy trên thế giới, các quốc gia đều chung tay chống đại dịchHIV/AIDS nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của đại dịch đến sự ổn định và pháttriển, đồng thời có các giải pháp, cơ chế chính sách giúp người nhiễmHIV/AIDS được khám, điều trị, chăm sóc sức khoẻ, xoá bỏ mặc cảm, hoànhập cộng đồng, nhất là được có cơ hội làm việc tự lo cho bản thân và giađình, hành động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội
(5) Nhóm những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên taihoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra Trước thực tế về nạn ô nhiễmmôi trường, khí quyển cùng với sự phá vỡ cân bằng sinh thái của con ngườitrên toàn thế giới làm cho các thảm hoạ về thiên tai ngày càng nhiều và khốcliệt như núi lửa, động đất, bão, lũ gây tổn thất lớn về kinh tế, xã hội Một sốlượng không nhỏ gia đình, cá nhân đã lâm vào hoàn cảnh khốn cùng như: mấtngười thân, thương tích, mất tài sản có khi đến độ cùng cực không thể tựcứu sống được bản thân và gia đình đòi hỏi xã hội phải ra tay cứu giúp, khắcphục hậu quả để ổn định đời sống, phát triển
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết phải tiến hành bảo trợ xã hội
1.1.2.1 Vai trò, ý nghĩa
Trang 16Bảo trợ xã hội có vai trò như tấm lưới bảo vệ, đảm bảo cho các đốitượng “yếu thế” trong xã hội được chăm sóc, bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnhkhó khăn, đặc biệt; tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiệncần thiết để khắc phục những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, có cơhội hoà nhập vào cộng đồng Bảo trợ xã hội với các chức năng của mình, kíchthích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, hướng tới những chuẩn mựccủa chân thiện mỹ nhằm hướng tới những điều cao đẹp trong cuộc sống, hoàđồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, giới tính vàomột xã hội nhân ái, công bằng, và an toàn cho mọi thành viên
Bảo trợ xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tươngthân tương ái giữa người và người trong xã hội; đây là một trong những nhân
tố để ổn định và phát triển xã hội, đồng thời nhằm hoàn thiện những giá trịnhân bản của con người, giúp cho xã hội phát triển lành mạnh
Bảo trợ xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiệncông bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và biệnpháp khác nhau Trên bình diện xã hội, bảo trợ xã hội là một công cụ để cảithiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là những ngườinghèo khó, những nhóm dân cư yếu thế trong xã hội
Dưới giác độ kinh tế, bảo trợ xã hội là công cụ phân phối lại thu nhậpgiữa các thành viên trong cộng đồng Nếu xây dựng được hệ thống bảo trợ xãhội tốt thì sẽ giải quyết tốt các vấn đề xã hội Đây là nền tảng để xây dựngmột xã hội bác ái, công bằng, vì bảo trợ xã hội không chỉ giải quyết các vấn
đề xã hội mà nó còn góp phần thiết yếu trong việc phát triển xã hội, thể hiện
sự chuyển giao xã hội làm cho xã hội tốt đẹp hơn, văn minh hơn Bởi vậy,trong xã hội hiện đại, bảo trợ xã hội ngày càng được củng cố và hoàn thiện đểtrở thành một hệ thống thiết yếu trong bộ máy Nhà nước Nó có chức năngtổng hợp và tập trung các nguồn lực vào việc phát triển xã hội, đem lại hạnhphúc cho nhân dân
Trang 17Bảo trợ xã hội còn đóng vai trò tích cực đối với sự ổn định tình hìnhchính trị của đất nước Điều này cũng dễ nhận ra, bởi tình hình kinh tế xã hộicủa đất nước có ổn định, có vững mạnh thì tình hình chính trị mới ổn định vàvững mạnh Mặt khác khi cuộc sống của người lao động thường xuyên bị đedoạ bởi những thiếu thốn do ốm đau, bệnh tật, do thất nghiệp, do già yếu Thì cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị Trên thế giới thường xảy
ra những cuộc biểu tình, gây xáo động về nội các của một số Chính phủ ítnhiều đều xuất phát từ nguyên nhân không đáp ứng về trợ cấp cho công nhânkhi ốm đau, khi thất nghiệp, hưu trí
Bảo trợ xã hội góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Xét cho cùng trongchiến lược phát triển của mỗi quốc gia đều có chung một mục đích cuối cùng
là đảm bảo và có những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người vàđem lại lợi ích cho mọi người Trong sự phát triển đó, bảo trợ xã hội có nhữngđóng góp quan trọng Bằng những biện pháp của mình, bảo trợ xã hội tạo ra
“lưới chắn” an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp nhằm bảo vệ cho mọi thànhviên trong cộng đồng khi bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phíđột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau - gọi là những “rủi ro xã hội”
Bảo trợ xã hội được coi là lưới đỡ cuối cùng trong hệ thống mạng lưới
an sinh xã hội với hai chức năng cơ bản đó là cứu trợ và trợ giúp phát triển
Đó là một biện pháp của chính sách xã hội và là một trong những chỉ báoquan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường Bảo trợ xã hội vừa mang ý nghĩa về kinh tế, xã hội,đặc biệt còn thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc củadân tộc Việt Nam
Bảo trợ xã hội không chỉ có ý nghĩa với quốc gia mà còn có ý nghĩaquốc tế Ngoài việc thuộc phạm trù quyền con người, là biểu hiện trình độ vănminh tiến bộ của mỗi quốc gia, ngày nay trong xã hội hiện đại mỗi nước đềunhận thức được rằng bảo trợ xã hội là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm
Trang 18Việc thực hiện bảo trợ xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trịhay địa lý nào, thể hiện rõ nhất đó là các hoạt động cứu trợ xã hội đột xuất,các hiệp định hợp tác về quyền con người giữa các quốc gia vì một thế giớihoà bình ổn định và phát triển.
1.1.2.2 Sự cần thiết của bảo trợ xã hội
Sự cần thiết phải thực hiện bảo trợ xã hội ngoài vai trò của nó đối vớiđời sống con người, xã hội còn bắt nguồn từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người và thực trạng nhóm những người yếu thế ở Việt Nam Con người khi sinh ra muốn tồn tại và
phát triển thì trước hết phải đảm bảo điều kiện tối thiểu về ăn, mặc, ở Để thoảmãn được nhu cầu này thì con người phải lao động để tạo ra những sản phẩmcần thiết đó Tuy nhiên trong suốt cuộc đời từ khi sinh ra đến khi mất đikhông phải ai, lúc nào cũng lao động để tạo ra sản phẩm, thu nhập, có nhiềunguyên nhân rình rập khiến con người mất khả năng lao động như bệnh tật,
ốm đau, tai nạn, già yếu, điều kiện tự nhiên mà nhiều khi không thể tránhkhỏi; cũng có nhiều người từ khi sinh ra đã chịu thiệt thòi do khuyết tật hoặcrơi vào hoàn cảnh đặc biệt như mồ côi, nhiễm căn bệnh hiểm nghèo Hệthống an sinh xã hội với hàng loạt các chính sách trong đó có bảo trợ xã hội cóchức năng hạn chế tính tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi ro thông quacác chính sách nhằm giúp các thành viên trong xã hội ổn định cuộc sống, táihoà nhập cộng đồng hoặc đảm bảo cho họ có mức sống tối thiểu, không rơi vàocảnh bần cùng hoá hoặc loại trừ xã hội
Ngoài ra, việc thực hiện bảo trợ xã hội ở nước ta còn xuất phát từ đốitượng yếu thế ở Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng với nhiều nguyên nhânkhác nhau như do thiên tai địch hoạ, do mặt trái của nền kinh tế thị trườngđem lại, do hệ quả tất yếu của kinh tế phát triển nhóm người này không thể
tự đảm bảo được cuộc sống của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách cơchế bảo trợ để họ vượt qua những khó khăn, tồn tại, phát triển và hoà nhậpcộng đồng, cụ thể:
Trang 19- Trẻ có hoàn cảnh đặc biệt Những năm qua, cùng với việc ban hànhnhiều chính sách và chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp về phòng ngừa
và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nên số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đãgiảm từ 1,7 triệu em xuống còn 1,4 triệu em trong giai đoạn 2005-2008 và có
xu hướng ổn định, không tăng đến năm 2009
Bảng 1.1: Số liệu trẻ có hoàn cảnh khó khăn giai đoạn 2005-2009
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Về tổng thể nhóm đối tượng này có xu hướng ổn định song sự biến động
số lượng trẻ có hoàn cảnh khó khăn ở mỗi nhóm trẻ rất khác nhau: Trẻ khuyếttật, tàn tật, trẻ lang thang, trẻ phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại
có xu hướng giảm song trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bịxâm hại tình dục, trẻ bị bỏ rơi và trẻ nghiện ma tuý có xu hướng tăng
Phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tập trung ở các vùng điều kiện kinh
tế còn khó khăn, thiên tai bão lũ hay xảy ra và tỷ lệ hộ nghèo cao: Trung du vùngnúi phía Bắc 21,95%, Bắc Trung bộ 20,59%, Đồng bằng sông Cửu Long 20,74%,vùng Đông Nam Bộ chiếm tỷ trọng thấp 5,9% Điều kiện sống của trẻ em có hoàncảnh đặc biệt có rất nhiều khó khăn, hầu hết các em sống trong gia đình nghèo,phải bỏ học sớm để lao động kiếm sống và trình độ học vấn rất thấp, việc chămsóc sức khoẻ, khám chữa bệnh không được thường xuyên, kịp thời
Vấn đề về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là vấn đề xã hội bức xúc của
Trang 20nhiều nước trên thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh đặc biệtcủa trẻ, có thể xuất phát từ nguyên nhân nội tại của sự vận động và phát triểncủa kinh tế thị trường; có những nguyên nhân thuộc về người lớn, gia đìnhhoặc chính bản thân trẻ em, có nguyên nhân thuộc về nhận thức và cũng cónhững nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách Trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt rất cần sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước, của toàn xã hội để các em cóthể tồn tại, phát triển và hoà nhập cộng đồng.
- Người cao tuổi: Theo quy định hiện hành ở nước ta thì người cao tuổi
là người đủ từ 60 tuổi trở lên Xu hướng trên thế giới và ở nước ta đang diễn
ra quá trình già hoá dân số, theo điều tra dân số năm 1989, cả nước có 7,15%dân số là người cao tuổi, năm 1999 là 8,12% và đến năm 2005 tỷ lệ này là8,82%; dự báo đến năm 2020 sẽ có khoảng 10,5 triệu đến 11 triệu người caotuổi chiếm 10% dân số cả nước Trong số người cao tuổi, một số lượng khôngnhỏ người cao tuổi không có thu nhập, không có khả năng lao động phải sốngdựa vào con, cháu, người thân trong đó có gần 130 ngàn người cao tuổi côđơn không nơi nương tựa và trên 470 ngàn người cao tuổi (85 tuổi trở lên)không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội Từ thực trạng người cao tuổi vàngười cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt như trên đòi hỏi nhà nước phải có nhữngchính sách thích hợp để trợ giúp người cao tuổi, xã hội phải chung tay để giúpngười cao tuổi không có thu nhập, cô đơn
Bảng 1.2: Người cao tuổi không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập
hưởng trợ cấp thường xuyên giai đoạn 2005-2009
Trang 21Đông Nam Bộ 21.339 24.002 95.687 95.452 95.136 Đồng bằng sông Cửu Long 12.466 21.071 122.130 121.455 121.172
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Người khuyết tật: Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH hiện nay ước tính
cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số (trong
đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật); baogồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thínhgiác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng khuyết tật khác Nguyênnhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậuquả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Dự báo trong nhiều năm tới sốlượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môitrường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ViệtNam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khókhăn Có tới 80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ởnông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5%thuộc diện nghèo; 24% ở nhà tạm; 37% người khuyết tật trưởng thành mùchữ Thực tế này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục,học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trongcuộc sống và hoà nhập với cộng đồng Việc làm bền vững và hiệu quả giúpngười khuyết tật nhận ra nguyện vọng của họ, cải thiện điều kiện sống củamình và tham gia tích cực hơn nữa vào xã hội, tuy nhiên trong môi trườngcông việc rất ít người khuyết tật có công việc ổn định và thu nhập thườngxuyên Rất nhiều người khuyết tật không có công việc làm chính thức, tỷ lệngười khuyết tật thất nghiệp cao (khoảng 30%) Từ thực trạng đó đòi hỏiNhà nước cần phải đứng ra, có các cơ chế, chính sách lồng ghép nội dungngười khuyết tật vào mọi lĩnh vực của chính sách và pháp luật về lao động,xúc tiến thực thi hiệu quả các chính sách hiện hành liên quan đến người
Trang 22khuyết tật, đồng thời mang lại cơ hội đào tạo, việc làm bình đẳng chongười khuyết tật là yếu tố góp phần giảm nghèo, đóng góp cho sự hoà nhậpKT-XH của người khuyết tật Việt Nam.
- Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộgia đình nghèo Đến năm 2008, cả nước đã phát hiện 179.735 người nhiễmHIV ở 93% số xã, phường thuộc 97,52% số quận, huyện, thị xã thành phốtrên 63 tỉnh thành trong đó số phát hiện mới mỗi năm không giảm mànguyên nhân chủ yếu là lây nhiễm qua tiêm chích (các tỉnh phía bắc) dùngchung kim tiêm và lây qua đường tình dục (các tỉnh phía nam) và lây từ mẹsang con
Bảng 1.3: Tình hình nhiễm HIV/AIDS từ năm 2001-2008
Nguồn: Chương trình phòng chống AIDS - Bộ Y tế.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS là nhiệm vụ quan trọng và hếtsức cần thiết ở mỗi quốc gia trên thế giới để tăng cường hiệu quả công tácđấu tranh kiềm chế, đẩy lùi HIV/AIDS góp phần ổn định, trật tự, an toàn
xã hội, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để làm được điều
đó thì nhà nước phải có chính sách bảo trợ có tác động tích cực đến cuộcsống của những người bị nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS nóichung, người nhiễm HIV không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đìnhnghèo như bảo vệ quyền được tiếp cận các dịch vụ điều trị, quyền không
bị phân biệt đối xử do vấn đề HIV/AIDS, quyền được bảo vệ bản thân
Trang 23Tạo cơ hội để họ có việc làm, phù hợp với điều kiện bản thân, giúp họ cóđược cuộc sống.
Thứ hai, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường đặc biệt là khi hội nhập quốc tế tác động đến các đối tượng yếu thế đòi hỏi nhà nước phải can thiệp, trợ giúp
Cùng với sự phát triển của xã hội, những quan điểm về an sinh xã hội,cứu trợ xã hội cũng có sự thay đổi Từ trước thế kỷ XV, vấn đề an sinh xã hộinói chung, bảo trợ xã hội nói riêng còn rất phôi thai, chỉ mang tính truyềnthống tình làng nghĩa xóm, việc đảm bảo xã hội cho các tầng lớp dân cư từ phíaNhà nước là rất hạn hữu Nhưng sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay, vấn
đề này đã được các quốc gia quan tâm và phát triển
Kinh tế thị trường, ngoài những ưu việt vốn có của nó như thúc đẩykinh tế tăng trưởng, tạo điều kiện cho người tiêu dùng tiếp cận với nhữnghàng hoá và dịch vụ một cách tốt nhất thì cũng để lại những hệ quả, hạnchế, khuyết tật vốn có mà người ta chỉ có thể tìm kiếm những biện pháp đểgiảm thiểu chứ không thể xoá bỏ được như là tình trạng phân hoá giàunghèo, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng, lạm phát, chútrọng phát triển kinh tế, chạy theo lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức phá vỡ quan hệ gia đình truyền thống làm cho nhiều người cao tuổi khôngđược quan tâm chăm sóc, nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện làm gia tăng sốlượng đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhiều tai nạn thương tích trong laođộng, đời sống khiến nhiều người tàn tật Yếu tố chu kỳ kinh tế của nềnkinh tế thị trường làm cho người lao động không có việc làm, thất nghiệp,mất nguồn thu nhập làm cho bản thân người lao động và gia đình của họrơi vào hoàn cảnh khó khăn Tất cả đã làm gia tăng số người có nhu cầu trợgiúp xã hội mà sự trợ giúp theo truyền thống tương thân tương ái không đủlực vì vậy đòi hỏi Nhà nước muốn ổn định và phát triển phải đứng ra đầu tưcho “tấm lưới” trợ giúp xã hội
Trang 24Đặc biệt đối với nước ta, có đến 56,8% lực lượng lao động làm việctrong khu vực nông nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếuvào điều kiện thiên nhiên, ít chịu tác động của khoa học công nghệ so vớinhững khu vực khác, thu nhập không cao nếu không nói là thấp và không ổnđịnh, tỷ lệ nghèo và tái nghèo cao, thường xuyên đối mặt với rủi ro về ốm đau,thiên tai, bão lụt
Bên cạnh đó, nước ta là nước nghèo, chịu hậu quả nặng nề của chiếntranh vệ quốc, cũng như làm nghĩa vụ quốc tế đến nay vẫn chưa thể khắc phụchoàn toàn Các đối tượng yếu thế ngày càng có chiều hướng gia tăng như ngườigià, người tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Những khó khăn về kinh tế luôn tiềm ẩn những rủi ro về văn hoá, chínhtrị và nếu không giải quyết một cách hợp lý thì rất dễ gặp khó khăn trong pháttriển kinh tế và ổn định xã hội
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử: kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao
và tương đối ổn định, GDP bình quân đầu người đạt 640 USD vào năm
2005 đến năm 2009 đạt trên 1.000 USD/người/năm Đời sống của đại đa sốnhân dân được cải thiện và không ngừng nâng cao, trong đó có cả nhómngười nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội Tuy vậy, thu nhập và mức sống củanhóm đối tượng bảo trợ xã hội vẫn có nguy cơ tụt hậu so với các nhóm dân
cư khác
Ngoài ra, xuất phát từ truyền thống của dân tộc, cộng đồng người Việt
luôn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc như “thương người như thể thương thân”
“lá lành đùm lá rách” “có nhau khi tối lửa tắt đèn” đây là cơ sở cho việc
hình thành và phát triển cho chính sách bảo trợ xã hội ở Việt Nam
Thứ ba, Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thường xuyên xảy ra thiên tai bão, lũ lụt, hạn hán, đặc biệt sự biến đổi khí hậu toàn cầu khiến nước ta liên tục phải đối đầu với những thảm hoạ của thiên tai
Trang 25Năm 2006 đã xảy ra bão, áp thấp nhiệt đới, mưa đá, lũ quét, lụt, lốctại nhiều địa phương trong cả nước gây thiệt hại lớn về người và tài sản:làm hơn 500 người chết, mất tích và 2,9 ngàn người bị thương; khoảng9000m đê điều bị vỡ, cuốn trôi; 3,3 nghìn tàu thuyền bị phá huỷ, bị chìm;trên 13 vạn ha lúa, gần 10 vạn hecta hoa màu và hơn 2 vạn hecta diện tích
ao hồ nuôi trồng thuỷ sản bị ngập, hư hại; 86,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ,cuốn trôi; 74,2 ngàn ngôi nhà ở bị sạt lở, tốc mái Tổng thiệt hại ước tínhkhoảng 18,7 ngàn tỷ đồng
Năm 2007 đã xảy ra 7 cơn bão và những đợt lũ lụt, mưa to, sạt lở đất, Tại 50 tỉnh làm 435 người chết và mất tích; 850 người bị thương; phá huỷ trên1,3 nghìn công trình phà, đập, cống; làm sạt lở, vỡ, cuốn trôi khoảng 460 km
đê, kè và 1176 km kênh mương; làm ngập úng, hư hại 113,8 nghìn ha lúa; 6,9nghìn ngôi nhà và 921 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; 920,9 nghìn ngôi nhà bịngập nước, tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị ảnh hưởng vớitổng giá trị thiệt hại ước tính trên 11,6 nghìn tỷ đồng
Năm 2009, nước ta chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão và nhiều đợt lũ lụtlớn làm 481 người chết, mất tích và 1.305 người bị thương; trên 1000kmđường giao thông cơ giới bị phá huỷ; gần 100 km đê, kè bị sạt lở; hơn 25nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; gần 800 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái,ngập nước; 41,8 ngàn ha lúa và hoa màu bị mất trắng với tổng giá trị thiệt hạiước tính gần 23,2 ngàn tỷ đồng
Với tần suất liên tục và thiệt hại nặng nề hàng năm do thiên tại gây ra,
do vậy đòi hỏi Nhà nước phải đứng ra cứu trợ kịp thời để khắc phục rủi ro,giảm bớt hậu quả, ổn định đời sống kinh tế của người dân bằng các chính sáchbảo trợ, trợ giúp
1.1.3 Nội dung bảo trợ xã hội và yếu tố tác động
1.1.3.1 Nội dung bảo trợ xã hội
Trang 26Nhà nước với vai trò chủ đạo cùng với các nguồn lực khác thực hiệnbảo trợ cho đối tượng yếu thế tồn tại, ổn định và có cơ hội phát triển, hoànhập cộng đồng thông qua bảo trợ các lĩnh vực thiết yếu của đời sống đó là:đời sống, y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm và các dịch vụ công cộng khác.Nội dung của Bảo trợ xã hội có thể tóm tắt ở mô hình 1.1
Sơ đồ 1.1: Mô hình bảo trợ xã hội
Thứ nhất: Chăm sóc đời sống vật chất (trợ cấp xã hội).
Bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất từ nhiều nguồn lựckhác nhau như nguồn ngân sách nhà nước và nguồn huy động của cộng đồng, xãhội Tuỳ thuộc vào tình trạng nguy kịch nhiều hay ít, có tính tạm thời hay lâudài, hoàn cảnh của bản thân và gia đình họ trong quan hệ của cứu trợ xã hội
Do vậy tuỳ theo tính chất và mức độ mà người ta phân biệt trợ giúp thườngxuyên hay trợ giúp đột xuất
+ Trợ cấp xã hội thường xuyên là hình thức trợ cấp đối với những đối
tượng bảo trợ xã hội trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặctrong suốt cả cuộc đời của đối tượng Đối tượng của trợ cấp thường xuyên là
Sức khỏe (y tế)
Giáo dục (văn hóa)
Dạy nghề, việc làm
Dịch vụ công
Đời sống
(trợ cấp)
Nhà nước, tổ chức , cộng đồng (Thông qua chính sách, nguồn lực tài chính )
Đối tượng yếu thế (tiếp cận, thụ hưởng )
Trang 27trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tâm thần mãn tính họkhông thể tự lo được cuộc sống của chính bản thân và cũng không có ngườithân nuôi dưỡng.
Trợ cấp xã hội thường xuyên là loại trợ giúp bằng tiền, hiện vật mà nhànước định ra để trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội thườngxuyên Trợ cấp xã hội thường xuyên không ổn định mà biến động theo thời gian,không gian Tuỳ vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước, sự khó khăn thiệtthòi của từng nhóm đối tượng mà mức trợ cấp cho các đối tượng qua từng thời
kỳ là khác nhau, song có thể nói trợ giúp thường xuyên là khoản trợ cấp giúp chonhững đối tượng có thể tồn tại và đảm bảo cuộc sống của mình ở mức tối thiểu
+ Trợ cấp xã hội đột xuất là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho
những người gặp rủi ro do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác nhằmgiúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định,hoà nhập cuộc sống
Thứ hai: Hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ thông qua chính sách bảo hiểm y tế,
khám chữa bệnh, phục hồi chức năng để huy động sự đóng góp của cộng đồng,chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính, qua đó đối tượng bảotrợ xã hội được tiếp cận với dịch vụ y tế, được miễn một phần hoặc toàn bộ chiphí khám chữa bệnh, được điều trị phục hồi chức năng Từ đó đã góp phần tíchcực vào việc chăm sóc, nâng cao sức khoẻ cho đối tượng bảo trợ đồng thời thựchiện mục tiêu nhân đạo trong lĩnh vực y tế và công bằng xã hội
Thứ ba: Hỗ trợ giáo dục, học văn hoá Nhà nước bằng chính sách, biện
pháp của mình hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội được tiếp cận với giáodục, được đến trường, học văn hoá Với chính sách hỗ trợ về giáo dục giúp chođối tượng bảo trợ xã hội được nâng cao nhận thức, giảm thiểu những khó khăn,hội nhập và phát triển từ đó tăng cường sự đóng góp cho xã hội, cộng đồng
Thứ tư: Hỗ trợ về dạy nghề, việc làm để tạo điều kiện cho những người
yếu thế nâng cao năng lực bản thân, nhanh chóng tìm được việc làm để có thu
Trang 28nhập ổn định đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình Nhà nước đóng vaitrò chủ đạo, thông qua các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề (dạy nghề, miễn giảmhọc phí, vay vốn ) tạo việc làm (tìm và hỗ trợ tìm việc làm, hỗ trợ vốn sảnxuất ) giúp cho đối tượng được bảo trợ xã hội có được trình độ học vấn caohơn, tự tin hơn để bước vào đời, tiếp cận được với thị trường lao động và cóđược cơ hội việc làm tốt nhất.
Thứ năm: Hỗ trợ tiếp cận văn hoá, thể thao, các hoạt động xã hội, hoà
nhập cộng đồng Tiếp cận các công trình công cộng, tham gia các hoạt động vănhoá, thể thao, hoạt động xã hội là nhu cầu thiết yếu của con người nói chung vàcủa nhóm những người yếu thế nói riêng Để giúp cho những người yếu thế cóđiều kiện phát huy tiềm năng, có cơ hội tiếp cận, tham gia với các hoạt động xãhội thì nhà nước phải có các chính sách trợ giúp nhất định đồng thời khơi dậy sựgiúp đỡ của cộng đồng đối với nhu cầu hoà nhập của đối tượng yếu thế
1.1.4 Yếu tố tác động và nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội
1.1.4.1 Yếu tố tác động tới bảo trợ xã hội
- Nhóm nhân tố kinh tế tác động đến bảo trợ xã hội bao gồm các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, chính sách thuế
Khi kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân nâng lên tức là mức sốngcủa đại đa số nhân dân được cải thiện, tăng cao do đó mức sống tối thiểu củangười dân cũng phải từng bước được nâng lên; do vậy chính bảo trợ xã hội cũngphải từng bước cải thiện cho phù hợp theo hướng:
Thứ nhất, mở rộng diện đối tượng hưởng, nâng dần mức trợ cấp xã hội,
bảo đảm mức sống tối thiểu ngày càng nâng cao cho các đối tượng bảo trợ xãhội, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống trung bình của cộngđồng dân cư Tuy nhiên việc xác định chế độ trợ cấp xã hội, trợ giúp khác phảixuất phát từ nhu cầu thực tế của các đối tượng bảo trợ xã hội, song phải tính đếnkhả năng chi trả của ngân sách nhà nước, theo mức độ tăng trưởng của nền kinh
Trang 29tế Tuy vậy, phải hạn chế đến mức thấp nhất việc tăng đột biến các khoản chi tiêucho bảo đảm xã hội nói chung và chính sách bảo trợ xã hội nói riêng
Thứ hai, bản thân việc thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội cũng góp
phần giữ vững ổn định xã hội tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, duy trì nhịp độtăng trưởng kinh tế Kinh tế muốn phát triển và tăng trưởng phải dựa trên một xãhội ổn định và an toàn Sự ổn định, an toàn xã hội cho phép các nhà đầu tư yêntâm đầu tư mở rộng sản xuất góp phần tăng trưởng kinh tế, từ đó có nguồn lực
để thực hiện bảo trợ xã hội
Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực để Nhà nước thực hiện việc từng bước
mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội, mở rộng chính sách trợ cấp xã hội, các chínhsách bảo trợ hướng tới tạo cơ hội và năng lực cho đối tượng bảo trợ xã hội tựvươn lên trong cuộc sống, hoà nhập cộng đồng Khi đối tượng bảo trợ xã hội hoànhập cuộc sống cộng đồng, bản thân đối tượng cũng tạo ra được thu nhập, đónggóp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế, và quan trọng hơn là nó giảm chi ngânsách nhà nước cho các đối tượng bảo trợ xã hội khi họ đã tự lực được trong cuộcsống, và lúc này họ không còn là đối tượng bảo trợ xã hội nữa
Thu nhập của người dân tăng cao, bằng chính sách thuế phù hợp, Nhànước đóng vai trò người điều phối thực hiện phân phối lại thu nhập từ ngườigiàu sang người nghèo và người yếu thế góp phần thực hiện mục tiêu côngbằng xã hội
- Nhóm nhân tố phi kinh tế tác động đến bảo trợ xã hội bao gồm nhận thức của xã hội, người dân, yếu tố về văn hoá
Những nơi nhận thức của người dân cho rằng nhóm người yếu thế làgánh nặng của xã hội, có cái nhìn kỳ thị, phân biệt đối với nhóm người yếuthế thì ở đó công tác bảo trợ xã hội hạn chế, đối tượng yếu thế sẽ càng chịunhiều thiệt thòi và không đủ tự tin để hoà nhập cộng đồng Ngược lại nhữngnơi có truyền thống tương thân tương ái, có trách nhiệm với xã hội cộng đồng
Trang 30thì đối tượng bảo trợ xã hội được quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hoà nhậpcộng đồng
Yếu tố chính trị có ảnh hưởng nhất định đến hệ thống an sinh xã hội,trong đó có các chính sách bảo trợ xã hội Bởi hệ thống các chính sách bảo trợ
xã hội đóng một vai trò như một chốt chặn cuối cùng cho nhiều tầng lớp nhândân - nhất là những tầng lớp dưới cùng của xã hội, khỏi phải rơi vào vòng xoáycủa đói nghèo, của sự khốn cùng và cuối cùng là khỏi nguy cơ bị gạt ra ngoài lềcủa cuộc sống Chính vì vậy, các chính sách xã hội nói chung, chính sách bảotrợ xã hội nói riêng luôn mang trên mình một trọng trách chính trị quan trọng,
là công cụ điều hành xã hội của các hệ thống chính trị, của các đảng phái chínhtrị và của các chính trị gia Đối với nước ta xuất phát từ mục tiêu xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước của dân,
do dân, vì dân, hệ thống an sinh xã hội nói chung, chính sách bảo trợ xã hội nóiriêng được đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, phản ánh khá đầy đủ sự khácnhau về điều kiện kinh tế, điều kiện lịch sử, hậu quả chiến tranh, thiên tai bãolụt khắp trên các vùng miền của Tổ quốc đồng thời chứa đựng những yếu tố dàihạn, cơ bản cùng với các yếu tố nhất thời, đáp ứng được nhu cầu cấp bách củađông đảo các tầng lớp nhân dân Như vậy, những yếu tố chính trị ảnh hưởngquyết định đến nền tảng, đặc điểm, phương tiện nhân lực, vật lực cũng như cácđối tượng thụ hưởng
Bên cạnh đó, các yếu tố như nhận thức xã hội, yếu tố văn hoá cũng cótác động và ảnh hưởng nhất định đến việc hoạch định, thiết kế hộ hình và tổchức thực thi các chính sách bảo trợ xã hội trong hệ thống an sinh xã hội
1.1.4.2 Nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội
Những chương trình bảo trợ xã hội gồm có nhiều đối tượng tham gia thựchiện như Nhà nước, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ nhằm mục tiêuchuyển các nguồn lực đến những nhóm đối tượng yếu thế Nguồn lực thực hiệnbảo trợ xã hội thường bao gồm:
Trang 31- Nguồn lực từ Nhà nước: Đây là nguồn lực chính trong công tác bảo trợ
xã hội Nhà nước với vai trò chủ đạo, bảo trợ cho đối tượng yếu thế thông quacác cơ sở của nhà nước ở Trung ương, địa phương và được cân đối trong ngânsách nhà nước phân cấp cho các đơn vị, ngành, địa phương theo quy định củaLuật ngân sách
- Nguồn lực từ các tổ chức, đoàn thể, cá nhân Những năm gần đây nguồnlực này đã đóng góp phần không nhỏ trong việc trợ giúp cho những đối tượngyếu thế đặc biệt là trợ giúp đột xuất cho các đối tượng gặp thiên tai, dịch bệnh.Nguồn lực này nhiều khi không chịu sự chi phối, điều chỉnh của Nhà nước
- Nguồn lực quốc tế: Khi kinh tế thế giới phát triển, nhiều tổ chức quốc tếcủa Liên hợp quốc và tổ chức phi Chính phủ ra đời thì nguồn lực của các tổ chứcnày đóng góp cho hoạt động bảo trợ xã hội với nhóm đối tượng yếu thế cũngđược quan tâm Ngoài việc thực hiện cho công tác cứu trợ đột xuất do thiên tai,dịch bệnh thì nguồn lực này tập trung vào các chương trình, dự án nhằm nghiêncứu chính sách hỗ trợ và đối tượng bảo trợ xã hội một cách hiệu quả, phù hợpvới điều kiện thực tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế
Chính sách bảo trợ xã hội là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xãhội, nó tạo nên tấm lưới cuối cùng của hệ thống lưới an sinh xã hội nhằm bảo
vệ an toàn cho mọi thành viên trong xã hội khi họ rơi vào tình trạng rủi ro; nếu
Trang 32không có tầng lưới cuối cùng vững chắc này những người bị rủi ro có thể lâmvào tình trạng bần cùng hoá và gây nên bất ổn xã hội.
Chính sách bảo trợ xã hội là một chính sách trong hệ thống chính sách
xã hội và là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng xã hội chủnghĩa của nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Thực hiện côngtác Bảo trợ xã hội không chỉ là mục tiêu mà còn là tiền đề để phát triển nhanh
và bền vững về kinh tế, nhằm đảm bảo an sinh xã hội tiến tới công bằng xã hội,giúp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Các chính sách an sinh xã hội nói chung, chính sách bảo trợ nói riêngcòn có tác dụng nâng cao năng lực của đối tượng trong quá trình thụ hưởng.Bằng sự hỗ trợ, giúp đỡ của các chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước vàcộng đồng sẽ tác động đến nhận thức, hành vi và năng lực của các đối tượngtrong sinh hoạt và hoạt động kinh tế - xã hội
Do vậy, xây dựng một hệ thống các chính sách đồng bộ, các giải phápkinh tế - xã hội, trong đó việc xây dựng và hoàn thiện chính sách bảo trợ xãhội là sự cần thiết và cấp bách để can thiệp, giúp đỡ các đối tượng yếu thếthiệt thòi
1.2.1.2 Yêu cầu của chính sách Bảo trợ xã hội
Chính sách bảo trợ xã hội ở nước ta được thực hiện đảm bảo phù hợpvới đặc điểm tình hình, điều kiện phát triển của nền kinh tế của đất nước vàcủa từng địa phương trong từng thời kỳ; thực hiện chính sách bảo trợ xã hộinhằm giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, đảm bảo ổn định xã hội, gắnvới mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Quá trình thực hiện chính sách xã hội gắn liền với việc thực hiện đồng bộ cácchính sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội, thực hiện công bằng xã hội,đảm bảo tính toàn diện và không ngừng mở rộng đối tượng thụ hưởng
- Đảm bảo tính toàn diện, bền vững, phù hợp với định hướng phát triểnkinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng xã hội và phát triển con người Với
Trang 33yêu cầu này về lâu dài phải gắn trách nhiệm và hưởng lợi, đóng góp và hưởngthụ, khuyến khích mọi người dân tham gia đồng thời tăng cường trách nhiệmcủa các chủ thể, thúc đẩy sự nỗ lực của bản thân, gia đình của đối tượng yếuthế, giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhà nước theo hướng nhà nước chỉ cung cấpnhững hỗ trợ bổ sung và không thay thế nỗ lực của cá nhân.
- Các chính sách hướng đến bao phủ toàn dân theo các cấp độ khácnhau, lấy các giá trị con người và quyền cơ bản của con người làm cơ sở Mọingười dân đều có quyền được bảo trợ và tiếp cận các dịch vụ bảo trợ xã hội.Đây là yêu cầu cơ bản hướng đến tiến bộ xã hội và công bằng trong phân phối
và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội theo hướngphân bổ ngày càng bình đẳng hơn, ít loại trừ
- Đảm bảo nguyên tắc đoàn kết, tương trợ, liên kết, chia sẻ, bù đắp giữacác cá nhân, các nhóm trong xã hội và nhà nước, thực hiện công bằng Yêucầu này nhấn mạnh vai trò của sự tương trợ trong nội bộ và giữa các nhóm xãhội, theo đó, bảo trợ xã hội hướng đến đảm bảo nhu cầu tối thiểu thông quaviệc tổng hợp và tái phân phối nguồn lực
1.2.1.3 Phương thức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
Việc thực hiện chính sách bảo trợ ở nước ta được thực hiện bằng nhiềuphương thức, Nhà nước thực hiện bảo trợ xã hội thông qua cơ quan quản lýnhà nước các cấp, các tổ chức xã hội và cộng đồng xã hội
Nhà nước thực hiện bảo trợ xã hội thông qua cơ quan quản lý nhà nướccác cấp Bằng nguồn ngân sách nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước từtrung ương đến địa phương thực hiện các chế độ, chính sách trợ cấp thườngxuyên, đột xuất, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục đào tạo, việc làm đào tạo nghề,cung cấp các dịch vụ xã hội khác được pháp luật về bảo trợ xã hội quy địnhđối với đối tượng bảo trợ xã hội theo phân cấp quản lý
- Thông qua xã hội hoá để huy động nguồn lực cộng đồng
1.2.1.4 Quá trình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội ở nước ta
Trang 34Từ những năm đầu khi đất nước mới độc lập 1945 đến năm 1986 Sựcần thiết của cứu trợ xã hội được thể hiện qua 3 giai đoạn Giai đoạn 1945-
1954, trong giai đoạn này, sau khi ra đời Nhà nước Việt nam dân chủ Cộnghoà, Nhà nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, Chính phủ đã tập trungvào 2 lĩnh vực là cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội, song chỉ tập trung vào giảiquyết những vấn đề cấp bách Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhândân ta đã phá kho thóc bị Nhật chiếm đóng chia cho mọi người góp phần ngănchặn nạn đói Sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, HồChủ tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phátđộng nhường cơm sẻ áo, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèokhó Sự ra đời của Hiến pháp năm 1946, Điều 14 đã ghi nhận các quyềnhưởng bảo hiểm xã hội của công viên chức nhà nước, việc chăm sóc, giúp
đỡ những người già cả, tàn tật, trẻ em mồ côi Trong cải cách ruộng đất,người nghèo, tàn tật, neo đơn được chia ruộng, giảm tô Sự thành công củacứu trợ xã hội giai đoạn này thể hiện thông qua các biện pháp tương trợcộng đồng truyền thống mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sángtrong phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”, “Quyên góp cứu giúp những ngườinghèo khổ”,“giúp thương binh” Giai đoạn 1954-1975 công tác cứu trợ xãhội được thực hiện thông qua nhiều văn bản như: Tháng 11/1954, Hội đồngChính phủ (HĐCP) lập Ban Cứu tế xã hội ở Trung ương và địa phương.Thông tư 123-TTg ngày 30 tháng 3 năm 1959 về thành lập quỹ “Nghĩathương”; Thông tư 157-CP ngày 25 tháng 8 năm 1966 về chính sách đốivới nhân dân bị tai nạn chiến tranh; Thông tư 202-CP ngày 26 tháng 11năm 1966 về chính sách đối với người già, trẻ em mồ côi không nơi nương
tự và những người tàn tật Giai đoạn 1975-1986, cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Yêucầu khắc phục hậu quả chiến tranh, giải quyết hậu quả xã hội của chế độ cũ
đã đặt ra nhiều vấn đề, Bộ Thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư số
Trang 3506-TT/TBXH ngày 18 tháng 3 năm 1978 quy định chế độ đối với ngườimắc bệnh tâm thần mãn tính nặng được nuôi dưỡng tập trung, Nhà nước đãtừng bước ban hành các Quyết định 354-CP ngày 27 tháng 9 năm 1979 vềtrợ cấp khó khăn cho cán bộ, công nhân viên chức nhà nước nhờ vậy đốitượng cứu trợ đã được mở rộng hơn.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội;song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, trợ giúp cácđối tượng yếu thế Các chính sách phải tạo môi trường pháp lý- hành chính vàchuẩn mực đạo đức xã hội phù hợp để mọi gia đình, cộng đồng bảo vệ, chămsóc, giáo dục đối tượng yếu thế, đồng thời tạo cơ hội cho các đối tượng pháttriển toàn diện về thể chất, trí tuệ, nhân cách, phát huy được kiến thức Trởthành người có ích cho xã hội Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã đưa ra định hướng chung về chính sách phát triển hệ thống bảo trợ xã hội:
Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội chủ nghĩa đốivới toàn dân theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mởrộng và phát triển các công trình sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lậpnhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có côngvới cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sungchính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơchế quản lý kinh tế, quản lý xã hội [7, tr.94]
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, năm 1996, đảng ta đã nhấnmạnh quan điểm tăng trưởng phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và côngbằng xã hội, vấn đề phân phối:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xãhội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phânphối kết quả sản xuất, ở tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội pháttriển và sử dụng tốt năng lực của mình [8, tr.113]
Trang 36Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện Thực hiện các chínhsách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạnnhân chiến tranh, người tàn tật; xây dựng quỹ tình thương trích từ ngânsách một phần và động viên toàn xã hội tham gia đóng góp; tiến tớixây dựng luật về bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi [8, tr.116].
Từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, Nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ,bảo trợ xã hội đối với những người có hoàn cảnh khó khăn Nhà nước đã banhành nhiều văn bản pháp luật về trợ giúp xã hội như: Bộ luật lao động, Luậtbảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật số 64/2006/QH11 của Quốc hội vềphòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ởngười (HIV/AIDS), Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL-UBTVQH ngày30/7/1998, Pháp lệnh số 23/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 4 năm 2000
về Người Cao tuổi của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Nghị định 05/CP ngày 26tháng 1 năm 1994 quy định điều chỉnh chế độ trợ cấp lương hưu đối với đốitượng chính sách xã hội; Nghị định 55/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm
1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh về Người tàntật; Quyết định số 301/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chươngtrình hành động quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2005-2010, Quyết định
số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Đề án "Chăm sóc trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ
em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học và trẻ em nhiễmHIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010, Quyết định số70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu và sửdụng học phí ở các sơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáodục quốc dân,; Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2000 củaChính phủ về chính sách cứu trợ xã hội; Nghị định số 168/2004/NĐ-CP ngày
20 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
Trang 37định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về chínhsách cứu trợ xã hội; Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnhNgười cao tuổi; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày
26 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp lệnh Người cao tuổi; Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phícho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi;Quyết định số 16/2004/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2004 của Thủ tướngChính phủ về việc trợ giúp đối với hộ gia đình có từ 02 người trở lên không tựphục vụ được do bị hậu quả chất độc hoá học của Mỹ sử dụng trong chiếntranh Việt Nam; Quyết định số 313/2005/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người nhiễmHIV/AIDS và những người trực tiếp quản lý, điều trị, chăm sóc người nhiễmHIV/AIDS trong các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; Nghị định số67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về chínhsách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày
27 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chínhsách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Quyết định số 31/2010/QĐ-TTgngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghềcông tác xã hội giai đoạn 2010-2020 Các văn bản pháp luật đã quy định rõphạm vi hưởng, đối tượng, chế độ, nguồn tài chính thực hiện bảo trợ xã hộicho các nhóm đối tượng yếu thế, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện bảotrợ xã hội ở nước ta Giai đoạn này phạm vi và đối tượng của chính sách bảotrợ xã hội được mở rộng, tạo nên một hệ thống tương đối đầy đủ so với thông
lệ quốc tế Sự quan tâm, định hướng của Đảng, Nhà nước đã thể hiện thông
Trang 38qua việc ban hành hàng loạt các văn bản tạo hành lang pháp lý để thực hiệntrên thực tế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội
1.2.1.5 Đối tượng bảo trợ xã hội ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của đất nước thì đối tượng bảo trợ xã hội ở nước
ta cũng được quan tâm và ngày càng mở rộng
Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về
bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội thì đốitượng được trợ cấp xã hội mới chỉ bao gồm: trẻ mồ côi, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ
bị bại liệt, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa nếu ở tập trung tạicác cơ sở bảo trợ xã hội được cấp sinh hoạt phí bằng 110 đồng, nếu ở cộng đồng
thì "được xét cứu tế một lần hoặc thường kỳ đảm bảo cho mỗi người hàng tháng thấp nhất cũng có được một khẩu phần lương thực đủ sống"
Đến năm 2000 đối tượng bảo trợ quy định tại Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ quy định về Chính sách cứu trợ xã hộicũng đã mở rộng cho 04 nhóm đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên là: (1)Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bịmất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; Trẻ em
mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quyđịnh tại Điều 78 của Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng đểnuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; (2) Người già cô đơn không nơinương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân Người già còn vợ hoặcchồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa,không có nguồn thu nhập Trường hợp là phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa,không có nguồn thu nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên, hiện đang được hưởng trợ cấpcứu trợ xã hội vẫn tiếp tục được hưởng; (3) Người tàn tật nặng không cónguồn thu nhập và không có nơi nương tựa; người tàn tật nặng tuy có ngườithân thích nhưng họ già yếu hoặc gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế
để chăm sóc; (4) Người tâm thần mãn tính là người mắc bệnh tâm thần thuộc
Trang 39các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyênkhoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnhmãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện đóinghèo với mức hỗ trợ từ 45.000 đồng/người/tháng đến 150.000đồng/người/tháng rồi nâng mức lên từ 65.000 đồng/người/tháng đến 180.000đồng/người/tháng theo Nghị định số 168/2004/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung nghịđịnh 07/2000/NĐ-CP) và 7 loại đối tượng được cứu trợ đột xuất (một lần).
Hiện tại, theo quy định tại nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ về bổ sung, sửa đổi một sốđiều của Nghị định số 67 về Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội,đối tượng bảo trợ xã hội gồm 9 nhóm hưởng trợ cấp thường xuyên hàng tháng
và 8 nhóm đối tượng gặp hoàn cảnh khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những
lý do bất khả kháng được hưởng trợ cấp đột xuất (một lần)
a Đối tượng trợ cấp thường xuyên
(1) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôidưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mấttích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khảnăng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc chahoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không cònngười nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo
Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi họcvăn hoá, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên
(2) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổicòn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích đểnương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quyđịnh cho từng thời kỳ) gọi là người già cô đơn không nơi nương tựa
(3) Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm
xã hội
Trang 40(4) Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khảnăng tự phục vụ.
(5) Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rốiloạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lầnnhưng chưa thuyên giảm
(6) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộgia đình nghèo
(7) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (8) Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng không có khả nănglao động không có khả năng tự phục vụ, người mắc bệnh tâm thần thuộc cácloại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoatâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm
(9) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới
18 tuổi
b Đối tượng gặp hoàn cảnh khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những
lý do bất khả kháng được hưởng trợ cấp đột xuất (một lần):
- Hộ gia đình có người chết, mất tích;
- Hộ gia đình có người bị thương nặng;
- Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
- Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;
- Người bị đói do thiếu lương thực;
- Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đìnhkhông biết để chăm sóc;
- Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú
1.2.2 Nội dung chính sách bảo trợ ở Việt Nam