Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện lý luận về tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội, bao gồm các chủ trương, quan điểm trong các văn kiện củaĐảng có liên
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các văn kiện của Đảng từ trước đến nay, đặc biệt là Cương lĩnhnăm 1991, cương lĩnh của thời kỳ đổi mới đã được thể chế hoá trong Hiếnpháp năm 1992, Đảng ta luôn luôn xác định Quốc hội là cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Mỗi đại biểuQuốc hội đều có trọng trách là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cửtri nơi bầu ra mình, đồng thời đại diện cho nhân dân cả nước Để bảo đảmthực hiện đúng vị trí, vai trò đó, đại biểu Quốc hội phải thường xuyên liên hệchặt chẽ với cử tri
Tại Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ X của Đảng, nêu rõ: “Tiếp tục đổimới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nângcao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách,phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội” [20, tr.126]
Bộ Chính trị đã có Thông báo kết luận số 144-TB/TW ngày 28/3/2008một số vấn đề về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội,trong đó đã xác định một trong những phương hướng nhiệm vụ cần tiếp tụcnghiên cứu của Quốc hội trong thời gian tới là
Đổi mới mạnh mẽ việc tiếp xúc cử tri của các đại biểu Quốc hội cả
về nội dung, cách thức tổ chức; khắc phục tính đơn điệu, hình thứctheo chế độ hội nghị Từng đại biểu Quốc hội cần có kế hoạch cụthể, thiết thực thâm nhập vào các hoạt động của đời sống xã hội ởđịa phương để hiểu rõ những yêu cầu của thực tiễn và tâm tư,nguyện vọng của cử tri, qua đó đại biểu Quốc hội mới có thể thựchiện được vai trò đại biểu của nhân dân và nhân dân mới đặt niềmtin vào Quốc hội [15]
“Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của
cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri” là một quan điểm lớn của Đảng ta từ
Trang 2trước tới nay và đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và Luật tổ chức Quốchội Trên thực tế, hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội đã từngbước được đổi mới, mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri ngày càngđược tăng cường, nhất là trong các khoá Quốc hội gần đây
Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn cho thấy, các quy định của pháp luật
về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội còn nhiều bất cập, chưa thật sự đápứng được yêu cầu đặt ra Việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp xúc cử tricủa đại biểu Quốc hội còn nhiều hạn chế; các hình thức tiếp xúc, liên hệ với
cử tri chưa thực sự đa dạng hoá Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốchội đến nay vẫn chủ yếu theo chế độ hội nghị; nội dung tiếp xúc vẫn còn đơnđiệu, mang tính hình thức, chưa thật sự thu hút được sự quan tâm của nhiều
cử tri; việc giải quyết kiến nghị của cử tri và giám sát việc giải quyết kiếnnghị của cử tri chưa được quan tâm đúng mức; tổ chức bộ máy phục vụ hoạtđộng tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội còn nhiều bất cập Chính vì vậy,hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội trong thời gian quacòn nhiều hạn chế
Quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân ở nước ta đã và đang đòi hỏiQuốc hội phải không ngừng đổi mới trong việc thực hiện các chức năng lậppháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Muốnvậy, Quốc hội mà trực tiếp là các đại biểu Quốc hội cần phải giữ mối quan hệthường xuyên, chặt chẽ với cử tri, phải thực sự trở thành “cầu nối” giữa cử trivới Đảng và Nhà nước
Lý luận và thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết là làmsao để tạo lập một khuôn khổ pháp lý, bảo đảm tăng cường hơn nữa việc nhândân tham gia vào quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách và giám sáthoạt động của các cơ quan nhà nước; bảo đảm chính sách, pháp luật phản ánhđược đầy đủ hơn ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân Điều đó đòi hỏi đạibiểu Quốc hội phải làm tốt hơn nữa việc tiếp xúc cử tri, gần gũi, gắn bó mật thiết
Trang 3với nhân dân, hiểu sâu sắc những tâm tư, nguyện vọng của cử tri để làm tròntrách nhiệm của người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Bởi những lẽ trên, việc nghiên cứu một cách toàn diện cả phương diện lýluận và thực tiễn về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nhằm gópphần đổi mới và hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hộiđang đặt ra cấp bách Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện phápluật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội” làm Luận văn Thạc sỹ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhìn chung, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tiếpxúc cử tri của đại biểu Quốc hội trong thời gian qua mới chủ yếu đề cập đếnnhững vấn đề mang tính khái quát, được thể hiện rải rác ở một số bài viết củacác nhà nghiên cứu đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp hoặc ở một số côngtrình nghiên cứu, như đề tài khoa học cấp bộ “Thực trạng và giải pháp nângcao hiệu quả công tác dân nguyện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” do PGS
TS Bùi Xuân Đức làm Chủ nhiệm đề tài; Đề tài “Tăng cường năng lực quyếtđịnh của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam” của Văn phòng Quốc hội… Từ trướcđến nay, chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về
lý luận và thực tiễn về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Từ tình hình đó, luận văn này, một mặt sẽ kế thừa những thành tựu đãđạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây; mặt khác, tiếp tục pháttriển, đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống hơn về các vấn đề cóliên quan đến tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội Trên cơ sở đó, đề xuất cácgiải pháp thiết thực nhằm đổi mới và hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tricủa đại biểu Quốc hội ở nước ta
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
- Tiếp tục làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề lý luận về tiếp xúc cử tricủa đại biểu Quốc hội; góp phần làm rõ hơn mối quan hệ chính trị - pháp lýgiữa đại biểu Quốc hội và cử tri
Trang 4- Đánh giá những tác động của các quy định pháp luật trong thực tiễnhoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội; vai trò của các cơ quan, tổchức trong việc bảo đảm cho hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội.
- Đề xuất các giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm tiếp tục đổi mới vàhoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện lý luận về tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội, bao gồm các chủ trương, quan điểm trong các văn kiện củaĐảng có liên quan đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nóichung, về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nói riêng;
- Đánh giá thực trạng hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hộinước ta trong thời gian qua, trong đó, làm rõ những kết quả đạt được, nhữnghạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong hoạt độngtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
- Kiến nghị các giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, phápluật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nước ta trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, trong
đó tập trung đề cập đến các quan điểm, chủ trương của Đảng ta về vị trí, vai trò,nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội nói chung và nhiệm vụ tiếp xúc cửtri của đại biểu Quốc hội nói riêng Đồng thời, Luận văn cũng nghiên cứu kinhnghiệm tiếp xúc cử tri của nghị sỹ ở một số nước trên thế giới làm cơ sở thamchiếu cho việc đổi mới hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nước ta
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hộitrong thời gian qua; đánh giá các quy định của pháp luật về tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội cũng như thực trạng hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểuQuốc hội ở nước ta và việc thực hiện trách nhiệm của các cơ quan, tổ chứchữu quan trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Trang 5- Nghiên cứu các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tiếp tục đổi mới,nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội.
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật;
- Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương phápphân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp sosánh, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia, toạ đàm
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốchội, qua đó nâng cao nhận thức về những vấn đề liên quan đến hoạt động tiếpxúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
- Xây dựng một cách có hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quảhoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội thông qua việc đánh giá tácđộng của các quy định pháp luật;
- Kiến nghị các giải pháp phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong việc đổimới và hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, gópphần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếpxúc cử tri của đại biểu Quốc hội trong thời gian tới
7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu luận văn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện
cơ sở lý luận về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, góp phần vào việc nâng
Trang 6cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tiếp xúc cử tri nói chung vàhoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nói riêng.
- Về thực tiễn: Những kiến nghị của Luận văn có ý nghĩa nhất định đốivới quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước ta
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội nói chung, về tiếpxúc cử tri của đại biểu Quốc hội nói riêng
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho côngtác giảng dạy ở các cơ sở đào tạo chính trị pháp lý và hoạt động xây dựngpháp luật trong các cơ quan của Quốc hội
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm có 3 chương, 7 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TIẾP XÚC CỬ TRI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM, KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ TIẾP XÚC CỬ TRI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1.1 Bản chất, đặc điểm hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Như đã biết, pháp luật nước ta quy định đại biểu Quốc hội không chỉ đạidiện cho cử tri ở nơi bầu ra mình mà còn đại diện cho cử tri và nhân dân cảnước Vậy, sự “đại diện” của đại biểu Quốc hội được hiểu như thế nào? Để
hiểu được bản chất của hoạt động tiếp xúc cử tri, cần trở về cội nguồn của hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Khác với đại diện trong pháp luật về dân sự, sự đại diện của đại biểuQuốc hội được thể hiện rõ nét ở phương diện chính trị Nghiên cứu cơ chế uỷquyền ở một số nước phát triển cho thấy, cội nguồn, bản chất của hoạt độngtiếp xúc cử tri thể hiện ở quan hệ “ủy quyền” của cử tri cho người đại diệncủa họ Trên thế giới có những mô hình ủy quyền khác nhau, nhưng tựu
chung thì có hai mô hình ủy quyền chủ yếu: mô hình ủy quyền theo lệnh và
mô hình ủy quyền theo tín thác Ủy quyền theo lệnh là mô hình mà ở đó, đại
biểu (nghị sỹ) có thể hành động theo ý kiến của cử tri về từng vấn đề và cóthể bị cử tri bãi miễn trước thời hạn Ủy quyền theo tín thác là mô hình mà ở
đó đại biểu (nghị sỹ) có thể đưa ra các quyết định trên cơ sở hiểu biết và sựphán xét của riêng mình
Mô hình phổ biến nhất hiện nay được các nước phát triển áp dụng là môhình “ủy quyền theo tín thác” hay còn gọi là “ủy quyền tự do” Hiến pháp một
số nước quy định rõ việc các nghị sỹ không bị ràng buộc bởi bất kỳ một sựràng buộc nào, dù là từ cử tri, đảng chính trị của mình hoặc từ bất cứ một chủthể nào khác, như: Điều 27 của Hiến pháp Cộng hòa Pháp quy định: “mọi sự
ủy quyền mang tính áp đặt đối với Nghị sỹ đều vô hiệu” [44, tr.156]; hoặc
Trang 8trong Hiến pháp của một số nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Tây Ban Nhacũng quy định các nghị sỹ không bị ràng buộc bởi bất kỳ một sự chịu lệnh nào…Trong bài phát biểu tại Hội thảo về đổi mới công tác tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội do Ban dân nguyện tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minhngày 19/3/2009 [17], TS.Nguyễn Sỹ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốchội cho rằng, trên thế giới hiện nay tồn tại hai mô hình ủy quyền, sau đây:Trong mô hình ủy quyền tự do, về nguyên tắc, pháp luật các nước khôngbắt buộc các nghị sỹ phải tuân thủ các chủ trương, đường lối của đảng chínhtrị mà mình là thành viên trong các hoạt động tại nghị viện Tuy nhiên, cácđảng chính trị có thể khai trừ ra khỏi đảng những nghị sỹ không tuân thủ kỷluật của đảng Trên thực tế, đa số các nước đã xây dựng theo mô hình này
Mô hình ủy quyền tự do có những đặc điểm riêng so với mô hình ủyquyền theo lệnh, đó là:
- Động lực để đại biểu tiếp xúc cử tri có hạn chế hơn;
- Đại biểu tiếp xúc để hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri và báo cáo kếtquả đạt được;
- Đại biểu phấn đấu và hoạt động chủ yếu vì lợi ích quốc gia;
- Tính độc lập trong quá trình hoạt động của đại biểu cao hơn
Khác với mô hình ủy thác tự do, mô hình ủy quyền theo lệnh (chịu lệnh)thể hiện rõ sự ràng buộc trách nhiệm đại diện cử tri của những người đại biểu(nghị sỹ) Trước đây, mô hình chịu lệnh tồn tại ở hầu hết các nước xã hội chủnghĩa Khái niệm khá phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây làcác đại biểu Quốc hội cần phải gắn bó, gần gũi với nhân dân để có thể hiểuđược cặn kẽ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Trong mô hình ủy quyền theo lệnh cũng có những điểm khác hơn so với
mô hình ủy quyền tự do, đó là:
- Thể hiện rõ nét hơn về mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa đại biểu
và cử tri, do đó tính dân chủ cũng cao hơn so với mô hình ủy thác tự do;
- Quyền của cử tri được quan tâm nhiều hơn;
Trang 9- Tiếp xúc cử tri là nhiệm vụ quan trọng của đại biểu và cần phải đượcthực hiện nhiều hơn;
- Thể hiện tính ứng nhắc, khuôn mẫu trong việc thực hiện chức năng củađại biểu Quốc hội;
- Quyền lực dễ bị thao túng
Cũng theo nghiên cứu của GS.TS.Nguyễn Đăng Dung thì trên thế giới
“Có hai cách thức hiện nay thể hiện mối quan hệ giữa đại biểu và cử tri: Cáchthứ nhất là “ủy thác” (Trustee) và cách thứ hai là “đại biểu” (Delegate) Trong
mô hình “Uỷ thác”, Nghị sĩ được xem là có quyền theo đuổi xét đoán riêngcủa mình trong các hoạt động và quyết định tại nghị trường, hành vi bầu cửcủa cử tri khi đã bỏ phiếu xong là hàm chứa một sự ủy thác trọn vẹn, ngườiđại biểu được bầu ra không phải chịu trách nhiệm thể hiện các ý chí của cửtri Ý chí này về nguyên tắc đã được chứa đựng trong chương trình hứa hẹncủa ứng cử viên mà cử tri đã lựa chọn Trong mô hình “Đại biểu”, các nghị sĩđược xem là những đại biểu của những người dân đã bầu cho họ, nghĩa là họphải hành động theo quan điểm của đảng và của quan điểm đơn vị cử tri củamình trước khi nghĩ tới cách quyết định riêng của mình Nếu như trước đâyhầu như các nhà nước đều theo mô hình ủy thác, thì ngày nay hầu hết cácnghị viện theo mô hình đại diện “Đại biểu” Khi đó vấn đề là ở chỗ các nghị
sĩ phải theo đuổi quan điểm và nhu cầu của cử tri hay của đảng mình Điềunày thể hiện mức độ kỷ cương của đảng” [16] Trào lưu mới đây xuất hiện tạiNghị viện Anh theo hướng: Nghị sỹ ngày càng tuân thủ tính đại biểu cho dânchúng thay vì đại diện cho đảng chính trị mà họ là thành viên khi đứng trước
sự lựa chọn về lợi ích trong một quyết định cụ thể, họ thường đứng về nhândân và sẵn sàng chịu kỷ luật của đảng (nếu đi ngược lợi ích của đảng) Tràolưu này bắt nguồn từ các xu thế vận động của Quốc hội trên thế giới
Đại biểu Quốc hội - Chủ thể quan trọng trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân
Trong lịch sử phát triển của xã hội dân chủ văn minh, đại biểu Quốc hội(nghị sỹ) luôn được coi là một nhân vật có uy tín, được nhà nước, xã hội và
Trang 10công dân tôn trọng và giao cho trọng trách thay mặt nhân dân, nói tiếng nóicủa dân.
Trên thế giới, tính chất đại diện của cơ quan đại biểu nhân dân đã đượccác nhà triết học chính trị đề cập đến từ lâu, nhưng phải đến nửa đầu thế kỷthứ XVIII, khi tư tưởng về chế độ đại nghị được hình thành thì cơ quan đạibiểu nhân dân mới trở thành cơ quan đại diện với chức năng lập pháp nhưhiện nay Một trong những nội dung cơ bản của chế độ đại nghị là tư tưởngđại diện nhân dân, xây dựng hình ảnh của người đại biểu để đại diện choquyền lực của nhân dân dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cơ quan đại diện nhân dân được thiết lập trên cơ sở Hiến pháp.
Với tư cách là văn bản pháp lý cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhànước, Hiến pháp ra đời sau khi giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộcđấu tranh chống lại nhà nước phong kiến chuyên chế Mục đích của việc banhành Hiến pháp là hạn chế quyền lực vô định của giai cấp phong kiến mà đạidiện là nhà Vua, xây dựng một chế độ chính trị mới theo đó phân định baquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để tạo nên sự cân bằng quyền lực; vàbằng cách đó, các quyền công dân mới được bảo đảm Là Luật cơ bản của nhànước có hiệu lực pháp lý cao nhất, Hiến pháp bảo đảm cho sự tồn tại và vậnhành ổn định của các thiết chế nhà nước trong đó có Nghị viện
Thứ hai, nhân dân là người mang chủ quyền (quyền lực tối cao và duy
nhất) uỷ quyền cho Nghị viện thay mặt mình thực hiện quyền lập pháp Trong
tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, Montesquieu cho rằng nhân dân chỉ uỷ
quyền cho Nghị viện thực hiện quyền lập pháp mà thôi Ông viết:
Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự
do, thì phải được tự quản, như vậy, tập đoàn dân chúng phải cóquyền lập pháp Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi côngdân đều làm việc lập pháp Trong một nước nhỏ, việc này cũng rấtkhó khăn, cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cáchgiao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dânkhông thể tự mình làm lấy được [28, tr.109-110]
Trang 11Việc uỷ quyền này được thực hiện thông qua cuộc bầu cử thành lập Nghịviện Theo quan điểm của các học giả ủng hộ chế độ đại nghị, thành viên củaNghị viện không đại diện cho cử tri bầu ra họ, mà đại diện cho toàn thể dântộc, bởi vậy họ không phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi nhiệm.
Ở nước ta, tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung, địa vị pháp lý của đạibiểu Quốc hội nói riêng được xác định trên cơ sở học thuyết Mác - Lê nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Tư tưởng đó được cụ thểhoá trong các chủ trương, đường lối của Đảng Tiếp thu một cách sáng tạohọc thuyết Mác-Lênin về những điều hợp lý và không hợp lý trong chế độ đạinghị, ngay từ khi còn bôn ba ở nước ngoài Bác Hồ đã khẳng định nhân dânphải có cơ quan đại diện và Hiến pháp của mình Sau khi Cách mạng thángTám thành công, bên cạnh việc đối phó với thù trong giặc ngoài, Chủ tịch HồChí Minh và Chính phủ lâm thời của nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã tổchức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội và soạn thảo bản Hiến phápđầu tiên của nước Việt Nam độc lập Tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minhđược tiếp tục thể hiện trong các Hiến pháp, trong các cương lĩnh, nghị quyếtcủa Đảng và trong thực tế cuộc sống
Ở mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta có những phương thức vàgiải pháp thực hiện nhiệm vụ cách mạng khác nhau, nhưng về củng cố và pháthuy vai trò của Quốc hội, tạo điều kiện để các đại biểu dân cử thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của mình, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhànước luôn luôn là tư tưởng xuyên suốt
Nghiên cứu qúa trình hình thành và phát triển Quốc hội Việt Nam, có thểnhận thấy, địa vị pháp lý của Quốc hội nước ta được xác định trên cơ sở cácnguyên tắc sau đây:
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiệnquyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Trang 12- Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namđược tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhândân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở nơi bầu ra mình mà còn đại diện chonhân dân cả nước
- Đại biểu Quốc hội là người có đủ tiêu chuẩn đức, tài thay mặt nhân dânthực hiện quyền lực Nhà nước ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
Cùng với quá trình phát triển Quốc hội hơn 65 năm qua cho thấy, địa vịpháp lý của đại biểu Quốc hội nước ta ngày càng được khẳng định, thể chếhóa trong các Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân thì việc củng cố,nâng cao địa vị pháp lý của Quốc hội nói chung, của đại biểu Quốc hội nóiriêng ngày càng được coi trọng Những nội dung đó tiếp tục được khẳng địnhtrong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI
Đại biểu Quốc hội trước hết là đại biểu của nhân dân Mỗi đại biểu Quốchội được bầu ở một đơn vị bầu cử xác định trên cơ sở dân số Các đại biểuQuốc hội được bầu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hợp thànhĐoàn đại biểu Quốc hội Các đại biểu Quốc hội là những người thay mặt nhândân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội, quyền lực đó là thống nhất,không phân chia, nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta - Hiến pháp 1946, đã quyđịnh: "Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thaymặt cho toàn thể nhân dân" (Điều 25) Tuy với số lượng các Điều khôngnhiều nhưng Hiến pháp 1946 đã cơ bản quy định những vấn đề về vai trò, vịtrí, nhiệm vụ và quyền hạn chính của đại biểu Quốc hội, như: quyền tham giacùng Quốc hội giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật,biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài
Trang 13(Điều 23); quyền bất khả xâm phạm của đại biểu Đồng thời, Hiến pháp
1946 cũng đã có những quy định rất cụ thể nhưng mang ý nghĩa lớn như
"nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong nghị viện", "khimột nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên"(Điều 40) hoặc "Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhậnđược đề nghị của một phần tư tổng số cử tri của tỉnh hay thành phố đã bầu ranghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễnthì nghị viên đó phải từ chức” (Điều 41)
Đến Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định một số điều cơ bản về địa vị pháp lýcủa đại biểu Quốc hội, như việc bầu cử và bãi miễn đại biểu Quốc hội (Điều 5);quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội (Điều 59) và quyền bất khả xâm phạm củađại biểu Quốc hội (Điều 60) Nhưng phải đến Luật tổ chức Quốc hội năm 1960mới có quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Hiến pháp 1980 đã có một bước tiến quan trọng trong việc quy định địavị pháp lý của đại biểu Quốc hội Đó là những quy định về việc bầu cử và bãimiễn đại biểu (Điều 7); trách nhiệm của đại biểu phải liên hệ chặt chẽ và chịu
sự giám sát của cử tri (Điều 94); quyền chất vấn (Điều 95); quyền kiến nghịvới cơ quan Nhà nước (Điều 96); quyền không bị bắt giam, truy tố nếu không
có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền (Điều 96) Đặc biệt là trong Hiến
pháp 1980 đã có quy định: "Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu" Để cụ thể hoá các
quy định trong Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Quốc hội năm 1981 đã cónhững quy định về địa vị pháp lý, về quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốchội Hội đồng Nhà nước cũng đã ban hành Quy chế đại biểu Quốc hội
Quy định về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ngày càng được hoànthiện hơn trong quá trình xây dựng, ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm
1992, trong đó khẳng định: đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí,nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu ramình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; đại biểu phải liên hệ chặt chẽ
Trang 14với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, phổ biến vận động nhân dân thực hiệnHiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 97); quyền chất vấn; quyềnyêu cầu cơ quan, tổ chức trả lời (Điều 98); quyền không bị bắt giam, truy tốnếu không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền (Điều 99); quyền đượccung cấp tài liệu; quyền được tạo điều kiện và kinh phí (Điều 100) Luật tổ chứcQuốc hội cũng đã có một chương riêng quy định về đại biểu Quốc hội Quốc hộiđã thông qua Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốchội Ngoài ra, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội cũng được quy địnhtrong một số văn bản pháp luật khác như Luật hoạt động giám sát của Quốc hội,Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, tố cáo
Có thể thấy rằng, địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội rất đặc biệt, vừa làngười đại diện cho nhân dân đồng thời là hạt nhân cấu thành nên cơ quanquyền lực nhà nước; vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân vừa chịu tráchnhiệm trước Quốc hội Đại biểu Quốc hội đóng vai trò kép, vừa là công bộc,vừa là người chủ (đại diện) Điều đó thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Là công bộc, đại biểu phải thu thập, phản ảnh trung thực ý chí, nguyệnvọng vủa nhân dân; chịu sự giám sát của nhân dân, trường hợp không hoànthành vai trò đại diện và không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân,thì sẽ bị nhân dân bãi miễn
- Là người chủ (đại diện), đại biểu có quyền độc lập trong việc biến ýchí, nguyện vọng của nhân dân thành quyết định của Quốc hội thông qua biểuquyết thể hiện chính kiến của mình: tán thành, không tán thành hoặc khôngbiểu quyết
Thực tiễn cũng đã cho thấy, đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý rất đặcbiệt Là người do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dânnên đại biểu Quốc hội có những nhiệm vụ nhất định đối với nhân dân, đồngthời là cầu nối để nhân dân có thể thực hiện quyền tham gia các hoạt độngquản lý nhà nước Muốn làm được điều đó thì đại biểu Quốc hội phải thườngxuyên liên hệ, tiếp xúc với cử tri Đây là công việc Hiến định và thông qua
Trang 15đó, đại biểu Quốc hội lắng nghe, thu thập, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của
cử tri đến Quốc hội và các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, đồng thời thựchiện nhiệm vụ báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của mình và củaQuốc hội
Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với nhân dân
Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội đãquy định đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp,pháp luật, có lối sống lành mạnh, tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần phát huy quyền làmchủ của nhân dân Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp dân, khi nhận đượcđơn kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có tráchnhiện nghiên cứu, xem xét và chuyển đến cơ quan có trách nhiệm xem xét,giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời đôn đốc, theo dõi việc giải quyết và trảlời cho công dân biết kết quả Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tuyên truyềnphổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản
lý nhà nước Quy chế cũng xác định trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với cửtri, đó là đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời chịu tráchnhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ của mình Đại biểu Quốchội chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri để nắm bắttâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiếnnghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan Ngoài ra,mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp cuối nămcủa Quốc hội, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụđại biểu của mình, cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêucầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm
vụ của đại biểu Quốc hội
Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức, đơn vị vàvới nhân dân có ý nghĩa quan trọng quyết định đến hiệu quả và chất lượnghoạt động của đại biểu Quốc hội Thực tế những năm qua đã cho thấy, các
Trang 16mối quan hệ của đại biểu Quốc hội, nhất là mối quan hệ với nhân dân ngàycàng được củng cố, tăng cường và đã phát huy được tác dụng trong thực tiễnhoạt động.
Ngoài các mối quan hệ trên, đại biểu Quốc hội thường xuyên giữ mốiquan hệ với các cơ quan, đoàn thể ở địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụtuyên truyền phổ biến pháp luật Trên cơ sở nắm bắt tâm tư nguyện vọng kiếnnghị của cử tri, đại biểu Quốc hội tham gia các hoạt động như: giám sát việc thihành pháp luật; xem xét, xử lý các đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân.Cùng với quá trình xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước và sửađổi, bổ sung hệ thống pháp luật, địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ngàycàng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm; xác định ngày càng rõ địa vị pháp
lý, chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Các quyền và nghĩa vụ củađại biểu Quốc hội nước ta được quy định ngày càng đầy đủ và cụ thể hơntrong Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểuQuốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Điều này đã tạo điều kiện thuận lợicho đại biểu Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực trong Quốc hội
- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, như về lập pháp, giám sát tối cao vàquyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; đồng thời, đó cũng là cơ sởpháp lý để nâng cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trước nhân dân cảnước Những vấn đề nêu trên được minh chứng sinh động trong quá trình pháttriển chế độ dân chủ ở nước ta Đại biểu Quốc hội ngày càng giữ vị trí quantrọng trong hệ thống chính trị, trở thành một mắt xích quan trọng trong bộmáy nhà nước nói chung, của Quốc hội nói riêng, nhất là quá trình vận hành
Bộ máy nhà nước trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Cử tri - người ủy quyền cho đại biểu Quốc hội và cũng là người mà đại biểu Quốc hội hướng tới để thực hiện trách nhiệm đại diện của mình.
Trong nhiều văn bản pháp luật, từ Hiến pháp đến các đạo luật, các vănbản hướng dẫn thi hành trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã ghi nhận
Trang 17và quy định khá cụ thế mối quan hệ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với cửtri Tại Điều 97 trong Hiến pháp 1992 ghi rõ đại biểu Quốc hội là người đạidiện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ởđơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước Ðại biểu Quốchội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập vàphản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơquan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri vềhoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của
cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của côngdân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó Tại điều 51 Luậttổ chức Quốc hội cũng quy định: "Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với
cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểutâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiếnnghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan" Tuy nhiên,
“cử tri” trong hoạt động tiếp xúc của đại biểu Quốc hội là ai? gồm nhữngngười như thế nào? Câu hỏi đó đến nay chưa được làm sáng tỏ để quy định cụthể, rõ ràng, thầy đủ
Theo cách hiểu thông thường thì cử tri được hiểu là người có quyền đi
bỏ phiếu để bầu ra người đại diện trong cơ quan đại biểu của mình Tuynhiên, vấn đề cử tri là ai? cả ở phương diện lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiềuquan niệm và tranh luận khác nhau về vấn đề này
Dưới góc độ pháp lý thì cử tri là thành phần được quy định tại Nghịquyết liên tịch số 06/2004/NQLT/UBTVQH11-ĐCTUBTWMTTQVN ngày10/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn chủ tịch Ủy ban trungương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành hướng dẫn việc tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội đã quy định tại Điều 5 như sau:
“- Đại diện cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Ủy banMặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc và các cơquan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở mỗi cấp
Trang 18- Cử tri trực tiếp làm việc, học tập tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
- Cử tri thôn, buôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố”
Đây là quy định chung cho tất cả các hình thức tiếp xúc cử tri chứ khôngphải bất kỳ cuộc tiếp xúc nào cũng phải đủ ba loại thành phần như trên Thực tếcho thấy, cơ cấu, số lượng, tỷ lệ thành phần trong các cuộc tiếp xúc cử tri muônmàu, muôn vẻ phụ thuộc vào khả năng vận dụng các quy định về tiếp xúc cử tri vàtrình độ của người tổ chức hội nghị Tuy nhiên, từ các nghiên cứu về khái niệm
“cử tri” trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cho thấy vẫn chưa
có sự thống nhất cả ở phương diện lý luận và pháp luật về khái niệm “cử tri”
Quan niệm thứ nhất cho rằng, cử tri trong hoạt động tiếp xúc cử tri của
đại biểu Quốc hội là người có quyền bầu cử Công dân nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tínngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười támtuổi trở lên đều có quyền bầu cử Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách ởmột nơi mình thường trú hoặc tạm trú Quan niệm này xuất phát từ các quyđịnh tại Điều 2 và 22, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội. Nói cách khác, quanniệm trên đây về cử tri được nghiên cứu, xem xét ở khía cạnh của những côngdân có đủ điều kiện về pháp luật để có thể thực hiện một hành vi “ủy quyềnchính trị” thông qua việc bỏ phiếu trong cuộc bầu cử
Quan niệm thứ hai cho rằng, cử tri là tất cả các tầng lớp nhân dân Quan
niệm này đồng nhất khái niệm “cử tri” và khái niệm “nhân dân”
Khác với các quan niệm trên, quan niệm thứ ba cho rằng, cử tri là các
công dân Việt Nam trong mối quan hệ quyền và trách nhiệm với đại biểuQuốc hội Đó là tất cả các công dân mà đại biểu Quốc hội đã và đang thựchiện quyền đại diện cho tiếng nói, lợi ích của họ trong qúa trình thực hiệnnhiệm vụ đại biểu
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản ĐàNẵng xuất bản năm 2004 thì “cử tri là người có quyền bỏ phiếu trong cuộcbầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước” [45]
Trang 19Quan niệm về cử tri trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốchội cũng rất phong phú Mỗi quan niệm đều thể hiện ở góc nhìn riêng Trongquan niệm thứ nhất có điểm trùng với định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt vàquy định trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, quan niệm này mớichỉ xét ở khía cạnh mối quan hệ một chiều, tức là chỉ đề cập ở phương diệnngười thực hiện sự ủy quyền cho người đại diện thông qua cuộc bầu cử.Trong mối quan hệ này, cử tri giữ vai trò chủ động, còn đại biểu là người mà cửtri lựa chọn, bầu ra thông qua các nguyên tắc về bầu cử Cử tri được xác định lànhững người có đủ năng lực trách nhiệm thực hiện việc bỏ phiếu để bầu ra ngườiđại biểu của mình và lập ra cơ quan đại biểu, cơ quan quyền lực nhà nước.
Quan niệm thứ hai lại không phản ánh một cách cụ thể về đặc điểm, bảnchất, mối quan hệ giữa cử tri và đại biểu Quốc hội Quan niệm này cũng cóthể dẫn đến sự đồng nhất giữa hai khái niệm “cử tri” và “nhân dân”
So với quan niệm thứ nhất và quan niệm thứ hai thì trong quan niệm thứ
ba có lẽ đã giải quyết được tốt hơn việc định nghĩa về cử tri Như chúng ta đãbiết, cử tri và đại biểu Quốc hội luôn là hai chủ thể cùng tồn tại trong mốiquan hệ nhất định Quan hệ đó không bị giới hạn bởi các chủ thể thực hiệnviệc bỏ phiếu để bầu ra đại biểu mà còn thể hiện ở mối quan hệ đại diệnchung cho tất cả công dân ở đơn vị bầu cử cũng như nhân dân cả nước Cử tritồn tại trong mối quan hệ với đại biểu và luôn được xác định như vậy chừngnào tồn tại cả hai chủ thể ấy Từ góc nhìn vậy, quan niệm “cử tri” là ai? khôngthể xác định được nếu chúng ta quan niệm trong sự tách rời mối quan hệ vớiđại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội do cử tri bầu ra, đồng thời cử tri cũng làđối tượng mà đại biểu hướng tới Sau khi được bầu ra, đại biểu Quốc hội trởthành người đại biểu của cử tri và thực hiện nhiệm vụ đại diện cho cử tri.Trong quan niệm thứ ba, cử tri không chỉ là những công dân có đủ năng lựcđược xác định trong cuộc bầu cử mà hơn thế nữa, cử tri với tư cách là côngdân của Nhà nước, cần được đại biểu Quốc hội quan tâm, hướng tới để thựchiện chức năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của họ
Trang 20Trên thực tế, “cử tri”mà đại biểu Quốc hội đại diện không chỉ là nhữngngười đã trực tiếp bầu ra mình tại cuộc cử mà hơn thế nữa, đó là toàn thể nhândân, mà cụ thể là bao gồm tất cả các công dân Việt Nam trong mối quan hệtrách nhiệm qua lại với đại biểu Quốc hội
Từ những quan niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy ở quan niệm thứ ba
về cử tri có lẽ đã thể hiện rõ hơn về đối tượng trong mối quan hệ trách nhiệmgiữa người ủy quyền với người được ủy quyền, giữa cử tri và đại biểu Quốchội - người không chỉ đại biểu cho cử tri đã trực tiếp bầu ra mình mà còn đạidiện cho tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước Ởgóc độ nào đó, chúng ta cũng có thể hiểu rằng cử tri mà đại biểu Quốc hộihướng tới chính là các tầng lớp nhân dân, chính là nhân dân vậy
Quan niệm về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng nhiều ý kiến khác nhau.
Theo quan niệm phổ thông, tiếp xúc giữa con người với con người là gặp
gỡ nhau làm hình thành mối quan hệ giữa những người đó Tiếp xúc cử tritheo cách hiểu thông thường là gặp gỡ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri Theoquy định của pháp luật nước ta thì nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hộirất lớn Tiếp xúc cử tri chỉ là một trong các hoạt động để đại biểu Quốc hộithực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được pháp luật quy định
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản ĐàNẵng xuất bản năm 2004 thì khái niệm “tiếp xúc” được hiểu ở ba khía cạnhsau đây:
Tiếp xúc là: “chạm vào nhau và gây nên tác dụng”
Tiếp xúc là: “thường xuyên có sự đụng chạm hoặc ở gần đến mức có thểtrực tiếp chịu tác động không hay”
Tiếp xúc là: “gặp gỡ để tạo quan hệ”
Hoạt động tiếp xúc cử tri là một khái niệm pháp lý chỉ hoạt động cụ thểcủa đại biểu Quốc hội trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình Hoạt độngnày thể hiện “trách nhiệm” của đại biểu Quốc hội hướng tới cử tri, gặp gỡ,
Trang 21tiếp xúc với cử tri; giữ mối liên hệ với cử tri để lắng nghe tâm tư, nguyệnvọng, thu thập, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri đến các cơ quan nhànước có trách nhiệm.
Pháp luật hiện hành chưa đưa ra khái niệm cụ thể về hoạt động tiếp xúc
cử tri của đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, hoạt độngtiếp xúc cử tri có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đây là hoạt động do đại biểu Quốc hội thực hiện
Thứ hai, mục đích của hoạt động này là nhằm hướng tới cử tri, tiếp xúc,
trao đổi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh ý kiến,kiến nghị của cử tri đến các cơ quan công quyền trong bộ máy Nhà nước
Thứ ba, hoạt động tiếp xúc cử tri được thực hiện từ hai phía: đại biểu và
cử tri
Thứ tư, là hoạt động thể hiện mối quan hệ trách nhiệm về chính trị, pháp
lý của đại biểu đối với cử tri
Thứ năm, hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu được thực hiện bằng
những hình thức nhất định
Khác với hoạt động tiếp xúc thông thường, tiếp xúc cử tri của đại biểuQuốc hội là hoạt động chính trị - pháp lý, do đại biểu Quốc hội thực hiện.Việc thực hiện tiếp xúc cử tri là góp phần mở rộng và phát huy dân chủ; qua
đó, đại biểu Quốc hội hiểu được đời sống và mong muốn của nhân dân, nắmbắt và phản ánh hơi thở của nhân dân vào trong quá trình hoạch định chínhsách, pháp luật của nhà nước
Như vậy, có thể khái quát rằng, tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội là hoạt động của đại biểu Quốc hội, dưới những hình thức nhất định, nhằm hướng tới cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và thu thập, phản ánh kiến nghị của cử tri tại diễn đàn của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; đồng thời, là hoạt động thể hiện mối quan hệ trách nhiệm chính trị - pháp lý giữa đại biểu Quốc hội với cử tri.
Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu dân cử Với vai
Trang 22trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, Quốc hội, các cơ quancủa Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội luôn nỗ lựctrong việc giữ mối liên hệ thường xuyên; thu thập, xử lý, phản ánh yêu cầu cơquan có trách nhiệm giải quyết các kiến nghị của cử tri Những yêu cầu chínhđáng của nhân dân về phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện điều kiện sống, đấutranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được Quốc hội đặc biệt quantâm xem xét Thực tế đã cho thấy, hàng năm có hàng ngàn ý kiến, kiến nghịcủa cử tri được đại biểu Quốc hội thu thập, phản ánh đến cơ quan, tổ chức cótrách nhiệm, trong đó có trên dưới 2.000 kiến nghị được gửi đến Ủy banthường vụ Quốc hội để nghiên cứu, xử lý theo quy định của pháp luật Ý kiếncủa cử tri đã trở thành kênh thông tin quan trọng không thể thiếu được trongquá trình Quốc hội thực thi nhiệm vụ
Qua hoạt động tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội đã tiếp xúc để lĩnh hội ýkiến, kiến nghị của cử tri và kịp thời báo cáo với cử tri về kết quả hoạt độngcủa Quốc hội; đồng thời, góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cửtri Việc tăng thời lượng, tăng số lượng các vấn đề được đưa ra kỳ họp để thảoluận, xem xét có truyền hình trực tiếp, đặc biệt là phần chất vấn và trả lời chấtvấn đã góp phần làm cho thông tin từ các diễn đàn Quốc hội đến với ngườidân nhiều hơn, nhanh hơn, làm cho nhân dân hiểu biết hơn về đại biểu, về cơquan đại diện của mình và từ đó làm tăng niềm tin đối với Quốc hội
1.1.2 Khái niệm pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Thực tiễn cho thấy, tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội là loại hìnhhoạt động của đời sống xã hội, nó bao gồm những hoạt động cụ thể của đạibiểu Quốc hội nhằm hướng tới cử tri để lắng nghe, thu thập và phản ánh ýkiến, kiến nghị của cử tri.v.v Do vậy, đòi hỏi pháp luật phải quy định địa vịpháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thểtrong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội Để bảo đảo có sở pháp
lý cho các hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn,Nhà nước đã ban hành các quy định pháp luật nhằm xác lập cơ sở pháp lý về
Trang 23một số vấn đề như: trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong tiếp xúc cử tri,quyền và trách nhiệm của cử tri, trách hiệm của các cơ quan hữu quan trongviệc tổ chức, phục vụ hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và trongviệc giải quyết các kiến nghị của cử tri do đại biểu Quốc hội yêu cầu…Có thểnói, pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội điều chỉnh các vấn đềsau:
- Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong hoạt động tiếp xúc với cử tri,thể hiện ở việc đại biểu cần phải thực hiện việc tiếp xúc, liên hệ với cử tri đểnắm bắt tâm tư nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh kiến nghị của cửtri; chuyển kiến nghị của cử tri đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để giảiquyết, đôn đốc, giám sát việc giải quyết kiến nghị và trả lời cử tri về kết quảgiải quyết kiến nghị; báo cáo cử tri về kết quả hoạt động đại biểu và chươngtrình hành động đã hứa với cử tri trong cuộc vận động bầu cử Đây vừa làtrách nhiệm chính trị, vừa là trách nhiệm pháp lý của đại biểu Quốc hội đốivới cử tri
- Quyền và trách nhiệm của cử tri trong việc tiếp xúc với đại biểu Quốchội được thể hiện khi cử tri tham gia các cuộc tiếp xúc với đại biểu Quốc hội,kiến nghị những vấn đề mà mình quan tâm với đại biểu Quốc hội
- Trách nhiệm của cơ quan tổ chức hữu quan trong hoạt động tiếp xúc cửtri, như về tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri; tập hợp, tổng hợp kiếnnghị của cử tri; đôn đốc, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; thammưu, phục vụ đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
- Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các cơquan hữu quan và cơ quan phục vụ đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm pháp luật về tiếp xúc cử tricủa đại biểu Quốc hội như sau:
Pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại
Trang 24biểu Quốc hội.
1.1.3 Đặc điểm pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Qua tập hợp, nghiên cứu có tính hệ thống các văn bản pháp luật về chứcnăng, nhiệm vụ của Quốc hội nói chung, của đại biểu Quốc hội nói riêng chothấy, các quy định pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội khôngđược xây dựng thành một văn bản pháp luật riêng mà các quy định này củapháp luật được xây dựng rải rác ở các văn bản khác nhau trong hệ thống phápluật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, như từ Hiến pháp đến các luật,nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghịquyết liên tịch… Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về tiếp xúc cử tri củađại biểu Quốc hội là một bộ phận cấu thành của chế định pháp luật về Quốchội và đại biểu Quốc hội Các quy định này là một bộ phận thống nhất tronghệ thống pháp luật Việt Nam Pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốchội có những đặc điểm chung của hệ thống pháp luật Việt Nam như:
- Mang tính quy phạm, chứa đựng những quy tắc xử sự của con người,
đó là những chuẩn mực để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp tronghoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
- Các quy tắc xử sự trong tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng cótính bắt buộc chung,
- Thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, thể chế hoáđường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động tiếp xúc cử tri.Cũng như các quy phạm pháp luật khác, là một bộ phận trong hệ thốngpháp luật Việt Nam, nên pháp luật về tiếp xúc cử tri cũng có những đặc trưngriêng, khác biệt so với các lĩnh vực pháp luật khác như: pháp luật về khiếunại, tố cáo, giải quyết tranh chấp dân sự Đặc trưng của pháp luật về tiếp xúc
cử tri của đại biểu Quốc hội bị quy định bởi đối tượng điều chỉnh và phươngpháp điều chỉnh riêng và thể hiện ở những điểm sau đây:
Một là, pháp luật về tiếp xúc cử tri điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội Đó là các quy định
Trang 25điều chỉnh mối quan hệ trách nhiệm giữa đại biểu Quốc hội với cử tri trongquá trình tiếp xúc, thu thập và phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri; điềuchỉnh mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; điềuchỉnh mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu quan.
Hai là, pháp luật về tiếp xúc cử tri quy định trình tự, thủ tục, hình thức,
nội dung, cách thức tiến hành hoạt động tiếp xúc cử tri của địa biểu Quốc hội;
Ba là, pháp luật về tiếp xúc cử tri quy định trách nhiệm của đại biểu
Quốc hội trong việc tập hợp, chuyển các kiến nghị của cử tri; yêu cầu các cơquan, tổ chức có trách nhiệm trong việc giải quyết kiến nghị và trả lời cử tri
Bốn là, pháp luật về tiếp xúc cử tri quy định trách nhiệm của đại biểu
Quốc hội trong việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan có trách nhiệm giải quyếtkiến nghị của cử tri; báo cáo kết quả hoạt động và thực hiện chương trìnhhành động đã hứa trước cử tri trong cuộc vận động bầu cử
Năm là, pháp luật về tiếp xúc cử tri quy định trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức hữu quan trong việc tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc
cử tri; nghiên cứu, giải quyết những kiến nghị của cử tri do đại biểu Quốc hộichuyển đến; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT; YÊU CẦU VÀ TIÊU CHÍ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP XÚC CỬ TRI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.2.1 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
1.2.1.1 Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật về tiếpxúc cử tri có các vai trò của pháp luật nói chung, ngoài ra do có đối tượng điềuchỉnh riêng, có nhiệm vụ riêng, nên pháp luật về tiếp xúc cử tri cũng có nhữngvai trò riêng như: Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt độngtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội; xác lập cơ sở pháp lý về hoạt động tiếp xúc
cử tri của đại biểu Quốc hội cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu
Trang 26quan trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội; tạo cơ sở pháp lý để
cử tri có thể phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị với đại biểu Quốc hội;đồng thời, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội; góp phầnhoàn thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểuQuốc hội nói riêng và hệ thống pháp luật ở nước ta nói chung
Cùng với quá trình xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung, xâydựng Quốc hội nói riêng, thuật ngữ tiếp xúc cử tri đã trở thành thuật ngữ pháp
lý, được ghi nhận trong các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và đượcthể chế hóa trong các Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các đạo luật và cácvăn bản hướng dẫn thi hành qua các thời kỳ Ngày nay, khái niệm này ngàycàng được sử dụng phổ biến khi đề cập đến hoạt động tiếp xúc cử tri của đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp đổi mới toàndiện đất nước đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, trong đó có việc củng cố vàxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân Đảng ta luôn xác định Quốc hội là cơ quan quyềnlực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, có vai trò đặcbiệt quan trọng trong hệ thống chính trị Mỗi đại biểu Quốc hội đều có trọngtrách là người đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử ra mình, đồng thời là đạidiện cho cử tri cả nước Đảng ta luôn luôn quan tâm lãnh đạo nhằm phát huyvai trò của Quốc hội, đồng thời chính Đảng cũng là lực lượng tiên phong địnhhướng nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội
Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáochính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI) tại Đại hội Đảng lần thứVII đã nhận định: "Trong sinh hoạt đảng, hoạt động của các cơ quan nhà nước
và các đoàn thể nhân dân, cũng như trong xã hội, đã có không khí thảo luận cởi
mở, thẳng thắn, phê phán khuyết điểm, sai lầm, khắc phục dần hiện tượng dânchủ hình thức Nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật quan trọng đã được nhândân tham gia ý kiến trước khi quyết định” Tuy nhiên, Đảng ta cũng thẳng thắn
Trang 27thừa nhận những tiến bộ này là chưa nhiều; quyền làm chủ của nhân dân “chưađược tôn trọng và phát huy đầy đủ” Báo cáo chính trị tại Đại hội VII của Đảngcũng đã đặt ra phương hướng và nhiệm vụ phát huy nền dân chủ xã hội chủnghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và vai trò của các đoàn thể nhândân, trong đó nhấn mạnh việc “Cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội đểlàm đúng trách nhiệm là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”.
Từ sau Đại hội VII của Đảng (năm 1991), những diễn biến mới trong bốicảnh quốc tế và khu vực đòi hỏi bộ máy nhà nước ta cần phải tiếp tục đổimới Trong đó, tổ chức bộ máy và hoạt động của Quốc hội, cơ quan đại diệncao nhất của nhân dân cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về phương diện lýluận và thực tiễn Nghị quyết số 03/NQ-HNTƯ ngày 18/6/1997 của Hội nghịlần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam trong sạch, vững mạnh đã nêu rõ:
Quy định nhiều hình thức thích hợp để duy trì sự liên hệ thườngxuyên giữa đại biểu dân cử và cử tri, để các đại biểu luôn luôn sátthực tiễn, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, yêu cầu của dân Các đạibiểu phải định kỳ báo cáo và chịu sự kiểm tra, giám sát của cử tri,nếu không đủ tín nhiệm thì cử tri thực hiện quyền bãi miễn
Có các hình thức để nhân dân có thể dự thính hoặc theo dõi trực tiếp quaphương tiện thông tin đại chúng các kỳ họp của cơ quan dân cử [12] Trong nhiều văn kiện của Đảng ta nói về tầm quan trọng của việc phảnánh trung thực, kịp thời những ý kiến, kiến nghị của nhân dân với Đảng, Nhànước Nghị Nghị quyết số 03- NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấphành Trung ương Đảng (khoá VII) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốnĐảng, ngày 26 tháng 6 năm 1992, tại mục 6 - Đổi mới và tăng cường công tácvận động nhân dân, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, đã nêu:
“Các đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thường xuyên liên hệvới cử tri, nắm vững yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng để xây dựng, hoàn
Trang 28thiện luật pháp, chính sách; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền vận độngnhân dân thực hiện các chính sách, pháp luật” Việc xem xét, giải quyếtnhững ý kiến, kiến nghị đó nhưng được thể hiện khá rõ và cụ thể tại nghịquyết hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam(khoá VII) đó là: "Cải tiến chế độ tiếp xúc, báo cáo của đại biểu Quốc hội vàđại biểu Hội đồng nhân dân với cử tri, tạo điều kiện để nhân dân không chỉphản ánh ý trí, nguyện vọng của mình mà còn biểu thị thái độ, đánh giá hoạtđộng của đại biểu dân cử, của cơ quan Nhà nước Quốc hội, Hội đồng nhândân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cần thu thập, phản ánh vàkịp thời xem xét các ý kiến của cử tri về sự tín nhiệm đối với đại biểu Quốchội và Hội đồng nhân dân các cấp"
Từ thực tiễn và những bài học kinh nghiệm đúc kết từ hơn 65 năm với
13 khoá Quốc hội cho thấy, mỗi bước đổi mới của Quốc hội từ vai trò, vị trí,thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ đến cơ cấu, tổ chức bộ máy và phương thứchoạt động đã thể hiện rõ trong các quan điểm của Đảng Trên cơ sở các chủtrương, quan điểm của Đảng Công sản Việt Nam về trách nhiệm nói chung,nhiệm vụ tiếp xúc cử tri nói riêng của đại biểu Quốc hội trong các văn kiện đãđược Quốc hội nghiên cứu, tiếp thu và chuyển hóa thành những quy địnhtrong các bản Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, Nghị quyết của Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội
Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội và phát huy dân chủ xãhội chủ nghĩa, tư duy của Đảng ta về Quốc hội nói chung, đại biểu Quốc hộinói riêng đã từng bước được đổi mới và phù hợp hơn; xác định ngày càng rõhơn chức trách, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, trong đó có nhiệm vụ tiếpxúc cử tri Trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, Quốc hội cũng đã kịpthời thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ, quyền hạncủa đại biểu Quốc hội thành các quy định trong Hiến pháp, các luật, nghịquyết của Quốc hội và của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trong đó có các quyđịnh về nhiệm vụ tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội Điều đó đã thể hiện rõ
Trang 29ở các chế định về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong các bảnHiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và cácLuật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Nội quy kỳhọp Quốc hội, Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy chếhoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Nghị quyết liêntịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQVNhướng dẫn việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
1.2.1.2 Xác lập cơ sở pháp lý về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Các quy định của pháp luật về tiếp xúc cử tri đã tạo cơ sở pháp lý quan trọngđể đại biểu Quốc hội thực hiện trách nhiệm của mình Tại Điều 61, Luật tổ chứcQuốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 đã quy định: “Đại biểu Quốc hội phảiliên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc vàbáo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, trả lời những yêu cầu
và kiến nghị của cử tri Sau mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội báo cáovới cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các luật và nghị quyết đãđược Quốc hội thông qua Đại biểu Quốc hội tuyên truyền, phổ biến pháp luật vàchính sách của Nhà nước, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước” Đến Hiến pháp 1992, tại Điều 97 quy định: “Đại biểu Quốc hội là ngườiđại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân
ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước Đại biểu Quốchội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phảnánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhànước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt độngcủa mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xemxét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướngdẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó”
Trên cơ sở đó, quá trình xây dựng, ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm
Trang 301992 cũng đã cụ thể hóa quy định tại Điểu 97, Hiến pháp năm 1992 về việcđại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri Tại Điều 43 Luật tổ chức Quốchội quy định: “Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sựgiám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyệnvọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến của cử tri với Quốchội và cơ quan Nhà nước hữu quan.
Mỗi năm ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thựchiện nhiệm vụ đại biểu của mình Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặttrận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việcthực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội”
Nhằm cụ thể hoá các quy định về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hộitrong Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi năm 2001), Quốc hội đã ban hành Nghịquyết số 08/2002/QH11 về Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoànđại biểu Quốc hội, trong đó cũng đã bổ sung các hình thức tiếp xúc cử tri của đạibiểu Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội đã phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủyban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết số06/2004/NQLT/UBTVQH11- ĐCTUBTWMTTQVN ngày 10/9/2004 hướng dẫn
về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri (gọi tắt là Nghị quyết liên tịch số 06).Từ những phân tích trên cho thấy, pháp luật về tiếp xúc cử tri của đạibiểu Quốc hội được thể hiện trong các văn bản pháp luật từ Hiến pháp đếncác văn bản hướng dẫn, cụ thể như sau:
- Được quy định trong bản Hiến pháp 1946, 1980, 1992 (được sửa đổi,bổ sung năm 2001);
- Được cụ thể hóa trong các Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, 1981,
1992, 2001;
- Được cụ thể hóa trong các Nghị quyết của Quốc hội về: Nội quy kỳhọp Quốc hội; quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy chếhoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội;
- Được quy định trong Nghị quyết liên tịch số 06/2004/NQLT/
Trang 31UBTVQH11-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 10/9/2004 của Ủy ban thường vụQuốc hội với Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQVN ban hành hướng dẫn về việcđại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri.
Nhìn chung, các văn bản pháp luật nêu trên đã quy định khá rõ về nhiệm
vụ tiếp xúc cử tri đại biểu Quốc hội theo những hình thức và phương thứckhác nhau Đó là các hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc với các cử tri theo hình thứchội nghị hoặc tự tiếp xúc trực tiếp với cá nhân hay nhóm cử tri; tiếp xúc với
cử tri ở đơn vị bầu cử, ở nơi cư trú, nơi làm việc, theo chuyên đề, lĩnh vực.Qua hoạt động tiếp xúc, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm lắng nghe, giảitrình, tiếp thu những ý kiến, kiến nghị của cử tri; tập hợp tổng hợp kiến nghịcủa cử tri và chuyển, yêu cầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu,giải quyết để trả lời cử tri Hơn nữa, các quy định của pháp luật về tiếp xúc cửtri cũng xác định trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong việc báo cáo kếtquả hoạt động hàng năm và thực hiện chương trình hành động đã hứa trước
cử tri (Điều 36)
Bên cạnh đó, pháp luật về tiếp xúc cử tri còn xác định khá rõ tráchnhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan đối với hoạt động tiếp xúc cử tri.Tại Điều 72, Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 quyđịnh: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng
bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác có tráchnhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đại biểu Quốc hội, như cungcấp tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc với cử tri, các phương tiện đi lạitheo tiêu chuẩn Những người cản trở đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đạibiểu sẽ bị xử lý theo pháp luật”
Theo quy định tại Điều 5, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội vàĐoàn đại biểu Quốc hội năm 2002 thì đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểuQuốc hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,đơn vị vũ trang nhân dân tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ
Trang 32của mình Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức,đơn vị nêu trên có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của đại biểu Quốc hội và Đoànđại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho cácđại biểu trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong hoạt động tiếp xúc
cử tri của đại biểu Quốc hội cũng được quy định trong Điều 12 Nghị quyếtliên tịch số 06 như sau:
“1- Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội giúp đại biểu Quốc hộihoặc đại biểu Quốc hội tự liên hệ với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấnnơi đại biểu cư trú để tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri
2- Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn nơi đạibiểu cư trú phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dâncùng cấp tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri, gửi giấy mời cử tri, đồng thời thôngbáo rộng rãi cho cử tri nơi đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp xúc biết về nộidung, thời gian và địa điểm
3- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đại biểu Quốc hội đến tiếpxúc cử tri tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm và bảo đảm trật tự, an toàn chocuộc tiếp xúc ”
Các quy định của pháp luật nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để đạibiểu Quốc hội thực hiện việc tiếp xúc cử tri; đồng thời là cơ sở pháp lý đểĐoàn đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan thực hiện việc tổ chức đểđại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri; tổng hợp, xử lý, yêu cầu cơ quan chức nănggiải quyết kiến nghị của cử tri Thực tế cho thấy, nhờ các quy định cụ thể vềtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội đã giúp các đại biểu Quốc hội thực hiệntốt hơn nhiệm vụ tiếp xúc, giữ mối liên hệ với cử tri được thường xuyên.v.v
1.2.1.3 Tạo cơ sở pháp lý để cử tri có thể phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị với đại biểu Quốc hội; đồng thời, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Theo quy định tại Điều 36, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội thì “Người
Trang 33ứng cử có tên trong Danh sách ứng cử đã công bố thực hiện quyền vận độngbầu cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và báo cáo với cử tri dự kiếnviệc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểuQuốc hội Việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc việt NamTổ chức” Đây là cơ sở để hình thành nên quy định trách nhiệm của đại biểuQuốc hội trong việc báo cáo với cử tri về kết quả hoạt động hàng năm và thựchiện chương trình hành động mà đại biểu Quốc hội đã hứa với cử tri trongcuộc vận động.
Pháp luật quy định đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụcủa mình và cử tri thực hiện quyền giám sát hoạt động của người đại diện domình bầu ra Tại Điều 13, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoànđại biểu Quốc hội quy định:“Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc cử tritrong thời gian cuối năm, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thựchiện nhiệm vụ đại biểu của mình” và “Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc địa phương yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và cóthể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Ý kiếnnhận xét của cử tri đối với đại biểu Quốc hội được Đoàn đại biểu Quốc hộiphối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương tổng hợp báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội”
Các quy định của pháp luật nêu trên còn là cơ sở pháp lý để cử tri thựchiện quyền tiếp xúc, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình với đại biểuQuốc hội; đồng thời cũng là cơ sở để giám sát việc thực hiện trách nhiệm củađại biểu và qua đó đánh giá được sự tín nhiệm của cử tri đối với đại biểuQuốc hội Hơn nữa, trong trường hợp đại biểu Quốc hội không còn xứng đángvới sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc hộihoặc cử tri bãi nhiệm Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa raQuốc hội bãi nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm đại biểu Quốchội theo đề nghị của Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ banMặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc của cử tri nơi
Trang 34bầu ra đại biểu Quốc hội đó (Khoản 1, Điều 32, Quy chế hoạt động của đạibiểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội); và “Đại biểu Quốc hội không cònxứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bịQuốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm” (Khoản 1, Điều 36 Nội quy kỳ họp Quốc hội).
1.2.1.4 Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội nói riêng và hệ thống pháp luật ở nước ta nói chung
Có thể khẳng định rằng, việc ban hành các quy phạm pháp luật về tiếpxúc cử tri của đại biểu Quốc hội đã cụ thể hóa các quan điểm, định hướng củaĐảng ta về Quốc hội nói chung, về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốchội nói riêng Quá trình xây dựng, ban hành các quy định pháp luật về tiếpxúc cử tri trong các bản Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và trong các Nghịquyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã từng bước cụ thể hóanhiệm vụ tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội nước ta
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các chế định pháp luật từtrước đến nay cho thấy, trong từng gia đoạn cách mạng cụ thể, hệ thống phápluật nước ta cũng có những sự phát triển theo hướng phục vụ nhiệm vụ chínhtrị mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra Trong qua trình đó, các chế định pháp luật
về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng có những sự phát triển khôngđồng đều; và điều đó đã phụ thuộc vào nhiệm vụ của cả hệ thống pháp luậttrong từng thời kỳ cách mạng
Trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là vôcùng quan trọng và cần thiết Quá trình ban hành các quy định pháp luật vềtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội đã từng bước góp phần vào việc hoànthiện hệ thống pháp luật ở nước ta nói chung, các quy định của pháp luật vềnhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội nói riêng; đồng thời, góp phầntừng bước hoàn thiện cơ chế để cử tri và nhân dân thực hiện quyền tham giahoạt động quản lý nhà nước thông qua việc tiếp xúc với đại biểu Quốc hội và
Trang 35giám sát việc thực hiện trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, qua đó góp phầnnâng cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, củng cố mối quan hệ giữa đạibiểu và cử tri.
1.2.2 Yêu cầu và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
1.2.2.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta là một trong những yêu cầu cấpbách trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, chuyển từ cơ chế tập trung báo cấp sang
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì đòi hỏi phải cóhệ thống pháp luật động bộ, thống nhất, khả thi lại càng cấp bách hơn bao giờhết Trong nhiều văn kiện, Đảng ta luôn coi trọng việc đổi mới hoạt động xâydựng pháp luật nhằm hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng ngày mộttốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Tại Báo cáochính trị trình Đại hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) đã nêu rõ: “Tiếp tục đổimới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nângcao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách,phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội” [20, tr.126] Trong Báo cáo số 143/TLHN ngày 25/12/2008 của Ban chấp hành Trungương về kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong nửa đầunhiệm kỳ (2006-2008) đã nhận định:
Tổ chức bộ máy và hoạt động của Quốc hội trên một số mặt chưatương xứng với nhiệm vụ và quyền hạn mà Hiến pháp và luật đãquy định Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn có mặt chưasát thực tế, tính khả thi chưa cao Nhiều lĩnh vực của đời sống xãhội chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh; một số luật, pháp lệnh đượcban hành nhưng chưa cụ thể, phải chờ văn bản hướng dẫn nên chậm
đi vào cuộc sống; quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thiếu đồng
Trang 36bộ Một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn, gây bức xúctrong xã hội nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung Hoạt động giám sátcủa Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội chưa đạt hiệu quả; kiếnnghị các biện pháp chế tài của cơ quan giám sát chưa đáp ứng đượcđòi hỏi của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân[21, tr.73].
Trên cơ sở báo cáo của Đảng đoàn Quốc hội, Bộ Chính trị đã có Kếtluận tại Thông báo số 144-TB/TW ngày 28/3/2008 một số vấn đề về tổ chức,hoạt động của Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội, trong đó đã xác định mộttrong những phương hướng nhiệm vụ cần tiếp tục nghiên cứu của Quốc hộitrong thời gian tới là “Đổi mới mạnh mẽ việc tiếp xúc cử tri của các đại biểuQuốc hội cả về nội dung, cách thức tổ chức; khắc phục tính đơn điệu, hìnhthức theo chế độ hội nghị Từng đại biểu Quốc hội cần có kế hoạch cụ thể,thiết thực thâm nhập vào các hoạt động của đời sống xã hội ở địa phương đểhiểu rõ những yêu cầu của thực tiễn và tâm tư, nguyện vọng của cử tri, qua đóđại biểu Quốc hội mới có thể thực hiện được vai trò đại biểu của nhân dân vànhân dân mới đặt niềm tin vào Quốc hội”
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa X trình Đại hội XI củaĐảng, tại mục VII về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đạiđoàn kết toàn dân tộc đã khẳng định:
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển đất nước Tiếp tục xây dựng và hoànthiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhànước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước đề vì lợi ích của nhân dân;… Có cơ chế
cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp vàquyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình [22, tr.47-48].Cũng trong Báo cáo này, tại mục VIII về đẩy mạnh xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã xác định:
Trang 37Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo Nhà nước chăm
lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhândân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắctập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâncông phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Đẩy mạnh xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [22, tr.52]
Một trong ba nội dung lớn của nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền
Còn khá nhiều các vấn đề về các hình thức tiếp xúc cử tri, thànhphần hội nghị tiếp xúc cử tri, trách nhiệm của các cơ quan trongviệc tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, nội dung các cuộc tiếpxúc cần được xem xét, cải tiến Từ hoạt động thực tiễn của cácđoàn đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên có vănbản hướng dẫn chi tiết, cụ thể các điều về tiếp xúc cử tri được quyđịnh tại Luật Tổ chức Quốc hội thay cho hướng dẫn thi hành Nghị
Trang 38quyết liên tịch số 06 ngày 10-9-2004 để các Đoàn đại biểu Quốc hộithực hiện thống nhất, có hiệu quả hơn [42].
Để xây dựng được “cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và cótrách nhiệm với cử tri” và “Đổi mới mạnh mẽ việc tiếp xúc cử tri của các đạibiểu Quốc hội cả về nội dung, cách thức tổ chức; khắc phục tính đơn điệu,hình thức theo chế độ hội nghị” như đã nêu trong các văn bản của Đảng, thìcần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật vềtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hoàn thiện pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
- Tiêu chí 1: Bảo đảm thể chế hóa đường lối của Đảng đối với hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạoNhà nước và xã hội, Đường lối của Đảng có ý nghĩa quan trọng, quyết địnhđến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, là tư tưởng chỉ đạo cho việcxác định nội dung của các chính sách, pháp luật Có thể nói, việc xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lốichính trị của Đảng Công sản
Thể chế hóa đường lối của Đảng về trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đạibiểu Quốc hội là hoạt động xây dựng các quy phạm pháp luật về tiếp xúc cửtri của đại biểu Quốc hội Hoạt động đó dựa trên cơ sở quán triệt những địnhhướng, nội dung tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Đảng về điều chỉnh các quan hệxã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ đại biểu Quốc hội nóichung, nhiệm vụ tiếp xúc cử tri nói riêng
Pháp luật về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội phải thể hiện trungthành, nhất quán, đầy đủ, chính xác và kịp thời với định hướng về nội dungcủa đường lối chính trị, nhằm hoàn thiện cơ chế để đại biểu Quốc hội thực hiệnnhiệm vụ tiếp xúc cử tri và thực hiện tốt hơn vai trò đại diện của mình trước cửtri Kết quả của việc thể chế hóa đường lối của Đảng về tiếp xúc cử tri là việc
Trang 39Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiếp xúc cử tri của đạibiểu Quốc hội, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Do vậy, để đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật về tiếp xúc cử tri,cần phải xem xét đến việc Nhà nước có ban hành kịp thời các văn bản phápluật về lĩnh vực này hay không, nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật
đó có thể hiện đầy đủ, chính xác nội dung định hướng đường lối của Đảnghay không
- Tiêu chí 2: Bảo đảm tính pháp lý trong nội dung của pháp luật về tiếp xúc cử tri
Như đã trình bày ở trên, pháp luật về tiếp xúc cử tri là tổng thể các quyphạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động vềtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội Vì vậy, để đánh giá thực trạng vai tròcủa pháp luật về tiếp xúc cử tri, phải dựa trên cơ sở việc đánh giá nội dungcủa pháp luật trong lĩnh vực này, có nghĩa là phải đánh giá dựa vào các dấuhiệu sau:
Pháp luật về tiếp xúc cử tri có đủ các chế định, quy phạm pháp luật theo
cơ cấu nội dung, quy định đầy đủ, cụ thể và minh bạch quyền, nghĩa vụ củacác chủ thể trong hoạt động tiếp xúc cử tri hay không, các khái niệm về tiếpxúc cử tri có chính xác, rõ ràng hay không
Pháp luật về tiếp xúc cử tri có phù hợp với trình độ phát triển của thựctiễn và những đòi hỏi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hay không.Tính phù hợp của pháp luật về tiếp xúc cử tri thể hiện ở việc các quy định vềcác nguyên tắc trong tiếp xúc cử tri, đối tượng, vai trò, trách nhiệm của đạibiểu Quốc hội và của các cơ quan, tổ chức hữu quan…có phù hợp với cácnguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, với thể chế chính trị ở Việt Nam, vớiđiều kiện kinh tế - xã hội nước ta hay không
Việc tiếp xúc cử tri là một loại hình hoạt động đặc thù của đại biểu Quốchội Đó là hoạt động mang tính chính trị - pháp lý Do vậy, khi đánh giá nộidung của pháp luật về tiếp xúc cử tri phải xem xét các quy định này có đáp
Trang 40ứng được những yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong sựnghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân hay không Pháp luật có tạo ra một cơ chế pháp lý để đại biểu Quốc hộithực hiện tốt trách nhiệm tiếp xúc cử tri, đồng thời góp phần vào việc xâydựng Quốc hội ngày càng thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất hay không
- Tiêu chí 3: Bảo đảm về hình thức của pháp luật về tiếp xúc cử tri
Trên cơ sở lý luận về hình thức của pháp luật, việc đánh giá thực trạnghình thức của pháp luật về tiếp xúc cử tri được xem xét ở các khía cạnh sau:Tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật về tiếp xúc cử tri Tính thốngnhất, đồng bộ của pháp luật trong lĩnh vực này thể hiện sự không mâu thuẫn,không trùng lặp, chồng chéo và triệt tiêu giữa các chế định và quy phạm phápluật với nhau
Các văn bản quy phạm pháp luật về về tiếp xúc cử tri có bảo đảm trật tự,thứ bậc về hiệu lực hay không Các quy định trong mỗi văn bản quy phạm phápluật trong lĩnh vực này có bảo đảm tính lôgic về trật tự nội dung hay không.Tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật về tiếp xúc cử tri có phù hợpvới nội dung văn bản hay không, ngôn ngữ, văn phong được sử dụng trongvăn bản có chính xác, dễ hiểu hay không, có giải quyết được những mâuthuẫn giữa tính khái quát cao của quy phạm pháp luật với tính cụ thể của cácmối quan hệ về tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội hay không
Nếu pháp luật về tiếp xúc cử tri đáp ứng được những yêu cầu về mặthình thức như đã nêu trên thì pháp luật đó sẽ thực hiện tốt các vai trò củamình, còn ngược lại nếu pháp luật về tiếp xúc cử tri không đáp ứng hoặc đápứng không đầy đủ những yêu cầu trên thì sẽ không thực hiện được vai trò củamình trong đời sống xã hội
- Tiêu chí 4: Bảo đảm chất lượng thực hiện pháp luật về tiếp xúc cử tri
Đây cũng là một tiêu chí để đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật vềtiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, bởi vì, việc thực hiện pháp luật trong