1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU dẫn LUẬN NGÔN NGỮ ĐH QUY NHƠN

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 346,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN TÀI LIỆU GIẢNG DẠY HỌC PHẦN DẪN LUẬN NGÔN NGỮ TS Đặng Thị Thanh Hoa BÌNH ĐỊNH, 72021 Chương 1 NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC NGUỒN GỐC VÀ SỰ DIỄN TIẾN CỦA NGÔN NGỮ 1 1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ học 1 1 1 Khái niệm Ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm cụ thể của con người cũng như trừu tượng hoá khỏi những tư tưởng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY HỌC PHẦN DẪN LUẬN NGÔN NGỮ

TS Đặng Thị Thanh Hoa

BÌNH ĐỊNH, 7/2021

Trang 2

Chương 1 NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC NGUỒN GỐC VÀ SỰ DIỄN TIẾN CỦA NGÔN NGỮ 1.1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ học

1.1.1 Khái niệm Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm cụ thể của con người cũng như trừu tượng hoá khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó

1.1.2 Khái niệm Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ tự nhiên của con người nói chung và tất cả các ngôn ngữ thế giới như là những thể hiện có tính chất cá

nhân của ngôn ngữ (Nguyễn Như Ý, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,

tr.158)

1.2 Nguồn gốc và diễn tiến của ngôn ngữ

1.2.1 Nguồn gốc của ngôn ngữ

- Những giả thuyết khoa học trước Mác

+ Thuyết tượng thanh

Thuyết tượng thanh manh nha từ thời cổ đại, phát triển mạnh vào thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX và đến nay vẫn có người ủng hộ Theo lí thuyết này, toàn bộ ngôn ngữ nói chung và các từ riêng biệt của nó đều là do ý muốn tự giác hay không

tự giác của con người bắt chước những âm thanh của thế giới bao quanh Sự bắt chước âm thanh mà các học giả nói tới bao hàm những nội dung khác nhau Nội

dung sự bắt chước âm thanh, theo Platon và Augustin thời cổ đại thực chất là dùng đặc điểm của âm thanh để mô phỏng đặc điểm của sự vật khách quan Thí dụ,

trong tiếng Hi Lạp [r] là một âm rung, âm thanh phát ra nhờ sự rung động của lưỡi cho nên nó đã được dùng để gọi tên sông ngòi – những sự vật có đặc điểm lưu

động Trong tiếng Latin, âm mel (mật ong) có tính mềm mại, biểu thị một thứ gì ngọt ngào, còn âm acer (thép) thì biểu thị một thứ gì cứng rắn…

Quan niệm phổ biến nhất về sự bắt chước âm thanh là con người dùng cơ

quan phát âm của mình mô phỏng những âm thanh do sự vật phát ra, như tiếng

Trang 3

chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy… Ví dụ, cái xe máy kêu bình bịch nên có tên gọi là “cái bình bịch”, con mèo kêu meo meo nên mới gọi là “mèo”…

Trong ngôn ngữ học hiện đại, sự bắt chước âm thanh còn được giải thích là

dùng đặc điểm của tư thế bộ máy phát âm mô phỏng đặc điểm của sự vật khách

quan Ví dụ [ku], [gu] hoặc [nu] có đặc điểm âm tròn môi, trong nhiều ngôn ngữ đều được dùng để tạo nên từ căn của những từ biểu thị các sự vật có đặc điểm

"hình lõm", "trống rỗng", "hình tròn" hoặc "kéo dài" (khi phát âm môi kéo dài ra trước)

Cơ sở của những quan điểm trên là ở chỗ, trong tất cả các thứ tiếng đều có

một số lượng nhất định các từ tượng thanh và từ sao phỏng, thí dụ các từ: mèo, bò, bình bịch, lom khom, ép, úp, mỉm v.v… trong tiếng Việt

ấn tượng mà các sự vật đã gây cho chúng ta Cơ sở của thuyết này là sự tồn tại trong các ngôn ngữ những thán từ và những từ phái sinh từ thán từ Chẳng hạn, các

từ: ối, ái, a ha, chao ôi… trong tiếng Việt

+ Thuyết tiếng kêu trong lao động

Thuyết này xuất hiện vào thế kỉ XIX trong các công trình của các nhà duy vật như L.Naure, K.Biukher Theo thuyết này, ngôn ngữ đã xuất hiện từ những tiếng kêu trong lao động tập thể Một phần có thể là những tiếng hổn hển do hoạt động cơ năng mà phát ra, nhịp theo lao động, những âm thanh đó sau này trở thành tên gọi của động tác lao động, một phần là những tiếng kêu của người nguyên thuỷ muốn người khác đến với mình trong quá trình lao động… Lí thuyết này cũng có

cơ sở thực tế trong sinh hoạt lao động của con người hiện nay

+ Thuyết khế ước xã hội

Trang 4

Thuyết này bắt nguồn từ một số ý kiến của nhà triết học cổ đại Democrit, thịnh hành vào thế kỉ XVIII với Adam Smith và Russo Theo thuyết này, ngôn ngữ

là do con người thoả thuận với nhau mà ra Adam Smith cho rằng khế ước xã hội là khả năng đầu tiên làm cho ngôn ngữ hình thành Russo lại cho rằng, loài người trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu là giai đoạn tự nhiên, con người là một bộ phận của tự nhiên, nguồn gốc của ngôn ngữ là cảm xúc Giai đoạn sau là giai đoạn văn minh, ngôn ngữ là sản phẩm của khế ước xã hội

+ Thuyết ngôn ngữ cử chỉ

Thuyết này thịnh hành vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX Những người chủ trương thuyết này cho rằng ban đầu con người chưa có ngôn ngữ thành tiếng, để giao tiếp với nhau người ta dùng tư thế của thân thể và của tay Vunter (thế kỉ XIX) cho rằng bộ điệu về nguyên tắc cũng giống với âm thanh, dù là bộ điệu về nguyên tắc cũng giống với âm thanh, dù là bộ điệu về nguyên tắc cũng giống với

âm thanh, dù là bộ điệu tay hay âm thanh cũng đều là động tác biểu hiện Marr (đầu thế kỉ XX) khẳng định ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1 triệu đến 1 triệu rưỡi năm còn ngôn ngữ âm thanh chỉ có cách đây 5 vạn đến 50 vạn năm Theo ông, ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hoá, có thể dùng làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc và với cả các bộ lạc khác, có thể là công cụ phát triển khái niệm của mình Ngôn ngữ thành tiếng lúc đầu chỉ là ngôn ngữ của các đạo sĩ dùng để giao tiếp với các vật tổ của mình Ông nói: Ban đầu cái ngôn ngữ thành tiếng được dùng tới không thể không có tính chất thần bí, từ cá biệt của nó được xem như một thứ gì huyền diệu khiến người ta phải trọng vọng Người ta quý trọng nó như giữ gìn cái bí mật không thể cho người khác biết, giống như bây giờ người ta vẫn không để cho ai biết thứ ngôn ngữ của người đi săn riêng biệt, huyền diệu vậy

Những học thuyết trên có phần đúng vì nó dựa trên những cơ sở khoa học nhất định Nhưng chưa đủ để lí giải thỏa đáng sự xuất hiện của ngôn ngữ

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác

Với sự ra đời của triết học biện chứng, vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ được xem xét và phân tích một cách toàn diện hơn, khoa học và hợp lí hơn: con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ; vậy phải tìm hiểu sự ra đời của ngôn ngữ

Trang 5

gắn liền với nghiên cứu nguồn gốc con người cả trong quá trình phát sinh giống nòi lẫn quá trình phát sinh và phát triển của mỗi cá thể

Các kết quả nghiên cứu về triết học, sinh vật học, khảo cổ học, sinh lí học thần kinh và ngôn ngữ học… kết luận rằng: lao động đã làm phát sinh, phát triển loài người và làm phát sinh ngôn ngữ trong quá trình đó

- Hàng triệu năm trước đây, tổ tiên của chúng vốn là một loài vượn người sống trên cây trong những cánh rừng tiền sử Do nhiều biến động của tự nhiên, những cánh rừng ấy bị tiêu diệt Thức ăn trên tầng cây cao ngày càng trở nên khó kiếm Loài vượn người ấy buộc phải rời khỏi ngọn cây cao (vốn là nơi trú ẩn, sinh sống từ lâu đời) xuống đất đi lang thang kiếm ăn

Trên mặt đất, sự di động chủ yếu không còn là leo trèo như trên cây nữa; đã thế kẻ thù lại nhiều hơn… Việc tìm kiến thức ăn và tự vệ để sinh tồn… đã buộc loài vượn này tập dần được cách đi bằng hai chi sau và đứng thẳng mình lên Cái bản lề trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người chính là việc đứng thẳng mình lên và đi bằng hai chân đó Để có được dáng đứng thẳng lên, loài vượn người xưa kia đã phải “tập đi” hàng nghìn năm chứ không phải như một em bé tập đi bây giờ, chỉ độ một tháng là xong

Thế là hai tay con vượn người đựơc giải phóng Đôi chân bây giờ hoàn toàn đảm đương việc đi lại Đôi tay ngày càng trở nên khéo léo hơn, biết sử dụng các vật sẵn có làm công cụ tự vệ, kiếm ăn; và quan trọng hơn: nó biết chế tạo ra công

cụ lao động Con vượn người đã chuyển dần thành con người vượn rồi thành người (người nguyên thuỷ) Dáng đứng thẳng cũng làm cho tầm mắt của tổ

tiên chúng ta được rộng và xa hơn; đồng thời bộ ngực nở hơn đồng thời các cơ quan của bộ máy phát âm có điều kiện phát triển hơn

Mặt khác, có công cụ trong tay, những người tiền sử đó kiếm được nhiều

thức ăn hơn và chuyển dần từ đời sống ăn thực vật (cây, quả, củ, rễ…) sang đời

sống ăn thịt Thêm vào đó, việc tìm ra và sử dụng được lửa cũng khiến họ chuyển

từ ăn sống sang ăn chín Một hệ quả quan trọng đã diễn ra, thức ăn chín, mềm khiến xương hàm người ta không cần phải to như trước nữa; lồi cằm (phần trước xương hàm dưới) vểnh ra rõ dần

Trang 6

Tuy nhiên, trong số các biến đổi về mặt sinh học của con người, sự tiến bộ của bộ não là quan trọng nhất Nhờ lao động, nhờ ăn thịt, bộ não của tổ tiên chúng

ta cũng phức tạp dần lên; những phần vỏ não trực tiếp liên quan đến tiếng nói như thuỳ trán, thuỳ thái dương và phần dưới thuỳ đỉnh, phát triển mạnh Kết cục là so với những người bà con và anh em họ của tổ tiên chúng ta, bộ não con người ngày nay (tính theo tỉ lệ giữa trọng lượng của não với trọng lượng của toàn thân) lớn hơn khỉ đột 10 lần, hơn đười ươi 6 lần, hơn khỉ đen 2 lần và hơn vượn 4 lần

Như vậy, lao động đã tạo ra con người và tạo ra những tiền đề thứ nhất về mặt sinh học để ngôn ngữ có thể phát sinh Có thể nói lao động để chuẩn bị và “tạo

cơ sở vật chất” để loài người có những cơ quan thích hợp cho việc sản sinh tiếng nói

- Cũng chính lao động đã tạo ra nhân tố xã hội để ngôn ngữ phát sinh Lao

động đã liên kết con người thành những bầy đàn, những cộng đồng và về sau thành

xã hội có tổ chức Muốn cùng chung sức để làm việc gì đó, người ta cần thoả thuận với nhau là sẽ làm gì, làm như thế nào… Những điều “biết được” về thế giới xung quanh, những kinh nghiệm trong lao động cần phải được thông báo cho nhau từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Đến đây thì con người (dù là người cổ nhất) đã khác con vật về chất Người

ta đã đến lúc thấy “cần phải nói với nhau về một cái gì đó” bởi vì họ đã có cái cần phải nói với nhau và có phương tiện để nói với nhau Phương tiện ấy chúng ta gọi

là ngôn ngữ Vậy không có ai khác, chính lao động đã sáng tạo ra con người và ngôn ngữ của con người Lao động đã làm cho bộ óc của con người cổ xưa biết hoạt động “theo kiểu người” và có công cụ vừa để tiến hành những hoạt động đó, vừa làm phong phú hoá nó, nâng nó lên “trình độ của con người” Đó là ngôn ngữ

- Tự bản chất của mình, từ khi mới phát sinh, ngôn ngữ vốn là công cụ, là

phương tiện để con người giao tiếp với nhau Thế nhưng, lúc đầu nó chưa phải là ngôn ngữ chúng ta đang có hôm nay; mà là thứ ngôn ngữ chưa phân thành âm tiết

rõ ràng, bởi vì cái lưỡi, cái cằm và hàm dưới, hệ dây thanh… chưa phù hợp, thuần phục với công việc mới mẻ, đầy phức tạp – công việc phát tiếng nói – này: thậm chí có bộ phận còn đang trên đường hoàn thiện dần

Trang 7

Tuy vậy, người ta không đợi cho mọi bộ phận cấu âm phát triển thật hoàn chỉnh rồi mới nói với nhau Những tiếng nói còn lẫn, còn nghèo, và ú ớ đó đã được

phối hợp với các động tác, dáng vẻ của cơ thể: mặt mũi, vai, tay, chân (nhất là đôi

tay) để “phát biểu” ý nghĩ, tình cảm của họ Thoạt đầu tiếng nói của con người chưa khác các điệu bộ bao nhiêu Dần dần, con người sử dụng tiếng nói thành thạo hơn và bỏ xa những cách “phát biểu” bằng cử chỉ, động tác; bởi lẽ ngôn ngữ thành tiếng của họ ngày càng mạch lạc hơn, trở thành hệ thống tín hiệu thứ hai, hệ thống

“tín hiệu loan báo các tín hiệu”

Hoạt động tín hiệu là hiện tượng chung cho mọi loài động vật trên hành tinh chúng ta; nhưng con người, với ngôn ngữ của mình đã có thêm một phương thức mới, khác hẳn về chất Nhờ có ngôn ngữ này mà từ đây, con người nghe được (tức

là nhận được) một tín hiệu có nghĩa “mặt trời” chẳng hạn, thì anh ta đã nghĩ tới, đã hình dung ra mặt trời rồi, không cần phải đợi cho tới khi nhìn tận mắt nữa

Đối với động vật, chỉ có những kích thích trực tiếp về thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác mới trở thành tín hiệu kích thích được Ngược lại, đối với con người, ngoài những thứ đó, người ta còn có các từ trong ngôn ngữ để thay thế cho chúng Đến đây thì cái gọi là ngôn ngữ thực sự hình thành và không bao giờ rời xa loài người nữa

1.2.2 Diễn tiến của ngôn ngữ

Về mặt dân tộc học, người ta đã phân loại các đơn vị tổ chức xã hội loài người thành các bậc: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và cuối cùng là dân tộc Bên cạnh đó, học thuyết về các hình thái kinh tế xã hội lại phân chia lịch sử xã hội theo một cách khác và được các hình thái kinh tế xã hội ứng xử với các giai đoạn phát triển như: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa

Trên thực tế, khó lòng có thể vạch ra từng bậc trong sự diễn tiến của ngôn ngữ một cách “phân đoạn” như vậy Tuy nhiên, trong chừng mực nhất định, người

ta vẫn có thể dựa vào những ranh giới phân đoạn đó nhiều hoặc ít, tuỳ theo, vì chẳng còn có cách nào hơn

- Chế độ công xã nguyên thuỷ ứng với loại cộng đồng thị tộc và bộ lạc (còn

gọi chung là các nhóm dân tộc học) trong đó bộ lạc là đơn vị cơ sở

Trang 8

Mỗi bộ lạc như thế cư trú trên một lãnh thổ, mọi người trong bộ lạc có quan

hệ kinh tế với nhau, mang mang những đặc điểm đời sống-văn hoá chung và nói cùng một thứ tiếng

Về mặt ngôn ngữ, thời kì này có hai xu hướng gần như trái ngược nhau, nhưng nhiều khi lại đan xen vào nhau: xu hướng chia tách, phân tách và xu hướng liên minh, hợp nhất

+ Xu hướng chia tách thường xảy ra khi một bộ lạc tăng trưởng dân số

không ngừng và đến một lúc nào đó, do nhiều điều kiện khác nhau (nhưng nhu cầu sinh sống là chủ yếu) buộc người ta tự nhiên phải tách ra thành những bộ phận, những nhóm, cư trú phân tán trên nhiều địa bàn khác nhau Do điều kiện sống xa nhau, thậm chí biệt lập, rất ít tiếp xúc hoặc không có tiếp xúc nữa, các bộ phận cư dân đó về sau đã hình thành nên (một cách tự nhiên) những bộ lạc độc lập

Trong quá trình đó, những khác biệt về mặt ngôn ngữ đã nảy sinh rồi được củng cố qua nhiều thế hệ và trở thành ngôn ngữ khác nhau có cùng nguồn gốc, hoặc trở thành những phương ngữ, thổ ngữ khác nhau của một ngôn ngữ chung Các nhà dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học cùng với những ngành khoa học hữu quan, khi nghiên cứu sự thân thuộc về mặt cội nguồn giữa các tộc người, giữa các ngôn ngữ hiện đang tồn tại hoặc giữa các phương ngữ của một ngôn ngữ, đã thấy rất rõ điều đó Chẳng hạn: các nhóm phương ngữ Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng của tiếng Chứt; các nhóm phương ngữ Thổ, Poọng, Đan Lai, Li Hà, Cuối Chăm, Cuồi Niêu của tiếng Thổ ở khu vực Đông Nam Trường Sơn (Việt Nam); Các phương ngữ của tiếng Papua ở Châu Phi, các phương ngữ của tiếng Litva ở Liên Xô… hẳn đã là kết quả của quá trình chia tách và khuếch tán như vậy

Có thể nói, ngôn ngữ của các bộ lạc, tự nó đã là những mầm mống để hình thành các phương ngữ, thổ ngữ trong giai đoạn xã hội phát triển cao hơn sau này

+ Xu hướng hợp nhất có lẽ hay xảy ra vào giai đoạn cuối của chế độ công xã

nguyên thuỷ đang chuyển dần sang giai đoạn xã hội có giai cấp Lúc này, có những liên minh bộ lạc được hình thành (hoặc là bằng cách một bộ lạc này chinh phục các

bộ lạc khác, hoặc là một số bộ lạc tự nguyện liên minh với nhau vì một nguyên nhân nào đó) Liên minh bộ lạc là điều kiện hết sức thuận lợi để các ngôn ngữ (dù không gần gũi với nhau về cội nguồn, hoặc hoàn toàn không có quan hệ thân thuộc

Trang 9

đi nữa) tiếp xúc chặt chẽ với nhau và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Thường có hai lối tác động:

Thứ nhất, một ngôn ngữ bộ lạc chiến thắng các ngôn ngữ khác và trở thành

ngôn ngữ chung trong cộng đồng toàn liên minh Tuy vậy, nó vẫn chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ không chiến thắng khác và thay đổi ít nhiều bộ dạng của mình đi; nhất là ở mặt ngữ âm và từ vựng Tiếng Latin của người La Mã trong các vùng

bị người La Mã chinh phục là như vậy

Thứ hai, tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ và thậm chí có thể

làm nảy sinh một ngôn ngữ mới Thế nhưng, đây không phải là sự pha trộn cơ giới, đảo đều; cũng không phải là sự tạo thành một ngôn ngữ hoàn toàn mới, khác hẳn các ngôn ngữ tham gia tiếp xúc, pha trộn; bởi vì ngôn ngữ mới này vẫn giữ cơ cấu hình thái của một trong những ngôn ngữ thuộc thành phần pha trộn đó làm cơ sở nền tảng cho mình Chính nhờ cái cơ sở (gọi là cơ tầng) đó mà người ta vẫn xác định được ngôn ngữ mới thân thuộc với ngôn ngữ nào hơn và thuộc vào nhóm nào trong phổ hệ của họ ngôn ngữ Lối tiếp xúc, ảnh hưởng như thế, ngay gần đây, người ta vẫn còn có thể kiểm chứng được trong không hiếm ngôn ngữ hiện đang tồn tại Ví dụ:

Tiếng Việt trong quá trình tiếp xúc lâu đời với tiếng Hán, đã vay mượn vào vốn từ của mình một khối lượng rất lớn các từ và yếu tố tạo từ cùng với một số ảnh hưởng khác về mặt ngữ pháp; nhưng không vì thế mà nó thuộc cùng một nhóm gần gũi về cội nguồn với tiếng Hán Ở châu Âu, quan hệ giữa tiếng Anh với tiếng Pháp; tiếng Rumani với các ngôn ngữ Slave và tiếng Hi Lạp, tiếng Hung, người ta cũng thấy những tình hình tương tự: tiếng Anh vẫn thuộc số các ngôn ngữ Giecman, còn tiếng Pháp, tiếng Rumani vẫn thuộc về các ngôn ngữ Roman

Theo A.G Haudricourt, người Sán Chấy ở Việt Nam vốn là người Dao gốc Quý Châu (Trung Quốc), di cư đến Quảng Đông rồi di cư sang Việt Nam sống chung với người Tày, Nùng Tại đây, ngôn ngữ của họ, tiếng Sán Chấy, là một ngôn ngữ pha trộn gồm cơ tầng Dao với tiếng Tày Nùng

Như vậy, điểm nổi rõ về mặt ngôn ngữ trong thời kì công xã nguyên thuỷ, thời kì của các thị tộc, bộ lạc là luôn luôn diễn ra quá trình chia tách và liên minh, tiếp xúc Một mặt, sự chia tách làm gia tăng số lượng các ngôn ngữ khác nhau hoặc

Trang 10

các phương ngữ, thổ ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ; mặt khác, sự tiếp xúc lại dẫn đến tình trạng gần nhau, và tới một mức nào đó sẽ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ

- Thay thế chế độ công xã nguyên thuỷ là chế độ xã hội có giai cấp, gắn liền

với sự thiết lập nhà nước (trước hết là những nhà nước cổ đại) theo kiểu nào đó của phương Đông hoặc phương Tây

Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở từng nơi mà các nhà nước đó đã được xây dựng bằng những cách khác nhau, bởi những nguyên nhân ít nhiều khác nhau Các nhà nước cổ đại ở Hi Lạp, La Mã, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa và vùng Cận Đông là sản phẩm của những bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc chiến thắng để thống trị các tộc người khác trong cộng đồng Một số nơi khác (rất có thể như ở nước Văn Lang ở Việt Nam thời xa xưa chẳng hạn) lại xây dựng nhà nước trên cơ sở của một liên minh tự nguyện, thiết lập chính quyền trung ương thống nhất, tập trung sức mạnh toàn cộng đồng để đối phó thiên tai hoặc các cuộc xâm lăng, thôn tính của ngoại xâm

Nhà nước ra đời đòi hỏi trong cộng đồng phải có một ngôn ngữ thống nhất làm ngôn ngữ nhà nước Ngôn ngữ đó có thể là một ngôn ngữ bản địa của người chiến thắng như tiếng Latin từ sau năm 49 trước công nguyên ở đế quốc La Mã, tiếng Xôngai trong lãnh thổ của nhà nước Xôngai (ở Châu Phi) trước đây; cũng có thể là ngôn ngữ của bộ lạc làm hạt nhân, trung tâm cho nhà nước như tiếng Việt trong lãnh thổ nước Văn Lang thời xưa Mặt khác, ở một số nơi, cùng với sự hình thành nhà nước là quá trình xuất hiện, xây dựng chữ viết (hoặc là tự sáng tạo, hoặc

là vay mượn, cải biến, hoặc là tiếp thu hẳn một hệ thống của ngoại tộc)

Người nắm được và sử dụng chữ viết lúc đó chủ yếu là các trí thức trong tầng lớp thống trị, các tăng lữ thuộc các tôn giáo hoặc thương nhân (như ở Cận Đông và vùng Địa Trung Hải) Vì vậy, trong giai đoạn này ngôn ngữ nhà nước không phải ở nơi nào cũng đồng thời là ngôn ngữ của toàn dân Thậm chí, khi nhà nước đã đạt tới trình độ quản lí tổ chức và tập trung cao (như trong chế độ phong kiến về sau chẳng hạn) thì cái gọi là ngôn ngữ nhà nước, ngôn ngữ có tính chính thống thường cũng có nghĩa là ngôn ngữ viết, phân biệt với ngôn ngữ nhân dân (là ngôn ngữ dùng trong giao tiếp rộng rãi hàng ngày) và có khi nó xa cách với ngôn ngữ nhân dân

Trang 11

Điều này còn diễn ra cho tận đến lúc ngôn ngữ dân tộc dần dần chiếm ưu thế trong mọi phạm vi giao tiếp của nhà nước

Như vậy, sự ra đời của nhà nước cũng đã có ảnh hưởng đến ngôn ngữ Nó là nhân tố vừa đòi hỏi, vừa thúc đẩy việc tìm kiếm, xây dựng một ngôn ngữ chính thức, thống nhất về phương diện quốc gia

Chương 2: BẢN CHẤT XÃ HỘI VÀ CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ 2.1 Bản chất xã hội của ngôn ngữ

2.1.1 Một số quan điểm về bản chất của ngôn ngữ

- Quan điểm cho rằng ngôn ngữ phát triển theo quy luật của tự nhiên

Hiện tượng tự nhiên: mưa, động đất, sóng thần, lũ lụt,… Các hiện tượng tự

nhiên tự nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiêu hủy như tự nhiên, không phụ thuộc vào

ý muốn của con người Còn ngôn ngữ do con người quy ước, nó không tự nảy sinh,

phát triển như hiện tượng tự nhiên mà phụ thuộc vào ý thức của con người

Trang 12

Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa Đác-uyn, một số người cho rằng: ngôn ngữ giống như một cơ thể sống: sinh ra – phát triển – diệt vong Nghĩa là ngôn ngữ hoạt động và phát triển theo quy luật của tự nhiên Để biện minh cho quan điểm này, người ta đã dẫn ra trường hợp nhiều từ cũ, nghĩa cũ mất đi, nhiều từ mới, nghĩa mới xuất hiện Một số ngôn ngữ trở thành tử ngữ như tiếng Tiên Ly (Trung Quốc), tiếng Phạn Tuy nhiên, đó chưa phải cơ sở khẳng định sự phát triển mang tính tự nhiên của ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn mang tính kế thừa và phát triển, cái cũ

vẫn còn in dấu tích trong ngôn ngữ hiện đại

- Quan điểm đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người

Một số người cho rằng, hoạt động nói năng có tính chất bản năng như: các hoạt động như khóc, cười, chạy, nhảy…Tuy nhiên, con người sinh ra đã có bản năng: đi, ngồi, chạy…đó là chức năng sinh học trong bản thể của con người

không phụ thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống

Ngôn ngữ không phải bẩm sinh Tuy nhiên, con người có các cơ quan bẩm sinh liên quan đến phát âm: khoang phát âm như mũi, răng, môi , cơ quan

hô hấp, trung ương thần kinh Nhưng không thể coi đó là cơ sở để hiểu tính bẩm sinh của ngôn ngữ Ngôn ngữ là kết quả của sự học hỏi, bắt chước, tiếp xúc xã

hội, với mọi người xung quanh

Xem xét ngôn ngữ trẻ mới tập nói bập bẹ thường phát âm giống nhau nhưng âm thanh đầu tiên không coi là hiện tượng bẩm sinh của ngôn ngữ Các

âm trẻ tập nói phần lớn là phụ âm môi, dễ phát âm Các âm giống nhau nhưng ở

mỗi ngôn ngữ có nghĩa khác nhau Ví dụ mama (tiếng Nga là “mẹ”, tiếng Grudia nghĩa là “bố”), tiếng papa (tiếng Nga là “bố”, tiếng Thổ Nhĩ Kì nghĩa là “cô gái”)… Ngôn ngữ bao giờ cũng có tính hai mặt, xuất hiện trong môi trường giao

tiếp Vì vậy, phải sống trong cộng đồng xã hội, con người mới có ngôn ngữ

- Quan điểm đồng nhất ngôn ngữ với tiếng kêu động vật

Động vật dùng âm thanh (tiếng kêu) để thông báo theo bầy đàn báo hiệu sự nguy hiểm hay gọi nhau như: tiếng gà mẹ kêu cục cục gọi đàn con, tiếng gáy của

gà, tiếng chó sủa ….Một số loài động vật có thể hiểu con người và một số câu nói của con người Vì vậy, con người dạy chúng theo lệnh của họ Tuy nhiên âm thanh ngôn ngữ khác âm thanh (tiếng kêu) của một số động vật Một số con vật nói được

Ngày đăng: 15/07/2022, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w