Sơ đồ 2.2: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE Mục tiêu chính trong nghiên cứu về sinh kế của CARE là hiểu được tính tự nhiên của những chiến lược sinh kế ở những mục khác biệt
Trang 1NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA
SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: CHUNG CƯ KHANG GIA,
QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA
SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: CHUNG CƯ KHANG GIA, QUẬN
GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Tiến Khai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Tiến Khai, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm luận văn Thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp định hướng nghiên cứu và cho nhiều lời khuyên
bổ ích giúp tôi từng bước hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, đặc biệt là các Thầy cô thuộc khoa Kinh Tế Phát Triển, những người đã truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học cao học vừa qua
Tôi xin cảm ơn chị Dung, Trưởng hiện đang công tác tại Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Gò Vấp, anh Nghĩa công tác ở Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh, anh Thắng – trưởng ban quản lý chung cư Khang Gia, anh An làm việc tại phòng quản lý chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, cung cấp những thông tin, số liệu và tạo điều kiện để tôi tiến hành khảo sát, điều tra
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên về mặt tinh thần của những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của Thầy hướng dẫn khoa học Các số liệu, nội dung nghiên cứu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Khánh Hòa
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Nguồn số liệu nghiên cứu 3
1.8 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững 5
2.1.1 Khái niệm sinh kế bền vững 5
2.1.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững 6
2.1.2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP 7
2.1.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE 8
2.1.2.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID 9
2.2 Những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về vấn đề TĐC 13
2.3 Các đề tài nghiên cứu trước có liên quan 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Xác định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cần thu thập và nghiên cứu 20
3.2 Phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu 20
Trang 63.3 Nhập liệu và kiểm định lại số liệu 21
3.4 Các phương pháp phân tích dữ liệu 22
3.4.1 Thống kê 22
3.4.2 Mô hình kinh tế lượng 22
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Tổng quan về hai dự án TĐC 27
4.1.1 Dự án cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên 27
4.1.1.1 Giới thiệu dự án 27
4.1.1.2 Mục tiêu của dự án 28
4.1.2 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài 28
4.1.2.1 Giới thiệu dự án 28
4.1.2.2 Mục tiêu của dự án 30
4.1.3 Về công tác bồi thường, TĐC 31
4.1.3.1 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài 31
4.1.3.2 Dự án Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên 32
4.1.3.3 Công tác chuẩn bị quỹ nhà TĐC 33
4.2 Mô tả tình hình kinh tế - xã hội của các hộ TĐC 34
4.2.1 Các nguồn lực 34
4.2.2.1 Nguồn nhân lực 34
4.2.2.2 Nguồn lực xã hội 38
4.2.2.3 Nguồn lực vật chất 43
4.2.2.4 Nguồn lực tài chính 46
4.2.2 Những vấn đề khác 47
4.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế người dân sau khi TĐC 49
4.3.1 Quan hệ giữa các tài sản sinh kế của hộ gia đình 49
Trang 74.3.2 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo nghề
nghiệp của lao động chính của hộ gia đình 50
4.3.3 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo kỹ năng của người lao động chính của hộ gia đình 51
4.3.4 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa các hộ có vay vốn hoặc không vay vốn 52
4.3.5 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính 53
4.3.6 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo kỹ năng của lao động chính 54
4.3.7 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo dạng nhà tái định cư 56
4.3.8 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước TĐC, thu nhập bình quân đầu người sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa hai nhóm hộ có tình trạng thay đổi thu nhập theo hướng xấu đi và không xấu đi 56
4.3.9 Hồi quy Binary Logistics về những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1 Kết luận về những hạn chế của nghiên cứu 62
5.2 Kết luận về những phát hiện của đề tài 63
5.3 Đề xuất, chính sách 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC 25
Bảng 4.1: Số người có việc làm trong hộ 34
Bảng 4.2: Số người phụ thuộc trong hộ 35
Bảng 4.3: Số năm đi học và kỹ năng của lao động chính 37
Bảng 4.4: Tình trạng quan hệ láng giềng tại nơi ở mới 39
Bảng 4.5: Khả năng thiết lập mối quan hệ láng giềng 40
Bảng 4.6: Sự giúp đỡ của chính quyền địa phương 40
Bảng 4.7: Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội 41
Bảng 4.8: Việc thay đổi trường học và lý do thay đổi trường học 42
Bảng 4.9: Ý kiến của các hộ gia đình về cơ sở hạ tầng 44
Bảng 4.10: So sánh diện tích hiện tại và trước đây 45
Bảng 4.11: Tình trạng vay vốn của các hộ gia đình 46
Bảng 4.12: Mục đích vay vốn 47
Bảng 4.13: Thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo nghề nghiệp của lao động chính của hộ 51
Bảng 4.14: Thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo kỹ năng của người lao động chính của hộ 52
Bảng 4.15: Thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa các hộ có vay vốn và không vay vốn 53
Bảng 4.16: Sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính 54
Trang 9Bảng 4.17: Sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo kỹ năng của lao động chính 55 Bảng 4.18: Một số thay đổi về thu nhập và lao động trước và sau TĐC 57 Bảng 4.19: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đánh giá những yếu tố tác động lên sinh kế của người dân sau tái định cư tại chung cư Khang Gia 60
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP 8
Sơ đồ 2.2: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE 9
Sơ đồ 2.3: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID 10
Sơ đồ 2.4: Khung phân tích sinh kế bền vững của đề tài 18
Biểu đồ 4.1: Nghề nghiệp của lao động chính 36
Biểu đồ 4.2: Số năm đi học của lao động chính 37
Biểu đồ 4.3: Kỹ năng của lao động chính 38
Biểu đồ 4.4: Thủ tục chuyển trường 43
Biểu đồ 4.5: Dạng nhà TĐC 45
Biểu đồ 4.6: Đánh giá của các hộ gia đình về căn hộ hiện tại so với trước 46
Biểu đồ 4.7: Những vấn đề lo ngại của hộ TĐC về nơi TĐC 48
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á
CARE: Tổ chức nghiên cứu và giáo dục
DFID: Cơ quan phát triển toàn cầu vương quốc Anh
TĐC: Tái định cư
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBND: Ủy ban nhân dân
UNDP: Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
Trang 12Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa phù hợp với các cải cách kinh tế
đã diễn ra trong cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng Các nhu cầu phát triển thương mại, cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển đầu tư, v.v đòi hỏi phải có sự giải tỏa, di dời một số hộ dân cư Tạp chí Bất động sản số 40/2007 đã đưa ra kết quả nghiên cứu là khi dân số TP.HCM tăng từ 5 triệu (năm 1999) đến 10 triệu (năm 2020) sẽ có khoảng 50% dân số tham gia quá trình TĐC vào khu đô thị mới Cùng với việc phát triển các dự án xây dựng của TP.HCM thì Gò Vấp cũng
là một quận đang trên đà phát triển mạnh tại TP.HCM với nhiều công trình, dự
án lớn đã và đang được triển khai như dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên,
dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, trường mầm non Sao Mai, các trường tiểu học, trung học, và một số dự án khác Trước khi triển khai xây dựng các công trình, các dự án thì công tác giải phóng mặt bằng, di dời và TĐC cho người dân luôn là công việc phải được chú
Trang 13trọng và thực hiện đầu tiên Tuy nhiên việc di dời tới nơi ở mới như vậy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân? Họ sẽ phải đối mặt với những trở ngại và khó khăn như thế nào? Và những biện pháp nào nhằm góp phần “bảo đảm cho người dân có cuộc sống, nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” như chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, học viên chọn nghiên cứu đề tài:
“Sinh kế của người dân sau TĐC, trường hợp nghiên cứu tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, TP.HCM”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình TĐC ở chung cư Khang Gia và để đánh giá sinh kế của người dân ở khu vực này sau TĐC, luận văn đề ra mục tiêu chính đó là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau tái định cư tại chung
cư Khang Gia Từ đó luận văn đề ra các nội dung nghiên cứu như sau:
Mô tả thực trạng sinh kế của người dân sau TĐC hiện đang sinh sống tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau TĐC
Đề xuất một số giải pháp, chính sách để có thể nâng cao chất lượng sinh
kế của người dân sau TĐC
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng sinh kế của người dân ở chung cư Khang Gia sau TĐC như thế nào?
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sinh kế người dân ở chung cư Khang Gia sau TĐC?
Làm thế nào để ổn định cuộc sống và việc làm của người dân sau TĐC?
Trang 141.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về việc làm, thu nhập, giáo dục, cơ sở hạ tầng, các điều kiện sản xuất, sinh hoạt, việc tiếp cận các dịch
vụ y tế, các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội, v.v
Phạm vi nghiên cứu: Chung cư Khang Gia, phường 14, quận Gò Vấp, TP.HCM
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài tập trung mô tả sinh kế của người dân sau TĐC tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, qua đó phát hiện ra những khó khăn mà người dân phải đối mặt sau TĐC và tìm ra nguyên nhân của những khó khăn này
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp về tình hình TĐC của dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên trên địa bàn quận Gò Vấp và dự
án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, và các
dự án của quận Gò Vấp
1.6 Thiết kế mô hình nghiên cứu
Phương pháp thống kê nhằm mô tả và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến
sinh kế của người dân sau TĐC
Phương pháp hồi quy: Xây dựng mô hình hồi quy Binary logistic phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC, sự tác động (tích cực hoặc tiêu cực), mức độ tác động của các nhân tố này đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC
1.7 Nguồn số liệu nghiên cứu
Số liệu thứ cấp bao gồm các số liệu đã được công bố về dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến
Trang 15Cát – rạch Nước Lên và dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, về chung cư Khang Gia; các quyết định di dời, giải tỏa, quyết định đền bù, quyết định TĐC và các báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết do UBND TP.HCM và UBND quận Gò Vấp ban hành
Số liệu sơ cấp từ việc điều tra bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình TĐC đang sinh sống tại chung cư Khang Gia Bảng câu hỏi được thiết
kế dựa trên các nghiên cứu trước và nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn hộ gia đình)
1.8 Kết cấu luận văn
Chương 1: Phần mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững
2.1.1 Khái niệm sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Nó có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Trong tiếng Tây Ban Nha, sinh kế được hiểu như là
“một cách sống bền vững” Trong tiếng Nga, nó được hiểu theo nghĩa “tạo thu nhập và việc làm nông thôn” Còn theo DFID (1999), sinh kế bao gồm ba nhân
tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở, mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền
sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ (Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như đạt được các ước nguyện của họ” (DFID, 1999)
Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng
và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai – trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (Chambers & Conway, 1992)
Trang 17Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, Dễ tiếp cận, Có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động
Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp nhất
là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của họ Danh mục tài sản này bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên, và tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận (Krantz, 2001)
2.1.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các quyền (entitlements) trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo (1981) và gần đây được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) thúc đẩy (Diana Carney (ed.) 1998) cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999; Koos Neefjes 2000; Frank Ellis 2000) Lý thuyết khung sinh kế bền vững cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo
và đảm bảo an ninh, đảm bảo sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital), là những loại vốn đóng
cả hai vai đầu vào và đầu ra Tiếp cận sinh kế bền vững cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế (Paulo Filipe 2005: 3) Trong
Trang 18nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích khung lý thuyết về sinh kế bền vững của ba tổ chức UNDP, CARE và DFID
2.1.2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP
Theo UNDP có 5 bước để thiết kế, thực thi và đánh giá những chương trình sinh kế bền vững, đó là:
Bước 1: Xác định sự đền bù được thực hiện dựa trên những rủi ro phải đối diện, những tài sản và những kiến thức cộng đồng mất đi
Bước 2: Phân tích vi mô, vĩ mô, chính sách mà nó tác động đến chiến lược sinh kế của người dân
Bước 3: Hỗ trợ và xác định những đóng góp tiềm năng của khoa học kỹ thuật hiện đại, góp phần bổ sung hệ thống kiến thức bản địa góp phần cải thiện sinh
Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP tập trung vào hai chiến lược: đối phó và thích ứng Chiến lược đối phó (coping) là sự đối phó trong ngắn hạn trước một cú sốc cụ thể Còn chiến lược thích ứng (adaptation) đưa đến những thay đổi dài hạn trong cách ứng xử trước những cú sốc hay những căng thẳng
Trang 192.1.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE
Khung lý thuyết này tập trung vào sinh kế hộ gia đình CARE đưa ra mô hình hoạt động của một sinh kế dựa trên tính năng động và sự tương tác được lập trình sẵn, gồm các bước sau:
Bước 1: Nhận dạng những khu vực địa lý tiềm năng, sử dụng dữ liệu thứ cấp
tài nguyên
Trang 20Tình huống Chiến lược sinh kế Kết quả sinh kế
Nguồn: Krantz, 2001
Sơ đồ 2.2: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE Mục tiêu chính trong nghiên cứu về sinh kế của CARE là hiểu được tính tự nhiên của những chiến lược sinh kế ở những mục khác biệt trong hộ gia đình, tức
là nhận dạng những khó khăn và những cơ hội
2.1.2.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID
Khung lý thuyết đã đưa ra các phân tích sinh kế theo các phần về tổ chức, chính sách, nghiên cứu, những quy tắc về văn hóa Nó quyết định ai được thụ hưởng những loại tài sản nào và hệ thống những chiến lược sinh kế cuốn hút người dân (Carney, 1998) Theo Phạm Minh Trí (2011), phương pháp tiếp cận của DFID nhằm tăng hiệu quả của các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ trong việc giảm những tác động từ những “cú sốc” theo hai cách chính: thứ nhất lấy con người làm trung tâm; thứ hai là áp dụng tổng thể chương trình hỗ trợ, để cải thiện sinh kế của người dân
Tài sản Vốn con người Khả năng sinh kế
Vốn xã hội Lợi ích và cơ hội
Vốn kinh tế Cứa hàng và các nguồn lực
Thu nhập Sản xuất
Sản
Hộ gia đình
Tiêu thụ
Trao đổi
Xử lý
Về an ninh của: Lương thực Dinh dưỡng Sức khỏe Nguồn nước Nhà ở Giáo dục
Sự trợ giúp của cộng đồng
Trang 21
Nguồn: DFID (2003)
Sơ đồ 2.3: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID
Hình vẽ đã chỉ ra các loại tài sản sinh kế bao gồm: Nguồn nhân lực (H), nguồn lực xã hội (S), nguồn lực tự nhiên (N), nguồn lực vật chất (P) và nguồn lực tài chính (F)
DFID’s Sustainable Livelihoods Guidance Sheets định nghĩa năm loại tài sản này như sau:
Nguồn nhân lực đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục);
cơ cấu -Ở các cấp khác nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc
-Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân
-Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)
Các chiến lƣợc SK
- Các tác nhân xã hội (nam, nữ, hộ gia đình, cộng đồng, v.v) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên
- Cơ sở thị trường
- Đa dạng
- Sinh tồn hoặc tính bền vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn -Cuộc sống đầy đủ hơn -Giảm khả năng tổn thương
-An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên
-Giá trị không sử dụng của tự nhiên được bảo
vệ
Trang 22Có nhiều tranh luận về định nghĩa nguồn lực xã hội nhưng theo DFID (1999), nguồn lực xã hội là các tiềm lực xã hội mà con người đưa ra để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Các mục tiêu sinh kế này được phát triển thông qua các mạng lưới, các mối liên hệ liên kết với nhau, tính đoàn hội, hợp tác của các nhóm chính thức; và mối quan hệ được thực hiện dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi, và ảnh hưởng lẫn nhau
Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ về nguồn tài nguyên cung cấp các nguồn lực và dịch vụ có ích cho sinh kế Các yếu tố trong nguồn lực này rất
đa dạng, bao gồm cả những hàng hóa vô hình như không khí, hệ sinh thái đến những tài sản hữu hình như đất, nước,v.v
Nguồn lực vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng căn bản và các hàng hóa sản xuất cần thiết để hỗ trợ cho sinh kế người dân (cơ sở hạ tầng như là kênh rạch, đường
sá, nhà ở, hệ thống cung cấp điện, nước, nhà vệ sinh, các phương tiện tiếp cận thông tin để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, các phương tiện sản xuất như là công cụ, máy móc và các phương tiện khác giúp con người hoạt động với năng suất cao) Trong tài sản vật chất thì các nhân tố làm cho sinh kế của con người trở nên đa dạng hơn là cơ sở hạ tầng như đường sá, hệ thống cung cấp điện và nước
Nguồn lực tài chính chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương
mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình
DFID đã mô tả các thành phần trong khung lý thuyết sinh kế bền vững như sau:
Khả năng dễ bị tổn thương: Là môi trường bên ngoài mà trong đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa tiêu
Trang 23cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính mùa vụ mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được
Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
Xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng môi trường thay đổi, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột trong việc sử dụng, xu hướng kinh tế trong nước và thế giới, những xu hướng cai trị bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật
Cú sốc: Thay đổi về sức khỏe con người, thay đổi tự nhiên, thay đổi kinh tế, xung đột, thay đổi về sức khỏe, vật nuôi, cây trồng Ví dụ: bão, lũ lụt, hạn hán, chiến tranh, dịch bệnh, v.v
Tính thời vụ: Biến động giá cả, biến động sản xuất, sức khỏe, những cơ hội việc làm
Theo Đỗ Thị Hồng Nga (2011), chiến lược sinh kế được dùng để chỉ phạm vi
và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu, nguyện vọng của họ Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng do các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, nhận được phúc lợi nhiều hơn, giảm rủi ro, bảo đảm cao hơn mức an toàn thực phẩm và sử dụng một cách bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trong các khung lý thuyết trên thì khung lý thuyết của DFID có hai đóng góp quan trọng trong việc cải thiện sinh kế của người dân Đóng góp thứ nhất là hỗ trợ trực tiếp bằng tài sản và đóng góp thứ hai là hỗ trợ trên những ảnh hưởng không chỉ là khả năng truy cập tài sản mà còn là cơ hội sinh kế mở ra với người dân (Krantz, 2001)
Trang 24Nhà xã hội học người Mỹ Talcott Parsons – đại biểu và là người xây dựng nên lý thuyết hệ thống vào khoảng năm 1940 – 1950 Lý thuyết này cho rằng xã hội là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định Như vậy, xã hội ở tầm vĩ mô hay
vi mô đều luôn luôn tồn tại với một hệ thống toàn vẹn Hệ thống đó là tổng hòa các thành phần, các bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào
đó tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn, hoàn chỉnh
2.2 Những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về vấn đề TĐC
Kinh nghiệm của Ngân hàng thế giới (World Bank, 2004) cho thấy rằng, TĐC có thể dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất bị phá vỡ, người dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất và những nguồn tạo thu nhập của họ mất đi, người dân có thể bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều, các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá
vỡ, các mối quan hệ họ hàng thân thích cũng bị ảnh hưởng; các yếu tố truyền thống, văn hoá và tình tương thân tương ái có thể bị mất đi Đây chính là những chi phí, những tổn thất “vô hình” mà người dân TĐC phải gánh chịu bên cạnh những mất mát về nhà cửa, đất đai
Bên cạnh đó, ngoài những thiệt hại trên đã được nêu ra trên, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) còn nêu thêm những thiệt hại khác mà người dân TĐC có thể gặp phải như: Cư dân tại chỗ các khu vực TĐC không thân thiện hay không có những nét tương đồng về văn hóa, những khó khăn về công việc làm
ăn nơi ở mới có thể khiến cho người dân TĐC phải khai thác tối đa đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho môi trường
Trang 25Như vậy, theo các tổ chức quốc tế, hệ lụy của việc di dời, giải tỏa, TĐC là nhà cửa, đất đai của người dân bị ảnh hưởng, mặt khác họ còn phải chịu nhiều mất mát và thiệt hại liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Theo
đó, việc giải tỏa, di dời sẽ khiến cho đời sống người dân bị đảo lộn, mất ổn định
và môi trường bị đe dọa Cụ thể đó là sự xuống dốc và nghèo đói của một bộ phận dân cư, sự suy giảm các yếu tố văn hóa của một cộng đồng và ô nhiễm môi trường Ngoài những hậu quả lâu dài này thì những khó khăn trước mắt như đi làm xa, khó khăn trong việc chuyển hộ khẩu và chuyển trường học cho con cái, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ khác, v.v gây tổn hại đến sức khỏe và tinh thần của người dân
2.3 Các đề tài nghiên cứu trước có liên quan
Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, hệ quả về kinh tế xã hội của dự án xây dựng khu đô thị mới Nam Sài Gòn Đề xuất những biện pháp bảo
vệ môi trường, khắc phục các hệ quả về kinh tế, xã hội” của Tô Thị Thúy Hằng (1997) tập trung nghiên cứu về điều kiện sinh sống của các hộ nông dân bị di dời, mất đất và làm rõ một số hệ quả về kinh tế - xã hội đối với các hộ dân qua
đó kiến nghị một số giải pháp các hộ nông dân bị di dời trong thời gian tới Đề tài đã nêu lên thực trạng về đời sống của người nông dân bị giải tỏa, di dời từ dự
án Nam Sài Gòn
Đề tài “Đánh giá một số khía cạnh kinh tế – xã hội phát sinh trong quá trình
di dời của các hộ trên, ven kênh rạch tại TP.HCM (dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè)” của Dư Phước Tân (1997) Tác giả tiến hành điều tra 150 hộ sắp sửa di dời trong đợt giải tỏa vào tháng 5/1996, qua đó mô tả những đặc điểm kinh tế -
xã hội của hộ trên và ven kênh rạch, có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ: Quyết định lên chung cư và Chưa muốn lên chung cư Một số yếu tố kinh tế - xã hội
Trang 26thay đổi và phát sinh đối với các hộ sắp di dời và những tâm tư nguyện vọng, đề nghị của các hộ cũng được đề cập trong nội dung nghiên cứu Mặt khác đề tài còn phân tích một số điểm bất hợp lý trong các chính sách đối với hộ giải tỏa, di dời phát sinh trong quá trình thực thi đối với các hộ trên; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách di dời, TĐC và nêu được một số kiến nghị đối với nhà nước và đề xuất giải pháp
Đề tài: “Vệ sinh môi trường và điều kiện sống của người TĐC ở TP.HCM” của Võ Hưng (2003) Đề tài đã tiến hành nghiên cứu theo 2 nhóm: TĐC ở chung
cư và TĐC tự chọn về điều kiện sống cơ bản của người TĐC như nhà ở, diện tích cấu trúc nhà ở, việc làm, thu nhập, mức sống thực tế, nghiên cứu các điều kiện sinh hoạt: cơ sở hạ tầng, điện nước, chất thải, tiện nghi sinh hoạt, sinh hoạt hàng ngày, việc đi lại, học hành, nghiên cứu những biến đổi trong đời sống sinh hoạt: tiện nghi sinh hoạt, điều kiện sinh hoạt, vệ sinh môi trường, mức độ hưởng thụ văn hóa, vấn đề an sinh xã hội, nghiên cứu sức khỏe và bệnh tật: triệu chứng thông thường, triệu chứng liên quan đến môi trường, việc khám và chữa bệnh và đánh giá chung về môi trường và điều kiện sống đối với những người TĐC ở chung cư thì cuộc sống hiện tại là tốt 44% và rất tốt 20,3% Đề tài đã phân tích những điều kiện sống trong mối tương quan với quyết định lựa chọn nơi TĐC
Đề tài “Đời sống xã hội của người dân thuộc diện TĐC ở TP.HCM Thực trạng và giải pháp” của Phan Huy Xu (2005) đã nêu lên thực trạng đời sống xã hội của người dân TĐC có phân theo các nhóm dân theo và không theo chương trình, qua đó tác giả đề ra một số giải pháp và khuyến nghị
Luận văn “Livelihoods of household in peri-urban area, Case study in Cu Chi district, Ho Chi Minh City, Vietnam” của Nguyễn Thị Liên (Đại học Nông nghiệp Hà Nội liên kết Đại học Liege năm 2005) dựa vào sự kết hợp khung phân
Trang 27tích sinh kế bền vững và phương pháp đánh giá có sự tham gia của hộ gia đình
để đánh giá về sinh kế người dân ở huyện Củ Chi Nội dung chính của luận văn
là đánh giá về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình được nghiên cứu qua đó xác định những hạn chế trong chiến lược sinh kế và đề xuất những giải pháp có thể ứng dụng phù hợp với đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Luận văn “Living in peri-urban area of Ho Chi Minh City, Case study Hung Long commune, Binh Chanh district, Ho Chi Minh City, Vietnam” của Võ Ngàn Thơ (Đại học Nông nghiệp Thụy Điển SLU hợp tác với Đại học Nông Lâm Huế, 2006) đã khám phá chiến lược sinh kế đặc biệt là nông nghiệp của người dân sống ở ngoại thành – khu vực chuyển giao giữa thành thị và nông thôn, cụ thể là người dân ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh Mục đích chính của đề tài là xác định nhóm những hộ nghèo với những nhóm hộ khác khác nhau như thế nào; tìm hiểu về bối cảnh sản xuất nông nghiệp tại xã và thứ ba là xác định chiến lược của
hộ dân được xây dựng như thế nào?
Đề tài “Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau TĐC: vấn đề
và giải pháp” của Th.S Lê Văn Thành và các cộng sự (2008) nhằm đánh giá sự biến đổi các đặc điểm kinh tế - xã hội các hộ gia đình trước và sau TĐC, trên cơ
sở đánh giá đó phát hiện những vấn đề bức xúc cần phải giải quyết và đề xuất một số giải pháp để hỗ trợ nhằm mục đích khôi phục và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân sau TĐC
Luận văn “Đánh giá một số khía cạnh kinh tế xã hội phát sinh của hộ gia đình sau TĐC thuộc dự án Rạch Ụ Cây, quận 8, TP.HCM” của Phạm Minh Trí (2011) Luận văn đã mô tả cuộc sống “hậu TĐC” của người dân TĐC từ đó phát hiện ra những khó khăn và tổn thất mà những người dân TĐC đang gặp phải và nguyên nhân của những khó khăn, tổn thất này Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề
Trang 28tài đề xuất một số giải pháp cho vấn đề TĐC thuộc dự án rạch Ụ Cây nói riêng
và tình hình TĐC thuộc các dự án thuộc toàn quận 8 nói chung
Luận văn “Sinh kế người dân ngoại thành TP.HCM” của Đỗ Thị Hồng Nga (2011) Luận văn đã phân tích các nguồn lực phục vụ cho chiến lược sinh kế của
hộ khảo sát phân theo nguồn lực kinh tế hộ Qua đó gợi ý các giải pháp và chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao mức sống của người dân
Dựa trên các lý thuyết về sinh kế và sinh kế bền vững nói trên, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả giả định rằng cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên và Tân Sơn Nhất – Bình Lợi là các hệ thống xã hội trong đó các thành phần cấu tạo nên hệ thống này bao gồm các yếu tố như: việc làm, thu nhập, sức khỏe, giáo dục, cơ sở hạ tầng, các điều kiện về sản xuất, sinh hoạt, việc tiếp cận các dịch vụ y tế, các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội, v.v Đây cũng chính là các yếu tố thuộc các nguồn lực trong khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID mà tác giả đã đề cập ở trên Chúng có mối quan hệ, tương tác với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh Bất
kỳ một sự thay đổi ở trật tự và thứ tự của các thành phần, hay sự thay đổi ở kiểu quan hệ giữa các thành phần, hoặc một sự phát triển quá nhanh hay quá chậm, sự bành trướng hay thu hẹp quá mức, sự thay đổi quá sớm hay quá muộn của bất kỳ một thành phần nào cũng dẫn đến “sự lệch pha”, sự thay đổi ở các thành phần khác và ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống Do đó khi xảy
ra TĐC tức là có sự thay đổi về chỗ ở thì theo lý thuyết hệ thống điều đó sẽ dẫn đến sự thay đổi của các thành phần đã nêu trên đây trong một hệ thống Kết hợp với khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID thì sự thay đổi về chỗ ở này
sẽ dẫn đến sự thay đổi về nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính Tuy nhiên, xét trong trường hợp ở đô
Trang 29thị thì sinh kế của người dân không phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như đất đai, cây trồng, nước, v.v
Từ những phân tích ở trên, tác giả đề xuất khung phân tích của đề tài nhằm nhận dạng và giải thích những thay đổi về sinh kế của người dân do tác động của việc TĐC
Khung phân tích của đề tài:
Cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên và Tân Sơn Nhất – Bình Lợi
Quyết định giải tỏa, di dời của chính quyền
TĐC Thay đổi chỗ ở
Thay đổi về thu nhập
Sơ đồ 2.4: Khung phân tích sinh kế bền vững của đề tài
Các khía cạnh trên sẽ được chia thành một số khái niệm Nó xác định những thành phần mà đề tài tập trung giải quyết để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu Bảng câu hỏi sẽ được thiết lập theo cách tiếp cận này
Tóm lại, chương 2 đã trình bày khung lý thuyết về sinh kế bền vững của ba tổ chức UNDP, CARE và DFID, tiếp đó, tác giả tiến hành phân tích những khuyến
Trang 30cáo của các tổ chức quốc tế về vấn đề TĐC, đó là những khó khăn, thử thách, những nguy cơ và thiệt hại mà người dân TĐC có thể phải gánh chịu Ngoài ra, tác giả còn dựa vào những nghiên cứu có liên quan của những người đi trước để
có thể xác định những thay đổi trong sinh kế của người dân sau TĐC và một phần nào đó là để xác định các biến phân tích ở chương tiếp theo Từ những cơ
sở đó, tác giả hình thành khung phân tích của đề tài theo đó cách tiếp cận của DFID đóng vai trò chính
Trang 31CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Xác định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cần thu thập và nghiên cứu
Căn cứ trên cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng một số chỉ tiêu khảo sát trong quá trình nghiên cứu Những chỉ tiêu đó bao gồm các yếu tố đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế, trong đó:
Nguồn nhân lực bao gồm số người có việc làm, số người phụ thuộc có trong
hộ, loại hình nghề nghiệp của lao động chính, số năm đi học và kỹ năng của lao động chính
Nguồn lực xã hội bao gồm các yếu tố: quan hệ láng giềng, sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, các dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, thương mại, dịch vụ văn hóa, giải trí
Nguồn lực vật chất gồm có những yếu tố: diện tích căn hộ, dạng nhà TĐC, hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống điện, hệ thống nước sạch, các hệ thống khác (hệ thống thoát nước, xử lý rác thải, phòng cháy chữa cháy, v.v)
Nguồn lực tài chính bao gồm các chỉ tiêu về tình trạng vay vốn, giá trị khoản vay, mục đích vay vốn
3.2 Phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu
Quá trình thu thập dữ liệu được chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Khảo sát tất cả các hộ gia đình hiện đang sinh sống tại chung cư Khang Gia
để xác định hộ đang ở hiện nay là theo diện TĐC hay mua lại hoặc thuê
Nghiên cứu chỉ tiến hành chọn mẫu là các hộ gia đình lựa chọn hình thức TĐC là nhận căn hộ chung cư thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát
Trang 32nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên và dự
án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài
Khung mẫu là danh sách các hộ gia đình bị di dời, giải tỏa của 2 dự án: dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên và dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi - Vành đai ngoài
Giai đoạn 2:
Tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế dựa trên Bảng câu hỏi nông hộ của Đỗ Thị Hồng Nga (2011), Bảng câu hỏi của Phạm Minh Trí (2011) và thông qua các định nghĩa về sinh kế của DFID (1999)
Tại thời điểm khảo sát, danh sách các hộ chuyển qua tái định cư tại chung cư Khang Gia có 130 hộ, tuy nhiên một số lượng lớn hộ gia đình thuộc diện TĐC đã chuyển đi nơi khác sinh sống, họ đã ủy quyền căn hộ lại cho người khác bao gồm các dạng bán hoặc cho thuê căn hộ Do đó, số lượng các hộ gia đình thuộc diện tái định cư tại chung cư Khang Gia là có giới hạn nên xét theo phương diện điều tra số lượng hộ gia đình thì đây là điều tra tổng thể và sau quá trình điều tra,
số lượng hộ thỏa mãn yêu cầu được xác định là 72 hộ
Thời gian khảo sát, điều tra: 20/3/2012 – 15/5/2012
3.3 Nhập liệu và kiểm định lại số liệu
Dữ liệu sau khi thu thập được tác giả thiết kế, mã hóa và nhập liệu thông qua công cụ phần mềm SPSS 16.0, sau đó tiến hành làm sạch Lý do: dữ liệu sau khi thu thập được loại bỏ những phiếu trống nhiều và phiếu không hợp lệ, sau đó được tiến hành nhập thô vào máy, trong quá trình thực hiện thường có những mẫu điều tra bị sai lệch, thiếu sót hoặc không nhất quán; một số mẫu do đánh sai,
Trang 33thiếu sót xảy ra trong quá trình nhập liệu; do vậy cần tiến hành làm sạch số liệu
để đảm bảo yêu cầu, số liệu đưa vào phân tích phải đầy đủ, thống nhất Theo đó, việc phân tích số liệu sẽ giúp đưa ra những thông tin chính xác có độ tin cậy cao Phương pháp thực hiện: sử dụng bảng tần số để rà soát lại tất cả các biến quan sát nhằm tìm ra các biến có thông tin bị sai lệch hay thiếu sót bằng công cụ phần mềm SPSS 16.0
Kết quả thực hiện: Sau khi dùng phương pháp lập bảng tần số, kết quả cho thấy: Đầy đủ dữ liệu ở tất cả các biến
Kết hợp với rà soát tất cả các biến quan sát qua bảng tần số, tác giả không tìm thấy biến nào có thông tin bị sai lệch; dữ liệu đã được làm sạch, để tiếp tục đưa vào chạy mô hình
3.4 Các phương pháp phân tích dữ liệu
3.4.1 Thống kê
Phần thống kê mô tả tác giả sẽ tiến hành mô tả các tài sản sinh kế, lập ma trận tương quan để xem xét các mối quan hệ giữa các biến, các kiểm định Anova, T-test để so sánh giá trị trung bình giữa các chỉ tiêu định lượng cho các nhóm có liên quan Ngoài ra, tác giả còn dùng kiểm định Chi-square nhằm đánh giá những quan hệ giữa những tính chất của bộ dữ liệu
Trang 34) 0 (
) 1 (
Y P
Y P
Ln β0 + β1X1 + β2X2 + …+ β6X6 + β7X7 + ui
P(Y=1) = P0 : Xác xuất hộ có sinh kế không đổi hoặc tốt hơn;
P(Y=0) = 1 – P0 : Xác xuất hộ có sinh kế xấu đi
tố có thể tác động đến sự thay đổi này và trong phạm vi nghiên cứu tác giả sử dụng một số biến để khảo sát bao gồm:
Số người có việc làm của hộ gia đình là thông tin cụ thể về mỗi hộ có bao nhiêu người có việc làm Giả định rằng số lượng người có việc làm của hộ càng
Trang 35nhiều thì thu nhập của hộ sẽ càng tăng Do đó, biến này được kỳ vọng sẽ có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Số người phụ thuộc bao gồm thông tin hộ gia đình có bao nhiêu người phụ thuộc Giả định rằng nếu những hộ nào có số người phụ thuộc nhiều thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ thấp và mức sống cũng sẽ thấp Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc
Loại hình nghề nghiệp của lao động chính là thông tin về nghề của người lao động chính trong hộ, chỉ tiêu này được phân bổ thành 3 nhóm: nhóm 1 là những người làm nghề tự doanh, nhóm 2 là lao động ngắn hạn và nhóm 3 là lao động dài hạn Những hộ mà loại hình nghề nghiệp của lao động chính là lao động dài hạn thường là những người có trình độ học vấn cao, có thu nhập ổn định, còn những người lao động tự doanh và lao động ngắn hạn thì thường có trình độ học vấn thấp và thu nhập thường không ổn định Do đó, biến này được kỳ vọng đồng biến với biến phụ thuộc
Số năm đi học của lao động chính, khi người lao động chính có số năm đi học nhiều tức trình độ học vấn cao thì họ thường có được công việc ổn định và có thu nhập cao và ngược lại Do đó, biến này được kỳ vọng đồng biến với biến phụ thuộc
Kỹ năng của lao động chính là thông tin về người lao động chính của hộ đã được đào tạo, tập huấn hay chưa Nhóm lao động mà được đào tạo, tập huấn tức
họ có kỹ năng thì họ sẽ tìm được những công việc có mức thu nhập cao và ngược lại Biến này được kỳ vọng là đồng biến với biến phụ thuộc
Dạng nhà TĐC, chỉ tiêu này được phân bổ thành hai nhóm: nhóm 1 là dạng căn hộ chung cư ở tầng trệt, nhóm 2 là dạng căn hộ chung cư ở các tầng cao Với giả định rằng khi sinh sống ở tầng trệt thì người dân có thể có thêm khoản thu
Trang 36nhập từ việc kinh doanh, buôn bán Do đó, biến này được kỳ vọng nghịch biến với biến phụ thuộc
Tình trạng vay vốn là thông tin về hộ gia đình có vay vốn hay không Hộ có vay vốn thì ảnh hưởng như thế nào tới biến tình trạng thay đổi thu nhập sau TĐC, liệu rằng sẽ làm tăng hay giảm thu nhập Do đó, ở trường hợp này tác giả chưa xác định được dấu kỳ vọng
Bảng 3.1: Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC
ổn định hoặc tốt hơn, và là giá trị 0 nếu theo xu hướng xấu đi
Thang đo định danh
từ 1-3:
1 = tự doanh,
2 = lao động ngắn hạn,
3 = lao động dài hạn
+
Trang 372 = chung cư ở tầng cao
?
Như vậy, trong chương 3, tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy logistic cho phân tích của đề tài cũng như mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình, trong đó các biến độc lập được trình bày rõ ràng về tên biến, mô tả, đơn vị đo/thang đo và dấu kỳ vọng Ngoài ra, chương 3 còn trình bày phương pháp thống kê mô tả sẽ tiến hành ở chương 4, phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu, cách làm sạch và xử lý số liệu và phương pháp phân tích của đề tài bao gồm phương pháp thống kê mô tả và phương pháp hồi quy bằng mô hình Binary Logistic
Trang 38CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Giai đoạn 1 của dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 1.950 tỷ đồng với các hạng mục nạo vét lòng toàn tuyến kênh dài 32,7 km, xây dựng và sửa chữa 148 cống ngăn triều, trồng cây xanh ven lưu vực, v.v
Giai đoạn 2 của dự án gồm các hạng mục tiếp theo là xây dựng hệ thống cống thu nước thải bao lưu vực Tham Lương – Bến Cát và xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, nước thải và trạm bơm lưu vực trên với tổng mức đầu tư gần 5.000 tỷ đồng
Địa điểm xây dựng là trên địa bàn 07 quận, huyện: huyện Bình Chánh, quận Bình Tân, quận Tân Bình, quận Tân Phú, quận Gò Vấp, quận 12, quận Bình Thạnh
Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 8.825 tỷ đồng do Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng công trình thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn làm chủ đầu tư
Trang 394.1.1.2 Mục tiêu của dự án
Mục tiêu của dự án nhằm giúp tăng khả năng tiêu thoát nước mưa, chống ngập úng, phát triển đô thị, đất cây xanh, nhà vườn cho khu vực dân cư ven lưu vực kênh, cải thiện môi trường kết hợp với giao thông thủy và chỉnh trang mặt bằng hai bờ kênh với tổng diện tích khoảng 14.900 ha Tuyến kênh này nối từ sông Chợ Đệm, huyện Bình Chánh theo tuyến rạch Cầu Bưng đến sông Sài Gòn Ngoài ra, dự án cũng bao gồm các hạng mục như xây dựng đường giao thông dài gần 62 km ven kênh, hệ thống chiếu sáng và 19 cây cầu, v.v
Triển khai từ năm 2008 sau khi được UBND thành phố phê duyệt điều chỉnh
dự án, mục tiêu đề ra đến cuối năm 2010 sẽ hoàn thành giai đoạn 1 dự án Tuy nhiên, tiến độ dự án (giai đoạn 1) triển khai tương đối chậm vì vướng khâu giải phóng mặt bằng, nguyên nhân do UBND các quận huyện nơi tuyến kênh đi qua chậm giải phóng, bàn giao mặt bằng nên công việc thi công của các nhà thầu gặp rất nhiều khó khăn Cho đến nay tuy chưa hoàn thành nhưng dự án đã góp phần giảm ngập ở một số khu vực dân cư Kênh Tham Lương tiếp giáp với đoạn cuối của kênh 19-5 đến sông Chợ Đệm đã tiêu thoát nước dễ dàng hơn, không còn bị nghẽn như trước
Đặc biệt công tác nạo vét thông thoáng dòng chảy kênh Tham Lương đoạn từ cầu Bưng đến chợ Cầu cũng đã giải quyết được một số điểm ngập nước trong khu vực kênh Nước Đen và kênh 19-5 Nhiều đoạn kênh đã bắt đầu phát huy tác dụng tạo cảnh quan đô thị trong khu vực, không còn bị ngập úng
4.1.2 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài
4.1.2.1 Giới thiệu dự án
Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải TP.HCM đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, khu vực TP.HCM
Trang 40có tổng cộng 45 đường vành đai, trong đó có đường Vành đai số 1 bắt đầu từ đường Nguyễn Văn Linh chạy qua cầu Phú Mỹ, ra ngã tư Bình Thái đến khu vực gần cầu Gò Dưa (cách cầu khoảng 300m), đi theo đường Kha Vạn Cân, qua cầu Bình Lợi đi theo hướng song song với đường sắt đến ngã năm Nguyễn Thái Sơn, theo đường Hoàng Minh Giám qua công viên Hoàng Văn Thụ, đi theo Hương lộ
2 và kết thúc tại đường Nguyễn Văn Linh
Đường Vành đai số 1 có 12 làn xe với lộ giới từ 60m đến 67m Quy hoạch đường Vành đai số 1 trên đường Kha Vạn Cân đã được xác định và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1996 Ngày 27-3-2007, Sở Kế hoạch – Đầu
tư TP.HCM đã tiến hành lễ ký tắt với Tập đoàn chuyên về đầu tư xây dựng hạ tầng, kinh doanh bất động sản GSE & C (Hàn Quốc) cho phép đơn vị này được đầu tư xây dựng tuyến đường Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài có chiều dài 13,7 km, với tổng vốn đầu tư hơn 314 triệu USD
Dự án xây dựng đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài có các đoạn sau:
Đoạn từ sân bay Tân Sơn Nhất đến nút giao thông Nguyễn Thái Sơn gồm 2 nhánh, lộ giới mỗi nhánh rộng 20m, đảm bảo đủ để lượng xe từ sân bay Tân Sơn Nhất thoát ra đường Vành đai số 1 Hai nhánh đường này không nằm trong quy hoạch đường Vành đai số 1 mà chỉ thực hiện chức năng đường nối để phục vụ cho nhu cầu lưu thông hành khách từ sân bay ra đường Vành đai số 1
Đoạn từ nút giao thông Nguyễn Thái Sơn đến khu vực cầu Gò Dưa thuộc quy hoạch đường Vành đai số 1 TP.HCM Đoạn này có đường sắt và đường ống cấp nước đường kính 1.500mm chạy song song nên ngoài lộ giới đường cần phải bố trí đủ hành lang an toàn (khoảng 10m) cho đường sắt và đường ống cấp nước Vì