1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) ứng dụng mô hình var kiểm định các nhân tố tác động lạm phát ở việt nam , luận văn thạc sĩ

108 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Mô Hình Var Kiểm Định Các Nhân Tố Tác Động Lạm Phát Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Khả Đồng
Người hướng dẫn PGS. TS. Trương Thị Hồng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu: Các mục tiêu cụ thể như sau: - Tổng hợp các lý thuyết về lạm phát, mô hình VAR và một số nghiên cứu ứng dụng trên thế giới; - Mô tả lạm phát Việt Nam giai đoạn 1990

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

TP Hồ Chí Minh - Năm 2013

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Trương Thị Hồng, Cô đã hướng dẫn rất tận tâm và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cũng như động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trân trọng cảm ơn đến tất cả quý thầy cô vì những kiến thức cũng như kinh nghiệm từ các bài giảng mà quý thầy cô đã truyền đạt trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Tác giả Nguyễn Khả Đồng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trương Thị Hồng Nguồn số liệu và kết quả thực nghiệm cũng như các trích dẫn được thực hiện là hoàn toàn trung thực, chính xác

Tác giả

Nguyễn Khả Đồng

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các hình

Danh mục các bảng

LỜI MỞ ĐẦU

1 Vấn đề nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

6 Những đóng góp của đề tài và hướng mở cho nghiên cứu

Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH VAR 1

1.1 LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT 1

1.1.1 Khái niệm lạm phát 1

1.1.2 Đo lường và phân loại lạm phát 1

1.1.2.1 Đo lường lạm phát 1

1.1.2.2 Phân loại lạm phát 6

1.1.3 Một số quan điểm về nguyên nhân lạm phát 7

1.1.3.1 Quan điểm lạm phát cầu kéo (Cầu dư thừa tổng quát) 7

1.1.3.2 Quan điểm lạm phát chi phí đẩy 9

1.1.3.3 Quan điểm lạm phát tiền tệ 10

1.1.3.4 Quan điểm lạm phát do yếu tố kỳ vọng 12

1.1.4 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế 13

1.1.4.1 Tác động tiêu cực 13

Trang 6

1.2.1 Lý thuyết mô hình VAR (Vector Autoregression Model) 16

1.2.2 Ứng dụng mô hình VAR và một số nghiên cứu về lạm phát 17

1.2.3 Ưu nhược điểm của mô hình VAR 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Chương 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2012 VÀ KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 24

2.1 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2012 24

2.1.1 Giai đoạn 1990 - 1991 26

2.1.2 Giai đoạn 1992 - 1998 26

2.1.3 Giai đoạn 1999 - 2003 27

2.1.4 Giai đoạn 2004 - 2012 28

2.2 NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU 30

2.2.1 Đầu tư công kém hiệu quả 30

2.2.2 Chính sách tiền tệ 35

2.2.3 Yếu tố tâm lý, kỳ vọng, đầu cơ 37

2.2.4 Ảnh hưởng của sự thay đổi sản lượng 38

2.2.5 Tác động từ các nguyên nhân bên ngoài 40

2.3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT 42

2.3.1 Một số nghiên cứu về lạm phát 42

2.3.2 Cơ sở lý thuyết và nguồn số liệu 43

2.3.3 Phương pháp ước lượng 45

2.3.3.1 Kiểm định tính dừng chuỗi dữ liệu 46

2.3.3.2 Xác định độ trễ tối ưu 47

2.3.3.3 Ước lượng mô hình VAR 48

2.3.4 Kết quả ước lượng mô hình VAR 48

2.3.4.1 Ảnh hưởng của yếu tố kỳ vọng 48

Trang 7

2.3.4.4 Tác động của đầu tư công đến các yếu tố khác 51

2.3.4.5 Tác động của CPI đến các yếu tố trong mô hình 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

Chương 3: MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH GÓP PHẦN KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 56

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ 56

3.1.1 Một số hạn chế trong điều hành chính sách kinh tế kiềm chế lạm phát 56

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế thời gian tới 58

3.2 MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH KINH TẾ 59

3.2.1 Kiểm soát chặt chẽ đầu tư công 59

3.2.2 Thay đổi phương thức quản lý đầu tư 61

3.2.3 Chính sách tiền tệ 62

3.2.4 Tập trung vào sản xuất hàng hoá 64

3.2.5 Nâng cao vai trò dự báo và thực hiện đo lường lạm phát kỳ vọng 64

3.2.6 Xây dựng chính sách mục tiêu lạm phát 65

3.2.7 Một số gợi ý khác 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 73

Phụ lục 1: Mô hình nghiên cứu 73

Phụ lục 2: Bảng số liệu 81

Phụ lục 3: Kết quả phân tích thực nghiệm 82

Trang 8

Từ viết tắt Nội dung

IMF International Monetary Fund

IND Sản lượng công nghiệp

Trang 9

Hình 1-2: Lạm phát chi phí đẩy qua mô hình tổng cung tổng cầu 9

Hình 1-3: Mô hình tổng cung – tổng cầu 11

Hình 2-1: Tỷ trọng đầu tư trong GDP của Việt Nam 1990 – 2012 (%) 27

Hình 2-2: Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng cung tiền so năm trước 2000–2012(%) 28

Hình 2-3: Cơ cấu vốn đầu tư: ĐTNN, ĐTTN, FDI so đầu tư toàn xã hội (%) 31

Hình 2-4: Tỷ trọng Đầu tư/GDP so với các nước Đông và Đông Nam Á (%) 33

Hình 2-5: Đầu tư từ ngân sách nhà nước so GDP của một số nước (%) 34

Hình 2-6: CPI của Việt Nam và các nước giai đoạn 2001 – 2011 (%) 34

Hình 2-7: Tốc độ tăng cung tiền so năm trước của Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc (%) 36

Hình 2-8: CPI và Tốc độ tăng GDP, đầu tư, SLCN so năm trước (%) 38

Hình 2-9: Phản ứng của CPI trước cú sốc từ chính nó 49

Hình 2-10: Phản ứng của các nhân tố trước cú sốc của CPI 54

Trang 10

Bảng 2-2: Hệ số ICOR và tỷ lệ Đầu tư/GDP của Việt Nam từ 1995-2012 33

Bảng 2-3: Tốc độ tăng SLCN so năm trước của các thành phần kinh tế 39

Bảng 2-4: Kiểm định ADF đối với các chuỗi dữ liệu 46

Bảng 2-5: Kiểm định PP đối với các chuỗi dữ liệu 47

Bảng 2-6: Kiểm định độ trễ tối ưu bằng kiểm định AIC, SC, HQ 47

Bảng 2-7: Mối quan hệ giữa CPI và các biến số 48

Bảng 2-8: Tác động của các yếu tố đến biến giá theo thời gian 49

Bảng 2-9: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 50

Bảng 2-10: Mối quan hệ giữa đầu tư công với các biến số khác 51

Bảng 2-11: Tác động của đầu tư công lên các biến số khác 52

Bảng 2-12: Mối quan hệ ngược lại của CPI đến các biến số 52

Bảng 2-13: Tác động của CPI đến các biến số vĩ mô 53

Trang 11

1 Vấn đề nghiên cứu:

Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn từ năm 2013 – 2015 là 5,5%, lạm phát được kiểm soát ở mức 7%-8%, thực tế những năm qua lạm phát luôn ở mức trên 8% Ngày 21 tháng 5 năm 2013, diễn ra hội thảo khoa học ở Hà Nội dưới

sự chủ trì của Thứ Trưởng Cao Viết Sinh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với chuyên đề

được báo cáo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, nhóm báo cáo gồm Đào

Văn Hùng, Nguyễn Thạc Hoát và nhóm nghiên cứu Học viện Chính sách đã cho thấy từ năm 1991 – 2012 Việt Nam đã vượt qua hết tất cả các nước trong khu vực một chỉ tiêu đó là “Lạm phát” Bởi vậy, ngày 28/6/2013, tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2013, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh mục tiêu giai đoạn tới vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát Điều đó cho thấy lạm phát vẫn là vấn đề trọng yếu mà các nhà hoạch định chính sách cũng như các chuyên gia kinh tế luôn phải quan tâm

Như chúng ta đã biết, việc xảy ra lạm phát năm 2011 là 18,68% đã có nhiều ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội như: số doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất gia tăng, tình trạng thất nghiệp khắp nơi, sản lượng sản xuất sụt giảm, và Chính phủ phải thực thi nhiều giải pháp để kiềm chế lạm phát Vậy nguyên nhân do đâu đã gây ra lạm phát? Đó là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm, cần phải nhận biết và xác định được các nhân tố tác động đến lạm phát trên lý thuyết lẫn thực nghiệm, từ đó

có giải pháp kịp thời để kiềm chế nó và ổn định kinh tế vĩ mô Điều này không chỉ

có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung cấp các thông tin cho nhà hoạch định chính sách mà còn đối với cả các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh các chiến lược của mình Chính vì vậy, các công cụ kiểm định giúp cho việc nhận dạng và xác định mức độ ảnh hưởng của những yếu tố vĩ mô đến lạm phát ngày càng được sử dụng phổ biến Một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực đó là vận dụng các mô hình kinh

tế hay mô hình toán học để phân tích các biến số vĩ mô và từ đó xác định các nhân

Trang 12

Chính vì những ý nghĩa quan trọng đó, sau khi học xong chương trình Cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của Trường Đại Học Kinh tế Tp Hồ Chí

Minh, tôi quyết định chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình VAR kiểm định các nhân

tố tác động lạm phát ở Việt Nam” làm báo cáo nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Các mục tiêu cụ thể như sau:

- Tổng hợp các lý thuyết về lạm phát, mô hình VAR và một số nghiên cứu ứng dụng trên thế giới;

- Mô tả lạm phát Việt Nam giai đoạn 1990 – 2012 và nhận định về nguyên nhân cơ bản tạo áp lực tăng lạm phát;

- Ứng dụng mô hình VAR để kiểm định nhân tố tác động đến lạm phát như: Đầu tư công, cung tiền M2, sản lượng công nghiệp, lãi suất, CPI;

- Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả có một số đề xuất chính sách kinh tế góp phần kiểm soát lạm phát

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Lạm phát và kiểm định các nhân tố gây lạm phát qua

mô hình VAR

- Phạm vi nghiên cứu: Diễn biến lạm phát Việt Nam từ 1990 - 2012

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp định lượng và định tính:

- Phương pháp định tính bằng bảng: Các chỉ số kinh tế vĩ mô, phân tích mối tương quan các biến số để thấy được sự biến động của các chỉ số;

- Phương pháp định lượng qua phần mềm Eview: Chạy hồi quy kiểm định các nhân tố tạo áp lực cho lạm phát;

Trang 13

năm 1990 đến 2012 và sẽ được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, ADB và IMF

5 Kết cấu của luận văn:

Luận văn có kết cấu gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát và mô hình VAR

Chương 2: Thực trạng lạm phát giai đoạn 1990 – 2012 và ứng dụng mô hình

VAR kiểm định Lạm phát ở Việt Nam

Chương 3: Một số gợi ý chính sách góp phần kiểm soát lạm phát ở Việt Nam Kết luận

kinh tế trong tương lai

Trang 14

Để tính toán và đo lường lạm phát, chúng ta sử dụng các chỉ số kinh tế đại diện cho mức giá hàng hoá, và thông qua đó xác định sự biến động của lạm phát Các chỉ

số đều tính toán trung bình của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế, và chúng có sự khác nhau về trọng số của các hàng hoá nằm trong giỏ hàng hoá dùng

để tính lạm phát

1.1.2 Đo lường và phân loại lạm phát:

1.1.2.1 Đo lường lạm phát:

Các nhà kinh tế sử dụng các chỉ số đo lường mức giá bình quân (mức giá chung)

để phản ánh xu hướng biến động của các loại lạm phát khác nhau Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất về mức giá chung, vì giá trị của các chỉ số phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hoá nằm trong rổ hàng hoá, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các chỉ số phổ biến được sử dụng để đo lường lạm phát như sau:

Trang 15

 Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) (Chỉ số giảm phát GDP)

GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ, GDP thực tế sử dụng giá cố định để tính giá trị sản lượng hàng hoá và dịch

vụ sản xuất ra trên lãnh thổ quốc gia Chỉ số điều chỉnh GDP, còn gọi là chỉ số giảm phát GDP hay chỉ số có trọng số thay đổi, do đó còn được gọi là chỉ số Paasche:(Mankiw, 2003, [26])

là giá sản phẩm i trong năm cơ sở

là số lượng sản phẩm sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Lưu ý Qit là quyền số của chỉ số, quyền số này thay đổi theo thời gian

Chỉ số điều chỉnh GDP được các nhà kinh tế sử dụng để theo dõi mức giá bình quân của nền kinh tế

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là thước đo mức giá chung của rổ hàng hoá và dịch

vụ điển hình mà người tiêu dùng mua Rổ hàng hoá được ấn định với năm cơ sở, chỉ

số CPI là một chỉ số có trọng số cố định, còn được gọi là chỉ số Laspeyres được xác định bởi công thức:(Mankiw, 2003, [26])

Trong đó: là giá sản phẩm i trong năm t

, là giá và lượng sản phẩm i trong năm cơ sở Quyền số của CPI là lượng sản phẩm ở năm gốc ( )

Trang 16

Cách tính CPI không phải là cộng các giá cả lại và chia cho tổng lượng hàng hoá, mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế thể hiện qua tỷ trọng của nó Chỉ số giá CPI thường được xem như là phương pháp đo lường chi phí sinh hoạt liên quan tới giỏ hàng hoá và dịch vụ cụ thể được mua bởi người tiêu dùng

Các nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách theo dõi cả chỉ số điều chỉnh GDP

và chỉ số giá tiêu dùng CPI nhằm xác định tốc độ gia tăng của giá cả Tuy nhiên có vài điểm khác biệt quan trọng làm cho chúng không đồng nhất với nhau:

+ Thứ nhất, chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của mọi hàng hoá và dịch

vụ được sản xuất trong nước, trong khi đó CPI phản ánh mức giá của mọi hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua Sự khác biệt này rất quan trọng, ví dụ khi giá dầu tăng lên thì chỉ số giá CPI tăng nhiều hơn mức gia tăng của chỉ số điều chỉnh GDP

+ Thứ hai, chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số CPI liên quan đến việc gán

quyền số cho các loại giá cả khác nhau Giỏ hàng hoá khi tính CPI là cố định, trong khi nhóm hàng hoá và dịch vụ dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự do thay đổi theo thời gian Sự khác biệt không quan trọng nếu mọi giá cả điều thay đổi theo cùng tỷ lệ, song nếu chúng thay đổi với những tốc độ khác nhau thì cách gán quyền số rất quan trọng khi tính tỷ

lệ lạm phát

+ Thứ ba, chỉ số điều chỉnh GDP chỉ bao gồm những hàng hoá sản xuất

trong nước, không bao gồm hàng hoá nhập khẩu, hàng nhập khẩu không phải bộ phận nằm trong GDP Nhưng giá hàng hoá nhập khẩu vào một nước nằm trong rổ hàng hoá để xác định chỉ số CPI sẽ tác động đến CPI của nước đó nhưng lại không tác động đến chỉ số điều chỉnh GDP

 Chỉ số lạm phát cơ bản :

Lạm phát cơ bản (Core Inflation) là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát

Trang 17

cơ bản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan niệm của Friedman).(Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2001, [2])

Chỉ số lạm phát cơ bản được tính trên cơ sở chỉ số CPI sau khi loại bỏ một số nhóm hàng hoá và dịch vụ mà giá của chúng phản ánh sai lệch sự biến động mức giá chung Các tiêu chí loại bỏ hàng hoá là:

- Các hàng hoá có sự biến động lớn về giá cả;

- Các hàng hoá mà giá cả hình thành chủ yếu do các nhân tố cung;

- Các hàng hoá mà giá cả hình thành do các quy định hành chính;

- Những thay đổi giá cả gây nhiễu cho ngân hàng trung ương

So với CPI thì chỉ số lạm phát cơ bản phản ánh chính xác hơn sức mua thực sự của đồng tiền và cho phép có được dự báo đáng tin cậy hơn về xu hướng biến động dài hạn của mức giá chung trong nền kinh tế

Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác để đo lường lạm phát như:

- Chỉ số giá sản xuất (PPI – Production Price Index): được xây dựng để tính mức giá chung trong lần bán đầu tiên

- Chỉ số giá bán buôn (WPI – Whosesale Price Index): đo sự thay đổi trong giá cả của hàng hoá bán buôn

- Chỉ số giá bán lẻ (RPI – Retail Price Index): chỉ số phản ánh tình hình giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường theo thời gian

Trên đây là các chỉ tiêu được dùng để đo lường lạm phát khác nhau, chúng bổ sung cho nhau chứ không thay thế hay loại trừ lẫn nhau Và tuỳ theo nền kinh tế của mỗi quốc gia thì phương pháp nào là tốt nhất

 Đo lường lạm phát trên thế giới:

Ở các nước trên thế giới, mỗi nước có cách chọn lựa chỉ số CPI khác nhau, ở Mỹ chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân (Chỉ số giảm phát GDP) làm cơ sở cho quyết định của mình Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát ở Mỹ

Trang 18

Với các nước khác, ngân hàng trung ương thường dùng chỉ số CPI đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như Mỹ

Ở Úc, New Zealand, Nhật Bản thì loại bỏ một số hàng hoá có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng…) ra khỏi giỏ hàng hoá tính chỉ số lạm phát cơ bản Quan điểm này cho rằng: mặc dù các hàng hoá này có độ biến thiên rộng nhưng về lâu dài thì không ảnh hưởng đến xu hướng chung của lạm phát Hơn nữa sự biến thiên của các yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng trung ương

Tỷ lệ lạm

phát =

Chỉ số điều chỉnh GDPt – Chỉ số điều chỉnh GDPt-1

* 100% (1.3) Chỉ số điều chỉnh GDPt-1

 Đo lường lạm phát tại Việt Nam

Lạm phát được đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI là tỷ số phản ánh giá của

rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm năm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Trên cơ sở xác định chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước theo công thức:

Tỷ lệ lạm

Mức giá hiện tại – mức giá năm trước

* 100% (1.4) Mức giá năm trước

Hoặc xấp xỉ : t = lnPt – lnPt-1 (1.5) Trong đó t là tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t

Pt và Pt-1 là mức giá chung của hai thời kỳ t và t-1 Nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là không phản ánh sự biến động của giá cả hàng hóa cơ bản, không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu

Trang 19

1.1.2.2 Phân loại lạm phát:

Có nhiều tiêu chí để phân loại lạm phát như: Tốc độ tăng giá, kỳ vọng, nguyên nhân… Do biểu hiện của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hoá, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá phân chia lạm phát ra thành ba mức khác nhau:

 Lạm phát vừa phải:

Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài phần trăm đến mức dưới 10% so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải, lạm phát kiểm soát được

Đối với lạm phát này, tùy theo chiến lược phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế như kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khóa nhất định

 Lạm phát phi mã:

Mức độ gia tăng của giá cả hàng hóa lúc này là rất nhanh và nếu duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến đổi nền kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lại lượng tiền tối thiểu vừa

đủ cho giao dịch hằng ngày, và họ có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản, chuyển sang sử dụng vàng và các ngoại tệ mạnh khác để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch lớn và tích lũy của cải Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất

bị đình trệ, tài chính của nền kinh tế bị phá hoại và nếu không có biện pháp thích hợp để kiềm giảm nó thì nền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát Lạm phát phi mã xảy ra ở Việt Nam trong thập niên 1980, giá cả hàng hoá tăng chóng mặt Lạm phát năm 1985 là 91,6%, năm 1987 là 223,1%, và đây là một trong

số các nguyên nhân để các nhà điều hành đất nước có cách nhìn phải thay đổi chính sách kinh tế Bởi vậy, Đại hội Đảng lần VI đã nhìn nhận và bắt đầu thực hiện thay đổi phương thức điều hành nền kinh tế cho các năm sau đó

Trang 20

 Siêu lạm phát:

Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã Siêu lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội như: chiến tranh, khủng hoảng chính trị…Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt ngân sách khiến chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp tạo cơ hội cho siêu lạm phát Siêu lạm phát có sức phá hủy toàn bộ hoạt động nền kinh tế, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng

Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát ở nước Đức: Giá một tờ báo đã đăng từ 0,3DM vào tháng 1 năm 1922 đã lên đến 70.000.000 DM chỉ trong chưa đầy 2 năm sau đó Giá cả các mặt hàng khác cũng tăng tương tự, từ tháng 1/1922 đến tháng 11/1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000 và cuộc siêu lạm phát này được xem là một trong những nguyên nhân tạo ra cho thế chiến thứ hai [20]

1.1.3 Một số quan điểm về nguyên nhân lạm phát:

Về cơ bản giá cả hàng hoá là sự cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá,

do đó sự tăng lên về giá của hàng hoá có thể bắt nguồn từ sự tăng lên của tổng cầu hoặc tổng cung hoặc cũng có thể từ cả hai phía này tạo ra Nếu giá cả tăng lên bắt nguồn từ phía cầu nhanh hơn phía cung thì gọi là lạm phát cầu kéo (Demand pull inflation); ngược lại nếu giá tăng lên do chi phí đầu vào ở các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá tăng lên (như: lãi suất vay vốn, chi phí xăng dầu, thuế, lương nhân viên…) làm cho tổng cung bị sụt giảm, hàng hoá thiếu hụt và làm cho giá cả hàng hoá tăng lên thì gọi là lạm phát chi phí đẩy (Cost push inflation)

Các nhà kinh tế học tiếp cận nhiều cách khác nhau về chủ đề lạm phát và mỗi nhóm có luận cứ riêng của mình để giải thích cho nguyên nhân tác động làm cho giá hàng hoá tăng lên Tựu trung lại có các quan điểm sau đây:

1.1.3.1 Quan điểm lạm phát cầu kéo (Hay cầu dư thừa tổng quát)

Lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt mức cung hàng hoá của xã hội, dẫn đến áp lực tăng giá cả Khi tổng cầu tăng, tức có nhiều người mua và sẵn sàng mua hàng hoá, trong khi đó lượng cung không

Trang 21

tăng hoặc tăng ít hơn dẫn đến trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hoá Theo quy luật cung cầu thì giá cả thị trường sẽ tăng lên, tức xuất hiện lạm phát Chúng ta có thể giải thích qua mô hình tổng cầu (AD) và tổng cung(AS) như sau: Khi có sự gia tăng một thành tố nào đó trong tổng chi tiêu, dẫn đến sự gia tăng tổng cầu làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ AD0 đến AD1, làm cho mức giá tăng lên từ P0 đến P1, và lạm phát xảy ra (tổng cầu (AD) = chi tiêu hộ gia đình (C) + chi tiêu chính phủ (G) + đầu tư (I) + xuất nhập khẩu ròng (XM)) Tổng cầu tăng lên bởi một số nguyên nhân:

- Chi tiêu của chính phủ tăng lên, tăng đầu tư của chính phủ

- Tiêu dùng các hộ gia đình tăng hoặc đầu tư khu vực tư nhân tăng

- Xuất khẩu ròng tăng trong nền kinh tế mở

Hình 1-1: Lạm phát cầu kéo qua mô hình tổng cung, tổng cầu

Lạm phát hình thành khi có sự thay đổi mạnh mẽ trong tiêu dùng hoặc đầu tư Chẳng hạn khi có làn sóng mua sắm mới diễn ra thì giá các hàng hoá này sẽ tăng, làm cho lạm phát tăng lên hoặc ngược lại Tương tự, lạm phát cũng biến động trong nhu cầu đầu tư, sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư, hay việc tăng đầu tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng cũng như các công trình công cộng

Trang 22

1.1.3.2 Quan điểm lạm phát chi phí đẩy:

Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi đường tổng cung (AS) dịch chuyển sang trái (AS0 đến AS1) do chi phí sản xuất tăng nhanh hơn năng suất lao động Các loại chi phí có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy là tiền lương, thuế gián thu, lãi suất và giá nguyên liệu nhập khẩu Lạm phát chi phí đẩy trong nền kinh tế thường xảy ra khi tiền lương tăng trước mà chưa có sự gia tăng của năng suất lao động hay mức giá chung Một khi tiền lương nhân công lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá, nếu họ làm được điều này thì lạm phát sẽ gia tăng

Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời tới tất cả các nhà sản xuất (chẳng hạn thuế nhập khẩu) thì cũng có thể gây ra lạm phát vì nó tác động trực tiếp đến giá hàng hoá Ngoài ra, đối với các nước đang phát triển phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu từ bên ngoài mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá cả của chúng sẽ tác động mạnh đến lạm phát trong nước

Những yếu tố trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có gây tác động tổng hợp làm cho lạm phát gia tăng Khi đó các doanh nghiệp sẽ đối phó lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá để đảm bảo lợi nhuận và lạm phát xuất hiện mặc dù cầu về sản phẩm của họ không tăng

Trang 23

1.1.3.3 Quan điểm lạm phát tiền tệ:

Lạm phát tiền tệ là lạm phát do lượng tiền trong lưu thông tăng lên, chẳng hạn ngân hàng trung ương đưa lượng tiền lớn để mua ngoại tệ nhằm tránh đi sự mất giá của đồng nội tệ trong nước, hoặc cũng có thể đưa lượng tiền lớn vào thị trường để kích cầu nền kinh tế sau một thời gian suy giảm Hoặc lượng tiền tăng lên cũng có thể do tăng chi tiêu và đầu tư của chính phủ, hay tài trợ cho các khoảng thâm hụt ngân sách…, từ đó gây áp lực cho lạm phát tăng cao Chúng ta có thể lý giải vấn đề này theo 2 lý thuyết sau:

 Lý thuyết định lƣợng về tiền:

Gọi M là khối lượng tiền

V là vòng quay của tiền

P là mức giá chung

T là khối lượng giao dịch Theo các nhà kinh tế học về thuyết lượng tiền thì chúng ta có phương trình trao đổi như sau:

MV = PT (1.6) Với giả thuyết T bằng với sản lượng Y của nền kinh tế và đường tổng cung (AS) được giả định là cho trước và ở mức toàn dụng hay sản lượng đang ở trạng thái cân bằng dài hạn

Trang 24

% thay đổi P = % thay đổi M + % thay đổi V - % thay đổi Y (1.12) Theo các nhà kinh tế học tân cổ điển thì V là một hằng số không đổi trong ngắn hạn (do yếu tố tài chính thì V trong ngắn hạn không thay đổi ngay được), và Fisher đưa thêm giả định trong dài hạn Y là không đổi thì theo lý thuyết lượng tiền điều gì sẽ xảy ra một khi có sự thay đổi của cung tiền Như vậy, giả định tốc độ lưu thông tiền tệ là không đổi thì bất cứ sự gia tăng nào của cung tiền sẽ dẫn đến sự gia tăng của GDP danh nghĩa Vì các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế và xem GDP thực tế không đổi nên mọi sự thay đổi GDP danh nghĩa thể hiện ở sự thay đổi mức giá Vì vậy lý thuyết này cho rằng giá cả tỷ lệ thuận với cung tiền

 Lý thuyết ảnh hưởng khoảng chênh lệch sản lượng lên tỷ lệ lạm phát:

Xét chính sách tiền tệ qua mô hình tổng cung tổng cầu như sau:

Nguồn: Trích Mankiw, 2003 Hình 1-3: Mô hình tổng cung – tổng cầu

Trong đó:

AD là tổng cầu; AS là tổng cung

Y là sản lượng thực tế ; Y* là sản lưởng tiềm năng

P là mức giá

Trang 25

Chính sách tiền tệ sẽ tác động đến tăng trưởng nền kinh tế thông qua các kênh lan truyền như: tiêu dùng, đầu tư hay xuất nhập khẩu Nếu mở rộng trên các kênh này thì tổng cầu sẽ tăng, do đó sản lượng Y tăng Ngược lại nếu thu hẹp tiền tệ thì tổng cầu giảm và sản lượng Y giảm Tuy nhiên, trong ngắn hạn thì mở rộng tiền tệ làm tăng trưởng kinh tế nhưng trong dài hạn thì sẽ tạo

áp lực tăng giá hàng hoá và gây ra lạm phát Cụ thể:

Giả sử ban đầu nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tại điểm (1) với mức giá P1 và sản lượng tiềm năng Y* Khi ngân hàng trung ương thực hiện mở rộng chính sách tiền tệ (tăng tín dụng, giảm lãi suất) dẫn đến đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu ròng gia tăng nên làm cho tổng cầu tăng và đường tổng cầu

AD1 được dịch chuyển sang phải AD2, điểm cân bằng mới của thị trường lúc này là điểm (1’) với mức sản lượng Y’ (Y’>Y*) và mức giá P’(P’>P1) Tuy nhiên trong dài hạn, khi sản lượng lớn hơn sản lượng tiềm năng (Y’>Y*), vì các nguồn lực sản xuất đã được sử dụng vượt mức nền kinh tế thực có, do đó tiền lương và chi phí sản xuất sẽ tăng lên làm cho đường tổng cung AS1 dịch chuyển sang trái AS2, và điểm cân bằng mới lúc này là (2) và sản lượng quay trở về sản lượng tiềm năng Y*, nhưng mức giá lúc này là P2 (P2>P1) Nếu chính sách tiền tệ cứ tiếp tục nới lỏng thì đường tổng cầu AD sẽ tiếp tục dịch chuyển sang phải và đường tổng cung AS cũng tiếp tục dịch chuyển sang trái

và kéo theo là giá hàng hoá tăng cao

Như vậy có thể thấy, khi sản lượng đạt được sản lượng tiềm năng, ngân hàng trung ương thực hiện mở rộng chính sách tiền tệ, làm cho sản lượng gia tăng vượt mức sản lượng tiềm năng Điều này trong ngắn hạn có thể tạo tăng trưởng kinh tế, nhưng trong dài hạn thì sẽ tạo áp lực cho tăng giá hàng hoá và gây sức ép cho lạm phát gia tăng

1.1.3.4 Quan điểm lạm phát do yếu tố kỳ vọng:

Những năm 1970 trở lại đây, các nhà kinh tế học như: Robert E Lucas; Thomas

J Sargent; Neil Wallace thì cho rằng lạm phát chịu tác động nhiều bởi yếu tố kỳ

Trang 26

lạm phát của năm vừa qua hoặc trung bình của vài năm gần với hiện tại Nếu dự đoán như vậy gọi là kỳ vọng thích nghi Nhưng họ cũng có thể không dựa vào quá khứ để dự đoán tương lai mà còn sử dụng những thông tin hiện tại để giúp mình dự đoán cho giai đoạn kế tiếp, với cách này, các nhà kinh tế học gọi là kỳ vọng hợp lý Các nhà kinh tế thuộc quan điểm này cho rằng: Nếu thông tin là đầy đủ thì việc tăng cung tiền sẽ không ảnh hưởng gì đến sản lượng thực ngay cả trong ngắn hạn bởi vì

giá cả cũng tăng lên theo kỳ vọng của dân chúng Ví dụ, các nhà quản lý thông báo

sẽ tăng cung tiền thì lập tức người dân sẽ dự báo giá cả hàng hoá sẽ tăng theo cho

dù dữ kiện trong quá khứ cho thấy giá cả đang có xu hướng giảm

Nhóm các nhà kinh tế trên cũng nêu lên nếu người dân không biết được thông tin về cung tiền sẽ tăng mà các nhà chức trách đã âm thầm làm việc này, thì sự thâm hụt ngân sách là một dấu hiệu tích cực để người dân có thể tiên đoán cho lạm phát Nếu thâm hụt ngân sách triền miên được tồn tại thì phải có sự tài trợ từ phía ngân hàng trung ương đồng nghĩa với việc cung tiền được mở rộng để bù đắp cho khoảng thâm hụt ngân sách đó, điều này cũng rất phù hợp cho việc đáp ứng nhu cầu vốn để thực hiện đầu tư công và công nghiệp hoá của nhà nước khi mà thị trường vốn còn

eo hẹp Do vậy nguyên nhân gây lạm phát ở đây không phải là cung tiền mà là do thâm hụt ngân sách của chính phủ tạo ra, hay khác hơn yếu tố kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong chiều hướng lạm phát của nền kinh tế

Trên đây là một số quan điểm của các trường phái kinh tế học bàn về lạm phát Mỗi quan điểm có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau, nhưng tất cả cũng đã nêu lên được các vấn đề hết sức phức tạp của lạm phát trong nền kinh tế

1.1.4 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế:

Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau và phụ thuộc vào cơ cấu của mỗi nền kinh tế

1.1.4.1 Tác động tiêu cực:

Khi lạm phát xảy ra ngoài dự tính, nó tạo ra sự biến động thất thường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các mối quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi

Trang 27

hoạt động kinh tế - xã hội Dưới đây là một vài hậu quả của lạm phát gây ra cho nền kinh tế và xã hội:

 Tác động kìm hãm tăng trưởng kinh tế:

Lạm phát tăng sẽ làm cho thu nhập của người lao động bị sụt giảm và kéo theo các cuộc đình công đòi tăng lương với quy mô lớn, làm đình trệ hoạt động sản xuất và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia

Lạm phát tăng cũng làm cho giá cả vật liệu, hàng hoá tăng theo, dẫn đến khu vực sản xuất kinh doanh bị thu hẹp dần, buôn bán thương mại dịch vụ khủng hoảng và trật tự kinh tế bị thay đổi Bên cạnh đó, các lĩnh vực đầu tư cũng gặp nhiều khó khăn cho việc xác định mức lợi ích đảm bảo cho các nhà đầu

tư, khiến cho các nhà đầu tư ngần ngại, nhất là các dự án đầu tư dài hạn, dẫn đến làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực lưu thông và phân phối, giá cả hàng hoá tăng lên gây ra tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hoá dẫn đến mất cân đối quan hệ cung cầu làm cho rối loạn trong hệ thống phân phối hàng hoá và ảnh hưởng đến nền kinh tế

 Lạm phát làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, đời sống dân cư khó khăn:

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, hàm ý giá cả hàng hoá tăng trong khi thu nhập của người lao động hầu như không tăng, do đó đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn, đặc biệt tầng lớp lao động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp sản xuất Bên cạnh đó, khi mức giá chung tăng lên, lĩnh vực hoạt động sản xuất bị thu hẹp do chi phí đầu vào tăng làm giảm đầu tư mở rộng sản xuất hay thu hẹp sản xuất hàng hoá, nên tổng cầu công ăn việc làm giảm xuống do đó tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, các tệ nạn xã hội cũng theo đó ngày càng nhiều hơn

 Tác động đến hệ thống tiền tệ:

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát tăng làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng lên một cách đột biến do đồng nội tệ bị mất giá, làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng, hoạt động hệ thống tín dụng rơi vào khủng

Trang 28

hoảng do nguồn tiền gởi trong hệ thống sụt giảm và có sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền bản địa sang các đồng tiền khác ổn định hơn hay các tài sản khác đảm bảo hơn (như vàng, bất động sản…) Ảnh hưởng này dẫn đến nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh, có thể dẫn đến phá sản, làm cho hệ thống tiền tệ rối loạn và mất kiểm soát

 Tác động xấu đến cán cân thanh toán

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn lạm phát nước ngoài (có quan hệ mậu dịch) thì giá cả hàng hoá trong nước trở nên đắt đỏ hơn so với giá cả hàng hoá nhập khẩu, do đó làm giảm hàng hoá xuất khẩu và tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng tài khoản vãng lai Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ, làm cho áp lực tăng tỷ giá Tỷ giá tăng làm cho mức giá chung tăng lên ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu hàng hoá và tác động đến cán cân thanh toán của quốc gia

 Các tác động khác

Có thể nói lạm phát đã tác động rất nhiều đến các mặt hoạt động kinh tế - xã hội, khi lạm phát tăng cao, kéo dài và không dự đoán được làm cho nguồn thu ngân sách bị giảm sút và nền sản xuất hàng hoá bị suy thoái, hệ thống thông tin bị phá huỷ, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian từ

đó gây khó khăn về kinh tế và xã hội

1.1.4.2 Tác động tích cực:

Lạm phát không chỉ có tác động xấu đến nền kinh tế mà nó cũng được xem là một trong các yếu tố giúp nền kinh tế phát triển thông qua việc khuyến khích huy động vốn và tăng tính linh hoạt trong giá cả Tỷ lệ lạm phát vừa phải và có tính ổn định có thể giúp bôi trơn thị trường hàng hoá, tạo công ăn việc làm, tăng đầu tư sản xuất và phân bổ hiệu quả nguồn lực kinh tế, tạo động lực để đạt được mục tiêu tăng trưởng ổn định lâu dài

Trang 29

1.1.5 Các yếu tố đƣợc xem xét khi nhắc đến lạm phát:

Từ lý thuyết cho thấy vấn đề lạm phát không phải là mới nhưng khi xem xét thì khá phức tạp Lạm phát vẫn luôn là vấn đề nóng và chiếm sự quan tâm đặc biệt cho các nhà làm chính sách, các nhà kinh tế học và cho cả người lao động Các nhà hoạch định chính sách kinh tế luôn nghĩ làm cách nào để có thể tác động và kiểm soát được lạm phát, các công cụ nào sẽ hỗ trợ cho kiểm soát lạm phát ổn định Đó là chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá

Chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá là hai công cụ hỗ trợ mạnh mẽ cho chính phủ kiểm soát lạm phát Việc thay đổi lãi suất thông qua các quyết định của ngân hàng trung ương được xem là những chìa khoá chủ yếu để giải quyết bài toán lạm phát Bên cạnh đó, thông qua thuế, thu chi ngân sách chính phủ cũng có thể tác động đến lạm phát giúp ổn định nền kinh tế Tuy nhiên không phải lúc nào cũng đạt được như ý muốn, một chính sách dù tiền tệ hay tài khoá khi đưa ra sẽ tác động đến nhiều yếu tố trong nền kinh tế, và có thể làm cho chúng ta càng khó kiểm soát hơn

Do đó, khi đưa ra các chính sách cần chú ý đến sự phản ứng của các yếu tố khác như: tỷ giá, mức cung tiền, lãi suất, chi tiêu công, chính sách thuế, mức nợ công, chính sách an sinh xã hội,…

1.2 KHÁI QUÁT MÔ HÌNH VAR: (Còn gọi là mô hình tự hồi quy véc tơ VAR) 1.2.1 Lý thuyết mô hình VAR: (Vector Autoregression – tự hồi quy véc tơ)

Như chúng ta biết, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, biến độc lập (biến giải thích) ảnh hưởng đến biến phụ thuộc và trong nhiều trường hợp còn có sự ảnh hưởng ngược lại Do đó, chúng ta phải xét đến ảnh hưởng qua lại giữa các biến này cùng một lúc Mô hình kinh tế lượng được ứng dụng rộng rãi trong phân tích tác động giữa các biến số kinh tế mà ta xét đến sau đây không phải là mô hình một phương trình mà là mô hình nhiều phương trình Tuy nhiên, để ước lượng được các mô hình này ta phải đảm bảo rằng các phương trình trong hệ được định dạng, một số biến được coi là nội sinh (biến mà giá trị được xác định bởi mô hình, là biến ngẫu nhiên) và một số biến khác được coi

Trang 30

là ngoại sinh hay đã xác định trước (ngoại sinh cộng với nội sinh trễ) Việc định dạng này thường được thực hiện bằng cách giả thiết rằng một số biến được xác định trước chỉ có mặt trong một số phương trình Quyết định này thường mang tính chủ quan và đã bị Chrishtopher Sims chỉ trích

Albert Christopher Sims, một nhà khoa học kinh tế người Mỹ đã được trao giải Nobel Kinh tế năm 2011 cùng Thomas J Sargent với báo cáo nghiên cứu xây dựng

mô hình VAR Ông cho rằng nếu có đồng thời giữa một tập hợp các biến thì tất cả phải được xem xét trên cùng một cơ sở, hàm ý các biến được xem xét phải có vai

trò như nhau, không phân biệt biến nội sinh hay ngoại sinh Dựa trên quan điểm

này, Ông tiến hành xây dựng mô hình VAR của mình:

Xét hai chuỗi thời gian Xt và Yt, mô hình VAR tổng quát với hai biến Xt và Yt

Với hệ phương trình do Sims xây dựng trên đây, VAR đã được sử dụng phổ biến rộng rãi cho việc phân tích sự tác động qua lại giữa các biến số trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, đặc biệt là phân tích sự ảnh hưởng giữa các biến số kinh tế vĩ mô

và từ đó đưa ra giải pháp chính sách kinh tế phù hợp

1.2.2 Ứng dụng mô hình VAR và một số nghiên cứu về lạm phát:

Mô hình VAR được ứng dụng rộng rãi trên khắp thế giới, và nó cũng được giảng dạy ở các trường đại học và sau đại học Có rất nhiều công trình nghiên cứu ở bậc

Trang 31

thạc sỹ và tiến sỹ sử dụng mô hình VAR trong nghiên cứu của mình, và đồng thời cũng có nhiều ứng dụng trong phân tích biến số vĩ mô nhằm hỗ trợ cho hoạch định chính sách kinh tế Sau đây, là một số nghiên cứu ứng dụng cụ thể:

1.2.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài:

Canova Fabio and Luca Gambetti (2006) với nghiên cứu “The structural

dynamics of output growth and inflation: some international evidence” sử

dụng mô hình VAR để phân tích đóng góp của chính sách tiền tệ đến những thay đổi sản lượng và động lực lạm phát ở Mỹ và so sánh với các quốc gia ở khu vực EURO Các biến số được sử dụng trong mô hình là lãi suất ngắn hạn, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng sản lượng và tốc độ gia tăng cung tiền Nhóm tác giả phân tích các cú sốc chính sách tiền tệ đến nền kinh tế của Mỹ

và được thể hiện qua phương trình:

Yt = A0,t + A1,tYt-1 + … + Ap,tYt-p + εt (1.17) Trong đó: Yt là véc tơ bao gồm các biến: lãi suất, cung tiền, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng sản lượng và Ai,t là ma trận hệ số của các thời gian khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy các cú sốc chính sách có dấu hiệu tác động mạnh mẽ đến động lực tăng trưởng và lạm phát ở Mỹ và giữa các quốc gia

 Mô hình VAR nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ đến lạm phát

trên 7 quốc gia Đông Á của Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS)

Năm 2002, Bank for International Settlements (by Ben S C Fung, BIS, 2002) sử dụng mô hình VAR để phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến các nước Đông Á bao gồm: Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Ngân hàng thanh toán quốc

tế (dựa theo báo cáo của Bernanke and Mihov, 1998) xây dựng hệ phương trình cho mô hình kinh tế động như sau:

Trang 32

Các Bi, Ci, Di, Gi, Ay, và Ap là ma trận hệ số vuông;

Các Yt vector bao hàm các biến phi chính sách vĩ mô như sản lượng, giá cả; Các Pt vector bao hàm các biến chính sách hay biến tiền tệ như lãi suất Các biến sử dụng trong mô hình là: tỷ giá, CPI, cung tiền M2, tín dụng, lãi suất, giá hàng hoá và cung tiền của Mỹ Mô hình VAR cơ bản theo BIS trả lời cho các câu hỏi liệu các yếu tố tiền tệ (lãi suất, tín dụng) có đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát hay không? Kết quả chứng minh các biến lãi suất, tín dụng có ảnh hưởng đến lạm phát và có thời gian trễ khác nhau Đặc biệt là tỷ giá có tác động khác nhau đến các nền kinh tế của các nước và có đóng góp nhỏ vào chính sách tiền tệ, ngược lại lãi suất tham gia nhiều vào thiết lập chính sách tiền tệ cho các nước

 Disyatat and Vongsinsirikul (2003) với báo cáo ” Monetary policy and the transmission mechanism in Thailand” cũng sử dụng mô hình VAR với số

liệu từ 1993 – 2001 để phân tích cơ chế lan truyền chính sách tiền tệ, sự tác động của nó đến tăng trưởng và lạm phát ở Thái Lan Mô hình gồm các biến: sản lượng, mức giá và biện pháp của chính sách tiền tệ (lãi suất) Báo cáo đi đến kết luận: chính sách thắt chặt tiền tệ dẫn đến sản lượng sụt giảm, đầu tư dường như là thành phần nhạy cảm nhất của tổng sản phẩm trong nước

(GDP) với những cú sốc của chính sách tiền tệ

1.2.2.2 Các nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam, mô hình VAR cũng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, chứng khoán hay dự báo Dưới đây, tác giả chỉ có thể nêu một vài ứng dụng trong phân tích các biến số kinh tế vĩ mô, đặc biệt là phân tích về tăng trưởng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây:

 Camen (2006) với báo cáo “Monetary Policy in Vietnam: The Case of a

transition Country” sử dụng mô hình VAR cơ bản với hệ thống gồm tám

biến kinh tế: tỷ giá VND/USD, CPI, cung tiền M2, tín dụng, lãi suất cho vay, giá xăng, giá gạo, cung tiền M3 của Mỹ, nghiên cứu lạm phát trong thời kỳ

1996 – 2005 Kết quả thực nghiệm cho thấy tín dụng là nhân tố chủ yếu tác

Trang 33

động đến lạm phát trong 24 tháng Hệ thống bao gồm cả biến tín dụng và lãi suất cho vay cho thấy biến tín dụng giải thích đến 18% tỷ lệ lạm phát, trong khi lãi suất cho vay lại không có ý nghĩa thống kê Giá xăng, giá gạo cùng với sự thay đổi trong tỷ giá cũng là nhân tố quan trọng đối với sự biến động lạm phát Bên cạnh đó, cung tiền M3 Mỹ cũng cho thấy ý nghĩa thống kê cao

 Nguyễn Thị Thuỳ Vinh và S Fujita (2007) với báo cáo “The impact of

real exchange rate on output and inflation in Vietnam: A VAR Approach”

Tác giả bài viết sử dụng cách tiếp cận mô hình VAR để nghiên cứu sự tác động của tỷ giá hối đoái thực lên sản lượng đầu ra và lạm phát ở Việt Nam diễn ra từ 1992 – 2005 Các biến số trong mô hình: Sản lượng công nghiệp, CPI, tỷ giá, cung tiền, thâm hụt thương mại và lãi suất của Mỹ (Lãi suất Mỹ xem là biến ngoại sinh) Mô hình quan tâm nhiều về sự tác động của tỷ giá đến các biến số khác, kết quả cho thấy tác nhân chính gây ra sự biến động của sản lượng là chính nó, còn tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại và sản lượng hơn là tác động đến lạm phát

 Phạm Thế Anh (2008) với báo cáo “Ứng dụng mô hình SVAR 1 trong việc xác định hiệu ứng chính sách tiền tệ và dự báo lạm phát Việt Nam” Các

biến số được phân tích trong mô hình gồm: Sản lượng công nghiệp, giá dầu quốc tế, lạm phát trong nước, cung tiền M2 và lãi suất Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng và lạm phát sẽ giảm khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện thắt chặt tiền tệ, lạm phát phản ứng chậm hơn so với tăng trưởng do tính cứng nhắc của giá cả hoặc do độ trễ của hiệu ứng chính sách Đồng thời cũng cho thấy giá dầu tương đối độc lập với nền kinh tế Việt Nam do chính sách trợ giá của Chính phủ

 Nguyễn Phi Lân (2008) “Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích

định lượng” Tác giả dùng mô hình SVAR phân tích sự tác động của các yếu

tố (gồm biến bên ngoài: CPI thế giới, sản lượng công nghiệp Hoa Kỳ, chỉ số

Trang 34

CPI Hoa Kỳ, lãi suất công bố của FED, và biến trong nước gồm: Sản lượng công nghiệp, chỉ số CPI, cung tiền M2, lãi suất, tỷ giá hối đoái) nhằm đóng góp cho chính sách tiền tệ phục vụ điều hành kinh tế vĩ mô Kết quả mô hình cung tiền có tác động đến tăng trưởng kinh tế nhưng mức độ tác động là chưa lớn mặc dù cung tiền đã tăng rất mạnh trong thời gian dài Các yếu tố bên ngoài có tác động đến tỷ giá nhưng không nhiều do tỷ giá bị động bởi chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam Đồng thời nghiên cứu cũng cho biết CPI nhạy cảm và phản ứng mạnh bởi động thái thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

1.2.3 Ƣu nhƣợc điểm của mô hình VAR:

- Ứng dụng trong dự báo trung và dài hạn

 Nhƣợc điểm

- Mô hình đòi hỏi tất cả các biến phải có tính dừng hay là biến dừng (Khái niệm dừng được trình bày trong phụ lục 1)

- Khó khăn mô hình VAR là lựa chọn khoảng trể thích hợp

- Đòi hỏi của VAR là các biến phải dừng cùng bậc Đây là việc khó khăn cho người ứng dụng, nếu các chuỗi dữ liệu không có tính dừng thì chúng

ta phải biến đổi để được các chuỗi dừng và việc này không phải là dễ dàng

Trang 35

- Các hệ số trong mô hình VAR ước lượng thường khó giải thích về dấu của các hệ số, có thể cùng một biến nhưng ở các độ trễ khác nhau lại có dấu khác nhau Do đó người ta thường sử dụng hàm phản ứng (Impulse Response Function, IRF) để giải thích IRF phát hiện phản ứng của biến phụ thuộc trong VAR đối với các cú sốc của các số hạng sai số nhưng giá trị sử dụng phân tích IRF bị nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ (Chương trình kinh tế Fulbright, Xuân Thành dịch, 2001, [2])

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã tổng quan những lý luận cơ bản về lạm phát, đưa ra những quan điểm khác nhau về vấn đề lạm phát, nguyên nhân gây ra lạm phát và sự tác động của nó đến tình hình kinh tế xã hội Các trường phái này đều có lập luận lý thuyết

và thực nghiệm riêng để giải thích cho quan điểm của mình và chúng ta có lẽ không

ai phủ nhận các kết luận của họ mà thậm chí còn nhắc đến nhiều khi bàn luận về lạm phát Điều khiến mọi người quan tâm là khi lạm phát tăng lên quá mức sẽ gây những tác động tiêu cực cho nền kinh tế và đời sống của người dân

Trong chương 1 này, tác giả cũng khái quát phương pháp mô hình VAR (véc tơ hồi qui VAR) và một số ứng dụng của nó trong thực tiễn Và đây cũng là vấn đề mà tác giả sẽ đề cập ở chương 2 trong việc ứng dụng mô hình phân tích các nhân tố tác động lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua

===========================

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2012

VÀ KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

2.1 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2012:

Năm 1986, Đại hội Đảng VI diễn ra và xác định rõ phải thay đổi hướng đi cho nền kinh tế, bắt đầu chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thừa nhận kinh tế tư nhân Đồng thời Chính phủ ban hành hàng loạt các quyết định hỗ trợ cho việc đổi mới kinh tế,

cụ thể: xoá bỏ quan liêu bao cấp không chỉ với lĩnh vực đời sống mà còn với lĩnh

vực sản xuất, phân phối nguồn lực, trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh, xoá bỏ ngăn sông cấm chợ với thị trường trong nước và bước đầu với thị trường ngoài nước (Phạm Minh Chánh và cộng sự, 2009, trang 95, [10]) Không lâu sau

khi đổi mới, nền kinh tế đón nhận những dấu hiệu cải thiện tích cực, dường như tất

cả sự dồn nén bấy lâu nay được cởi bỏ, tâm lý hứng khởi đến với mọi người, mọi nhà trong việc sản xuất hàng hoá, nên nhà nhà đua nhau sản xuất, người dân tăng gia sản xuất rầm rộ khắp nơi, sản phẩm hàng hoá được làm ra tăng nhanh, lưu thông hàng hoá diễn ra mạnh mẽ, và tình trạng loạn giá được chấm dứt, lạm phát phi mã trước đó cũng được chặn đứng và nền kinh tế Việt Nam bắt đầu sang trang

Cùng thời gian này, thách thức đặt ra đối với các nhà quản lý cũng như các học giả kinh tế là hoạch định các chính sách hỗ trợ vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường Từ đó các nhà chức trách cùng các nhà khoa học kinh tế quan tâm nhiều hơn đến các nhân tố vĩ mô tác động đến nền kinh tế Một trong các yếu tố đó là lạm phát, nó được đề cập đến nhiều hơn mỗi khi có sự biến động về giá hàng hoá trong thị trường (Vì trước đổi mới, nền kinh tế được quản lý và vận hành theo cơ chế giá tập trung, giá cả được quản lý toàn diện, không do thị trường vận hành và do vậy không có cơ sở cho sự lo ngại về giá cũng như các biến số kinh tế vĩ mô khác như lãi suất, thất nghiệp, tăng trưởng…) Bởi thế mà số liệu về lạm phát được thống kê ghi nhận thường xuyên hơn nhằm hỗ trợ cho việc phân tích và tìm kiếm giải pháp

Trang 38

cho việc hạn chế lạm phát tăng cao Số liệu về diễn biến lạm phát trong thời kỳ đổi mới đến 2012 được mô tả như sau:

Bảng 2-1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1987 – 2012

Nguồn: Tổng cục thống kê, NGTK thế kỷ 20 và các năm 2004, 2008, 2012

Căn cứ vào xu hướng biến động của tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ở bảng 2-1, luận văn phân kỳ diễn biến lạm phát thành các giai đoạn như sau:

 Giai đoạn bắt đầu đổi mới đến 1991 là giai đoạn lạm phát cao Đặc biệt các

năm 1986, 1987, 1988 là những năm xảy ra siêu lạm phát, tỷ lệ lạm phát tăng lên 3 con số, với những hậu quả khôn lường, đời sống của đại bộ phận dân

cư bị suy giảm nghiêm trọng

 Giai đoạn 1992 – 1998 là giai đoạn có nền kinh tế ổn định và phát triển

Thời kỳ này, Chính phủ có những thành công đáng khích lệ trong việc điều

Trang 39

 Giai đoạn 1999-2003 là giai đoạn thiểu phát Giai đoạn này, nước ta đối mặt

với tình hình thiểu phát đi cùng với đà tăng trưởng kinh tế chậm lại

 Giai đoạn 2004 – 2012 là giai đoạn lạm phát cáo đi kèm có tính chu kỳ của

lạm phát

2.1.1 Giai đoạn 1990 – 1991:

Số liệu thống kê trong bảng 2-1 cho thấy, trong thập niên 80 lạm phát phi mã đã diễn ra và hàng loạt các chính sách được vận dụng như: cắt giảm in tiền, tự do hoá kinh tế, … để đẩy lùi lạm phát Song song với các chính sách đó là hoạt động tăng gia sản xuất của nhân dân diễn ra mạnh mẽ, kết quả năm 1988 lạm phát là 393,89% giảm xuống còn 67,1% năm 1990, thực tế đó tạo cho công chúng có tâm lý tin tưởng vào một chính sách kinh tế mới mẻ và tươi sáng hơn Do vậy, người dân không còn tích trữ hàng hoá, vàng hay đô la nữa mà bắt đầu có sự tích luỹ tiền đồng trong nước, và tình trạng xuất khẩu được cải thiện Tuy nhiên nền kinh tế vẫn chưa

ổn định, lạm phát vẫn còn ở mức cao 67% Chính phủ đã đẩy mạnh việc thực thi nhiều chính sách kinh tế khác nhau để bù đắp những tác động tiêu cực từ lãi suất, vì vậy tỷ lệ lạm phát bắt đầu có xu hướng giảm (1992 lạm phát 17,5%) và tăng trưởng kinh tế đã tăng lên Và đặc biệt hơn là Việt Nam đã có xuất khẩu dầu thô trong giai đoạn này

2.1.2 Giai đoạn 1992 – 1998:

Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn này tương đối tốt, tăng trưởng cao Tự do hoá thương mại và nguồn vốn vào trong nước đã giúp tháo gỡ những vấn đề về cán cân thanh toán và thâm hụt ngân sách

Nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô giai đoạn này cũng đã hỗ trợ rất nhiều cho thâm hụt ngân sách và giảm sức ép tài trợ cho ngân sách nhà nước, giảm áp lực lên lạm phát, kết quả là lạm phát giảm xuống còn 17,5% năm 1992 và 12,7% năm 1995 Đồng thời tăng trưởng thời kỳ này cũng ổn định khoảng 7,6% Kết quả đạt được trên là thành tựu to lớn của Việt Nam trong điều hành kinh tế và tạo bước khởi đầu cho hội nhập ASEAN và quốc tế

Trang 40

Những năm 1995, chứng kiến khủng hoảng châu Á nổ ra năm 1997 và hệ quả là giá cả thế giới và tổng cầu hàng hoá giảm mạnh Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi diễn biến này nên tốc độ tăng trưởng giảm và có chiều hướng suy thoái vào năm

1999 Tuy nhiên Việt Nam không phải là quốc gia có tự do hoá hoàn toàn nên các kênh lan truyền khủng hoảng ảnh hưởng đến nền kinh tế có độ trễ hơn so với các nước trong khu vực

2.1.3 Giai đoạn 1999 – 2003:

Lạm phát thời kỳ này được đánh dấu ở mức thấp và thậm chí còn giảm phát nhẹ vào năm 2000 với tỷ lệ lạm phát -0,6%, và lãi suất cơ bản được áp dụng thay thế trần lãi suất cho vay vào tháng 8/2000 tạo cơ chế thông thoáng hơn cho hỗ trợ nguồn vốn nhằm mục đích phục hồi kinh tế

Nguồn: Tổng cục Thống kê, NGTK thế kỷ 20 và các năm 2004, 2008, 2012

Hình 2-1: Tỷ trọng đầu tƣ trong GDP của Việt Nam 1990 – 2012 (%)

Để ngăn chặn chiều hướng suy thoái của nền kinh tế giai đoạn 1999 - 2000, Chính phủ nỗ lực bằng việc kích cầu nền kinh tế thông qua đầu tư Kết quả chương trình này là đầu tư công và đầu tư tư nhân tăng lên nhanh chóng Nếu năm 1995 đầu

tư công chiếm 42% trong tổng đầu tư xã hội thì năm 2001 tỷ lệ này tăng trên 59% Hơn nữa, đầu tư tăng nhanh còn thể hiện qua tỷ trọng đầu tư so GDP, năm 1990 tỷ

lệ này là 18,09% thì năm 2004 đã là 40,68%, và năm 2007 là 46,53% Chính sự tăng lên của đầu tư, tăng trưởng của Việt Nam đã được khôi phục nhưng đồng thời

Ngày đăng: 15/07/2022, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa Xuân (2013), Kinh tế Việt Nam 2013, Tái cơ cấu nền kinh tế một năm nhìn lại, Nhà xuất bản Tri thức trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2013, Tái cơ cấu nền kinh tế một năm nhìn lại
Tác giả: Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức trẻ
Năm: 2013
4. Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa Xuân (2012), Kinh tế Việt Nam 2012, Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu kinh tế, Nhà xuất bản Tri thức trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2012, Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu kinh tế
Tác giả: Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức trẻ
Năm: 2012
5. Nguyễn Đình Cung (2012), Cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước, một yêu cầu cấp bách của tái cơ cấu kinh tế, ecna.gov.vn/ct/ht/Lists/BaiViet/-Attachments/93/Tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước - TS.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước, một yêu cầu cấp bách của tái cơ cấu kinh tế
Tác giả: Nguyễn Đình Cung
Năm: 2012
6. Nguyễn Đức Thành (2011), Nền kinh tế Việt Nam trước ngã ba đường, Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế Việt Nam trước ngã ba đường
Tác giả: Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
7. Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), Những bài học từ một thập kỷ chống lạm phát ở Việt Nam, Báo cáo thường niên kinh tế năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học từ một thập kỷ chống lạm phát ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2011
8. Nguyễn Phi Lân (2010), Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng, Tạp chí Ngân hàng số 18/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng
Tác giả: Nguyễn Phi Lân
Năm: 2010
10. Phạm Minh Chánh, Vương Quân Hoàng (2009), Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá
Tác giả: Phạm Minh Chánh, Vương Quân Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
12. Tô Trung Thành (2012), Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM, VEPR, Bài nghiên cứu NC-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM
Tác giả: Tô Trung Thành
Năm: 2012
13. Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Hữu Tuấn (2013), Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR, Tạp chí phát triển và hội nhập, số 10 (20), tháng 05-06/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR
Tác giả: Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Hữu Tuấn
Năm: 2013
15. Vũ Tuấn Anh (2010), Tóm tắt về tình hình đầu tư công ở Việt Nam trong 10 năm qua, Kỷ yếu hội thảo đầu tư công, Huế 28, 29/12/2010.CÁC TRANG WEB, BÁO VÀ TẠP CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt về tình hình đầu tư công ở Việt Nam trong 10 năm qua, Kỷ yếu hội thảo đầu tư công
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 2010
16. Báo Công thương ngày 3/1/2013, “Lạm phát năm 2012: Sau niềm vui là nỗi lo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lạm phát năm 2012: Sau niềm vui là nỗi lo
17. Báo Dân trí, ngày 04/4/2013, “8 tỷ USD đổi 1% tăng trưởng GDP, quá đắt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “8 tỷ USD đổi 1% tăng trưởng GDP, quá đắt
18. Báo Doanh nhân Sài Gòn, ngày 26/12/2010, “Đầu tư công và lạm phát” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đầu tư công và lạm phát
19. Báo VnEconomy, 12/9/2011, Dương Ngọc, “Lạm phát do đâu?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lạm phát do đâu
26. Mankiw (2003), Macroeconomics, Second edition, Worth publisher, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macroeconomics
Tác giả: Mankiw
Năm: 2003
1. Nghị quyết 10/NQ-CP, ngày 24 tháng 4 năm 2012, về Triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 và phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 – 2015 Khác
2. Chương trình kinh tế giảng dạy Fulbright (2001), Kinh tế vĩ mô Khác
9. Nguyễn Văn Tiến, Vũ Hoàng Phương Quế (2009), Chính sách mục tiêu lạm phát – kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý cho Việt Nam Khác
11. Phạm Thế Anh (2008), Ứng dụng mô hình SVAR trong việc xác định hiệu ứng chính sách tiền tệ và dự báo lạm phát ở Việt Nam Khác
14. Tổng cục Thống kê, Số liệu thống kê thế kỷ 20, niên giám thống kê 2004, 2008, 2012 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w