Phần 1 của Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại cung cấp cho học viên những kiến thức về: đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học quản trị doanh nghiệp thương mại; doanh nghiệp thương mại và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thương mại; cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp thương mại; khái luận về quản trị doanh nghiệp thương mại;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
GS.TS PHẠM VŨ LƯẬN
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ - 2004
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU Cho lần xuất bản 1994 •
Quản trị doanh nghiệp thương mại được sử dụng
làm giáo trình chính thức cho việc đào tạo cử nhân khoa học kinh tê chuyên ngành quản trị doanh nghiệp và các chuyên ngành khác của trường Đại học Thương mại.Trong mấy năm qua cả ở trong và ngoài nước đã xuất hiện hàng loạt sách chuyên đề về quản trị với nhiều cách tiếp cận, phân loại, lý giải khác nhau vê' khái niệm, nội dung, bản chất, nguyên lý của quản trị Đây vừa là thuận lợi rất cơ bản vừa là khó khăn và thách thức rất to lớn đối với việc viết giáo trình này.Tác giả đã cố gắng giải quyết và trình bày các nội dung của quản trị doanh nghiệp thương mại theo hai
"lát cắt":
"Lát cắt" thứ nhất: Trình bày nội dung của quản trị theo chức năng: Hoạch định, Tô chức, Lãnh đạo, Kiểm soát
"Lát cắt" thứ hai: Trình bày các kiến thức quản trị doanh nghiệp thương mại theo các nghiệp vụ đặc trưng: Quản trị tiêu thụ hàng hoá, mua hàng, và quản trị hàng tồn kho, quản trị nhân lực, quản trị chiến lược trong doanh nghiệp thương mại
3
Trang 6Trong quá trình biên soạn, tác giả đã nhận được sự động viên, tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến của tập thể giáo viên bộ môn Quản trị doanh nghiệp của trường Đại học Thương mại, của các nhà khoa học và quản lý trong và ngoài ngành Tác giả trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp, đồng chí đã có những đóng góp thiết thực và to lớn trong việc nâng cao chất lượng của cuốn sách này.
Do năng lực và kinh nghiệm bản thân có hạn, cuốn sách có thể có những thiếu sót và hạn chế Chúng tôi mong nhận được chỉ dẫn, góp ý, nhận xét của bạn đọc gần xa để bổ sung và hoàn chỉnh trong các lần tái bản sau Ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Quản trị doanh nghiệp - Trưdng Đại học Thương mại
Trang 7LÒITỰA Cho lần tái bản năm 2001
Giáo trình "Quản trị doanh nghiệp thương mại" của Trường Đại học Thương mại do PGS.TS Phạm Vũ Luận biên soạn, được xuất bản lần đầu vào năm 1994, đã cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, có hệ thống về quá trình quản trị trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của nhà Trường
Trước sự đổi mới tổ chức quản lý và phát triển kinh tế xã hội, giáo trình "Quản trị doanh nghiệp thương mại" được tái bản, có bồ sung những nội dung kiến thức mới cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đào tạo của nhà Trường trong thòi kỳ mới, trên
cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam
Giáo trình được hoàn thành với sự tham già của các đồng chí giáo viên trong Bộ môn Quản trị doanh nghiệp thương mại: Th.s Vũ Thuỳ Dương, Th.s Bùi Minh Lý,
TS Trần Hùng, TS Nguyễn Thị Bích Loan, CN Nguyễn Quang Trung
Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã nhận được sự đóng góp ý kiến của đông đảo các cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Khoa Quản trị
5
Trang 8doanh nghiệp, Trường Đại học Thương mại Các tác giả
đã tiếp thu, bổ sung sửa chữa và nhân đây xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đồng chí và đồng nghiệp
Giáo trình có thể có những thiếu sót và hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để bổ sung hoàn chỉnh giáo trình trong các lần tái bản sau
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Quản trị doanh nghiệp - Trường Đại học Thương mại Tel: (04)
8347685, Email: pvluan@vcu.edu.vn
Hà Nội, tháng 10 năm 2001
PGS.TS Phạm Vũ Luận
Trang 9LỜI DÂN Cho lần tái bản 2004
Cuốn sách Quản trị doanh nghiệp thương mại do GS.TS Phạm Vũ Luận biên soạn được sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong trường Đại học Thương mại từ năm 1994 đến nay
Qua 10 năm sử dụng, giáo trình được tái bản nhiều lần; trong đó lần tái bản năm 2001 là tái bản có bổ sung với sự tham gia của một số cán bộ giảng dạy của bộ môn Quản trị doanh nghiệp
Với kinh nghiệm thu được từ thực tiễn sử dụng giáo trình trong quá trình đào tạo ở nhà trường, tiếp thu ý kiến nhận xét góp ý của bạn đọc, trong lần tái bản có bổ sung năm 2004 này, tác giả chú trọng việc mở rộng và phát triển các luận điểm quản trị kinh doanh hiện đại của Việt Nam (vốn là những luận điểm đã được đề cập
và cố gắng thể hiện ở bản in lần thứ nhất năm 1994)
Về mặt phương pháp luận, người đọc và người học cần đặc biệt lưu ý đến nội hàm của văn hoá doanh
nghiệp và văn hoá kinh doanh là các vấn đề được
quán triệt và thể hiện ở tất cả các nội dung cụ thể của giáo trình
So với bản tái bản có bổ sung năm 2001, trong bản tái bản lần này, những vấn đề kỹ thuật và nghiệp vụ cụ
7
Trang 10thể trong quản trị tác nghiệp được lược bớt và tinh giản
đi đáng kể Lý do của sự tinh giản này không phải do các nội dung trên không quan trọng, mà bởi vì đã có đủ nhiều tài liệu sách báo đề cập đến vấn đề này mà người học có thể dễ dàng tìm thấy ở thư viện trường và các nhà sách Hơn nữa, thdi gian dành cho môn học trong cấu trúc chương trình đào tạo của chuyên ngành là xác định và hạn chế
Bản in năm 2004 này được các đồng nghiệp trong bộ môn Quản trị doanh nghiệp thẩm định và góp ý hoàn thiện; và đã tiếp thu các ý kiến nhận xét của bạn đọc.Rất mong tiếp tục nhận được ý kiến nhận xét góp ý của bạn đọc trong thời gian tới
BỘ MÒN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Trang 11ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU MÔN HỌC QUẢN TRỊ
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
Lúc đầu, quản trị được hiểu là một thủ thuật, thủ
pháp và cao hơn là một nghệ thuật?1' Dần dần cùng
với sự phát triển của khoa học và công nghệ, quản trị học trở thành một môn khoa học độc lập và có vị trí ngày càng quan trọng trong hệ thống các môn khoa học
xã hội nhân văn và quản lý
111 Trong các thư tịch cổ cùa Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác,
có thể tìm thấy thụật ngữ “Thuật trị nước” “Thuật dùng người” Có thể tham khảo Thuật trị nước của người xưa Việt Đãng Lê Vãn Được Nhà xuất bảnTP.HCM 1991’
Đối tượng nghiên cứu của môn học Quản trị doanh
nghiệp là doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi quan hệ tác động qua lại, chế
ưốc lẫn nhau giữa các bộ phận, các mặt, các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và quan hệ của doanh nghiệp với bên ngoài (môi trường)
Khái niệm kinh doanh sử dụng ở đây được hiểu là việc thực hiện một, một số, hay toàn bộ các công đoạn 111
9
Trang 12của quá trình đầu tư (bao gồm từ việc nghiên cứu chế thử, sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, thực hiện các dịch vụ ) để thu lợi nhuận.
Quản trị doanh nghiệp thương mại giới hạn việc
nghiên cứu vào các doanh nghiệp thương mại, và hoạt
động thương mại của các doanh nghiệp khác
Tuy nhiên, việc giới hạn phạm vi nghiên cứu của môn học vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh thương mại không có nghĩa là “đóng khung” các nội dung của môn học chỉ vào hoạt động mua, bán, dự trữ, bảo quản Doanh nghiệp thương mại và hoạt động kinh doanh thương mại được nghiên cứu trong mối quan hệ biện
chứng với tổng thê các loại hình doanh nghiệp, các lĩnh vực hoạt động khác trong nền kinh tê thị trường
Cần phải nhấn mạnh lằng: không phải chỉ khoa
học Quản trị doanh nghiệp (thương mại) nghiên cứu
doanh nghiệp (thương mại) và hoạt động kinh doanh (thương mại) Các bộ môn khoa học khác (cả tự nhiên,
kỹ thuật xã hội và nhân văn) cũng hướng sự chú ý nghiên cứu của mình vào doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh Quản trị doanh nghiệp nghiên cứu doanh
nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với
tư cách là những thực thể kinh tế - xã hội tồn tại và
hoạt động trong một hệ thống kinh tế - xã hội thống nhất.
Doanh nghiệp với tư cách là một thực thể tự nhiên, một cấu trúc tổ chức, một hệ thông kỹ thuật không phải là đối tượng nghiên cứu của giáo trình này, nhưng
Trang 13được đề cập đến ở những mức độ khác nhau nhằm làm
rõ nội dung nghiên cứu của môn học
Quản trị doanh nghiệp thương mại trang bị cho các
nhà quản trị doanh nghiệp tương lai các kiến thức cơ bản về quản trị học, các phương pháp tư duy, các chuẩn mực ứng xử và hành động trong quá trình thực hành kinh doanh
Trong tổng thể chương trình đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp thương mại của Trường Đại học Thương mại, các môn khoa học khác như: toán học, tin học, tâm lý học, marketing, kế toán tài chính cung cấp các kiến thức cơ
sở và chuyên môn bổ trợ cho việc nghiên cứu môn học
Quản trị doanh nghiệp thương mại Do vậy, những nội
dung kiến thức đã được nghiên cứu sâu trong các môn học khác nhau, dù rất cần thiết đối với khoa học quản trị, cũng chỉ được đế cập một cách tổng quát thậm chí không trình bày trong giáo trình này
Quản trị doanh nghiệp thương mại là giáo trình chuyên môn chính của chuyên ngành quản trị doanh nghiệp và là môn chuyên môn bô trợ cho các chuyên ngành khác của trưdng Đại học Thương mại Đồng thời, giáo trình này là tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản trị doanh nghiệp trong và ngoài ngành thương mại
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu MÔN HỌC
Cũng như các môn khoa học khác, môn học Quản trị
doanh nghiệp thương mại sử dụng phương pháp duy vật biện chứng trong quá trình nghiên cứu Việc nghiên cứu
Trang 14lý thuyết và quá trình thực hành quản trị đòi hỏi phải có
quan điểm hệ thống với ba nội dung chủ yếu sau:
(1) Các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội
và tư duy đểu có mốì liên hệ hoặc phụ thuộc lẫn nhau, nhờ có các mối liên hệ đó mà các sự vật hiện tượng có
thể cố kết với nhau thành một tổng thê hoàn chỉnh.
(2) Mặc dù người ta xác định các giới hạn cho các hệ thong, để có thể phân tích và nghiên cứu chúng nhưng không bao giờ có hệ thống đóng kín, tách biệt với các hệ thông khác Các tổ chức bao giờ cũng là các hệ thống mở.(3) Mỗi hệ thông đều là một “tập” của nhiều hệ thống con.Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có câu “Rút dây động rừng” Câu tục ngữ đó đã diễn đạt một cách đơn giản nhưng sâu sắc về lối suy nghĩ và cách ứng xử theo quan điểm hệ thống này của người Việt Nam
Quản trị doanh nghiệp thương mại đòi hỏi phải được tiếp cận bằng phương pháp tình huống Mỗi quyết định, mỗi ứng xử trong thực hành quản trị là đúng hay không đúng đều phải được xem xét trong các điều kiện và tình huống cụ thể Không có một khuôn mẫu quản trị luôn đúng cho tất cả các doanh nghiệp trong mọi hoàn cảnh
và điều kiện Việc áp dụng các nguyên lý quản trị nhất thiết phải tính tới hệ thổng các bổi cảnh và ràng buộc của điều kiện chủ quan và khách quan Điều đó có nghĩa là phải trang bị đầy đủ lý luận, nhưng không được “tầm chương trích cú” và trở thành nô lệ của sách
vở và kiến thức; Phải vận dụng kinh nghiệm để có sự độc lập suy nghĩ và sáng tạo, cùng với việc tích lũy kiến thức, phải nâng cao năng lực thực hành nhưng không
Trang 15được bảo thủ và trở thành nô lệ của chủ nghĩa kinh nghiệm Đó là những nguyên tắc mà nhà quản trị tương lai phải ghi nhớ.
Nói tóm lại, Quản trị doanh nghiệp thương mại là
một bộ môn khoa học, do vậy cần phải đối xử với nó như một khoa học Đồng thòi, quản trị doanh nghiệp còn là một nghệ thuật, nó có những bí mật nghề nghiệp mà chỉ
có người tận tâm, tận lực với nghề mới có hy vọng có được những báu vật đó thôi.
Cũng giông như trong nghệ thuật biểu diễn, để hát đúng lời một bài hát, cần phải tập luyện, nhưng không cần tập luyện nhiều lắm và cũng không cần phải có năng khiếu đặc biệt Nhưng để hát hay, diễn tả được hết
vẻ đẹp của lời ca và giai điệu của bài hát mà tác giả và người nghe mong đợi thì mất nhiều công sức Hát đến mức lột tả được hết cái “thần” của bài hát thì chỉ có một sô" ít người có năng khiếu và tài năng đặc biệt, lại phải dày công khô luyện và có khi còn phải có một chút may mắn nữa mới làm được
Để trở thành một nhà quản trị doạnh nghiệp giỏi, phải học, phải hành, phải tích lũy kinh nghiệm, phải suy nghĩ sáng tạo và phải ý thức đúng về bản thân, về gia đình, về cộng đồng, và về xã hội
Trang 17CHƯƠNG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại
Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh
Thuật ngữ doanh nghiệp có nội hàm rất rộng và phong phú: Các nhà hàng, cửa hiệu, nhà máy, xí nghiệp, công ty, tập đoàn, hãng nếu thoả mãn các điều kiện: 1) Được cơ quan nhà nưởc có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động kinh doanh; 2) Đã làm đầy đủ các thủ tục theo quy định để triển khai hoạt động; 3) Triển khai hoạt động trên thực tế đều là hình thái biểụ hiện
cụ thể của phạm trù doanh nghiệp
Trên góc độ kinh tế, doanh nghiệp là đơn vị cơ sở, tạo thành nền tảng của nền kinh tế quổc dân của mỗi quốc gia, và trên cơ sở đó, tạo thành nền tảng của nền kinh
tế thế giới Chính tại doanh nghiệp, các nguồn lực của doanh nghiệp sẽ được sử dụng, khai thác nhằm cung
15
Trang 18cấp cho xã hội các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ hữu ích, và thông qua đó doanh nghiệp thực hiện được mục đích của mình, trong đó có mục đích theo đuôi lợi nhuận.
Dưới góc độ xã hội học, doanh nghiệp là một cộng đồng người có sự ràng buộc bởi những mục tiêu chung
và các lợi ích cá nhân và cộng đồng, họ thực hiện các công việc khác nhau theo sự phân công và quản lý thống nhất của các nhà quản trị, nhằm thực hiện được mục tiêu của mình thông qua việc góp phần thực hiện được mục tiêu chung cuả doanh nghiệp
Người ta còn có thể xem xét doanh nghiệp dưới các góc độ khác nhau nữa, ví dụ từ cách tiếp cận hệ thông, tin học, hoặc cách tiếp cận kỹ thuật
Mỗi cách nhìn nhận và xem xét doanh nghiệp đó cung cấp những nhận thức khác nhau về doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị có hiểu biết đầy đủ và toàn diện hơn đốì tượng quản lý của mình
1.2 Phân loại doanh nghiệp
Tuỳ mục đích khác nhau, căn cứ vào cấc tiêu thức khác nhau để phân loại, sẽ có các loại doanh nghiệp khác nhau
1.2.1 Phân loại doanh nghiệp theo chủ sở hữu
Theo cách phân loại này thì có hai loại doanh nghiệp:
Doanh nghiệp một chủ sỗ hữu Người chủ duy nhất
đó có toàn quyền quyết định phương hướng, chiến lược
và kế hoạch kinh doanh, và được hưởng toàn bộ lợi
Trang 19nhuận do hoạt động kinh ‘duanli cưu doàntr nghiệp mang lại, đồng thời phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu Đây là những
doanh nghiệp do nhiều người đứng tên thành lập và cùng bỏ vốn cho doanh nghiệp hoạt động Những người chủ doanh nghiệp đều có quyền tham gia quản lý và hưởng những lợi ích do các hoạt động của doanh nghiệp mang lại, đồng thời cùng chia sẻ các rủi ro và trách nhiệm pháp lý
1.2.2 Phân loại doanh nghiệp theo phạm vi trách nhiệm pháp lý
Theo tiêu thức này các doanh nghiệp được chia thành hai loại:
Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn\ là doanh nghiệp
mà trách nhiệm pháp lý được giới hạn trong phần vốn
và tài sản mà các chủ sở hữu góp vào doanh nghiệp
Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn\ là những doanh
nghiệp mà chủ của nó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không phụ thuộc vào phần vốn mà người chủ đó đầu tư cho các hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3 Phân loại doanh nghiệp theo quy mô
Theo tiêu thức này, có hai loại: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ Trên thực tế, tiêu thức phân
Trang 20biệt giữa doanh nghiệp lốn với doanh nghiệp vừa và nhỏ thường được dùng là: vốn, lao động, và doanh thu của doanh nghiệp Định lượng về mức vốn, số lao động sử dụng và doanh thu để phân biệt cũng thay đổi theo thời gian và không giống nhau giữa các quốc gia, các lĩnh vực ngành nghề.
Trên góc độ quản trị, quy mô của doanh nghiệp cũng ảnh hưỏng trực tiếp đến việc lựa chọn các cách thức và công cụ quản trị
1.2.4 Dựa vào chức năng của doanh nghiệp và đặc điểm hình thành giá trị sử dụng và giá trị mới của sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp để phân loại, có hai loại doanh nghiệp:
Doanh nghiệp sản xuất: là các doanh nghiệp có chức năng chủ yếu là tạo ra các sản phẩm hàng hoá hữu hình cung cấp cho thị trường Có những doanh nghiệp sản xuất mà các nguyên vật liệu, đầu vào và sản phẩm hàng hoá hữu hình ở đầu ra là khác hẳn nhau Bên cạnh đó lại có những doanh nghiệp sản xuất mà sản phẩm ở đầu vào và đầu ra không khác nhau nhiều (xí nghiệp sản xuất nước khoáng chẳng hạn)
Ở các doanh nghiệp này đều có sự phân bô' lao động, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuặt cho việc thực hiện hai loại công việc là sản xuất và mua bán Tuy nhiên, tuỳ từng loại hình cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có sự phân bố khác nhau về tỷ lệ và cơ cấu
Trang 21Doanh nghiệp dịch vụ: khác với doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm của các doanh nghiệp dịch vụ chủ yếu không phải là sản phẩm vật chất mà là các dịch vụ phi vật chất nhằm thoả mãn một nhu cầu về phục vụ nào
đó của khách hàng (dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch ) Tuy nhiên, để thoả mãn tốì đa nhu cầu của khách hàng, trong các doanh nghiệp dịch vụ này nói chung có cung cấp một số lượng nhất định các sản phẩm hàng hoá hữu hình
1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp thương mại
Thứ nhất, đốỉ tượng lao động của các doanh nghiệp
thương mại là các sản phẩm hàng hóá hoàn chỉnh, nhiệm vụ của các doanh nghiệp thương mại không phải
là tạo ra các giá trị sử dụng và giá trị mới mà là thực
hiện giá trị Đặc trưng này được coi là điểm rất khác biệt
giữa doanh nghiệp thương mại so với doanh nghiệp khác
Thứ hai, hoạt động của doanh nghiệp thương mại giống như các doanh nghiệp khác bao gồm các quá trình kinh tế, tổ chức kỹ thuật nhưng mặt kinh tế là chủ yếu Trong doanh nghiệp thương mại nhân vật trung tâm là khách hàng Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tập trung và hướng tới khách hàng, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho họ thỏa mãn nhu cầu
Thứ ba, do khách hàng - nhân vật trung tâm trong doanh nghiệp thương mại - có nhu cầu rất đa dạng và
do mọi hoạt động của doanh nghiệp thương mại đều
Trang 22hướng tới khách hàng, nên việc phân công chuyên môn
hóa trong nội bộ từng doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp thương mại bị hạn chế hơn nhiều so vái các doanh nghiệp sản xuất
Thứ tư, tính chất liên kết “tất yếu” giữa các doanh nghiệp thương mại để hình thành nên ngành kinh tế -
kỹ thuật, xét trên góc độ kỹ thuật là tương đốì lỏng lẻo; Nhưng những liên kết giữa các doanh nghiệp thương mại này trên góc độ kinh tế - xã hội lại rất chặt chẽ, ở đó tồn tại những “luật” (thành văn và bất thành văn) được thừa nhận và tôn trọng “Buôn có bạn, bán có phường” chính là nói tới tính chất phường hội rất chặt chẽ và nghiêm minh của hoạt động thương mại
Xu hưống đang phát triển là các doanh nghiệp thương mại có quan hệ chặt chẽ, xâm nhập vào các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp dịch vụ dưới các hình thức đầu tư vốn cho sản xuất, đặt hàng với sản xuất, kết hợp thực hiện các dịch vụ trong và sau bán hàng Tất cả những công việc đó đều nhằm làm cho người tiêu dùng được thoả mãn tốì đa nhu cầu, giúp cho
họ có ấn tượng tốt đẹp và tiến tới “phụ thuộc” vào doanh nghiệp thương mại
Trước đây, thuật ngữ “sản xuất - kinh doanh” được dùng khá phổ biến và trở nên quen thuộc đốì với nhiều người Theo cách hiểu thông thường, có hai loại hình tổ chức kinh tế: các đơn vị sản xuất chuyên lo việc sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, đầu vào và đầu ra của các
Trang 23tổ chức kinh tế sản xuất này đều được địa chỉ hoá trong các kế hoạch do cấp trên phê chuẩn Các đơn vị này chỉ
lo sản xuất, không làm nhiệm vụ kinh doanh
Còn các đơn vị hay tổ chức kinh doanh, được hiểu là các tổ chức thương nghiệp chuyên làm nhiệm vụ buôn bán hàng hoá Việc buôn bán, “kinh doanh” ở đây cũng bao hàm những nội dung ngoại lai, nằm ngoài phạm trù kinh tế thị trường, được sinh ra trong cơ chế tập trung, bao cấp
Để phù hợp với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, thuật ngữ “doanh nghiệp” và “kinh doanh” được sử dụng bao hàm không chỉ các tổ chức kinh tế chuyên làm việc buôn bán, mà cả các đơn vị đảm nhiệm việc sản xuất và dịch vụ Mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, dù là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp dịch vụ hay doanh nghiệp thương mại đều kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi
2 TINH THẨN DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
2.1 Khái niệm tinh thần doanh nghiệp
Việc thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi những điều kiện nhất định Đó
là công việc không đơn giản chút nào, nhưng nhiều người
có thể làm được Vấn đề đặt ra là: sau khi thành lập, doanh nghiệp sẽ đứng vững được trên thị trường, và công việc kinh doanh ngày càng phát triển, hay doanh nghiệp dậm chân tại chỗ, thua lỗ và đi đến phá sản?
Trang 24Đáp án cho bài toán hóc búa này một phần phụ thuộc vào các yếu tô' thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp Đó là những nhân tô' khách quan
và làm cho sự thành bại của doanh nghiệp ít nhiều mang tính “ngẫu nhiên, may rủi” Mặt khác, sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vàoa chính tài năng, bản lĩnh của những người điều hành doanh nghiệp.Khi thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thường đã chuẩn bị sẵn sàng một sồ' điều kiện nhất định như vô'n, địa điểm, phương án kinh doanh, nhân sự, đồng thời họ cũng đã cân nhắc các khả năng không chê'
và né tránh một phần những yếu tô' ngẫu nhiên bất lợi Đây chính là cái cốt vật chất tối thiêu ban đầu đảm bảo cho hoạt động doanh nghiệp Nhưng cái cô't vật chất đó vận hành như thê' nào, sẽ đưa doanh nghiệp đến thành đạt hay phá sản lại phụ thuộc vào phần “hồn” của doanh nghiệp Có nhiều nhân tô' cấu thành phần “hồn”
đó, làm cho doanh nghiệp có sức sông, trong đó phải kê đến tinh thần doanh nghiệp.
Tinh thần doanh nghiệp là tập hợp của các yếu tố: lý
trí, tình cảm, truyền thông (trong nhiều trường hợp, cả yếu tô' huyết thông nữa) cá tính, đặc điểm của các tảc nhân (con người) tạo lập nên doanh nghiệp, đóng vai trò
là tác nhân chủ lực, làm sống động toàn bộ doanh nghiệp Những yếu tô' đó được mọi thành viên trong doanh nghiệp tự giác thừa nhận, bảo vệ, duy trì và kê' thừa như là những ràng buộc “vô hình”, “bất thành văn”, cố kết các cá nhân trong doanh nghiệp vào mục
Trang 25tiêu chung, ngoài ràng buộc “hữu hình” như các luật, các hợp đồng, các nội quy, quy chế Chính tinh thần doanh nghiệp làm cho các doanh nghiệp (dù cùng kinh doanh một ngành hàng, trên cùng một địa bàn) có bản sắc riêng, không trộn lẫn.
2.2 Tinh thần doanh nghiệp thể hiện ở nhiều
mặt nhiều lĩnh vực, ở mỗi thành viên của doanh nghiệp Nó thể hiện càng rõ khi doanh nghiệp hoạt động càng lâu năm và người lãnh đạo doanh nghiệp càng quan tâm đến nó Không phải ngẫu nhiên mà nhiều biển quảng cáo của các công ty nước ngoài lại ghi năm thành lập, và người sáng lập ra công ty đó Dưới đây đề cập đến một vài nội dung của tinh thần doanh nghiệp:
2.2.1 Tên của doanh nghiệp
Tên của doanh nghiệp cũng như tên của các địa danh của đất nước, hay tên của mỗi con người, chúng có nhiều điểm giống nhau:
Một là, chúng có lịch sử hình thành, sô' phận và đời sốhg riêng
Hai là, nếu nhìn riêng rẽ từng doanh nghiệp (cũng như từng địa danh lịch sử, từng con người cụ thể), thì tên của doanh nghiệp có thể được hình thành bằng nhiều cách thức, dựa trên nhiều cơ sở, hay căn cứ khác nhau, trong đó có nhiều nhân tô' hoàn toàn ngẫu nhiên Nhưng nếu thông kê trên một mẫu sô' lớn, sẽ thấy những tên này biến động thay đổi và phản ánh một
Trang 26cách rõ ràng, sâu sắc các đặc điểm, sự biến động của thời đại và tâm nguyện của quần chúng nhân dân Có các mô hình đặt tên doanh nghiệp sau đây:
Thứ nhất: Tên doanh nghiệp thể hiện ngành hàng (hay mặt hàng) kinh doanh, địa điểm đặt trụ sở doanh nghiệp
Ví dụ: Công ty bách hoá số 5 Nam Bộ (Hà Nội), Công
ty thực phẩm Hà Nội
Thứ hai: Lấy tên doanh nghiệp theo địa danh: Có thể
là địa danh nơi đặt trụ sở doanh nghiệp, có thể là địa danh nơi sinh ra chủ doanh nghiệp, có thể là tên ngọn núi hay dòng sông nơi doanh nghiệp hoạt động hay nơi sinh của chủ doanh nghiệp
Thứ ba: Tên doanh nghiệp là tên của người chủ hoặc tên con cháu của họ; Tên doanh nghiệp có thể trùng khớp tên người, có thể là tên ghép (hai vợ chồng, hai bố con hoặc hai mẹ con, hoặc hai con )
Thứ tư: tên doanh nghiệp gợi đến một hình tượng có liên quan đến hoạt động kinh doanh
Ví dụ: Nhà hàng Phố Biển, Nhà hàng Phố Núi Thứ năm: Tên doanh nghiệp gợi đến khí phách, ý chí hay phương châm kinh doanh của doanh nghiệp
Ví dụ: Doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc Bảo TínCũng như con người hay các vùng đất khác nhau của đất nưóc, tên doanh nghiệp không phải là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Có nhiều doanh
Trang 27nghiệp có tên rất hay nhưng vẫn không phát triển được, thậm chí bị phá sản hoặc phải đình chỉ hoạt động Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp có một tên đẹp, một biểu trưng gây ấn tượng đốĩ với công chúng là một thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Một điểm cần lưu ý là: Trong phần lớn trường hợp,
do sự tăng trưởng và thành công của doanh nghiệp, đã làm cho tên của doanh nghiệp và tên tuổi (và kèm theo
đó là tài năng và đức độ) của chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp trở thành nổi tiếng
Do vậy, cần phải đặt vấn đề tên (và thương hiệu) của doanh nghiệp đúng với tầm quan trọng của nó
2.2.2 Bản lĩnh quản trị kinh doanh
Trong kinh doanh tồn tại một quy luật: Ở mặt hàng nào và trên thị trường hào, trong một thời điểm cụ thể, việc kinh doanh càng nhiều mạo hiểm, càng nhiều khả năng rủi ro, thì lợi nhuận hứa hẹn đem lại càng lớn Người chủ, nhà quản trị doanh nghiệp có hai phương án ứng xử phổ biến: Một là, dám chấp nhận mạo hiểm để mong đạt tới một sự thành công rực rỡ orên thương trường; Hai là, lựa chọn một phương án “chắc chắn” ít rủi ro nhưng lợi nhuận thấp hơn?
Việc lựa chọn khả năng nào trong hai phương án nói trên, một phần lớn phụ thuộc vào phẩm chất, đặc điểm,
năng lực và bản lĩnh của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Nhà quản trị doanh nghiệp là:
Trang 28- Người có thể chất mạnh khoẻ, khí chất mạnh me hay ngược lại?
- Người dễ bằng lòng với bản thân, với thực tế của điều kiện sống và làm việc hay ngược lại?
- Người thích khám phá sáng tạo hay thích làm việc theo quy trình chặt chẽ và các chuẩn mực xác định trước?
- Người thích sự mạo hiểm hay là người lựa chọn sự chắc chắn?
- Người dám đem đánh cuộc cả sự nghiệp, tài sản và danh dự cuộc đòi mình để phấn đấu thực hiện mục đích
lý tưởng hay không?
- Người dám chấp nhận rủi ro mạo hiểm để thực hiện công việc mà chỉ rất ít người, ngoài nhà quản trị doanh nghiệp tin vào thành công hay không?
2.2.3 Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh rõ cách thức doanh nghiệp đã được hình thành và phát triển lên như thế nào, và doanh nghiệp đã và đang được điều hành hoạt động ra sao
Hiểu một cách đơn giản, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các nguyên tắc và chuẩn mực
có tác dụng định hưống hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ứng xử của đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Trong một số trường hợp, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện (tóm tắt) trong một mệnh
Trang 29đề ngắn gọn (như một khẩu hiệu (!)) và được tuyên truyền rất rộng rãi và mạnh mẽ trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp.
Trong nhiều trường hợp khác, nhất là ở các nước Á Đông, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp thường được truyền từ đòi này qua đời khác, từ thế hệ nhà quản trị này sang thế hệ nhà quản trị khác một cách kiên trì, lặng lẽ, âm thầm, nhưng vối một sức sốhg mãnh liệt.Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp thường được thể hiện ở các nội dung sau:
- Liên hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh doanh bên ngoài
- Sứ mệnh và nhiệm vụ của doanh nghiệp
- Mục tiêu và phương thức đạt mục tiêu của doanh nghiệp
- Phương thức ứng xử (hay phương thức thực hiện sứ mệnh) của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có giá trị đích thực khi:
- Nó phù hợp vối thực tê (thực tế của doanh nghiệp
và thực tê đời sông kinh tê xã hội của đất nước nói chung)
- Được mọi thành viên trong doanh nghiệp hiểu đúng, hiểu đầy đủ và có ý thức thực hiện một cách tự giác
- Được thử nghiệm một cách chắc chắn, mang tính ổn định, nhưng cũng cần thay đổi nếu cần thiết
Trang 30Như vậy, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp (hay triết lý của một tổ chức, một gia đình) không phải là thứ
để trưng ra nhằm mục đích tuyên truyền như một đồ trang sức; Trái lại, đó là một tài sản quý, một “của chìm” của doanh nghiệp cần được bảo tồn, giữ gìn và phát triển cho và trong nội bộ doanh nghiệp là chính
22 Bản sắc văn hóa, nhân văn của doanh nghiệp
Nói đến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại, người ta ngay lập tức nghĩ ngay đến lợi nhuận (các phương tiện, thủ thuật để đạt được lợi nhuận tối đa), mua, bán, quảng cáo, vay trả Nhiều người đã quen với suy nghĩ cho rằng: thời gian sống từng ngày của mình chia làm hai phần; một phần ở doanh nghiệp và phần kia — ở ngoài doanh nghiệp Trong thời gian làm việc ở doanh nghiệp, nhà quản trị
sẽ tiếp xúc, giao dịch với khách hàng, nghe điện thoại,
ký giấy tờ, ra quyết định và chỉ thị, yêu cầu cung cấp thông tin, phối hợp công việc của các nhân viên dưới quyền các công việc trên diễn ra thường xuyên, xen kẽ lẫn nhau, và thậm chí len cả vào cả ở bữa cơm trưa, giờ nghỉ (như nhiều tài liệu, sách báo gần đây nói đến và ca ngợi) Tóm lại, thời gian ở doanh nghiệp là thời gian đối đầu với thử thách, là thời gian xử lý các “ca”, các “phi vụ” với đầy rẫy khó khăn, mạo hiểm và thách thức
Sự nghỉ ngơi, giải trí và quá trình tái sản xuất sức lao động không nằm trong quỹ thời gian làm việc ở doanh nghiệp, nó nằm ở phần kia - phần thời gian sử
Trang 31dụng ở gia đình, với vợ con, bạn bè, ở rạp phim, ở sân bóng đá Thực tế này (cả trong đòi sống thường nhật của mỗi người, cả trong tiềm thức và suy nghĩ của họ) đã tồn tại nhiều năm qua, đặc biệt là thời kỳ bao cấp.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với
xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ, và trong điều kiện thương mại và các doanh nghiệp đang phát triển thành đạt thường phải làm việc nhiều hơn 8 giò/ngày, các nhà quản trị doanh nghiệp còn ở doanh nghiệp làm việc với thdi gian nhiều hơn
Từ đó xuất hiện vấn đề mới: Doanh nghiệp không chỉ
là nơi làm việc, là nơi để con người cống hiến, phục vụ
Đó còn là nơi con người sống, khôi phục và tái tạo sức lao động, sáng tạo, phát triển và hoàn thiện nhân cách của người lao động
Khi nói: Kinh doanh không chỉ là khoa học mà còn là một nghệ thuật, điều đó cũng có nghĩa là phải khắc phục được sự đơn điệu, căng thẳng trong môi trường làm việc thì mới có thể có các giải pháp thông minh và
sự sáng tạo được
Doanh nghiệp không chỉ phải tạo ra môi trường làm việc tốt, mà phải tạo ra được môi trường sống tối ưu cho người lao động, đó chính là môi trường văn hoá nhân văn của doanh nghiệp
Có rất nhiều cách thức khác nhau để tạo lập và duy trì môi trường văn hoá nhân văn của doanh nghiệp, và
Trang 32khó có thể nói, cách nào tốt hơn cách nào Chỉ có sự động não, tìm tòi của nhà quản trị mới có thể tìm ra được một hoặc một số giải pháp hữu hiệu.
Sau đây là một vài cách thức mà một số doanh nghiệp
đã sử dụng và đã đạt được những kết quả khả quan:
Thứ nhất: Chọn lựa nhân viên có trình độ văn hoá ngang nhau, trong đó bằng cấp tốt nghiệp (phổ thông trung học, trung cấp kỹ thuật, cao đẳng, đại học ) chỉ
là một tiêu chí lựa chọn, cần phải quan tâm đến hoàn cảnh sống, gia đình, vợ, chồng, con cái của người định tuyển và nhiều yếu tố khác nữa nhằm mục đích có được tiền đề tốt cho việc xây dựng môi trường vãn hoá nhân văn tốt
Thứ hai: Quy định rõ ràng chức trách, quyền hạn nhiệm vụ của từng nhân viên, và mối quan hệ giữa họ
với nhau Trong một số doanh nghiệp còn quy định cả
cách thức xưng hô với nhau, với khách hàng; trang phục quần áo; trang trí nội thất
Thứ ba: Tổ chức các cuộc nghỉ cuối tuần, đi du lịch tập thể công ty (có và không có gia đình)
Thứ tư: Mời các văn nghệ sĩ, ca sĩ đến biểu diễn ở doanh nghiệp.a
Thứ năm: Tổ chức các báo cáo ngoại khoá, các xinêma, hội thảo, các lởp học chuyên đề mà nội dung hết sức đa dạng và phong phú
Trang 33Thứ sáu: Tổ chức kỷ niệm ngày truyền thông của
doanh nghiệp, các ngày lễ sinh nhật của các nhân viên, thăm nom chúc mừng các gia đình của các nhân viên làm việc trong doanh nghiệp
Thứ bảy: Xây dựng các “truyền thuyết” về các sự kiện, các con người có đóng góp hoặc ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của doanh nghiệp
Thực tiễn trong cuộc sống luôn thay đổi, những hình thức tăng cường sự hiểu biết và gắn kết lẫn nhau giữa các thành viên, nhằm tạo nên sự nhất trí cao độ trong doanh nghiệp sẽ càng ngày càng phong phú và đa dạng Nhà quản trị phải thường xuyên quan tâm đến việc tạo lập một bầu không khí cởi mở, tin tưởng lẫn nhau, tranh luận nhưng không mâu thuẫn, thống nhất với nhau ở mục tiêu chung nhưng không đơn điệu và buồn
tẻ nhằm có được thường trực trong suy nghĩ của mỗi nhân viên của mình một ý nghĩ tự hào về doanh nghiệp nơi mình làm việc, một tinh thần trách nhiệm trước uy tín của nó, để trong doanh nghiệp luôn tràn trề một không khí sống và làm việc đặc biệt riêng không trộn lẫn với các doanh nghiệp khác, ở đó mỗi thành viên đều cảm thấy doanh nghiệp như một cộng đồng sinh sống, trong đó có đủ điều kiện sống, để phát triển và để tự hoàn thiện bản thân
-Nhà quản trị doanh nghiệp phải biết khéo léo kết
hợp hai mặt của doanh nghiệp: một mặt, nó là một tổ
chức tạo ra lợi nhuận, mặt khác, nó là một cộng đồng
Trang 34đảm bảo đời sống cho mọi thành viên, tạo ra những cơ hội cần thiết để mỗi người nếu tích cực làm việc đểu có thể thăng tiến và thành công.
Chúng ta vẫn thường nói gia đình là một tế bào cơ bản của xã hội Ngày nay, trong quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường, các nhà quản trị doanh nghiệp cần nhớ rằng doanh nghiệp đã và đang trở thành một tê bào không kém phần quan trọng của
xã hội, nó là cơ sở đảm bảo đời sông cho mọi người, là trường học để trau dồi khả năng nghề nghiệp, là môi trường để thăng tiến và đón nhận vinh quang nghề nghiệp
3 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố (tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, tổ chức
và kỹ thuật ), các tác động và các mối liên hệ (bên trong và bên ngoài và giữa trong với ngoài) của doanh nghiệp có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đây là cách tiếp cận nhìn từ góc độ vi
mô Nhiều nhà kinh tế cho rằng môi trường kinh doanh tốt nhất của các doanh nghiệp là một thị trường hoàn thiện, bao gồm đầy đủ các yếu tố, ví dụ như thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường lao động
Trang 353.1 Một cách tiếp cận lịch sử
Trong thực tiễn lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh với thiên nhiên cũng như giặc ngoại xâm, ông cha ta đã đúc kết được nhiều bài học về những ứng xử nhằm tồn tại và phát triển Từ những bài học đó, có thể rút ra những chỉ dẫn (trực tiếp hoặc gián tiếp) có liên quan đến môi trưòng kinh doanh của doanh nghiệp Dưới đây
là một số ví dụ (chưa có tính chất điển hình), được dẫn
chứng theo tục ngữ Việt Nam:
Cha ông ta dạy rằng: “Buôn có bạn, bán có phường”;
“Giàu vì bạn, sang vì vợ”
Nhưng: “Vợ dữ mất bạn, chó dữ mất láng giềng”.Cho nên phải: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.Nhưng phải nhớ: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”;
“Máu chảy đến đâu, ruồi bâu đến đấy”; “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
Và phải: “Đáo giang tuỳ khúc, nhập gia tuỳ tục”
Từ các ví dụ trên, có thể thấy tư tưởng nổi bật trong truyền thống Việt Nam là tính hội tụ và tính hoà hợp cộng đồng giữa con người với con ngưòi, giữa các doanh nghiệp vởi nhau và suy rộng ra, giữa doanh nghiệp với môi trường Tính hội tụ và hoà hợp cộng đồng này được hiểu theo hai khía cạnh:
Một là, mỗi doanh nghiệp, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, đặc biệt ở giai đoạn mới thành lập, đều phải làm mọi việc cần thiết và có thể được để môi trường
Trang 36chấp nhận mình là một thành viên tự nhiên, hợp lý, chứ
không phải để được đón nhận như một “vật lạ” không thể chấp nhận, cần đào thải
Hai là, khi doanh nghiệp đã phát triển đến một mức
độ nào đó, đủ lớn, nó sẽ phát huy ảnh hưởng của mình đến môi trường xung quanh Đến một lúc cho phép, doanh nghiệp sẽ chuyển từ vị thế “được chấp nhận”,
“chờ và đón thòi cơ” sang vị thế “hướng dẫn”, “tạo cơ hội”
có tính chủ động hơn
Khi nói trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn cạnh tranh nhau để giành thế chủ động cũng là trên ý nghĩa này
3.2 Các loại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
3.2.1 Môi trường bên ngoài và môi trường bên trong
Lấy doanh nghiệp làm giói hạn phân biệt, có hai loại môi trường kinh doanh là môi trường kinh doanh bên trong và môi trường kinh doanh bên ngoài (doanh nghiệp)
- Môi trường bên ngoài: là hệ thống toàn bộ các tác nhân bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và có ảnh hưởng tối quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp bao gồm:
4 ị
Thứ nhất' Môi trường kinh doanh đặc trưng
Môi trường kinh doanh đặc trưng của doanh nghiệp
là những yếu tố môi trường kinh doanh của riêng từng
Trang 37doanh nghiệp và làm cho nó phân biệt với các doanh nghiệp khác, bao gồm:
- Các nhà cung cấp (cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, tài chính và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, điện, nước )
- Các khách hàng của doanh nghiệp (người mua buôn, người mua lẻ, mua nguyên vật liệu, mua hàng hoá vật phẩm tiêu dùng )
- Các tổ chức cạnh tranh và bạn hàng là những yếu
tô tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới doanh nghiệp Có các tổ chức cạnh tranh gần (trực tiếp) là các doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng, cùng ngành hàng trên cùng một thị trường và các tổ chức cạnh tranh xa (gián tiếp) bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng hay ngành hàng khác nhưng có thể thay thê mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải lưu ý đến cách nhìn nhận các tổ chức cạnh tranh để có một cách ứng xử có hiệu quả và phù hợp với thế giới hiện đại
Các tổ chức cạnh tranh, một mặt là đối thủ của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp bị giảm bỏt doanh
số, phải tăng thêm chi phí, hạ giá bán (hoặc không nâng giá bán được theo ý muốn) Điều đó có nghĩa là chính các tổ chức cạnh tranh làm cho doanh nghiệp phải hoạt động trong các điều kiện khó khăn hơn, lợi nhuận có nguy cơ bị giảm đi
Nhưng mặt khác, cũng chính các tổ chức cạnh tranh lại là các đồng nghiệp của doanh nghiệp, cùng với doanh
Trang 38nghiệp (do có sự cạnh tranh lẫn nhau) tạo ra sức hấp dẫn lôi cuốn khách hàng đến mua hàng Trên khía cạnh
đó, các tổ chức cạnh tranh là một nhân tố quan trọng tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, các tổ chức cạnh tranh vừa là đốì thủ, vừa
là bạn đồng nghiệp của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải ứng xử với nhau theo các chuẩn mực của pháp luật cũng như các chuẩn mực đạo đức xã hội, nhằm tạo lập vững chắc môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các doanh nghiệp và nền kinh tế quốic dân phát triển
- Nhà nước, bao gồm nhà nước trung ương và nhà nưởc địa phương: Nhà nước là của chung mọi doanh nghiệp, nhưng thái độ của Nhà nước trung ương đốì với các lĩnh vực kinh doanh, các địa phương khác nhau là khác nhau (về chính sách, về thứ tự ưu tiên), thái độ của Nhà nước địa phương đôi với doanh nghiệp và đảm bảo hạ tầng cho doanh nghiệp hoạt động cũng khác nhau
Thứ hai: Môi trường kinh doanh chung của
doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh chung là toàn bộ các tác nhân nằm ngoài tổ chức doanh nghiệp mặc dù không liên quan trực tiếp và rõ ràng đến doanh nghiệp nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nó Môi trường kinh doanh chung bao gồm:
Trang 39- Các điều kiện kinh tế, ví dụ sự ổn định và tăng trưởng kinh tế, sức mua, tỷ lệ lạm phát, sự thay đổi về mức thu nhập, các chính sách tài chính tiền tệ.v.v
- Các điều kiện chính trị: sự ổn định chính trị của đất nước, thái độ và chính sách của nhà nưóc đối với giởi kinh doanh, mức độ mạo hiểm và rủi ro trong kinh doanh
- Các điều kiện xã hội: các tập quán, thói quen và thị hiếu của từng dân tộc và từng khu vực, từng nhóm khách hàng
- Các điều kiện kỹ thuật và công nghệ
Các yếu tô' của môi trường chung tác động đồng thời đến nhiều doanh nghiệp trong khu vực, thậm chí trong phạm vi cả nước Nó không phải là những tác nhân giúp
ta phân biệt được giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác
Trong một sô' tài liệu, người ta còn nói đến môi trường xa (những rủi ro đe doạ và những cơ hội đón chờ doanh nghiệp) và môi trường vận hành (hay môi trường tác nghiệp - là những nhân tô' tác động trực tiếp đến doanh nghiệp)
3.2.2 Môi trường kỉnh doanh bên trong của doanh nghiệp
Bản thân doanh nghiệp là một hệ thông có cấu trúc tố’ chức rất tinh vi và phức tạp Làm việc trong doanh nghiệp là một tập thể (hay cộng đồng người) Đề’ hệ thông đó hoạt động có hiệu quả, cần có môi trường bên
Trang 40trong thuận lợi Yếu tố quan trọng nhất của môi trường
bên trong của doanh nghiệp là nên văn hóa của tổ chức doanh nghiệp, được hình thành và phát triển cùng với quá trình vận hành doanh nghiệp Nền văn hoá doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành Từ góc độ môi trường kinh doanh, cần đặc biệt chú ý đến triết lý kinh doanh, các tập quán, các thói quen, các truyền thổng, các phong cách sinh hoạt, các nghệ thuật ứng xử, các lễ nghi được duy trì trong doanh nghiệp
Tất cả những yếu tố đó tạo ra một bầu không khí, một bản sắc tinh thần đặc trưng riêng cho từng doanh nghiệp Những doanh nghiệp có nền văn hoá phát triển cao sẽ có không khí làm việc say mê, đề cao sự sáng tạo chủ động và sự trung thành Ngược lại, những doanh nghiệp có nền văn hoá thấp kém sẽ phổ biến sự bàng quan, thờ ơ và bất lực trong đội ngũ lao động của doanh nghiệp
4 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Các nhà quản trị doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến một nội dung liên quan đến môi trường kinh doanh bên ngoài của doanh nghiệp: Đó là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực hiện các trách nhiệm đó của doanh nghiệp Xung quanh vấn đề này đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
Một số người cho rằng thương trường là chiến trường, kinh doanh là kinh doanh Điều đó có nghĩa là