Tài liệu Lịch sử các học thuyết kinh tế được biên soạn nhằm giới thiệu những quan điểm, những, lý thuyết kinh tế cơ bản của các trường phái kinh tế qua các giai đoạn phát triển lịch sử. Phần 2 của tài liệu có nội dung trình bày về: các lí thuyết kinh tế của trường phái “cổ điển mới”; các lý thuyết kinh tế của trường phái Keynes; lý thuyết kinh tế của các trường phái “chủ nghĩa tự do mới” ; các lý thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại; các học thuyết tăng trưởng kinh tế; các lý luận về thương mại quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương VII
CÁC LÍ THUYẾT KINH TẾ
CỬA TRƯỜNG PHÁI "Cổ ĐIÊN MỚI"
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIEM cơ bản CỦA TRƯỜNG PHÁI “CỔ ĐIÊN MỚI ”
1 Hoàn cảnh ra đời
Cuối thế kỉ XIX - đầu thê' kỉ XX với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất nên chủ nghĩa tư bản, nền kinh tê' thị trường tư bản phát triển mạnh ớ châu Âu, châu Mỹ Ớ thời kì này, các mâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tê' - xã hội càng trầm trọng Khủng hoảng kinh tê', thất nghiệp, lạm phát làm cho mâu thuẫn giai cấp
và đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng tăng lên Đây cũng là thời kì chuyển biến mạnh
mẽ của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền ở các nước tư bản phát triển đã làm xuất hiện nhiều hiện tượng kinh tê' mới vượt ra ngoài khả năng giải thích của trường phái cổ điển đang trong thời kì suy tàn Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích kinh tê' mới biện minh cho nền kinh tê' tư bản
Cuối thế kỉ XIX cũng là thời kì ghi nhận sự phê phán gay gắt chủ nghĩa tư bản về mặt lí luận từ nhiều giai cấp khác nhau Trước hết, đó là sự phê phán sản xuất lớn tư bản
Trang 2chủ nghĩa từ phía giai cấp tiểu tư sản, phê phán chủ nghĩa tư bản và khẳng định tính lịch sử của nó từ phía những người chủ nghĩa xã hội không tưởng Đặc biệt, sự kiện lịch sử quan trọng tác động mạnh đến các tư tưởng kinh tế trong thời kì này là sự xuất hiện chủ nghĩạ, Marx Với bản chất khoa học và cách mạng, học thuyết kinh tế Marx chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người, là vũ khí lí luận sắc bén và kịp thời cho phong trào công nhân quộc tế trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chống chủ nghĩa tư bản Bởi vậy, ngay từ khi mới xuất hiện nó đã trở thành đối tượng phê phán mạnh của các nhà kinh tế học tư sản Lức này các học thuyết kinh tế của trường phái tư sản
cổ điển lại tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản,
vì vậy đòi hỏi phải có các học thuyết kinh tế mới thay thế Thực tế đây là thời kỳ xuất hiện nhiều trường phái kinh tế chính trị học tư sản để phân tích nền kinh tê' thị trường Trong đó, trường phái "cổ điển mới" đóng vai trò đặc biệt quan trọng Như vậy sự xuất hiện trường phái "cổ điển mới" như là một tất yếu và nó là trào lưu chính của kinh tế chính trị tư sản thời kỳ này nhằm giải thích các hiện tượng kinh tế mới nảy sinh cũng như trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa Marx
2 Đặc điểm cơ bản của trường phái "cổ điển mới"
Trường phái "cổ điển mới" (hay còn gọi là "tân cổ điển") xuất hiện và tồn tại ở nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ, Áo, v.v và có một số điểm tương đồng với trường phái tư sản cổ điển như: ca ngợi chủ nghĩa
tự do kinh tế, cách tiếp cận kinh tế vi mô dựa vào giả thiết
Trang 3về tính hợp lý của những ứng xử cá nhân v.v Tuy vậy, trường phái, tư sản "cổ điển mới" khác một cách căn bản với trường phái tư sản cổ điển Điều đó được phản ánh qua những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu: Nếu trường phái cổ điển lấy sản xuất làm đối tượng nghiên cứu thì trường phái
"cổ điển mới" hướng chủ yếu vào nghiên cứu trao đổi, lưu thông và nhu cầu Họ hướng sự quan tâm nghiên cứu thị trường vì đó là nơi tập trung tất cả các quan hệ kinh tế cũng như biểu hiện tập trung các mâu thuẫn chủ yếu của nền kinh tế thị trường tư bản với hy vọng tìm ra các giải pháp tình thế ứng xử các tình huống do thực tiễn đặt ra Đối tượng nghiên cứu của họ đều là những đơn vị kinh tế cá biệt, kiểu kinh tê' Rô-bin-xơn hoặc các hành vi của các cá nhân Họ quan niệm rằng từ sự phân tích các đơn vị kinh tế riêng biệt này có thể rút ra những kết luận chung cho toàn
bộ xã hội Vì vậy phương pháp phân tích của họ là phương pháp phân tích vi mô thê hiện lập trường chủ nghĩa cá nhân
về phương pháp luận Dựa trên nguyên tắc hành vi hợp lí của các chủ thể kinh tế họ tin rằng các chủ thể kinh tế đều hướng hành vi của mình một cách hợp lí sao cho tất cả đều nhận được lợi ích cá nhân tối đa phù hợp với khả năng cống hiến của mình Vì vậy họ đã xóa đi mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản
Thứ hai, về phương pháp luận: Đặc điểm cơ bản về phương pháp luận của những người "cổ điển mới" là cách tiếp cận duy tâm, tâm lí - chủ quan đối với hiện thực kinh tế
Trang 4khách quan Không đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, họ chỉ dừng lại mô tậ hiện tượng bên ngoài theo tinh thần của "thuyết ngoài lề" Các nhà "cổ điển mới" muốn biến kinh tế chính trị học thành khoa học kinh tế thuần túy, không có mối liên hệ với các điều kiện chính trị xã hội Họ đưa ra khái niệm "kinh tế học" để thay cho thuật ngữ "kinh tế chính trị học" đã được
sử dụng từ thời chủ nghĩa trọng thương
Thứ ba, quan điểm về giá trị: Đối lập với trường phái
cổ điển và K Marx, trường phái "cổ điển mới" ủng hộ thuyết giá trị ích lợi, giá trị chủ quan Theo thuyết này, giá trị hàng hoá phụ thuộc vào lợi ích chủ quan hay tính khan hiếm của nó Cùng một hàng hoá với người cần nó hay CÓ lợi ích nhiều đối với họ thì nó được đánh giá là có giá trị lớn và ngược lại đối với người không cần nó hay không có lợi ích hoặc dư thừa thì giá trị của hàng hoá đó sẽ thấp, thậm chí là bằng không Rõ ràng, sự đánh giá về ích lợi Hàng hoá đối với các cá nhân chỉ hoàn toàn mang tính chủ quan
Thứ tư, trường phái "cổ điển mới" tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế, chịu ảnh hường của trào lưu toán học Trong kinh tế họ đưa vào sử dụng nhiều các công
cụ toán học như công thức, đồ thị, bảng biểu, mô hình để minh họa cho các quan điểm của mình Phối hợp các phạm trù toán học với phạm trù kinh tế họ xây dựng nên các khái niệm như "lợi ích giới hạn", "sản phẩm giới hạn", "năng suất giới hạn" Do vậy, trường phái "cổ điển mới" còn được gọi là trường phái "giới hạn"
Trang 5Thứ năm, trường phái cổ điển mới phát triển qua hai thời kỳ chính Thời kỳ đầu, cuối thề kỷ XIX, giống như phái cổ điển, các nhà cổ điển mới ủng hộ tự do cạnh tranh, tán thành triết lý về trật tự tự nhiên, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế Họ tin tướng chắc chắn rằng cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm thăng bằng cung - cầu, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhịp nhàng, không có khủng hoảng kinh tế Thời kì sau là vào đầu thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển diễn ra quá trình chuyển biến mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền tư nhân Độc quyền ra đời, thống trị nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà càng làm cho cạnh tranh đa dạng, phức tạp và gay gắt hơn Các cuộc khủng hoảng kinh tê' mở rộng, kéo dài làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lâm vào những khó khăn đặc biệt lớn Hơn nữa, đây là thời kỳ xuất hiên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên
do thành quả của cách mạng tháng Mười Nga làm cho nền kinh tế thê' giới không thuần nhất là tư bản chủ nghĩa nữa Những tiền đề về tự do cạnh tranh hoàn hảo, việc làm đầy đủ, đã trở thành giáo điều và xa rời thực tế Những giả thiết này không đủ để giải thích cho những hiện tượng kinh tê' mới như độc quyền xen lẫn cạnh tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ thất nghiệp gia tăng Trước thực tê'
đó, các nhà kinh tê' học trường phái “cổ điển mới” tiếp tục phát triển các quan điểm kinh tê' của họ, bởi vậy các học thuyết kinh tê' thời kì này không chỉ đi sâu vào phân tích những vấn đề về cung - cầu, giá cả trong điều kiện cạnh tranh mà còn đi phân tích các vấn đề về cạnh tranh và độc
Trang 6quyền, về khủng hoảng và thất nghiệp, về phúc lợi kinh tế Quan điểm về cơ chế quản lý kinh tế cũng có sự thay đổi, các học thuyết kinh tế của họ ít nhiều có sắc thái về tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế.
Trường phái “cổ điển mới” xuất hiện và phát triển ở nhiều nước khác nhau, trong đó có một số trào lưu chính sau:
II CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CHỦ YÊU CỦA PHÁI “ GIỚI HẠN ” THÀNH VIENE (ÁO)
Trường phái “giới hạn” Thành Viene (Áo) được đại biểu bởi ba nhà kinh tế và hoạt động nhà nước cấp cao là Karl Menger (1840 - 1921), Eugenvon Bohm Bawerk (1851 - 1914) và Von Wierser (1851 - 1926) Tuy vậy, tiền bối của trường phái này lại là Herman Gossen (1810 - 1858)
1 Tiền đề lí luận xuất hiện trường phái Thành Viene
Với tư cách là người đặt nền móng cho trường phái Thành Viene, H Gossen (nhà kinh tế học người Đức) đã đưa ra tư tưởng “ích lợi giới hạn” và đặc biệt là định luật nhu cầu trong tác phẩm “Sự mở rộng các định luật giao tiếp của con người” Đứng trên quan điểm “chủ nghĩa cá nhân” khi phân tích kỉnh tế, H Gossen xuất phát từ nhân tố con người cá nhân Mục đích tối cao của con người này là lợi ích cá nhân Tuy vậy, khi thực hiện lợi ích cho mình con
Trang 7người đã tích cực góp phần vào lợi ích chung của xã hội Nguyên nhân của nó chính là do thế giới của chúng ta được đặt dưới quyền lực tự nhiên, những định luật chi phối xã hội
là những định luật tốt đẹp mà con người phải hướng hành động của mình thích ứng với chúng Có nghĩa là dưới tác động của các định luật tự nhiên nó hướng hoạt động của còn người hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện cả lợi ích
cá nhân và xã hội Muốn thực hiện lợi ích thì con người phải tổn tại và do vậy phải thoả mãn nhu cầu Đến lượt nó, nhu cầu của con người không tự phát tuỳ tiện mà chịu sự chi phối của một số định luật Từ đó ông xây dựng nên các định luật gọi là định luật nhu cầu
Định luật 1: Bất cứ nhu cầu nào của con người cũng có thể được thoả mãn nếu người ta biết sử dụng đúng các sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu đó Khi số lượng sản phẩm mang ra tiêu dùng tăng lên thì mức độ bão hoà về sản phẩm tăng lên, còn cường độ nhu cầu thì giảm xuống Nhu cầu sẽ bằng không khi sản phẩm tăng lên đến một mức độ nào đó vì mọi nhu cầu của con người đều có giới hạn
Nói cách khác là việc tiêu dùng liên tục một sản phẩm nào đó sẽ làm cho cường độ nhu cầu giảm dần và cuối cùng
là mất hẳn
Tư tưởng cơ bản của định luật 1 phản ánh hai vân đề cơ bản
127
Trang 8- Xác định quan hệ tỉ lệ nghịch của cường độ nhu cầu với số lượng sản phẩm mang ra thoả mãn nhu cầu - là tiền
đề lí luân để hình thành quan niệm về “ích lợi giới hạn”
- Qui mô sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu mang tính chất cá nhân, chủ quan - đây là tiền đề để hình thành tư tưởng “cá nhân chủ nghĩa” về phương pháp luận
Tư tưởng cợ bản của định luật 1 của H Gossen có thể
Hình VII 1: Cường độ nhu cầu giám dần
ở đây OY: chỉ mức độ thoả mãn nhu cầu
OX: là số lượng sản phẩm mang ra thoả mãn nhu cầu
Ta thấy khi ox tăng lên thì cường độ nhu cầu giảm xuống từ Y tới o.
Trang 9Định luật 2: Cá nhân ý thức được nhu cầu của mình và biết rõ các sản phẩm có khả nàng thoả mãn nhu cầu đó Vì vậy nếu biết suy luận, biết tính toán, cá nhân sẽ sắp xếp nhu cầu theó một thứ tự nào đó căn cứ vào cường độ nhu cầu hay ý muốn của mình Cường độ nhu cầu hay ý muốn này
có thể tăng dần hay giảm dần tuỳ theo mức độ ưu tiên Rõ ràng sự lựa chọn sắp xếp này hoàn toàn mang tính chủ quan, cá nhân
2 Các lí thuyết kinh tế
a Lí thuyết sản phẩm kỉnh tê
Trong tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học”, K Menger đã nghiên cứu bản chất của của cải và xem đây là một trong những đối tượng nghiên cứu của kinh tế học, đó cũng là cơ sở cho việc nghiên cứu sản phấm kinh tế của phái Thành Viene Theo các nhà kinh tế của trường phái Thành Viene, không phải bất cứ sản phẩm nào cũng là sản phẩm kinh tế Một vật được coi là sản phẩm kinh tế khi nó thoả mãn bốn tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, vật phẩm đó phải có khả năng thoả mãn nhu cầu hiện tại của con người Như vậy trước hết, vật phẩm đó phải có công dụng và hơn nữa công dụng đó phải phù hợp với nhu cầu con người Vật không có công dụng hay ích lợi thì không phải là sản phẩm kinh tế Mặt khác, theo họ, giữa sản phẩm
và nhu cầu có mối liên hệ với nhau Cũng là sản phẩm đó, khi con người có nhu cầu nó được coi là sản phẩm kinh tế, nhưng khi nhu cầu không còn thì sản phẩm mất đặc tính kinh tế của nó Thí dụ người ốm cần thuốc chữa bệnh, lúc
Trang 10đó thuốc là sản phẩm kinh tế Nhưng khi họ khỏi bệnh rồi, thì thuốc đó đối với họ không còn là sản phẩm kinh tế nữa.Thứ hai, con người phải biết rõ công dụng của vật đó thì nó mới trở thành sản phẩm kinh tế Sản phẩm trong tự nhiên là rất nhiều, con người không biết công dụng của
nó thì nó cũng vô ích và không phải là sản phẩm kinh tế Thí dụ, than đá có những thời kỳ đối với con người là vô ích nhưng nhờ tiến bộ khoa học, người ta dùng nó làm nhiên liệu, làm nguyên liệu cho cầc ngành công nghiệp hoá chất Lúc này than đá trở thành sản phẩm kinh tế.Thứ ba, con người phải có khả năng sử dụng vật phẩm
đó trong hiện tại chứ không phải ở dạng tiềm năng Nói cách khác là phải được khai thác, chế biến và được đưa vào
sử dụng trong hiện tại Vật phẩm trong thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, có số lượng lớn nhưng chưa được khai thác, chế biến thì không phải là sản phẩm kinh tế Thí dụ, dầu lửa, than đá quặng sất trong lòng đất rất nhiều nhưng chưa được khai thác cũng không phải là sản phấm kinh tế.Thứ tư, là sản phẩm kinh tế khi vật đó ớ trong tình trạng khan hiếm hạy số lượng của nó là có giới hạn Vật phẩm quá dư thừa thì không phải là sản phẩm kinh tế Thí
dụ, nước, không khí trong tự nhiên có quá nhiều nên không phải là sản phẩm kinh tế
Tóm lại, là sản phẩm kinh tế thì sản phẩm đó phải có
đủ bốn điều kiện trên Nếu thiếu một trong bốn điều kiện thì vật không thể trở thành sạn phẩm kinh tế được
Trang 11b Lí thuyết giá trị - giới hạn
Điều nổi bật trong lý thuyết giá trị của phái Thành Viene là giá trị ích lợi - giá trị chủ quan do K.Menger khởi xướng và được Von Wieser, Bohm Bawerk bổ xung Tuy vậy, khác với các bậc tiền bối như Xenophone, A R J Turgot và J.B Say, phái Thành Viene bằng cách kết hợp phạm trù kinh tế với phạm trù toán học để đưa ra các phạm trù “ích lợi giới hạn” và “giá trị ích lợi giới hạn”
Để hiểu được “giá trị ích lợi giới hạn”, chúng ta xuất phát
có 4 thùng nước để dùng Thùng thứ nhất để thoả mãn nhu cầu bức thiết nhất là để nấu ăn có ích lợi cao nhất, chẳng hạn là 9 Thùng thứ hai để uống, ít cấp thiết hơn có ích lợi
là 7 Thùng thứ ba để tắm giặt ích lợi là 3 Thùng thứ tư để tưới cây ích lợi ít nhất là 1 Như vậy, thùng thứ tư là thùng
Trang 12nước giới hạn, ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn” Và như vậy, ích lợi của nó là ích lợi chung của cả 4 thùng nước, nó
là 1, hoàn toàn khác với ích lợi của từng sản phẩm cũng như ích lợi trung bình của chúng
Họ đưa ra khái niệm: ích lợi giới hạn là ích lợi của vật cuối cùng đưa ra thoả mãn nhu cầu Vật đó có ích lợi nhỏ nhất và ích lợi đó quyết định ích lợi chung của tất cả các vật phẩm khác
Hình VI 1.2: ích lợi giới hạn
Từ phạm trù “ích lợi giới hạn” họ đi đến kết luận giá trị của vật do “ích lợi giới hạn” quyết định và được gọi là “giá trị ích lợi giới hạn” Theo đó vật có ích lợi giới hạn càng lớn
Trang 13thì giá trị càng cao và ngược lại “ích lợi giới hạn” thấp thì giá trị cũng thấp Như vậy, lí thuyết giá trị của phái Thành Viene hoàn toàn đi ngược lại nguyên lí giá trị lao động của trường phái cổ điển cũng như của chủ nghĩa Marx Giá trị của vật, theo họ, do “ích lợi giới hạn” quyết định, đến lượt
nó “ích lợi giới hạn” lại được đánh giá một cách chủ quan tuỳ theo số lượng vật phẩm mang ra tiêu dùng và ý muốn của cá nhân Do vậy, sự đánh giá về mặt giá trị cũng mang tính chủ quan và không thống nhất Theo K Menger, giá trị không nằm trong số lượng nội tại của các vật phẩm Không
có giá trị khách quan, cá nhân được tự do đổng ý hay không đồng ý về giá trị của các vật phẩm Giá trị không còn được qui định bởi lao động một cách khách quan nữa Giá trị nằm trong sự xét đoán của các cá nhân đối với những nhu cầu của họ Đó là giá trị chủ quan và vì vậy, nó tồn tại trong
sự trao đổi xã hội
- Giá trị trao đổi:
Khác với những người ủng hộ nguyên lí giá trị lao động, cho rằng trao đổi và giá giá trị trao đổi là khách quan,
K Menger lại cho rằng: giá trị trao đổi là chủ quan Theo ông, người ta chỉ tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau khi thấy mình có lợi Sở dĩ mọi người trao đổi sản phẩm cho nhau chỉ vì họ đều tin rằng sản phẩm mà mình bỏ ra, đối với mình có ích lợi hay giá trị ít hơn sản phẩm mà mình thu
về Như vậy, khi trao đổi các cá nhân dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan, tính toán căn cứ vào nhu cầu của mình giữa sản phẩm mình thu được sau trao đổi với sản phẩm mình bỏ ra
Cơ sở của trao đổi là sự so sánh ích lợi giới hạn của các sản phẩm trao đổi
133
Trang 14Thí dụ: Hai nông dân A và B đều có hai loại sản phẩm như nhau là bò và ngựa nhưng số lượng là khác nhau Nông dân A nhiều bò (7 con) và ít ngựa (3 con), ngược lại nông dân B ít bò (3 con) và nhiều ngựa (7 con) Họ sắp xếp thứ tự giá trị như nhau:
Bảng VỈI.2A: Thứ tự giá trị sản phẩm của nông dán A
Nông dân A Thứ tự Bò (7 con) Ngựa (3 con)
Trang 15Qua bảng số liệu trên ta thấy: Ông A vì nhiều bò, ít ngựa nên ông xác định giá trị của bò ít hơn ngựa (4 so với 7) Ngược lại, ông B có ít bò nhiều ngựa nên giá trị của ngựa lại ít hơn bò (cũng là 4 so với 7) Cả hai người do thứ
tự của bò và ngựa và theo đó giá trị của chúng là khác nhau nên họ cho rằng trao đổi có lợi nên trao đổi
Với lần trao đổi thứ nhất: A mất con bò thứ 7 giá trị 4 được con ngựa thứ tư giá trị 6
Đối với B cũng vậy: B mất con ngựa thứ 7 giá trị 4 được con bò thứ tư giá trị là 6
Như vậy, với lần trao đổi này cả hai người đều mất 4 được 6, lãi 2 nên quá trình trao đổi được tiếp tục
Lần trao đổi thứ hai: A mất thêm con bò thứ thứ 6 giá trị 5 được thêm con bò thứ 5 giá trị là 5;
Còn B mất con ngựa thứ 6 giá trị 5 được con bò thứ 5 giá trị 5 Tức là cả hai người đều mất 5 được 5 vì thế họ không lời, cũng không lỗ trong lần trao đổi này
Nếu tiếp tục trao đổi lần thứ ba: A mất con bò thứ 5 giá trị là 6 được thêm con ngựa thứ 6 giá trị là 4 lỗ 2;
B cũng mất con ngựa thứ 5 giá trị là 6 được con bò thứ
6 giá trị là 4 cũng lỗ 2
Từ đó K Menger đi đến kết luận: “Trao đổi kinh tế sẽ dẫn đến thoả mãn đầy đủ nhu cầu của con người, tăng cường phương tiện thoả mãn nhu cầu của những cá nhân tham gia vào trao đổi” (Những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học tr 162) Đổng thời ông còn chỉ ra hai điều kiện để trao đổi được thực hiện được là:
Trang 16+ Cả hai người đều có lợi trong trao đổi
+ Sản phẩm dư thừa của người này là sản phẩm khan hiếm của người kia và ngược lại
- Các hình thức giá trị
Xuất phát từ công dụng của vật và việc quyết định sử dụng vật đó thoả mãn nhu cầu gì phái Thành Viene (mà trực tiếp là Bohm Bawerk) đã phân chia các hình thức giá trị thành giá trị chủ quan và giá trị khách quan
Giá trị khách quan xuất phát từ tác dụng của vật mang lại cho ta một tác dụng cụ thể nào đó Tức là nói đến giá trị khách quan, người ta nói đến quan hệ giữa vật
và kết quả từ việc tiêu dùng vật đó Mối quan hệ này mang tính tự nhiên khách quan, không phụ thuộc vào sự phán đoán chủ quan của con người Thí dụ củi đem đốt sẽ cho ta nhiệt lượng Đó là giá trị khách quan
Còn giá trị chủ quan thì lại xuất hiện từ sự tiêu dùng những kết quả mà vật phẩm đó mang lại cho con người và người ta quyết định sử dụng nó như thế nào hay vào mục đích
gì ? 0 ví dụ trên, củi đem đốt cho ta nhiệt năng là giá trị khách quan nhưng nếu ta đánh giá số nhiệt đó và tính toán vào việc sử dụng cho mục đích gì thì lại là giá trị chủ quan
Từ đó họ cho rằng một vật phấm luôn có 4 hình thức giá trị gồm: giá trị sử dụng khách quan, giá trị sử dụng chủ quan, giá trị ưao đổi khách quan và giá trị trao đổi chủ quan
Cãn cứ vào sự phân chia này là nơi nhận sản phẩm, của cải đó tới tay ai? Thí dụ làm thế nào để xác định hình thức giá trị của một tủ sách hay một m3 củi? Đối với tủ sách,
Trang 17người chủ của nó có thể là một nhà khoa học hay một nhà buôn Nếu chủ của nó là một nhà khoa học, thì họ xác định
tủ sách có giá trị sử dụng Ngược lại, chủ của nó là nhà buôn thì họ lại xác định tủ sách có giá trị Ớ đây, cả nhà khoa học và nhà buôn đều chủ quan Do vậy, tủ sách có giá trị sử dụng chủ quan và giá trị trao đổi chủ quan
Với một mét khối củi, nó có nhiệt lượng nhất định, khi củi đốt toả ra nhiệt không phụ thuộc vào sự phán đoán chủ quan thì củi có giá trị sử dụng khách quan Nhưng nếu căn
cứ vào số nhiệt lượng chúa đựng để tính toán rồi đem củi đổi lấy vật phẩm khác thì nó có giá trị trao đổi khách quan
- Lý thuyết về sự tách rời' giữa giá trị và lợi ích
Thoạt nhìn, lí thuyết về sự tách rời giữa giá trị và ích lợi của Von Wieser như đối lập với lý thuyết giá trị ích lợi giới hạn của K Menger Nhưng thực tế thì đây là sự kế thừa
và phát triển mà không mâu thuẫn
Trên cơ sở đồng nhất giá trị của những vật phẩm với tính ích lợi đạt được khi tiêu dùng đơn vị cuối cùng, ông đặt tên cho khái niệm đó là “gần kề với” hay hiểu theo nghĩa hiện đại là “tính ích lợi ngoài lề” hay “ích lợi cận biên” Trước hết, ông phát hiện thấy có sự tách rời giữa ích lợi toàn bộ và tổng giá trị của chúng Thực tế là khi số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng lên thì tổng ích lợi tăng lên nhưng ích lợi giới hạn giảm và do vậy, tổng giá trị thoạt đầu tăng nhưng sau đó giảm mạnh Do vậy, giữa ích lợi toàn bộ và giá trị toàn bộ có một khoản chênh lệch mà V Wieser gọi
là sự tách rời giữa giá trị và ích lợi.'Xem bảng VII.3
Trang 18Khi số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng lên, tổng ích lợi (ích lợi toàn bộ) tăng lên, còn tổng giá trị hay tổng giá cả (giá trị toàn bộ) thoạt đầu tăng sau đó giảm Do vây, sự tách rời giữa giá trị và ích lợi ngày càng tăng cùng mức tăng sản lượng Khi sản phẩm tăng lên mãi thì ích lợi giới hạn có thể tiến tới không.
Bâng VII.3: Sự tách rời giữa tổng ích lợi và tổng già trị
Số lượng (Q) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11Giá trị (tính
là nói ích lợi nói chung) chứ không có ích lợi cụ thể nữa (tức
là ích lợi gắn với một số sản phẩm có hạn nhất định) Khi vật chỉ có ích lợi trừu tượng thì nó không quyết định giá trị, không tạo ra giá trị o bảng số liệu trên thì số sản phẩm là
11, ích lợi giới hạn bằng không, do vậy giá trị bằng không Mặt khác cũng từ lí luận giá trị của K Menger khi số lượng sản phẩm càng tăng lên để thoả mãn nhu cầu thì ích lợi giới hạn của nó càng giảm xuống và do vậy giá trị của hàng hoá
Trang 19đó cũng càng giảm theo Lật ngược lại quan điểm này, Von Wieser đi đến kết luận muốn có nhiều giá trị hay muốn bán hàng hoá với giá cả cao phải tạo ra sự khan hiếm.
c Lý thuyết lợi tức và lợi nhuận
Dựa trên cơ sở lí luận giá trị - ích lợi theo phương pháp luận tâm lý chủ quan, trường phái Thành Viene đã xây dựng lí luận lợi tức Lí luận này được tập trung chủ yếu trong tác phẩm “Lí luận tích cực về tư bLÚT’ của Bohm Bawerk (xuất bản năm 1888) Xuất phát từ sự phân tích chủ quan về hứng thú, ông cho rằng lợi tức là số sai biệt giữ
a Sự đánh giá chủ quan cao hơn đôi với “của cải hiện tai’' so với sự đánh giá thấp hơn đôi với “của cải tương lai”.
Bohm Bawerk còn cho rằng lao động là của cải tương iai, do đó mỗi thời điểm nhất định nó phải được trả giá thấp hơn giá trị sản phẩm của nó, số chênh lệch đó chính là lợi nhuận Lợi nhuận của tư bản là một hậu quả tất yếu của các hoạt động kinh tế do yếu tố tâm lí làm phát sinh ra
Cũng như Bohm Bawerk Von Wieser không chấp nhận
lí luận về chế độ bóc lột của chủ nghĩa Marx Ông cho rằng
sự phân phối thu nhập như lợi tức, lợi nhuận, địa tô, không lệ thuộc vào một chê' độ xã hội nào hết mà là kết quả của những định luật tự nhiên Các hình thức thu nhập trên không bao giờ mất đi trong bất cứ chê' độ nào, chúng sẽ tồn tại mãi với những hình thức khác đi mà thôi Sản xuất chỉ là
sự phối hợp giữa ba yếu tố: lao động, tự nhiên, tư bản; và sự đóng góp của mỗi yếu tô' này nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi loại sản xuất, do đó sẽ được hưởng một
Trang 20phần thu nhập tương xứng với phần đóng góp đó Dùng phương pháp toán học, sự phối hợp đó có thể được biểu hiện bằng nhiều phương trình, trong đó mỗi yếu tố được biểu thị bằng một ẩn số (x, y, z ) Nhiều phương trình hợp lại thành một hệ thống phương trình với sự đóng góp không giông nhau của mỗi yếu tố trong việc sản xuất một loại sản phẩm nhất định nào đó, giá trị của mỗi yếu tố sẽ được ước lượng một cách dễ dàng.
Thí dụ:
X + 2y + 3z = 33
< 2x + 3y = 36
4y + 5z = 44 III TRƯỜNG PHÁI “ GIÓI HẠN ” MỸ
- Cuối thế kỷ XIX trường phái cổ điển mới hay trường phái “giới hạn” xuất hiện ở Mỹ Đại biểu cho trường phái này là J B Clark (1847 - 1938) và người tiếp tục phát ttiển sau này là con trai ông J M Clark (1884 - 1963)
J.B.Clark là giáo sư kinh tế cúa Trường Đại học Tổng hợp Colombia - là người đã chia kinh tế chính trị thành ba
bộ phận, đó là kinh tế tổng hợp, kinh tê' tĩnh và kinh tế động Trong đó kinh tế tổng hợp nghiên cứu các quy luật kinh tế chung, kinh tế tĩnh nghiên cứu các quy luật kinh tế trong trạng thái tĩnh, tức trong trạng thái xã hội không thay đổi, quy mô tư bản và lao động không thay đổi, trình độ kỹ
Trang 21thuật và nhu cầu xã hội không thay đổi Kinh tế động, ngược lại, nghiên cứu các quy luật kinh tế trong trạng thái vận động Từ đó nó lý giải các nguyên nhân vi phạm sự cân bằng và điều kiện chuyển từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác Như vậy trường phái giới hạn Mỹ
đã bổ sung những nhân tố mới bằng phưofng pháp luận của trào lưu cổ điển mới với tư tưởng về hệ thống kinh tế tĩnh và kinh tế động, mở ra một xu hướng mới trong phân tích kinh
tế vi mô của hai cha con nhà Clark
Với tư cách là người sáng lập trường phái giới hạn Mỹ, các quan điểm lý luận cơ bản của J.B.Clark được thể hiện chủ yếu trong tác phẩm “Sự phân phối của cải” của ông xuất bản
1899 Các quan điểm kinh tế chủ yếu của trường phái giới hạn
Mỹ được thể hiện qua các lý thuyết cơ bản sau:
I Lý thuyết “Năng suất giới hạn”
Lý luận “Năng suất giới hạn” là điệm xuất phát cho sự phân tích kinh tế và l'à cơ sở cho các lập luận về nhiều vấn
đề kinh tế đặc biệt là giải thích cho quan hệ phân phối sản phẩm theo cách của J.B.Clark Trên cơ sớ kết hợp ba lý thuyết kinh tế lớn là lý thuyết “Ba nhân tố sản xuất” của
J B Say, lý thuyết “Năng suất bất tương xứng” của D Ricardo và lý thuyết “ích lợi giới hạn” của trường phái Thành Viene, ông đưa ra lý thuyết “Năng suất giới hạn”.Trước hết theo J.B Say, bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng bao gồm ba yếu tố là đất đai, tư bản và lao động Mặt khác, khi nghiên cứu xu hướng biến động của hiệu quả đầu tư, D Ricardo nhận thấy với sự tâng thêm cửa một nhân
tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố khác không
Trang 22đổi thì năng suất của nhân tố đầu tư tăng thêm sẽ giảm D Ricardo gọi đỏ là quy luật năng suất bất tương xứng Quy luật này đúng cho tất cả các yếu tố sản xuất khác nhau.
Thí dụ: Với quy mô tư bản và đất đai không đổi khi số lượng công nhân tăng thêm thì mỗi công nhân mới bổ sung
sẽ sản xuất ra một số lượng sản phẩm ít hơn so với người công nhân được sử dụng ngay trước đó (Lưu ý quy luật này không đúng trong điều kiện kỹ thuật thay đổi hay các nhân
tố sản xuất đều tãng lên cùng tốc độ)
Bảng VỈ1.4: Quy luật năng suất bất tương xứng
(khi tăng lao động mà tư bản và đất đai không đổi)
Đất đai
(sào)
Tư bản (ngàn VND)
Lao động (người)
Sản lượng (kg)
Năng suất của đơn
vị lao động tăng thêm
Trang 23Quy luật này cũng có thể phản ánh qua đồ thị VỈI.2.
Kết hợp với lý thuyết “ích lợi giới hạn” của phái Thành Viene J B Clark kết luận: Với một lượng lao động được đưa vào sử dụng có hạn thì người công nhân được sử dụng sau cùng là người công nhân giới hạn sản lượng của nó là sản lượng giới hạn và năng suất của người công nhân đó là năng suất giới hạn vì ích lợi của lao động được thể hiện ở năng suất của nó
Năng suất giới hạn là năng suất của người công nhân được đưa vào sử dụng sau cùng, nó nhỏ nhất và nó quyết định năng suất chung của tất cả các công nhân khác Với các yếu tố sản xuất khác, tình hình cũng diễn ra tương tự
2 Lý thuyết phàn phối
Phân phối là vấn đề trọng tâm trong lý thuyết kinh tế của J.B Clark Ngay cả khi nghiên cứu là thực chất của việc nghiên cứu “năng suất giới hạn” ông nhằm giải thích cho
Trang 24quan hệ phân phối được gọi là “bình đẳng” trong xã hội tư bản nói chung và tư bản Mỹ nói riêng Đặc biệt kết hợp với
lý thuyết “năng lực chịu trách nhiệm” của các nhân tố sản xuất, ông lập luận: Thu nhập thể hiện năng lực chịu trách nhiệm của eác nhân tố sản xuất, o đây công nhân có lao động, nhà tư bản có tư bản, địa chủ có đất đai, họ đều nhận tiền lương, lợi tức địa tô theo “sản phẩm giới hạn” tương ứng Trong đó tiền lương của công nhân bằng “sản phẩm giới hạn” của lao động, lợi tức bằng “sản phẩm giới hạn” của tư bản còn địa tô bằng “sản phẩm giới hạn” của đất đai Phần chênh lệch còn lại của giá trị sản phẩm với các thu nhập trên là thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất hay lợi nhuận của nhà kinh doanh
Trở lại thí dụ trên (bảng VII.4), chúng ta thấy rằng
“năng suất giới hạn” của lao động là 30 với số lượng công nhân được sử dụng là 4 Do vậy, tất cả công nhân đều có tiền lượng là 30 và tất cả họ đều không bị bóc lột vì bây giờ
“năng suất giới hạn” quyết định năng suất chung của tất cả các công nhân Với tiền lương là 30, rõ ràng giữa giá trị sản phẩm và tổng tiền lương có khoản chênh lệch (380 - 30 X 4
= 260) Khoản chênh lệch này chính là lợi nhuận của nhà kinh doanh Với sự phân phối như vậy, Clark cho rằng sẽ không còn sự bóc lột nữa
Như vậy, lý luận phân phối của J B Clark, giống như nhiều nhà kinh tế tư sản khác, đã phủ nhận quan hệ bóc lột của chủ nghĩa tư bản Nó đối lập với lý luận phân phối của K Marx và cho rằng tất cả các thành viên tham gia vào sản xuất đều thu về một khoản thu nhập phù hợp
Trang 25tương ứng với cống hiến của mình Quan hệ phân phối như thế là “bình đẳng”.
3 Lý thuyết về chi phí bất biến và chi phí khả biến
John Mauvice Clark (1884 - 1963) đã tiếp tục công trình nghiên cứu cua cha mình (John Bates Clark) để phân tích kinh tế trong trạng thái động Trong lý thuyết kinh tê' của óng ông đặc biệt quan tâm đến sự phân tích chi phí sản xuất đê xây dựng nên các khái niệm như chi phí bất biến, chi phí khả biến, chi phí giới hạn Những khái niệm đó sau này được sử dụng để nghiên cứu kinh tê' như việc xàv dựng
lý thuyết gia tốc phân tích nguyên nhân khủng hoảng kinh tê' và giải pháp điều chinh chu kỳ kinh doanh Đặc biệt khái niệm chi phí giới hạn (chi phí cận biên) trở thành điểm xuất phát, cơ sở cho việc phân tích hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp và Xííc định quy mô sán xuất tối ưu Theo ông đê sản xuất sản phẩm hàng hoá phải đầu tư các yếu tô' như máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, lao động Tất cả những yếu tố đầu tư đó được gọi là chi phí sản xuất Ông chia chi phí sản xuất ra làm hai loại là chi phí bất biến và chi phí khả biến Chi phí bất biến là chi phí không thay đổi so với quy mô sản phẩm sản xuất ra Đó là những khoản mà dù xí nghiệp sản xuất ít hay nhiều thậm chí không sàn xuất vãn phải chi phí Thí dụ những chi phí
vé thuê đất đai thuê nhà cửa, mua máy móc thiết bị, trả lương cho ban giám đốc khi xây dựng xí nghiệp
Chi phí khả biến là chi phí thay đổi theo quy mô sản xuất sản phẩm và thường là thuận chiều với mức sản lượng
Trang 26Thí dụ chi phí về nguyên nhiên vật liệu, lương lao động trực tiếp sản xuất
Chi phí bất biến và chi phí khả biến hợp thành toàn bộ chi phí của xí nghiệp hay còn gọi là chi phí toàn bộ
Từ khái niệm chi phí toàn bộ, kết hợp với việc vận dụng khái niệm “giới hạn” trong phân tích chi phí sán xuất, ông đề ra khái niệm chi phí giới hạn (hay còn gọi là chi phí cận biên) Đó là chi phí tãng thêm để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng
IV CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI LAUSANNE (THỤY sĩ)
Trường phái Lausanne (Thuỵ Sĩ) xuất hiện vào cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với các đại biểu xuất sắc là Leon Walras (1834 - 1910) và Wilfredo Fredevico Damaso Pareto (1848 - 1923) Tuy vậy, đặc biệt phải kể đến L Walras
Leon Walras được sinh ra ở Pháp năm 1834 Bô' ông là Auguste Walras vừa là nhà triết học, nhà kinh tế học và thanh tra Viện hàn lâm Leon Walras sống trong thời kỳ mà khoa học kinh tế đã phát triển mạnh không chỉ ớ Anh mà ngay cả ở Pháp cũng vậy Đó là những người cha tinh thần đặc biệt quan trọng của ông Nhưng là một nhà lý luận bướng bính, không bằng cấp nên ông đã không thành công
cả trong hoạt động khoa học cũng như chính trị ở nước Pháp tức là ở tổ quốc sinh ra ông Hai lần không thành khi thi vào trường Bách khoa, năm 1854 ông vào học trường
Trang 27Mỏ nhưng lưu ban đến năm thứ ba và buộc phải ra trường
mà không tốt nghiệp Ông tiếp cận với những kỹ thuật toán học về tối đa hoá rất muộn nhưng lại tích cực sử dụng toán học trong phân tích kinh tế Ông muốn biến kinh tế học thành một môn khoa học chính xác Ớ Pháp, ông bị coi là một kẻ nổi loạn Ông đấu tranh bảo vệ những tư tưởng cấp tiến về thuế, chống lại các đặc quyền gắn liên với sớ hữu đất đai tán thành một nền giáo dục tự do không mất tiền cho tất cả mọi người theo hướng giáo dục nhân dân Đó là nguyên nhân làm cho giới chính thức Pháp bài xích, chống lại ông Năm 1870 ông phải sang sống lưu vong ờ Thuỵ Sĩ
và ớ đó suốt 40 năm tức cho đến hết cuộc đời mình (1910) Nếu ở Pháp, ông không thành công thì ngược lại ở Thuỵ Sĩ,
tố quốc nuôi ông lại thừéi nhận ông là bậc thầy, là tiên tri của trường phái Lausanne
Ông có nhiều tác phẩm như: “Bàn về thuế ớ tổng Wand” (1860) “Những yếu tố của kinh tế chính trị học thuần tuý” hay “Lý luận về của cải xã hội” (1874 - 1877);
“Nghiên cứu kinh tế học xã hội lý thuyết về phân phối của cải”; “Những nghiên cứu về kinh tế chính trị họe ứng dụng” hay “Lý luận về sản xuất của cải xã hội” (Nhà xuất bản Lausanne - Paris 1936); “Nhà nước và đường sắt” (1875)
L Walras đã có nhiều đóng góp cho lý luận kinh tế trong
đó đặc biệt phải kể đến các lý thuyết sau:
1 Lý thuyết giá trị
L Walras không muốn thừa nhận lý luận của Anh về giá trị - lao động do A Smith và D Ricardo trình bày, cũng
Trang 28không muốn coi tích ích lợi là cơ sở của giá trị theo kiểu của J B Say, ông tán thành những luận điểm của cha mình.Theo A Walras, khan hiếm là một quan niệm khách quan, theo đó giá trị phát sinh từ tình trạng bất cân xứng giữa cung và cầu Một vật có giá trị khi cầu lớn hơn cung Ngược lại nếu cung lớn hơn cầu thì vật đó trở nên dư thừa, giá trị mất đi Đối với L Walras cũng vậy Nguồn gốc của giá trị là tính hiếm hoi số lượng của một vật phẩm càng nhỏ thì giá trị của nó càng lớn.
Kết hợp tư tướng khan hiếm với lý thuyết giá trị của phái Thành Viene L Walras cho rằng: “Giá trị là tất cả những vật hữu hình hay vồ hình đang ở trong tình trạng khan hiếm Các vật đó có ích đối với ta và số lượng của vật
là có hạn”
Ở đây có một sự đánh giá mang tính chủ quan về mức
độ có ích của vật đối với cá nhân và nó tuỳ thuộc vào tương quan giữa vật và khá năng của vật trong sự thoả mãn nhu cầu của họ Tính hiếm hoi do vậy cũng có tính cá nhân hay chủ quan, có nghĩa là giá trị cúa vật ít nhiều cũng mang tính chủ quan Ông còn lập luận ràng, có một sự trùng hợp giữa ý niệm khan hiếm và cường độ của nhu cầu cuối cùng được thoả mãn tức là một sự trùng hợp giữa tính hiếm hoi với ích lợi giới hạn
Trang 29đổi là một sự kiện hiện thực xã hội, một sự kiện khách quan Vấn đề giá cả là trọng tâm của kinh tế học Muốn nghiên cứu giá cả, đến lượt nó phải nghiên cứu thị trường
vì sự trao đổi được tiến hành trên thị trường Theo ông “thị trường là nơi mà sự trao đổi được thực hiện, hiện tượng về giá trị trao đổi xuất hiện và tiếp diễn trên thị trường” Ông cho rằng trong trao đổi trên thị trường tự do cạnh tranh, các bên tham gia đều muốn đổi sản phấm mà mình không cần lấy sản phẩm của người khéíc mà mình muốn Như vậy cung của người này là cầu của người kia Đường cung cũng chính là đường cầu Do đó chi cần nghiên cứu đường cầu
có thê tìm ra điều kiện cán bằng của hai người trao đổi tức
là điều kiện đạt ích lợi tối đa mà các bên cần sau trao đổi Theo ông chi cần dùng thuật ngữ toán học sứ dụng hàm số cầu của hai bên là đạt được điểm cân bằng Từ đó, L Walras trở lại nghiên cứu trao đổi giá cả vì tiêu điểm cân bằng ấy, tỉ lệ trao đổi của hai hàng hoá hay tỉ lệ giá cả bàng
tỉ lệ ích lợi giới hạn của chúng
Thí dụ khi trao đổi hai hàng hoá X với Y thì:
Px = Ml'x
p, MUV
Trong đó:
Px: Giá hàng hoá XPy: Giá hàng hoá YMUx: ích lợi giới hạn hàng hoá X MUy: ích lợi giới hạn hàng hoá Y
Trang 30L Walras nghiên cứu giá cả trong nhiều trường hợp khác nhau’như trao đổi giữa hai hàng hoá, trao đổi giữa nhiều hàng hoá thậm chí cả trong trường hợp độc quyền Đặc biệt ông có những suy luận râì chặt chẽ, chính xác, trên
cơ sở toán học
Khi nghiên cứu trao đổi giữa hai hàng hoá ông có kết luận là: “giá cả hay tương quan trao đổi, ngang bàng với tương quan ngược đảo của số hàng hoá trao đổi Cá hai đều
tỷ lệ nghịch” Chẳng hạn khi trao đổi hai hàng hoá X với Y
Số lượng hàng hoá X là Qx sô' lượng hàng hoá Y là Qy; giá
cả hàng hoá X là Px và giá cả hàng hoá Y là Py thì:
Px = _L= Or
PY Ọx Qx
QỸThí dụ, người ta trao đổi gạo lây thịt theo tỳ lệ 1 kg thịt lấy 5 kg gạo
Nếu gọi Pt là giá thịt; Pg là giá gạo; Qt là lượng thịt và
Trang 31Tương quan trao đổi hay giá giữa thịt và gạo bằng tương quan ngược đảo số lượng gạo và số lượng thịt mang
ra trao đổi (từ phương trình trên ta thấy —- là ngược đảocủa ậ-)
3 Lý thuyết cân bằng tổng quát
L Walras tập trung phân tích thị trường tự do cạnh tranh Theo ông cạnh tranh tự do là trường hợp chung, phổ biến và từ tự do cạnh tranh thực tế có thế đưa đến một trạng thái kinh tế tối ưu Trên cơ sở nguyên tắc tối đa hoá ích lợi ông mô tả sự thăng bằng chung của thị trường thông qua cung - cầu và giá cả
Theo L Walras, trong nền kinh tế thị trường, cơ cấu thị trường gồm ba loại: thị trường sản phẩm (thị trường thành phẩm sẵn sàng cho tièu dùng); thị trường lao động (thị trường dịch vụ cho sản xuất) và thị trường tư bản Trong đó thị trường sản phẩm là nơi mua bán hàng hoá tiêu dùng, tương quan trao đổi giữa các loại hàng hoá là giá cả của chúng Thị trường lao động là nơi thué mướn cõng nhân, tiền lương hay tiền công là giá cả cưa nó Thị trường tư bản
là nơi vay mượn tư bản lợi tức cho vay là giá cả của tư bản
Ba loại thị trường trên có sự độc lập tương đối với nhau, song nhờ có sự hoạt động của các doanh nhân (ở đây L Walras phân biệt doanh nhân và nhà tư bản) nên các thị trường có quan hệ với nhau Chính nhà doanh nghiệp là tác
Trang 32nhân thực hiện sự kết nối và thực hiện sự cân bàng giữa các thị trường Trước hết, doanh nhân là người sản xuất hàng hoá để bán, nên trên thị trường hàng hoá doanh nhân là sức cung Hàng hoá được bán với giá cả nhất định, mang lại cho doanh nhân thu nhập Ngược lại để sán xuất hàng hoá doanh nhân phải vay vốn trên thị trường tư bản và thuê nhân công trên thị trường lao động Trên hai thị trường này thì doanh nhân là sức cầu Để vay vốn doanh nhân phải trả lợi Lức để thuê công nhân họ phải trả tiền lương Lợi lức và tiền lương được gọi là chi phí sản xuất.
Nếu giá bán hàng hoá trên thị trường sản phẩm lớn hơn chi phí sán xuất thì doanh nhân có lãi nên anh ta sẽ
mở rộng sản xuất thêm Khi sán xuất được mở rộng, cung hàng hoá trên thị trường sàn phẩm tãng, do đó giá
cả hàng hoá giảm làm cho thu nhập giâm xuống Ngược lại để sản xuất thêm, doanh nhãn phải vay thêm vốn thuê thêm công nhân, cầu về các yếu tô' sản xuất tăng, lợi tức và tiền lương tăng tức chi phí sản xuất tăng lên Khi thu nhập của những hàng hoá sản xuất tăng thêm giảm xuống (thu nhập giới hạn) ngang với chi phí thêm đê’ sản xuất ra chúng (chi phí giới hạn) thì doanh nhân sẽ không có lãi do việc sán xuất thêm nữa nên họ dừng quy
mô sản xuất ớ đó Lúc này cầu về lao động và tư bản ổn định nên tiển lương và lợi lức ổn định Đồng thời cung
về hàng hoá ổn định nên giá cả hàng hơá cũng ổn định
Cả ba thị trường đều đạt đến trạng thái cân bằng Ông gọi đó là cân bằng tổng quát Điều kiện để có cân bằng tổng quát là cân bằng giữa thu nhập do bán những hàng
Trang 33hoá sản xuất thêm và chi phí sản xuất ra các hàng hoá
đó Quá trình thực hiện sự cân bằng này trong nền kinh
tế tự do cạnh tranh, được thực hiện thông qua sự dao động
tự phát của cung - cầu và giá cả hàng hoá trên thị trường
Rõ ràng đây là sự kế thừa và phát triển tư tường “Bàn tay vô hình” của A Smith về tư tướng tự do kinh tế
Tuy vậy cũng tương tự như A Smith L Walras cho lằng khi cạnh tranh tỏ ra là không thích họp thì nhà nước phải can thiệp
V CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CÚA TRƯỜNG
PHÁI CAMBRIDGE (ANH)
Cũng như ớ một số quốc gia khác, cuối thế kỷ XIX truờng phái “cổ điển mới” xuáĩ hiện ớ Anh như là một sản phẩm kết hợp tất yếu của những tiền đề lý luận và thực tiền Cũng chính ớ đây, trường phái "cố điển mới” xuất hiện sớm
và phát triển khá rầm rộ Có nhiều đại biếu được biết tới như
w S Jevons (1835 - 1882) Francis Isidoro Edgeworth (1845
- 1926), H Sidgwick (1838 - 1900) Philip Henry Wickteed ( 1844 - 1917) A c Pigou (.1877 - 1959) Trong đó đặc biệt nói bật là nhũng tư tướng mói của A Marshall (1842 - 1924) đại biếu xuất sắc của trưởng phái Cambridge (Anh)
Alfred Marshall sinh năm 1842 Cha ông w Marshall, một thư ký ngân hàng Anh là người rất nghiêm khắc và mong muốn ông trớ thành một mục sư Mặc dù không chống đối nhưng A Marshall đã không đi theo con đường
đó và theo học môn toán tại đại học Tổng hợp Cambridge Năm 1867, tức lúc ông 25 tuổi, ông bắt đầu học kinh tế
Trang 34chính trị học Thời gian này ông tham gia giảng dạy tại Oxford, rồi lãnh đạo một nhà trường ở Bristol Năm 1884, ông trở thành giáo sư của trường đại học Tổng hợp Cambridge, nơi sau này ông có ảnh hưởng rất lớn Và cũng thật dề hiểu khi sau này Keynes viết về ông: “Tất cả chúng
ta tói đểu là học trò của A Marshall” A Marshall còn là người hoạt động thực tiễn quan trọng, là thành viên rất tích cực của Uỷ ban Hoàng gia về lao động
A Marshall có nhiều tác phẩm quan trọng như: “Kinh
tế cóng nghiệp” (1879) (đây là tác phấm kinh tế đầu tiên được ông viết qua cộng lác với Mary Paley (1850 - 1924)
vợ cúa ông); “Những luận văn về thế hệ cũ cúa cac nhà kinh
tế học và thế hệ mới’? (1896): “Công nghiệp và thương mại” (1919): “Tiền tệ tín dụng và thương mại” (1923) Tuy vậy tác phám nổi tiếng nhất của ổng là “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học” (1890)
1 Quan điểm của A Marshall về đòi tượng và phương pháp của kinh tế chính trị
A Marshall được coi là cái “gíẠch nối” giữa tư tưởng cùa các nhà cổ điển (như A Smith D Ricardo J B Mill)
và tư tướng của các nhà cổ điển mới (Cournot Walras Menger) Lý thuyết kinh tế của ông là sự tống hợp các lý thuyết đã có đầu thế ký XIX như lý thuyết chi phí sán xuất, cung - cầu, nãng suất bâì tương xứng với các lý thuyết có trong thế kỷ XIX ích lợi giới hạn nãng suất giới hạn A Marshall còn được coi là trụ cột chính và điểm chuyển tiếp giữa những người cổ điển mới ở lục địa và Anh
Trang 35Theo ông, về bản chất “kinh tế học là một khoa học về đời sống và nó gắn với sinh học hơn là cơ học” Kinh tế học vừa là một khoa học thuần tuý vừa là một khoa học ứng dụng Nó nghiên cứu các mặt và các điều kiện kinh tế của đời sống chính trị, xã hội và tư nhân để tạo điếu kiện vật chất tốt hơn cho cuộc sống con người ngày càng hạnh phúc.Kinh tế học sử dụng tổng hợp tất cả các phương pháp như dien dịch, quy nạp sức mạnh trừu tượng hoá ủng hộ phương pháp kinh nghiệm, sự phân tích thực chứng mà không phải là chuẩn mức để nghiên cứu cùng với việc sử dụng rộng rãi các công cụ toán học.
Tóm lại, A Marshall là nhà kinh tế tổng hợp Với đối tượng và phương pháp nghiên cứu như thê cũng như J B Say óng cho ràng nên sử dụng thuật ngừ “kinh tế học” sẽ thích hợp hơn là “kinh tế chính trị học”
2 Lý thuyết về của cải và nhu cầu
Chiếm một phần quan trọng trong lý thuyết của A Marshall là.sự nghiên cứu về của cải và nhu cầu
Trước hết ông đưa ra những sự giải thích vé của cái và phân loại cứa cải Của cái gổm những vật thoá mãn nhu cầu một cách trực tiếp hay gián tiếp Nó là những của cải vật chất hay phi vật châì về nguồn gốc nó có thế là ngoại tại (tức là cho người khác hay nơi khác mang lại cho cá nhân) hay nội tại (tức là do bản thân anh ta tạo ra) Chúng có thể được chuyển dịch hoặc cho không hay qua trao đổi về hình thức của cải có thể gồm: Của cải cá nhân, của cải tập thể và của cải xã hội Trong đó, của cải cá nhân bao gồm
Trang 36những thứ chĩ mang lại lợi ích cho từng người và là độc lập Của cải tập thế là những của cải vật chất mà một cá nhân có chung với một số người khác như là những người láng giềng Của cải của một dân tộc hay xã hội đối lập với của cải cá nhân được hình thành từ những của cải cá nhân và những của cải tập thể của các thành viên của nó.
Đối với nhu cầu ông cho rằng nó rất nhiều và đa dạng, nhưng nhu câu về một thứ của cái Ịà có hạn và có khai năng thoà mãn được Ông viết: “Các nhu cầu và mong muốn của con người thì nhiều và thuộc các loại rất khác nhau, nhưng chúng thường bị hạn chế và có khá năng thoả mtĩn."
Thòng thường, tính ích lợi của sản phẩm giảm cùng với mức tăng số lượng có sẵn để thoả mãn nhu cáu ích lợi toàn
bộ hay lổng ích lợi của nó tăng lên chậm hơn so với số lượng của nó Nhu cầu sẽ thay đổi bới sự kích thích của những hoạt động mới thay thế
Ung hộ tư tưởng của H Gossen, óng cho ràng nếu một sản phẩm có thể thoả mãn nhiều nhu cầu khác nhau thì người có sán phẩm đó sẽ phân phối nó theo cách để thu được ích lợi giới hạn như nhảu trong mọi trường hợp Các vật có thể được sử dụng cho hiện tại hoặc cho tương lai Tuy nhiên, tương lai là cái không chắc chắn và về mặt tâm
lý cần phíii lưu ý đến tình hình là những ham thích hiện tại khác với những ham thích tương lai Cũng bới là yếu tố tâm
lý nên mỗi người sẽ hi vọng và dự tính tương lai theo những cách khác nhau
Trang 37Trong lý thuyết này đặc biệt A Marshall quan tâm đến
sự phân tích cầu, nhằm xác định quy luật vận động của cầu.Theo ông, quy luật chung của cầu là số lượng cầu ngày càng lớn thì giá cả càng phải nhỏ Với giá này, số lượng được cung có thể tìm được người mua Nhu cầu hay lòng thèm muốn một vật có thể bị thay đổi bởi sự giảm giá hàng hoá trong cạnh tranh Hơn nữa nhu cầu còn có thể thay đổi bởi nhiều yếu tố khác như mốt, sở thích, sản phẩm thay thế Ngoài ra, ông còn đưa ra khái niệm sức mua để giải thích cho sự biến đổi của cầu
Từ sự nghiên cứu, ông hướng quan tâm chú ý xu hướng biến động của cầu do sự thay đổi của giá Nguyên tắc cơ bản là khi giá thay đổi sẽ làm cho lượng cầu thay đổi theo chiều ngược lại Tuy vậy, phản ứng của lượng cầu đối với những loại vật phẩm khác nhau là không giống nhau nếu cùng một mức giá thay đổi Ông nói: “Một sự giảm bớt 1/10 của giá có thể làm cho số lượng hàng hoá bán ra tăng lên 1/20, 1/4 hoặc gấp đôi” Bởi vậy, sự co giãn của cầu được gọi là mạnh hay yếu tuỳ theo số lượng cầu tăng nhiều hay ít khi giá cả hàng hoá đó giảm đi Tuy vậy, cũng phải xem xét một thực tế là độ co giãn của cầu còn phụ thuộc vào số tiền mà các cá nhân có thể chi tiêu cho việc thoả mãn nhu cầu đó Ông đưa ra khái niệm cầu co giãn và cầu không co giãn để phân biệt
Cầu co giãn mạnh là những nhu cầu có mức thay đổi lớn hơn sự biến động của giá Thí dụ, khi giá tăng 1/10 có thể làm cho cầu giảm 1/4 hoặc giảm sút hai lần Điển hình của nhóm này là các vật phẩm xa xỉ Ngược lại, cầu không
Trang 38co giãn hoặc co giãn ít là những nhu cầu có mức biến động nhỏ hơn giá cả Các nhu cầu càng thiết yếu bao nhiêu thì độ
co giãn của cầu càng ít bấy nhiêu, thậm chí không co giãn trừ khi thu nhập là quá thấp Ngoài ra, sự co giãn của cầu còn thay đổi theo thời gian do sự thay đổi các hoạt động kinh tế và các điều kiện của nó
3 Lý thuyết về sản xuất và các yếu tô sản xuất
Cũng như A Smith, A Marshall thường dành sự ưu tiên cho lý luận về sản xuất Theo ông sản xuất là việc chế
ụo ra các ích lợi là việc kết hợp các yếu tố đầu vào theo một cách nào đó đế hình thành nén ích lợi các sán phám
Nó như là một sự thay đổi hình thức hay thay đòi việc sử dụng vật chất Đồng thời nó cũng là sự thay đồi hình dang ích lợi cuối cùng của vật để đạt đến một sự thoả mãn nào đó nhu cầu của con người Ngược lại liêu dùng, theo ông sẽ là
sự sản xuất tiêu cực về ích lợi vì ích lợi không được dịch chuyển, bổ sung mà còn là sự tiêu hao dản đến triệt tiêu Để tiến hành sản xuất cần có các yếu tố đó là đất đai lao động
và tư b¿m
Đất đai là yêu tô thứ nhất cúa sản xuất, nó có đặc diem
là nguồn cung có hạn và vận động theo quy luật hiệu suất giám dần Tuy nhiên, điều đó không phái lúc nào cũng đúng vì không có thước đo tuyệt đối về độ màu mỡ Thực tế
là xu hướng giảm dần có thể tạm thời bị ngăn chặn lại do tác động của khoa học kỹ thuật và độ màu mỡ đất đai có thể thay đổi theo sự thay đổi của chế độ trồng trọt Đất đai là yếu tố sản xuất đặc thù
Trang 39Nhân tố thứ hai của sản xuất là lao động Đó là sự nhọc nhằn của con người để chê' biến ra vật Sự vân động của yếu
tố thứ hai này cũng tuân theo nguyên tắc “ích lợi giới hạn” Tức ông ủng hộ lý thuyết năng suất giới hạn của Clark Ông viết: “Cũng như đối với tất cả mọi sự gia tăng số lượng hàng hoá tính ích lợi giới hạn của nó giảm và cũng như đối với tất cá mọi sự giảm tính ham muốn của nó thì có sự giảm giá cả đối với toàn bộ hàng hoá mà không riêng gì với hàng hoá cuối cùng đem bán Điều này cũng đúng cho cung lao động” Sự lôi cuốn lao động của một ngành nào đó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhàn như: Sự không đều đặn của việc làm; Sự khó khăn của người lao động; Tiền công băng tiền thu được Và cũng như những hàng hoá khác, nguồn cung ứng lao động của một ngành cũng phụ thuộc vào giá
cá của nó tức tiền lương
Tư bản là nhân tố thứ ba của sán xuất, về kết cấu trước hết nó bao gồm bộ phận của cải mà cá nhân tiết kiệm từ sô thu nhập của họ Nó sinh ra từ những thu nhập cao trung bình và không chỉ từ lợi nhuận tư bản Theo ông tiền tiết kiệm lại tích luỹ lại là do các gia đình muốn bảo đảm “sự
an loàn” và sự “trìu mến” đối với tiền tệ Nó là kết quả cúa
sự chờ đợi sự hi sinh tiêu dùng hiện tại Tiền thưởng cho sự
hi sinh này càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng mạnh Tức
là cung về tư bán phụ thuộc tỉ lệ thuận với lợi tức cho vay của nó
Về mật xã hội, tư bản còn là toàn bộ những của cải mang lại thu nhập Nó còn gồm phần lớn những kiến thức
và trình độ tổ chức quản lý Việc lãnh đạo xí nghiệp được
Trang 40thực hiện bởi các nhà kinh doanh dám chấp nhận rủi ro, quyết định tổ chức chung của mình nhằm sử dụng tốt nhất người lao động vào những công việc phù hợp với khả năng, năng khiếu, kiến thức của họ cũng như sử dụng các yếu tố đầu vào khác mang lại lợi ích tối đa với nguồn cung hạn chế Năng lực về tổ chức quản lý còn bao gồm sự hiểu biết thấu đáo về thị trường và các diễn biến trong nền kinh tế thị trường đầy biến động.
4 Lý thuyết cung cầu và giá cả cán bằng
Trong khi L Walras đã đề xuất sự phân tích về cân bằng chung trên lài cá các thị trường được coi như phụ thuộc lẫn nhau, thì A Marshall chỉ đưa ra một sự phân tích sâu hơn về cân bằng chi có tính chất bộ phận Với nghĩa này ông thật sự liêu biêu cho sự phân tích vi mô điển hình của phái Cambridge (Anh) Trọng tâm nghiên cứu của ông
là thị trường và cơ chê' hình thành giá cả thị trường
Thị trường là tổng thế những người có quan hệ mua bán kinh doanh hay là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu
Thực tê' trong nền kinh tê' thị trường, cung, cầu và giá
cả là ba nội dung quan trọng và tác động lẫn nhau Ông giái thích rằng, trong cơ chê' thị trường cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào giá cá Mặt khác, cơ chè' thị trường tác động làm cho giá cá phù hợp cung và cầu nghĩa là giií
cả được quyết định bởi cung, cầu Sự cân bàng cung cầu và giá cả diễn ra tự phát đối với mọi thị trường cá biệt Điều kiện của sự cân bằng theo ông là giá cầu bằng giá cung Tuy nhiên, khi cung và cầu chưa cân bằng tức thị trường