Tài liệu Lịch sử các học thuyết kinh tế được biên soạn nhằm giới thiệu những quan điểm, những, lý thuyết kinh tế cơ bản của các trường phái kinh tế qua các giai đoạn phát triển lịch sử. Phần 1 của tài liệu có nội dung trình bày về: đối tượng và phương pháp nghiên cứu của lịch sử; các học thuyết kinh tế; trường phái trọng thương; kinh tế chính trị tư sản cổ điển; kinh tế chính trị tiểu tư sản; học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng Tây Âu thế kỷ XIX; học thuyết kinh tế của K.Marx;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TT TT-TV * ĐHTM
330.109
LIC
2003
J ng đại học thương mại
ĐINH THỊ THU THUỶ (chủ biên)
GT.0001262
CAC HOC THUYET KINH TE
GT.0001262
Trang 2TRƯỜNG ĐAI HOC THƯƠNG MAI
LỊCH Sơ CÁC HỌC THUYẾT KINH TÊ
Trang 3LICH SỬ CÁC HOC THUYẾT KINH TÊ
Chịu trách nhiệm xuất bản:
CÁT VÃN THÀNH
Biên tập:
ĐỖ ĐÌNH TỨTrình bày và sửa bản in:
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu tìm hiểu các hệ thống tư tưởng, trường phái kinh tế trong quá trình phát sinh và phát triển cúà kinh
tế thị trường có ý nghĩa quan trọng Việc làm rõ nội dung, đặc điểm, hoàn cảnh ra đời thành tựu và hạn chế cúa các học thuyết kinh tế gắn với kinh tê' thị trường góp phần tạo nền kiến thức, tạo cơ sở để đi sâu nghiên cứu các môn kinh
tế ngành, tạo khả năng tư duy độc lập sáng tạo trong hoạt động kinh tế hiện nay
Để có thêm tài liệu tham khảo phục vụ học tập nghiên cứu và giảng dạy môn học, chúng tôi biên soạn cuốn “Lịch
sử các học thuyết kinh tế” nhằm giới thiệu những quan điểm, những, lý thuyết kinh tê' cơ bản của các trường phái kinh tê' qua các giai đoạn phát triển lịch sử
Cuốn sách được xây dựng dựa theo chương trình môn Lịch sử các học thuyết kinh tế dùng cho sinh viên khối ngành kinh tế, đồng thời có kế thừa một sô' nội dung của giáo trình môn học mà các trường đại học đang lưu hành,
sử dụng
Tham gia biên soạn cuốn sách là tập thể tác giả:
TS Đinh Thị Thủy (chủ biên)
Ths Phạm Văn Cần
Trang 5sự góp ý của bạn đọc để lần tái bản sau cuốn Síích được hoàn thiện hơn.
Chú biên
TS Đinh Thị Thuý
Trang 6CHƯƠNG I
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH sử CÁC HỌC
Những tư tưởng, quan điểm kinh tế có từ thời cổ đại nhưng lịch sử các học thuyết kinh tê' không nghiên cứu hết các tư tưởng và quan điếm kính tê' mà chí nghiên cứu những
tư tưởng và quan điếm kinh tè' đã được hình thành thành một hệ thống nhất định
So với môn Lịch sử tư tưởng kinh tế đối tượng nghiên cứu của môn học này hẹp hơn vì nó không nghiên cứu bất
cứ tư tưởng kinh tê' nào, mà nó chỉ nghiên cứu những tư tưởng kinh tê' có tính khái quát hoá cao đặc trưng cho một
Trang 7xu hướng, khuynh hướng, hay một giai đoạn lịch sử nào đó của xã hội.
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ
Phương pháp nghiên cứu cơ bản của lịch sử các học thuyết kinh tế là phương pháp duy vật biện chứng và được
áp dụng trong tiến trình lịch sử của các hình thái kinh tế -
xã hội Vì vậy, khi nghiên cún các lý luận kinh tế còn phéii tìm ra nguồn gốc ra đời những điều kiện phát triển và diệt vong của nó ngay trong cơ sở đời sống kinh tế - xã hội Việc nghiên cứu các lý thuyết kinh tế phải thực hiện một cách triệt để nguyên lắc lịch sử Vì vậy khi nhìn nhận, đánh giá một tác giả một học thuyết kinh tế nào thì cần phải gắn với điều kiện cụ thể lịch sử nhất định của giai đoạn đó
Việc nghiên cứu môn học này còn đòi hỏi phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp đối chiếu, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, nhằm làm rõ những thành tựu hạn chế sự kê' thừa và phát triển của các học thuyết kinh tế khác nhau
III CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨẠ CỦA MÔN LỊCH
SỬCÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
1 Chức nâng của lịch sử các học thuyết kinh tê
- Chức nãng nhận thức, tự tưởng: Môn học này trang bị cho người học người nghiên cứu những lý luận cơ bản của các học thuyết kinh tế, thấy được lịch sử phát triển của các
Trang 8hệ thống lý thuyết kinh tế của mỗi giai cấp trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
- Chức năng thực tiễn: Việc nghiên cứu các lý thuyết kinh tê' nhằm mục đích vận dụng chúng vào thực tiễn phát triển kinh tế xã hội
- Chức nãng phương pháp luận: Môn học cung cấp cơ
sở lý luận, nền tảng kiến thức cho các khoa học kinh tế khác như kinh tê' chính trị kinh tê' vĩ mô, kinh tê' vi mô, kinh tế phát triển và các môn kinh tê' ngành khác
2 Ý nghĩa của việc học tập môn Lịch sử các học thuyết kinh tê
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của các lý thuyết kinh tế Đồng thời, nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tê' sẽ giúp cho chúng ta có cơ sở để nhận thức các khoa học kinh tê' khác cũng như có điều kiện để tiếp cận những kiến thức về nền kinh tế thị trường
Như vậy việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tê'
có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận lần thực tiễn
Trang 9CHƯƠNG II
TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG
I Sự HÌNH THÀNH HỌC THUYÊT kinh TẾ của CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
1 Tiền để kinh tê - xã hội dần đến sự xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương
Trường phái trọng thương là hệ thống tư tướng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản xuất hiện trong thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Thế ký XV XVI XVII ở Tây Âu là thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành, về mặt lịch sử, đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản Lúc này phương thức sản xuất phong kiến đã tỏ ra lỗi thời, không còn thích hợp,
đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất Trong khi đó phân công lao động xã hội đã phát triển mạnh mẽ đã tạo ra mối liên hệ ngày càng mật thiết giữa các vùng, các miền lãnh thổ, giữa các quốc gia Sự phát triển của sản xuất hàng hoá
đã đòi hỏi phải có thị trường tương ứng Do vậy quan hệ trao đổi hàng hoá đã trở thành thường xuyên ổn định, vững chắc Trong điều kiện đó, thương nghiệp, đặc biệt là ngoại
Trang 10thương, đóng vai trò quan trọng trong việc làm giàu của giai cấp tư sản - một giai cấp mới đang dần hình thành.
Sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm xuất hiện hệ thống kinh tế thế giới Đồng thời, một loạt những phát kiến về địa lý ở thế kỷ XV: Mở đầu từ việc tìm
ra đường biển từ Tây Âu sang Ân Độ tiếp đó Critxtop- Colombo đã phát hiện ra châu Mỹ giúp cho người châu Âu
có cơ hội tiến vào châu Mỹ Việc phát hiện ra những mỏ vàng ở châu Mỹ làm cho mậu dịch thế giới phát triển mạnh
mẽ giúp các nước Tây Âu những khả nãng lớn để làm giàu Hoạt động chuyến vàng từ châu Mỹ sang châu Âu, việc cướp bóc vùng Đông Âu và các dân tộc ở châu Á châu Mỹ
và châu Phi biến người bản xứ thành nô lệ, việc buôn bán người da đen chiến tranh cưó'p bóc thuộc địa và chiến tranh thương mại đã thúc đẩy thương nghiệp thế giới phát triến mạnh mẽ Từ chỗ thương nghiệp chí đóng vai trò môi giới giữa những người sản xuất nhó thì sự phát triển mới của sản xuất hàng hoá đã tạo ra tru thế cho thương nghiệp, thương nghiệp chi phối công nghiệp và nông nghiệp Người
ta thu được những món lợi lớn do cướp bóc thuộc địa và thương mại
Đê’ giải quyết những vấn đề cấp bách trong sự phát triển kinh tế, đáp ứng mục đích làm giàu bằng hoạt động thương mại của giai cấp tư sán đang hình thành và có thế lực ngày càng lớn những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản
đã kịp thời khái quát kinh nghiệm và đề ra cương lĩnh có tính lý luận Như vậy, chủ nghĩa trọng thương xuất hiện
Trang 11Trong bối cảnh đó hoạt động thương mại - đặc biệt là ngoại thương đã trớ thành ngành được để cao nhất trong hoạt động kinh tế của các quốc gia.
2 VỊ trí lịch sử của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái lý luận đầu tiên của kinh tế học tư sản, nó trực tiếp phản ánh quyền lợi của giai cấp tư sản thương nghiệp trong thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản đồng thời nó cũng phản ánh sự tiến
bộ trong đời sống kinh tế của châu Âu thê' kỷ XV - XVII.Khi đánh giá về vị trí lịch sử của chủ nghĩa trọng thương, các nhà kinh tế học đã có nhiều cách đánh giá khác nhau Một số nhà kinh tế học đã coi chủ nghĩa trọng thương
là những tư tưởng ngây thơ, là một loại mê tín thời trung cổ Song lại có người cho rằng chủ nghĩa trọng thương là học thuyết vạn năng
Theo Karl Marx tư tưởng trọng thương đã đoạn tuyệt với thời kỳ trung cổ trong việc nhận thức những nhiệm vụ của tư tưởng kinh tế đã nghiên cứu về mật lý luận những vấn đề của chủ nghĩa tư bản sớm nhất Chủ nghĩa trọng thương không chỉ là học thuyết kinh tế mà còn là cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư sản
Trên thực tế, mặc dù chưa biết đến quy luật kinh tế và còn hạn chê' về tính lý luận, nhưng hệ thống quan điểm kinh
tế của trường phái trọng thương đã tạo ra những tiền đề cho các lý luận kinh tế - thị trường sau này Bởi vì chủ nghĩa trọng thương đã khẳng định sự giàu có không phải là giá trị
sử dụng mà là giá trị là tiền; mục đích hoạt động của kinh
Trang 12tê hàng hoá là lợi nhuận Một số quan điểm của chủ nghĩa trọng thương ngày nay vẫn còn có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là những quan điểm về vai trò kinh tế của Nhà nước đã được các học thuyết kinh tế tư sản hiện đại vận dụng nhiều Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau và do trình
dộ phát triển kinh tế có nhiều chênh lệch, nên sự biểu hiện cúa chủ nghĩa trọng thương ớ các nước có những nét khác biệt khá rõ
II ĐẶC TRUNG VÀ NHŨNG QUAN ĐlỂM kinh
TẾ Cơ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNGChủ nghĩa trọng thương là tư tưởng của tầng lớp tư sản thương nghiệp trong giai đoạn tan rã cúa chê' độ phong kiến
và hình thành phương thức sản xuất tư bán chủ nghĩa Nên
về mặt hình thức, chủ nghĩa trọng thương vẫn nàm trong khuôn khổ của chê' độ phong kiến, và phần nào đã nhượng
bộ giai cấp quý tộc phong kiến, trong một chừng mực nhất định đã phản ánh lợi ích của cả giai cấp phong kiến Tuy nhiên, nó đứng về phía lợi ích của giai cấp tư sản - nhất là
tư sản thương nghiệp
Tư tướng xuất phát của chủ nghĩa trọng thương là sùng bái tiền tệ coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu Từ đó mọi chính sách cúa nhà nước đều nhằm tàng khối lượng tiền tệ Xuất phát
từ quan điểm coi tiền tệ là hiện thân của của cải các nhà trọng thương đã phê phán những hoạt động không dẫn đến tích lũy tiền tệ, trên cơ sở đó họ lý giải các vấn đề khác của
xã hội Chủ nghĩa trọng thương xây dựng lý thuyết tiền tệ,
Trang 13coi tiền tệ là phương tiện lưu thông, là của cái cất trữ và là phương tiện đê thu lợi nhuận.
Tiếp đó chủ nghĩa trọng thương cho rằng đe có tích lũy tiền lệ phải thông qua hoạt động thương mại mà trước hết là ngoại thương Trường phái này khẳng định "nội thương là
hệ thông ống dẫn, ngoại thương là máy bơm Muốn tăng cúa cải phải có ngoại thương nhập dần cúa Cíii qua nội thương" Họ đật nhiệm vụ cúa ngoại thương là xuất siêu, vì chí có như vậy thì mới đạt được mục đích cútt hoạt động kinh tế mới làm tăng thêm khối lượng tiền tệ cúa một nước.Chủ nghĩa trọng thương còn khẳng định, lợi nhuận là
do lĩnh vực lun thông, mua bán trao đổi sinh ra nó là kết quá của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán dắt mà có Các nhà trọng thương giải thích rằng lợi nhuận thương nghiệp là kêì quả của sự trao đổi không ngang giá trong hoạt động thương nghiệp, không ai thu lợi mà không làm hại người khác Vì vậy, các quốc gia muốn thu lợi thì phải chà đạp lên lợi ích của quốc gia khác
Chủ nghĩa trọng thương đánh giá rất cao vai trò của nhà nước, theo họ tích lũy tiển lệ chí thực hiện được dưới sự giúp đỡ của nhà nước Nhà nước phải giữ độc quyền ngoại thương nhưng vẫn đề ra các chính sách để giúp các thương nhân buôn bán với bên ngoài thuận lợi Những người trọng thương coi chính sách kinh tế của nhà nước là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế vì họ quan niệm chủ nghĩa tư bản mới ra đời, còn non yếu nên muốn tổn tại và phát triển được phải nhờ vào sự ủng hộ và giúp đỡ của nhà nước Điều đó chứng tỏ chủ nghĩa trọng thương chưa thấy
Trang 14được tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan Những
đề xuâì của họ trong chính sách chỉ thiên về tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn
Những người trọng thương đặc biệt coi trọng thị trường dân tộc theo họ trên cơ sở hình thành và phát triển thị trường dân tộc mới dần mở ra thị trường thế giới Điều này cho thấy các nước Tây Âu chuyển từ sản xuất phong kiến lên sán xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu bằng con đường thương nhân trực tiếp kinh doanh, nên thị trường hình thành chủ yếu là thị trường dân tộc Chính thị trường dân tộc có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế
Như vậy, thông qua các đặc trưng và các quan điểm kinh tế chủ yếu của thuyết trọng thương có thể khẳng định: đối tượng nghiên cứu của học thuyết kinh tế trọng thương là lĩnh vực lưu thông mua bán trao đổi
III CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIẺN của trường
PHÁI TRỌNG THƯƠNG
Chủ nghĩa trọng thương ở tất cả các giai đoạn' đều cho rằng nhiệm vụ kinh tế của mỗi nước là phải làm giàu, phải tìm ra nguồn của cải và phương thức làm tãng nguồn của cải đó Quan niệm này sau đó trở thành đối tượng nghiên cứu cúa kinh tế chính trị tư sản cổ điển Chỗ khác của chủ nghĩa trọng thương là họ quan niệm liền là tiêu chuẩn của của cải vì vậy phương thức làm tăng của cải chính là phương thức làm tăng lượng tiền tệ Phái trọng thương đã tìm ra nguồn gốc của của cải trong lĩnh vực ngoại thương,
họ đứng trên lợi ích của mậu dịch đối ngoại để xử lý các
Trang 15vấn đề của kinh tế hàng hóa 0 mỗi giai đoạn phát triển, chủ nghĩa trọng thương đã đưa ra những biện pháp khác nhau trên cơ sở phát triển của họ trong nhận thức và trong quan niệm về của cải.
1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ thứ XV đến giữa thế kỷ XVI
Đây là giai đoạn sơ kỳ của chủ nghĩa trọng thương Ớ giai đoạn này các đại biểu trọng thương nổi tiếng có William Staford (Anh), Skanrula và Serra (Ý) Các nhà trọng thương này đồng nhất của cải với tiền tệ, họ chưa hiểu quan hệ giữa lun thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ họ đã đưa ra cương lĩnh coi trọng cán cân thanh toán tiền tệ (còn gọi là chủ nghĩa trọng tiền) Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tê' là "Bảng cân đối tiền tệ" O đây các nhà trọng thương đòi cấm xuất khẩu tiền (vàng và bạc), phải tích lũy tiền, hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá để giữ vững khối lượng tiền trong nước, đòi nhà nước phải tích cực điều tiết lưu thông tiền tệ, phải lập hàng rào thuế quan cao, đòi giảm lợi tức, giám sát chặt chẽ các thương nhân nước ngoài, v.v Như vậy, ở giai đoạn đầu, các nhà trọng thương ủng hộ tuyệt đối sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế Những biện pháp của họ đều mượn bàn tay của nhà nước để thực hiện, và đều là những biện pháp hành chính nhằm giữ khối lượng tiền tệ trong nước
2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ xvn
Đây là giai đoạn chủ nghĩa trong thương thực thụ hình thành (theo cách gọi của K Marx) Lúc này, do sự phát
Trang 16triển mạnh của sản xuất hàng hoá hoạt động trao đổi phát triển mạnh trên các thị trường dân tộc và thị trường thế giói, học thuyết tiền tệ không còn phù hợp nên được thay thê' bàng học thuyết trọng thương Thuyết trọng thương ở giai đoạn này có các đại biểu nổi tiếng như Antoine Montchrestien (1575-1622) và Jean Batiste Colbert (1618- 1683) người Pháp; Thomas Mun (1571-1641) người Anh Các nhà trọng thương lúc đó đã hiểu của cải là số sản phíim
dư thừa được sản xuất ra trong nước sau khi đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, song phải được chuyển thành tiền thông qua thị trường nước ngoài Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tế là "Bảng cân đối thương mại”; ở đây, các nhà trọng thương không chí chú trọng-đến lưu thông tiền tệ mà còn chú trọng đến cả lưu thông hàng hoá Họ đã hiểu, việc tăng thêm lượng tiền tệ trong nước không dùng lại ờ lưu thông tiền tệ trong buôn bán thương mại phải đảm bảo xuất siêu để có chênh lệch, tăng tiền tích lũy cho ngân khố quốc gia
Học thuyết trọng thương đã đưa ra một loạt các biện pháp mới thay thế cho các biện pháp trước đó như: phát triển nội thương không hạn chế, mở rộng xuất khẩu, tán thành nhập khẩu hàng hóa nước ngoài với quy mô lớn tự do lim thông tiền tệ lên án việc tích trữ tiền, không cấm xuất khẩu tiền (vàng và bạc), khuyến khích phát triển công nghiệp chế tạo các sản phẩm xuất khẩu, thực hiện thương mại trung gian, cấm xuất khẩu nguyên liệu
Nguyên tắc nổi tiếng ở giai đoạn này là; bán nhiều, mua ít, có như vậy tiền tự nó sẽ chảy vào trong nước mà không cần đến các biện pháp hành chính của nhà nước
Trang 17Như vậy ở giai đoạn hai thuyết trọng thương vẫn tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế nhưng lúc này các biện pháp kinh tế đã được thay thế cho CLÍC biện pháp hành chính trước kia.
Qua hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa trọng thương có thể thấy rằng những quan điểm, những biện pháp
mà thuyết trọng thương đưa ra có ý nghĩa rất lớn đối với việc tăng cường khối lượng tiền tệ cho các nước (nhất là các nước Tây Âu), có tác dụng đẩy mạnh sản xuất và trao đổi hàng hoá, nó đáp ứng được đòi hỏi khách quan của nền sản xuất đang phát triển, thương nghiệp đang được mở mang của chủ nghĩa tư bétn Học thuyết trọng thương đã đoạn tuyệt với nhũng tư tưởng cổ truyền được sinh ra trên cơ sớ kinh tế tự nhiên, nó ca ngợi các thương nhân, đã đặt vấn đề
về lợi nhuận và đứng trên lĩnh vực lưu thông để giải quyết các vấn đề đó
Sau đó từ giữa thế kỷ XVII trở đi trường phái trọng thương bước vào thời kỳ tan rã do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa nhất là trong lĩnh vực công nghiệp Trong bối cảnh đó lý thuyết trọng thương với sự sùng bái tiền tệ quá mức với các điều luật nghiêm ngặt trong việc độc quyền ngoại thương, với tư tưởng xem trọng hoạt động thương mại hơn hẳn so với các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp đã trở nên mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của các tầng lớp tư sán công nghiệp, tư sản nông nghiệp Điều đó chứng tỏ lúc này ở châu Âu, các quan hệ tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu bao trùm lĩnh vực sản xuất, nhưng thuyết trọng thương không phản
Trang 18ánh kịp thời sự phát triển này Do đó, sự ựnVjl tửâ ỊỷThgỹếỊ1 j này là điều không tránh khỏi.
IV CHỦ NGHĨẠ TRỌNG THƯƠNG Ở MỘT số NƯỚC TRÊN THẾ Giói
Chủ nghĩa trọng thương không chỉ xuất hiện ở một nước, mà là trào lưu tư tưởng kinh tế lớn của nhiều nước Tây Âu Nó xuấuhiện sớm nhất ở Ý, sau đó ở Tây Ban Nha
Bồ Đào Nha, Hà Lan Mãi sau này, chủ nghĩa trọng thương ,ớ Anh Pháp mới chiếm ưu thế so với các nước nói trên Do hoàn cảnh chính trị - xã hội và trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước khác nhau nên chủ nghĩa trọng thương ở mỗi nước có những sắc thái khác nhau Song chín muồi hơn cả
là chủ nghĩa trọng thương Anh và Pháp Đế’ phân biệt chủ nghĩa trọng thương ở các quốc gia, các nhà chuyên môn thường gọi chủ nghĩa trọng thương ở Tây Ban Nha là chủ nghĩa trọng thương vàng, ở Pháp là chủ nghĩa trọng thương công nghiệp, còn ở Anh là chủ nghĩa trọng thương thương mại
1 Chủ nghĩa trọng thương ở Ý
ở Ý các nhà trọng thương đã có những đóng góp nhất định đối với vấn đề lưu thông tiền tệ với hoạt động thương mại Sau khi thay đổi con đường buôn bán sang phương Đông thì ở nước này các thành phố đóng vai trò to lớn trong mậu dịch đối ngoại với các nước Tây Âu Chủ nghĩa trọng thương Ý đặc biệt quan tâm tới lưu thông tiền tệ, tới vấn đề cho vay trong xã hội
Trang 19Ngay từ thế kỷ XIV đã có những tác phẩm của người Ý viết về các vấn đề thương mại hàng hoá hối phiếu, sổ sách thương mại về vận tái đường biển, v.v Đến thê' kỷ thứ XVI G Skareppa, A Serra và Davanxait là những tác giả nổi tiếng tiếp tục con đường nghiên cứu đó Các nhà trọng thương Ý đã đề nghị thủ tiêu hàng rào ngăn cách lưu thông tiền tệ giữa các nước, tạo ra một loại tiền tệ quốc tế đã phát triển tư tướng "Bảng cân đối thương mại", bác bỏ cấm xuất khẩu tiền và điều tiết thị giá của đồng tiền; đề nghị nên tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng hoá (nhất là hàng công nghiệp và thủ công nghiệp), v.v
Những tác phẩm nổi tiếng của các nhà trọng thương Ý là: "Bàn về tiền đúc" của G.Skareppa ra đời vào nãm 1582,
ở đây ông đã đề nghị triệu tập một đại hội toàn Châu Âu để giải quyết các vấn đề thuộc lưu thông tiền tệ, thực hiện một chế độ tiền tệ thống nhất toàn Châu Âu quy định tỷ giá cố định của vàng và bạc (theo tỷ lệ 12:1) quy mô phát hành tiền
lẻ v.v Tác phẩm "Lược bàn về phương tiện cung cấp vàng và bạc cho các nước thiếu kim loại quý" của A Serra viết vào năm 1613, đã chống lại quan điểm của học thuyết tiền tệ ở Ý, phản đối việc ngăn cấm xuất cảng hàng hoá và điều chỉnh giá tiền tệ coi công nghiệp và mở rộng mậu dịch đối ngoại là nguồn làm giàu cho đất nước, đề xuất các giải pháp nhằm làm tăng tiền của các nước thiếu các mỏ vàng và bạc v.v
2 Chủ nghĩa trọng thương ở Pháp
Pháp là quốc gia có chế độ phong kiến phát triển mạnh
mẽ và điển hình’, nhưng công trường thủ công tư bản ở đây
Trang 20lại vượt xa so với Ý và Tây Ban Nha So với ở Anh thì chủ nghĩa trọng thương Pháp không triệt để bằng, song so với các nước Tây Âu khác thì lại rất đậm nét Điều đó chứng tỏ chế độ chuyên chế và sự phát triển sớm của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những tiền đề chính trị để thực hiện cương lĩnh của chủ nghĩa trọng thương một cách hệ thống 0 Pháp chủ nghĩa trọng thương có lý luận nghèo nàn nhưng lại có kiến thức thực tiễn phong phú; tuy không trải qua hai giai đoạn rõ rệt nhưng nó đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của nền kinh tế Pháp lúc đó.Đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa trọng thương Pháp là A.Montchrestien (1575-1621) và J.B.Colbert (1619-1683).Montchrestien đã nêu tư tưởng trọng thương của ông trong tác phẩm "Bàn về khoa kinh tế chính trị" Quan điểm trọng thương của ông phản ánh sự quá độ giữa học thuyết trọng 'tiền và học thuyết trọng thương thực thụ Ông coi môn kinh tế chính trị là một môn khoa học mới và chính ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ "kinh tế chính trị" vào nãm 1615 và đề ra những quy tắc thực tiễn cho hoạt động kinh tế Ông lên án sự xa hoa của giai cấp quý tộc, đề cao chủ nghĩa dân tộc, do đó tư tưởng trọng thương của ông mang màu sắc tiểu tư sản Quan điểm trọng thương của ông thể hiện ở chỗ ông coi tiền là tiêu chuẩn của sự giàu có của một nước Trong hoạt động thương mại, ông đề cao vai trò của ngoại thương khi cho rầng "nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm” Ông còn, khẳng định thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều nghề khấc nhau
Trang 21và lợi nhuận thương nghiệp là chính đảng vì nó bù lại rủi ro trong việc buôn bán
Tất cả những tư tường -của ông, tuy chưa khắc phục được ảnh hưởng của học thuyết tiền tệ và không triệt để, nhưng đã chứng tỏ ông là một đại biểu nổi bật của chủ nghĩa trọng thương Pháp vào đầu thế kỷ XVII
Jean Baptiste Colbert là nhà trọng thương xuất sắc ở Pháp Đương thời ông là bộ trướng tài chính của Pháp Ổng
đã đưa ra một hệ thống chính sách kinh tế theo quan điểm trọng thương "nhằm phát triển nền kinh tê' Pháp trong vòng
100 nãm" - theo ý tưởng của tác giả - Hệ thống đó được gọi
"là chủ nghĩa Colbert
Cọlbeit cho rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất là phải tãng thu'sjiâp cho nhà nước bằng cách xây dựng bảng cân đối thương mại có lợi thông qua việc khuyên khích và xây dựng nền công nghiệp của nước Pháp, phát triển xuất khẩu sản phẩm công nghiệp theo chiến lược xuất siêu, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ
Ông đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm phát triển thương nghiệp và vận tải như xây dựng các đội thương thuyền lớn,.thành lập các công ty độc quyền ngoại thương, tăng cường bóc lột các nước thuộc địa v.v Nhưng ông lại
có quan điểm cho rằng nông nghiệp là ngành không có lợi cho đất nước, nên đã có chủ trương làm cho nông nghiệp Pháp sa sút, hàng loạt nông dân bị phá sản, thị trường trong nước và sản xuất nguyên liệu giảm mạnh Trước tình hình
đó, Colbert bị ọách chức Bộ trưởng Tài chính và chủ nghĩa
Trang 22trọng thương nước này bước vào thời kỳ phá sản trước sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa trọng nông.
3 Chủ nghĩa trọng thương ở Tây Ban Nha
Ở Tây Ban Nha, học thuyết tiền tệ được ủng hộ từ thế
kỷ XVI Đại biểu điển hình của chủ nghĩa trọng thương nước này là Mariana (1573-1624) - người ủng hộ cho tư tưởng của "Bảng cân đối tiền tệ", và Bernado Ulloa - người
đã ủng hộ tư tưởng của "Bảng cân đối thương mại"
Do đất nước này liên quan trực tiếp đến phát kiến vĩ đại
về địa lý của nhân loại cuối thế ký XV (phát hiện ra châu Mỹ) nên tư tưởng của nhiều nhà trọng thương Tây Ban Nha
- mà điển hình là Mariana - được bộc lộ qua việc khuyên nhà nước áp dụng các biện pháp để giữ gìn khối lượng vàng khổng lồ chuyển từ châu Mỹ về Cụ thể là họ yêu cầu nhà nước nghiêm cấm việc xuất khẩu vàng và bạc, can thiệp vào hoạt động thương mại kiểm soát nhập khẩu Giai đoạn sau Ulloa mới nhấn mạnh tính ưu việt của thương mại xuất siêu,
vì nó làm cho vàng dồn về trong nước Ngoài ra ông còn yêu cầu nên phát triển rộng rãi nền công nghiệp và thành lập nguồn dự trữ nguyên liệu cần thiết cho Tây Ban Nha
4 Chủ nghĩa trọng thương ở Anh
Ở Anh chú nghĩa trọng thương đạt đến trình độ chín muồi nhất và trải qua hai giai đoạn rõ rệt Ó đất nước này chủ nghĩa tư bản phát triển sớm nhất, nên chủ nghĩa trọng thương ở đây mang tính tư sản rất triệt để Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Anh là sự phát triển của ngoại thương, của các nghề trên biển, của sự bành trướng thị
Trang 23trường thế giới, kéo theo đó là việc xâm chiếm và cướp bóc- thuộc địa - Thế kỷ XVII là thê' kỷ tước đoạt thuộc địa lớn nhất của nước Anh Tất cả điều đó đã phản ánh vào chú nghĩa trọng thương Anh.
Ớ giai đoạn thê' kỷ XV - XVI ngoại thương Anh còn phụ thuộc nhiều vào thương nhân nước ngoài Lúc này học thuyết trọng thương Anh phản ánh giáo điều kinh tê' của thuyết tiền tệ Họ đưa ra quan điểm: bảo vệ của cải tiền tệ, giảm bớt nhập khấu, cấm thương nhân không được mang tiền đúc của nước Anh ra ngoài và cho rằng
có thể giải quyết các vấn đề kinh tế bằng biện pháp hành chính Đại biểu cho giai đoạn này là William Stafford (1554 - 1612) với tác phẩm "Trình bày tóm tắt một sô' điều kêu ca của đồng bào chúng ta" (xuất bản nãm 1581) ông đã tán thành chê' định thương mại, cấm nhập khấu hàng hóa xa xỉ, cấm xuất khẩu tiền, đình chỉ việc đúc tiền giả
Rõ ràng giai đoạn này, những nhà trọng thương Anh chỉ chú ý đến việc giữ khối lượng liền tệ khỏi bị hao hụt bằng cách dùng nhũng biện pháp hành chính của nhà nước, trực tiếp can thiệp vào lưu thông tiền tệ
Sang đến thê' kỷ XVII công nghiệp Anh đã lớn mạnh, chiến tranh thương mại giữa Anh và Hà Lan trớ nên khốc liệt, chủ nghĩa trọng thương Anh đã đạt đến mức độ chín muồi và đã đề nghị cách giải quyết những vấn đề mới trong nền kinh tê' nước Anh Đại biểu nổi tiếng của giai đoạn này
là Thomat Mun (1571 - 1641) Ông là thương nhân và là một trong những giám đốc của công ty Đông Ân Ông đã
Trang 24Azxuất bản cuốn "Bàn về buôn bán giữa Anh và Đông An" vào nãm 1621 cuốn "Sự giàu có của nước Anh và mậu dịch đối ngoại" nãm 1630 - Mác gọi tác phẩm này là kinh thánh của chủ nghĩa trọng thương; cuốn "Bảng cân đối ngoại thương
là công cụ điều tiết kho tàng của chúng ta" nãm 1641 v.v Trong tư tưởng của mình Thomat Mun đã phê phán gay gắt những nguyên tắc của học thuyết tiền tệ đồng thời phát triển lý luận về bảng cân đối thương mại Ông coi ngoại thương là công cụ tốt nhất để làm giàu cho đất nước, nhưng phải với điều kiện bán ra nhiều hơn mua vào Theo ông
"vàng đé ra thương mại còn thương mại lại làm cho tiền tãng lên", và đề nghị mở rộng các cơ sở công nghiệp, nâng cao chất lượng hàng hoá cái tiến hình thức hàng hoá, v.v Ông còn cho rằng tý giá hối đoái phụ thuộc vào báng cân đối thương mại và không nên để thừa tiền trong nước Như vậy tư tưởng của Thomat Mun đã quan tâm đến mối quan hệ giữa lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hoá phần nào đã nhìn thấy vai trò của công nghiệp đối với thương nghiệp Nhờ cương lĩnh có ý nghĩa thực tiễn của bảng cân đối thương mại mà nền kinh tế nước Anh đã phát triển Có thể nói chủ nghĩa trọng thương xuất hiện sớm nhất
ớ nước Anh nhưng chính ở đây đã tạo tiền đề kinh tế cho sự tan rã của chủ nghĩa trọng thương
Ngoài các nước có chủ nghĩa trọng thương phát triển khá điển hình ờ trên, thì trong nền kinh tế thế giới chủ nghĩa trọng thương còn xuất hiện ở Hà Lan, Nga, v.v Tóm lại, con đường tất yếu mà chủ nghĩa trọng thương
đã đi qua là từ chỗ chỉ quan tâm đến tiền - cái nổi bật nhất
Trang 25trong lưu thông - họ đã tiến dần và tiếp cận với lưu thông hàng hoá Nhưng thuyết trọng thương dừng lại ở đó, vì nếu tiếp tục, lý luận của họ sẽ đi đến lĩnh vực sản xuất Điều này sẽ phủ nhận quan điểm của họ: nguồn gốc của cải là ở trong lưu thông Thực lê' cho thấy, từ giữa thê' kỷ XVII trở đi sản xuất hàng hoá ớ các nước châu Âu phát triển rất nhanh, cho nên các tiền đề kinh tế cho sự tồn tại của chủ nghĩa trọng thương sụp đổ dần Chính vì vậy, sự phá sản của chủ nghĩa trọng thương là tất yếu về mặt lịch
sử và lý luận
Trang 26Chương III
KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SAN cổ ĐIÊN
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIEM của
KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯSÁN cổ ĐIÊN
sự thay đổi, một sô' ngành của công nghiệp như dệt công nghiệp khai thác đã có sự phát triển mạnh mẽ
Sự thống trị của tư bản thương nghiệp ớ những thê' kỷ trước được dần thay thê' bới tư bản công nghiệp Lợi ích của giai cấp tư sản cũng chuyển dần từ lưu thông sang lĩnh vực sản xuất
Tất cả những điều kiện kinh tế xã hội cuối thế kỷ XVII chứng tỏ thời kỳ tích luỹ ban đầu của tư bản đã kết thúc, thay vào đó là thời kỳ tích luỹ tư bản, tức thời kỳ sản xuất
Trang 27tư bản chủ nghĩa bắt đầu Những hạn chế, phiến diện và phi
lý của chủ nghĩa trọng thương đã bộc lộ rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời
Nếu kinh tế chính trị tư sản cổ điển bắt đầu từ những tư tưởng của w.Petty ở Anh và Boisguillebert ở Pháp, thì’ sự kết thúc của nó ở Anh là D.Ricardo, còn ở Pháp là ở Sismondi
2 Những đặc điểm của kinh tê chính trị tư sản cổ điển
a Đối tượng nghiên cứu
Kinh tế chính trị tư sản cổ điến chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, làm rõ các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tái sản xuất xã hội Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng kinh tế, những phạm trù kinh tê' gắn liền với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, gắn liền với kinh tế thị trường như hàng hoá, giá trị, tiền tệ giá cả tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản
đã được trình bày một cách hệ thống để từ đó rút ra được quy luật vận động của nó
b Mục dich nghiên cứu
Nhầm tạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất; cho những quan hệ kinh tê' mới; làm cơ sở cho các chính sách kinh tê' của giai cấp tư sản
c Phương pháp nghiên cứu
Thể hiện tính chất hai mặt: một mặt sử dụng phổ biến phương pháp trừu tượng hoá để tìm hiểu các mối liên hệ
Trang 28bản chất, bên trong các hiện tượng và quá trình kinh tế từ
đó, rút ra được những kết luận đúng đắn khoa học; nhưng mặt khác, do hạn chế về thế giới quan, phương pháp luận, điều kiện lịch sử nên có những vấn đề họ chi dừng lại ở việc
mô tả hiện tượng bên ngoài
Tóm lại, đặc điểm chung của kinh tế chính trị tư sản cổ điển thể hiện ớ chỗ: là trường phái kinh tế học khoa học đầu tiên của giai cấp tư sản có nhiều thành công, đóng góp cho
sự phát triển của lịch sử tư tưởng kinh tế nói chung, tuy nhiên nó cũng còn nhiều sai lầm và hạn chế
II Sự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN cổ ĐIÊN
1 Sự hình thành của kinh tê chính trị tư sản cổ điển
* Tiêu sử vù tác plìâm
w.Petty sinh trướng trong một gia đình làm nghề thủ cồng Là người có nhiều lài nãng trên nhiều lĩnh vực: ông là người phát minh ra máy chữ có trình độ tiến sĩ vật lý, làm bác sĩ trong quân đội Cromwell tham gia xâm lược Ireland Ông là người Sííng lập ra khoa thống kê học và là người đặt nền móng cho kinh tê' chính trị tư sản cổ điển Ông vừa là địa chủ, là nhà tư bản công nghiệp lớn, vừa là nhà lý luận
Về mặt thế giới quan, ông là người theo chủ nghĩa duy vật tự phát, là người kế tục Bacon, coi kinh nghiệm là cơ sở
Trang 29của nhận thức và đã cố gắng đi tìm bản chất của các hiện tượng kinh tế và xác định mối quan hệ nhân quả của chúng W.Petty cho ràng: trong chính sách và trong kinh tế, cũng như trong y học, cần phải tính đến những quá trình của tự nhiên, không nên dùng nhũng hành động cưỡng bức riêng của mình để chống lại những quá trình đó Như vậy ông đã khẳng định sự phát triển kinh tê' phụ thuộc vào quy luật khách quan Phương pháp trình bày của ông: xuất phát từ hiện tượng cụ thể phức tạp đi đến trừu tượng, riêng Đây cũng là phương pháp của kinh tê' học thê' kỷ XVII (Phương pháp này chỉ phân chia cái chung thành nhũng bộ phận nhỏ hơn) Chẳng hạn, khi nghiên cứu khái niệm giá trị, W.Petty lấy thuế ruộng đất làm điểm xuất phát, thuê' ruộng đất này lại phụ thuộc vào địa tô hiện vật và ông quy địa tô hiện vật
ra tiền, rồi từ đó mới nghiên cún giá trị
Những tác phẩm chủ yếu của W.Petty:
lý giá trị do lao động quyết định Chỉ bằng nguyên lý này,
Trang 30cũng đủ để đánh giá ông là người đã sáng lập ra trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển.
* Học thuyết kinh tếcủu w.Petty
- Lý luận giá trị lao động
Trong tác phẩm "Bàn về thuế khoá và lệ phí" (1662) ông đã đưa ra ba khái niệm về giá cả hàng hoá Đó là giá cả
tự nhiên, giá cả nhân tạo và giá cả chính trị
Thứ nhất, giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá Ông viết:
"Một người nào đó, trong thời gian lao động khai thác được
1 ounce bạc và cùng thời gian đó sản xuất được 1 barrel lúa
mì, thì 1 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 barrel lúa mì Nếu nhờ những mỏ mới giàu quặng hơn, nên cùng một thời gian lao động đó, bây giờ khai thác được 2 ounce bạc thì 2 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 barrel lúa mì" Như-vậy giá cả tự nhiên là do lao động tạo nên và lượng của giá cả tự nhiên tỷ lệ nghịch với lao động khai thác bạc hay vàng.Thứ hai nếu giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá thì giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá Ông viết: "Tỷ lệ giữa lúa mì và bạc chỉ là giá cả nhân tạo, chứ không phải là giá
cả tự nhiên" Theo ông giá cả nhân tạo phụ thuộc vào 2 yếu tố: giá cả tự nhiên và quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường.Thứ ba về giá cả chính trị ông cho rằng nó là một loại của giá cả tự nhiên Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá nhưng trong điều kiện chính trị không thuận lợi
Vì vậy, chi phí lao động trong giá cả chính trị thường cao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tự nhiên trong điều kiện bình thường
Trang 31W.Petty đã có tư tưởng về lao động giản đơn và lao động phức tạp so sánh lao động trong thời gian dài lấy năng suất lao động trung bình trong nhiều nãm đế’ loại trừ yếu tố ngẫu nhiên.
Như vậy, có thể kết luận W.Petty là người đầu tiên trong lịch sử đật nền móng cho lý thuyết giá trị lao động.Tuy vậy, lý thuyết giá trị - lao động của W.Petty còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng thương chủ nghĩa, khi ông cho rằng lao động trong thương nghiệp có năng suất cao hơn lao động trong nông nghiệp vì thương nghiệp có lợi hơn công nghiệp, công nghiệp có lợi hơn nông nghiệp Ông còn cho rằng chí có lao động trong ngành khai thác bạc và vàng mới tạo ra giá trị, còn lao động trong các ngành khác chí tạo ra giá trị ớ mức độ so sánh với lao động tạo ra tiền Theo ông, giá cả tự nhiên của hàng hoá là sự phản ánh giá cả tự nhiên của tiền tệ, như ánh sáng của mặt trãng phản chiếu ánh sáng của mặt trời W.Petty đưa ra luận điểm nổi tiếng: "Lao động là cha vặ đất đai là mẹ của của cải" Ớ đây, nếu W,Pctty coi đó là hai yếu tố của quá trình lao động sản xuất thì; hoàn toàn đúng Nhưng từ luận điểm này, ông lại nhầm lẫn khi nhãn xét "lao động và đất đai là
cơ sớ tự nhiên của giá cả mọi sản phấm"
- Lý luận về tiền tệ:
Quan điểm tiền tệ của W.Petty đã chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang quan điểm của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Trong những tác phẩm đầu tiên, ông cho rằng sự giàu có biểu hiện dưới hình thức vàng và
Trang 32bạc là sự giàu có vinh viễn, muôn đời Nhưng sau này, ông
đã đánh giá tiền đúng đắn hơn
Ông nghiên cứu hai loại kim loại giữ vai trò của tiền là vàng và bạc Giá trị của chúng dựa trên cơ sở lao động khai thác ra chúng quyết định Ông phê phán chê' độ song bản vị lấy vàng và bạc làm đơn vị tiền tệ và ủng hộ chế độ đơn bản vị; ông phê phán việc phát hành tiền không đủ giá trị
Ông là người đầu tiên đề cập đến quy luật lưu thông tiền tệ, mà nội dung của nó là số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hoá và tốc độ chu chuyển của tiền tệ ỏng chỉ ra ảnh hưởng của thời gian thanh toán với số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông Trong cuốn "Bàn về thuê' khoá và lệ phí (1662) ông cho rằng: "muốn cho thương nghiệp của một nước hoạt động được, cần phải có tiền tệ trong một chừng mực và một
tỷ lệ nào đó, mà vượt qua hay chưa đạt được chừng mực hay
tỷ lệ đó thì sẽ làm thiệt hại tới thương nghiệp đó Tỷ lệ tiền
tệ (bạc và vàng) cần thiết cho thương nghiệp của chúng ta cũng thế, phải được trù tính dựa trên sô' lượng các việc trao đổi và quy mô các việc thanh toán phải thực hiện" Còn trong cuốn "Giải phẫu học chính trị Ireland (1672) ông khẳng định: "có thể nói rằng tiền 'tệ chí là mỡ của cơ thể chính trị; nếu có nhiều quá thì sẽ ảnh hưởng tới sự nhanh nhẹn của thân thể ít quá sẽ làm cho thân thể bị mắc bệnh cũng như chất mỡ làm trơn các bắp thịt và làm cho bắp thịt cử động dễ dàng thì tiền tệ trong một nước cũng vậy, nó làm cho nước
đó hoạt động nhanh thêm, làm cho nước đó sống được nhờ các thực phẩm nhập khẩu vào khi trong nước đói kém, thanh toán được các khoản và tô điểm cho mọi vật "
Trang 33- Lý luận về tiền lương:
Lý luận tiền lương của w.Petty còn rời rạc, ông không định nghĩa tiền lương mà chỉ nêu quan điểm về mức lương Ông cho rằng, tiền lương không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết Theo ông, tiền lương cao thì công nhân
sẽ uống rượu say và ảnh hưởng đến công việc Muốn bắt buộc họ làm việc thì phải giảm tiền công tới mức thấp nhất Ông là người ủng hộ đạo luật cấm tăng lương Ông khẳng định: "Pháp luật chỉ phải đảm bảo cho người công nhân
số cần thiết nhất để sống thôi; bởi vì nếu trả cho người công nhân gấp đôi số cần thiết, thì anh ta sẽ chỉ làm một nửa so với số anh ta sẽ làm và thực sự đã làm nếu tiền công không tăng gấp đôi như vậy, mà điều đó có nghĩa là xã hội bị thiệt một số sản phẩm chứa đựng một lượng lao động tương ứng" W.Petty đã vạch ra sự đối lập về lợi ích giữa cổng nhân và nhà tư bản Ông còn cho rằng nếu giá cả lúa mì tăng lên thì sự bần cùng của công nhân cũng tăng lên, số lượng lao động tăng lên thì tiền lương sẽ giảm xuống
- Lý luận địa tô, lợi tức và giá cả ruộng đất:
Đối với w.Petty, giá trị thặng dư chỉ tồn tại dưới hai hình thức: địa tô và lợi tức Quan điểm địa tô của ông được giải thích trên cơ sở nguyên lý giá trị do lao động tạo nên Ông coi địa tô là giá trị nông phẩm sau khi đã trừ đi các chi phí sản xuất, mà chi phí này gồm chi phí về giống và tiền lương Về thực chất, địa tô là giá trị dôi ra ngoài tiền lương, tức sản phẩm của lao động thặng dư Ông viết: "giả định rằng một người nào đó tự tay mình trồng lúa mì trên một mảnh đất nhất định, nghĩa là anh ta cày hay xới mảnh đất
Trang 34đó lên, bừa làm cỏ gặt, mang các bó lúa về nhà, đập và quạt thóc như nông nghiệp của nước đó đòi hỏi, ngoài ra lại giả định rằng anh ta có thóc giống đế gieo trên mảnh đất
đó Tôi khẳng định rằng, sau khi người đó đã trừ thóc giống của mình vào số mùa màng mà anh ta đã thu hoạch được, cũng như khấu trừ tất cả những cái mà bản thân anh ta đã
ãn đi, và đã đem đổi cho người khác để lấy quần áo và những vật phẩm khác cần thiết để thoá mãn những nhu cầu cấp thiết, thì số lúa mì còn lại sẽ cấu thành địa tô tự nhiên
và chân chính của đất đai nãm ấy" 0 đây địa tô gồm cả lợi nhuận, lợi nhuận còn chưa được tách khỏi địa tô w.Petty là người đầu tiên đưa ra khái niệm địa tô chênh lệch, ông nghiên cứu nó với hai yếu tố: vị trí khác nhau của đất đai đối với thị trường và độ mầu mỡ khác nhau của đất đai, dẫn đến năng suất lao động khác nhau, thu nhập khác nhau Tuy vậy, ông chưa nghiên cứu địa tô tuyệt đối
Về lợi tức ông cho rằng, lợi tức là tô của tiền, mức lợi tức phụ thuộc vào mức địa tô Theo ông, người có tiền có thể dùng theo hai cách để đem lại thu nhập Cách thứ nhất
là mua ruộng đất để cho thuê và thu địa tô, cách thứ hai là cho vay để thu lợi tức Mức lợi tức phụ thuộc vào thu nhập hàng năm của đất đai (tức địa tô), vào điều kiện sản xuất nông nghiệp
Về giá cả ruộng đất ông cho rằng bán ruộng đất là bán quyền thu địa tô Vì vậy giá cả ruộng đất là do địa tô thu được hàng năm quyết định Từ số liệu thống kê dân số, ông tính toán khoảng cách trung bình giữa các thế hệ trong một
Trang 35gia đình là 21 năm Từ đó, ông đưa ra công thức tính giá cả ruộng đất là:
Giá cả ruộng đất = địa tô X 21
Tóm lại, mặc dù còn nhiều hạn chế về mặt lý luận, nhưng W.Petty đã có nhiều đóng góp quan trọng cho việc hình thành kinh tế chính trị tư sản cổ điển
b Sự phát sinh kinh té chính trị tư sản cổ điên ở Pháp - Trường phái trọng nông
* Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chung của chủ nghĩa trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông ra đời trong thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn Vào giữa thê'
kỷ XVIII Tây Âu đã phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu
0 nước Pháp, công trường thủ công tư bản chủ nghĩa cũng dần trở thành hiện tượng phổ biến và cách mạng tư sản (1789) cũng đang gần kề
Ở thời kỳ này, cuộc đấu tranh với chủ nghĩa trọng thương diễn ra ở hầu hết các nước Tây Âu, nhưng chỉ riêng
ở Pháp, cuộc đấu tranh này đã làm nảy sinh trường phái trọng nông
Xu hướng trọng nông xuất hiện từ nền kinh tế đặc biệt của nước Pháp giữa thế kỷ XVIII và từ những xu hướng tư tướng đã xuất hiện ở Pháp trước cuộc cách mạng tư sản.Trong thời kỳ ra đời và phát triển của chủ nghĩa trọng npng, nông nghiệp Pháp bị sa sút nghiêm trọng do nhiều
Trang 36nguyên nhân gây nên Thứ nhất là sự tồn tại chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến với mức độ cao Thứ hai thuế trực thu và gián thu nộp cho nhà thờ và nhà vua rất nặng
nề Thứ ba chính sách hạ giá ngũ cốc và các nông phẩm khác, ià kết quả của chính sách trọng thương của Bộ trưởng Tài chính LB.Colbert Điều này đòi hỏi phải có chính sách khôi phục và phát triển nông nghiệp, tìm cho nông nghiệp một hướng đi mới: kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa.Đặc điểm chung của chủ nghĩa trọng nông là đã chuyển đối tượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; đề cao vai trò của nông nghiệp, và coi nó là lĩnh vực duy nhất trong xã hội tạo ra của cải Chỉ có lao động trong nông nghiệp mới là lao động có ích, lao động sinh lời.Trường phái trọng nông ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế Các đại biểu: P.Boisguillebert (1646-1714); F.Quesnay (1694-1774): R,J.Turgot (1727-1771)
* Những quan điểm và học thuyết kinh tê của trường phái trọng nông
- Phê phán chủ nghĩa trọng thương:
Một là, lợi nhuận thương nghiệp là do cạnh tranh và tiết kiệm chi phí lưu thông
Hai là, hạ thấp vai trò của tiền và phê phán gay gắt tư tưởng trọng thương đã quá đề cao vai trò của tiền tệ
Ba là, chủ trương tự do lưu thông, chống lại những đặc quyền về thuế, đánh giá lại vai trò của thương mại, ngoại thương
Bốn là, đề cao vai trò của sản xuất nông nghiệp, chủ trương tự do hành động chống lại "nhà nước toàn năng"
Trang 37- Cương lĩnh kinh tế của chủ nghĩa trọng nông:
Trong cương lĩnh kinh tế, điểm quan trọng nhất là đề ra những biện pháp khuyến khích phát triển nông nghiệp như:+ Kiến nghị với nhà nước khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, cho phép chủ trại được tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn nuôi
+ Đề nghị sửa chữa các chính sách về nông nghiệp như giảm thuế, miễn thuế Nên ưu đãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại
+ Phải có chính sách giấ cả và chính sách lương thực đúng đắn Nếu giá cả lương thực quá thấp thì nông dân sẽ
tự nhiên và quy luật luân lý tác động trong lĩnh vực xã hội Nội dung chủ yếu của học thuyết về trật tự tự nhiên là:+ Thứ nhất, thừa nhận vai trò của tự do cá nhân, coi
đó là luật tự nhiên của con người (tự do đi lại, tự do thân thể, tự do lao động); chống lại sự "lệ thuộc phong kiến trái với quy luật"
+ Thứ hai, chủ trương tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá, chống lại phường hội phong kiến
Trang 38Quan điểm này được thể hiện trong khẩu hiệu: "Tự do hoạt động, tự do buôn bán".
+ Thứ ba, đề cao quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ
tư hữu Đối với phạm trù sở hữu họ chia thành hai loại: Một là sở hữu động sản được hoàn toàn tự do liên kết, tự do
sử dụng như tư bản; hai là sở hữu ruộng đất (sở hữu bất động sản trong điều kiện chủ nghĩa tư bản) Họ muốn dung hoà cả hai loại sở hữu này
Như vậy, thực chất của luật tự nhiên là luật tư sản
- Lý thuyết về sản phẩm ròng (sản phẩm thuần tuý)Đây là học thuyết trung tâm của hệ thống lý luận trọng nông Nội dung chính của học thuyết vể sản phấm ròng là:+ Sản phẩm ròng là sản phẩm do đất đai mang lại sau khi đã trừ đi chi phí lao động và chi phí cấn thiết để tiến hành canh tác
+ Có hai nguyên tắc hình thành giá trị hàng hoá Trong công nghiệp, giá trị hàng hoá bằng tổng chi phí sản xuất bao gồm chi phí về nguyên liệu, tiền lương công nhân, tiền lương nhà tư bản công nghiệp và chi phí bổ sung của tư bản thương nghiệp Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giá trị hàng hoá bằng tổng chi phí sản xuất và sản phẩm thuần tuý
Sớ dĩ có sự khác nhau như vậy là do trong công nghiệp, quá trình tạo ra sản phẩm mới chỉ là quá trình kết hợp giản đơn những chất cũ mà không có sự tăng thêm về chất, nên không tạo ra sản phẩm thuần tuý Còn trong nông nghiệp, nhờ có sự tác động của tự nhiên nên có sự tăng thêm về chất, tăng thêm về của cải
Trang 39+ Sản phẩm ròng là quà tặng của thiên nhiên, chỉ có ngành sản xuất nông nghiệp mới tạo ra nó vì thế, lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý mới là lao động sản xuất, là lao động có thành quả còn lao động không có thành quả, không sinh lời, là lao động không tạo ra sản phẩm ròng Tuy nhiên, không phải bất cứ nền nông nghiệp nào cũng mang lại sản phẩm ròng, mà chỉ có nông nghiệp kinh doanh theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa mới đem lại sản phẩm ròng.
Từ lý thuyết sản phẩm thuần tuý, những người trọng nông đưa ra lý luận giai cấp trong xã hội, đó là ba giai cấp: giai cấp sản xuất, giai cấp sở hữu, và giai cấp không sản xuất Sau này lý luận 3 giai cấp được họ phát triển thành 5 giai cấp:
+ Giai cấp các nhà tư bản sản xuất
+ Giai cấp công nhân công nghiệp
+ Giai cấp công nhân nông nghiệp
+ Giai cấp các nhà tư bản không sản xuất
+ Giai cấp sở hữu
- Lý thuyết về tư bản
Chủ nghĩa trọng thương coi tư bản là tiền, còn chủ nghĩa trọng nông coi tư bản là đất đai đưa lại sản phấm ròng, là tư liệu sản xuất được mua bằng tiền Đó là những yếu tố vật chất đưa vào sản xuất nông nghiệp như nông cụ, súc vật cày kéo, hạt giống, tư liệu sinh hoạt của công nhân.Lúc đầu, F.Quesnay đã gọi nông cụ, súc vật cày kéo, công trình sản xuất là tư bản ứng trước đầu tiên và hạt giống,
Trang 40tư liệu sinh hoạt của công nhân là tư bản ứng trước hàng năm, sau đó, Turgot gọi đó là tư bản cố định (tư bản ứng trước đầu tiên) tư bản lưu động (tư bản ứng trước hàng năm).Đây là một cống hiến lớn của trường phái trọng nông vì
họ đã biết căn cứ vào tính chất chu chuyển của tư bản để phân chia và nghiên cứu nó Tuy vậy, sự phân chia này chỉ tồn tại trong lĩnh vực nông nghiệp
- Biểu kinh tế Quesnay
Biểu kinh tế Quesnay là một phát minh to lớn của chủ nghĩa trọng nông, vì nền sán xuất xã hội đã được nghiên cứu trong quá trình vận động không ngừng (tức quá trình tái sản xuất xã hội)
Biểu kinh tế còn là sự mô hình hoá mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau trong phạm vi toàn xã hội của các giai cấp hiện có
Sự phát hiện ra tuần hoàn máu đã gợi cho F Quesnay hình ảnh về nền kinh tê' như một cơ thể lớn, trong đó của cải
và hàng hoá lưu thông từ giai cấp này sang giai cấp khác.Mỗi giai cấp, giống như các cơ quan của cơ thể con người,
có một chức năng cần thiết trong quá trình vận động này
Nội dung chính của biểu kinh tế Quesnay là:
Các giả định:
+ Chỉ xem xét tái sản xuất giản đơn
+ Trừu tượng hoá sự biến động của giá cả
+ Không tính đến ngoại thương