1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Xã hội học đại cương: Phần 2 - Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng (Đồng chủ biên)

69 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Xã Hội Học Đại Cương: Phần 2
Tác giả Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Xã Hội Học
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 447,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Xã hội học đại cương được biên soạn nhằm giới thiệu những kiến thức và phương pháp nghiên cứu xã hội học hết sức cơ bản phục vụ cho giảng dạy và học tập môn học. Phần 2 của giáo trình gồm 3 chương sau, trình bày về: xã hội hóa; biến đổi xã hội; một số lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học chuyên biệt;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 4

XÃ HỘI HÓA

Xã hội càng phát triển vai trò con người càng lớn và được coi trọng Ngày nay con người được quan tâm theo cả hai góc độ: mục đích và phương tiện Ở nước ta con người được xác định là nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Bởi vậy, đòi hỏi con người càng được hoàn thiện trên cả hai phương diện: trí và đức Điều này chỉ có thể đạt được thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân con người giúp họ hoàn thiện nhân cách

I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HÓA

1 Bản chất con người

Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Tuy nhiên, trong nghiên cứu xã hội học con người được xác định là đơn vị nhỏ nhất và cơ bản nhất của hệ thống xã hội và cấu thành xã hội Mặt khác, con người là một sinh vật có tư duy, sống theo tổ chức cộng đồng Khi nghiên cứu con người, xã hội học không chỉ quan tâm đến từng con người riêng biệt mà còn quan tâm đến con người tồn tại trong mối quan

hệ ràng buộc, tương tác với nhau Bản chất xã hội của con người thể hiện

ở những góc độ khác nhau

- Từ góc độ tự nhiên, con người là sinh vật bậc cao, có bản năng sinh

tồn duy trì nòi giống Bản năng tự nhiên của con người được quy định bởi quá trình tiến hóa lâu dài của loài người từ thế giới tự nhiên, nằm trong vô thức Bản năng tự nhiên con người thể hiện ở hai mặt chủ yếu: bản năng sinh tồn dẫn đến sự tham lam, tư hữu, đấu tranh hoặc nương tựa vào kẻ khác để bảo vệ mình và bản năng duy trì nòi giống (kích thích sinh dục, tạo nên cảm xúc và nhu cầu gắn bó với người khác giới)

- Từ góc độ xã hội, con người là một thực thể xã hội và văn hóa Con

người được xã hội truyền lại nền văn hóa xã hội và đã biến mình thành

Trang 2

con người xã hội Đó là quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội các "biểu tượng xã hội", các tập tục, lề thói Chính vì vậy, khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội, cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người

Sự thể hiện bản chất của con người không phải trực tiếp, mà thường

là gián tiếp, quanh co, phức tạp qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và

xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt

và lâu dài, giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền

tự nhiên và văn hoá xã hội, giữa yếu tố thực tại và yếu tố tâm linh hình thành trong con người Vì vậy, trong xã hội, con người chịu trách nhiệm với hành vi xã hội của mình

Từ hai cách hiểu như trên về bản chất con người, có thể nhận định rằng: Khi là một sinh vật, con người mang bản năng sinh tồn và chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh sinh tồn Khi là con người xã hội, con người chịu sự chi phối của quy luật cộng đồng Do vậy, con người luôn sống trong sự pha trộn của bản năng sinh tồn và quy luật cộng đồng để phát ra hành vi Trong cuộc sống thường ngày, con người luôn thực hiện hai dạng hành vi của chính mình là hành vi bản năng và hành vi ý thức Hành vi bản năng (hành vi vô thức) là hành vi sơ đẳng, hành vi bẩm sinh do bản năng sinh tồn của con người chi phối

Hành vi ý thức (hành vi trí tuệ) là những hành vi có suy nghĩ, có mục đích, do ý thức của con người chi phối

Về vấn đề này, trước đây, Aristote (384-322 TCN) đã quan niệm con người là "sinh vật xã hội" để diễn tả hai khía cạnh sinh học và xã hội của con người Trong cuộc sống tự nhiên, con người có các hoạt động sinh học để tồn tại và duy trì nòi giống Trong hoạt động xã hội con người là động vật bậc cao có suy nghĩ, có tư duy và tình cảm Theo K Marx, bản chất con người là "tổng hoà các quan hệ xã hội", là chủ thể của các hoạt động xã hội đồng thời phản ánh, hấp thụ các quan hệ xã hội Trong luận

đề 6 về Feuerbach, Marx viết: "Bản chất con người không phải là một trừu tượng bên trong mỗi cá nhân Trong tính hiện thực của nó, con

Trang 3

người là tổng hoà các quan hệ xã hội" H Korte nói "Mỗi người là một

xã hội nhỏ, mỗi xã hội là một người tổng quát"1

Vì vậy, nói đến con người là nói đến nhân cách mà mỗi cá nhân đã tạo dựng được cho mình trong quá trình xã hội hóa Xã hội hóa đã hoàn thiện nhân cách con người, biến các cá thể (cá thể sinh học) thành cá nhân (thực thể xã hội) và thành nhân cách (con người xã hội)

2 Khái niệm xã hội hóa

Hiện nay, khái niệm xã hội hóa được hiểu với nhiều nội dung khác nhau

Xã hội hóa dùng để chỉ sự tăng cường chú ý, quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội

mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm Những vấn đề cụ thể đó có ý nghĩa đối với xã hội nên từ chỗ chỉ một nhóm hay một bộ phận của xã hội quan tâm sau đó là toàn xã hội quan tâm Thông thường đây là những hoạt động có tính phổ quát rộng, rất nhiều người có nhu cầu, có điều kiện để nhân rộng và nhiều người đều có thể tham gia thực hiện được Xã hội hóa dưới góc độ này chính là sự kết hợp mang tính chất tự nguyện có ý thức chủ quan của nhiều cá nhân hay nhóm xã hội Chẳng hạn chúng ta thường nói: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế, xã hội hóa thể thao, xã hội hóa các công tác xã hội

Theo một nghĩa khác, xã hội hóa chỉ sự liên kết của nhiều hành

động, hoạt động cá biệt, riêng biệt thành hành động xã hội chung Đây là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu sản xuất xã hội và lý giải cho sự biến đổi của các phương thức sản xuất xã hội khác nhau Về đại thể xã hội hóa là sự liên kết của những hành động, hoạt động riêng biệt thành quá trình mang tính xã hội

Sự liên kết này mang tính khách quan, tự nhiên tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau của các cá nhân khi tham gia hành động hay tương tác xã hội Ví

dụ, những người cùng làm việc trong một dây chuyền sản xuất bị trói chặt vào nhau thành một "con người tập thể" theo cách diễn đạt của Marx Một cách hiểu khác, xã hội hóa là việc phổ cập, nhân rộng các giá trị vật chất và tinh thần từ một cá nhân hay một nhóm ra xã hội Ví dụ,

1 H Korte, 1995 Tr.21

Trang 4

người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xúc tiến quảng cáo sản phẩm của mình ra xã hội để nhiều người biết, mọi người biết hàng hóa của họ và hướng tới Xã hội hóa theo nghĩa này có thể do các cá nhân chủ động thực hiện hoặc do cơ chế tự động (lây lan) của xã hội Bởi vậy, trong quá trình xã hội hóa cần đặc biệt coi trọng dư luận xã hội Người Việt Nam có câu "hữu xạ tự nhiên hương" "Xạ" ở đây có thể hiểu theo

cả hai nghĩa tốt hoặc xấu

Tuy nhiên, xã hội học chỉ quan tâm nghiên cứu đến quá trình xã hội hóa

cá nhân

Con người khi mới sinh ra không mang bản chất xã hội mà chỉ mang bản chất tự nhiên vốn có của thế giới động vật Trong quá trình học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm xã hội, con người có sự phát triển vượt bậc Môi trường xã hội đã tạo ra sự thay đổi, biến con người từ động vật bậc cao trở thành con người xã hội sống đa dạng và phong phú Nói cách khác khái niệm xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật với đầy đủ các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người

Theo nhà xã hội học Mỹ, Neil Smelser, "Xã hội hóa là quá trình mà

cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình" 1 Với quan niệm này vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực Trong lịch sử nhân loại có những nhân cách lớn tạo ra hàng loạt những chuẩn mực, giá trị được thừa nhận và họ trở thành những người nổi tiếng thế giới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong định nghĩa mà Neil Smelser đưa ra vai trò cá nhân chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà chưa đề cập đến khả năng sáng tạo của cá nhân để xã hội học theo

Còn theo Fichter, "Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là sự chấp nhận một khuôn mẫu hành động

và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó" 2 Fichter đã quan tâm

đến vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa Ông nhấn mạnh tác động của cá nhân đến quá trình xã hội hóa Tuy nhiên, định nghĩa chưa

1 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.258

2 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.258

Trang 5

nói rõ được vấn đề cá nhân học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và lĩnh hội những kiến thức xã hội

Nhà xã hội học người Nga G Andreeva có định nghĩa "Xã hội hóa

là quá trình hai mặt: Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ

xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động

và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội"1 Theo định nghĩa trên, xã hội hoá là quá trình hai mặt Mặt thứ nhất, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào xã hội Ngược lại, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động các mối quan hệ thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các quan hệ xã hội Nói cách khác, cá nhân không chỉ đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa, biến đổi, sáng tạo nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo chúng trong xã hội

Theo quan điểm của G Andreeva, tính chủ động của cá nhân thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình Tuy nhiên đây không phải là sự chủ động của cá nhân trong quá trình thực hiện xã hội hóa của bản thân mình mà là hoạt động hình thành môi trường và điều kiện cho quá trình xã hội hóa của các cá nhân khác trong xã hội

Như vậy, có nhiều quan niệm về xã hội hóa nhưng điểm chung của các quan điểm này là đều có quá trình xã hội bắt đầu, diễn ra và kết thúc Quá

trình đó diễn ra có tính hai chiều: Thứ nhất, cá nhân chủ động thâm nhập

vào xã hội để thu nhận kinh nghiệm và các giá trị chuẩn mực từ xã hội mà

không thụ động chờ đợi xã hội truyền thụ Thứ hai, qua việc tiếp thu tri thức

và kinh nghiệm xã hội, cá nhân tự nghiên cứu, rèn luyện, hình thành những giá trị mới, đa dạng hơn để chủ động bổ sung vào hệ thống tri thức và kinh nghiệm cho xã hội Từ quá trình hai chiều đó giúp con người không chỉ hoàn thiện nhân cách mà còn phát triển nhân cách tốt hơn

Từ đó, ta có thể thống nhất khái niệm: Xã hội hóa là quá trình mà qua đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội nền văn hóa của xã hội như các khuôn

1

Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr.259

Trang 6

mẫu xã hội, quá trình mà nhờ nó cá nhân đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với vai trò

xã hội của mình, hòa nhập vào xã hội

Khái niệm xã hội hóa trên nhấn mạnh hơn tính chủ động của cá nhân trong quá trình thâm nhập vào xã hội để tự biến mình thành nhân tố xã hội Nhưng ẩn sau sự chủ động của cá nhân đồng thời là sự tác động, phản chiếu, "đóng dấu" của xã hội lên cá nhân đó

Xã hội hóa là việc "biến" con người tự nhiên thành con người xã hội,

là quá trình "nhào nặn" và "tự nhào nặn" ra con người xã hội Xã hội hóa diễn ra với tất cả mọi người nhưng mức độ không giống nhau Kết quả xã hội hóa cá nhân tùy thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên, khách quan (môi trường xã hội hóa) và chủ quan (năng lực tư duy, ý chí, nghị lực) của bản thân họ Những người sinh ra và tồn tại trong môi trường, điều kiện sống khác nhau có nhân cách khách nhau Ngược lại, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, nhiều người có cùng môi trường, điều kiện sống giống nhau nhưng nhân cách cũng không giống nhau

3 Cơ chế xã hội hóa

Quá trình xã hội truyền lại nền văn hóa cho mỗi cá nhân theo những cách khác nhau, bằng những cách đó cá nhân học hỏi được nền văn hóa

xã hội Những cách này được gọi là cơ chế xã hội hóa Có hai cơ chế xã hội hóa cơ bản

Cơ chế định chế: Cơ chế định chế là cơ chế mà xã hội truyền lại

những giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu bắt buộc cá nhân phải tuân theo Cá nhân phải trải qua quá trình học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, thực hành những gì tiếp nhận được vào trong cuộc sống của mình Nhờ đó mỗi cá nhân học được các tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội, học được những

kỹ năng lao động nhất định mà xã hội đã đạt được, đồng thời các cá nhân còn học được kinh nghiệm của những người đi trước để vận dụng vào cuộc sống

Cơ chế phi định chế: Cơ chế phi định chế là cơ chế trong đó mỗi cá

nhân học được ở xã hội những điều cần thiết một cách tự nhiên Cơ chế này được thực hiện thông qua hai cách chủ yếu, đó là:

Trang 7

- Bắt chước: Là sự tái tạo, lặp lại, sao chép các hành động, cách thức suy nghĩ và ứng xử của một người, hay một nhóm người trong xã hội Cá nhân sẽ lựa chọn những giá trị mình cho là đúng đắn để bắt chước làm theo Bắt chước là biện pháp cá nhân tiếp thu các kinh nghiệm xã hội và làm theo để tạo ra những giá trị cho bản thân mình

- Lây lan: Là quá trình truyền các hành vi xã hội từ người này qua người khác một cách tự nhiên Các hành vi xã hội được lan truyền ngay

cả khi họ không có ý định bắt chước hay học tập Trong lây lan, sự lan truyền hành vi xã hội ở người này sang người khác trong những điều kiện nhất định Đây là phương thức mà nhiều người học được những kinh nghiệm trong ứng xử xã hội và tạo ra những giá trị mới khi học hỏi và truyền lại vào xã hội

Trên thực tế có nhiều người nhận định vợ chồng thường có nét giống nhau Ở đây, sự giống nhau không chỉ nói đến hình thức mà còn cả những cử chỉ, biểu hiện và hành động Chính vì chung sống cùng nhau nên dần dần họ có những thói quen, cử chỉ, hành động có những điểm giống nhau Đây có thể được xem là sự lây lan từ người này sang người kia và ngược lại Những đứa trẻ trong gia đình có những hành vi mà bố

mẹ không dạy và không bắt chước ai, những hành vi đó gần như giống với bố mẹ chúng thời nhỏ Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam mới có câu: "Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh" để ám chỉ sự lan truyền từ

bố mẹ sang con cái

4 Vai trò xã hội hóa

Xã hội hóa tạo ra nhân cách, hoàn thiện và phát triển nhân cách của mỗi con người trong xã hội Tức là qua quá trình xã hội hóa con người được giáo dục, hoàn thiện và phát triển nhân cách

Nhân cách là một trong những vấn đề quan trọng trong xã hội học được các nhà xã hội học cũng như các tác giả ở các lĩnh vực khoa học khác quan tâm nghiên cứu Từ khi sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời, con người trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau Ở mỗi giai đoạn, con người đều để lại những dấu ấn mang tính đặc trưng, khác biệt so với mọi người và được xã hội nhìn nhận, đánh giá một cách tổng thể

Trang 8

Từ điển bách khoa Việt Nam (Nguyễn Văn Trương, Cù Huy Cận, Đặng Vũ Khiêu) giải thích nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách

là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc Mỗi cá nhân trải qua các giai đoạn nhất định của xã hội hóa mà đạt được khả năng, năng lực hoạt động để thể hiện vai trò của chính mình trong xã hội Hoàn thiện nhân cách của con người là cả một quá trình dài suốt cuộc đời của người ấy Sự hoàn thiện nhân cách đó phụ thuộc vào quá trình giáo dục xã hội

Xã hội hóa tạo ra sự hoàn thiện, phát triển nhân cách ở mỗi người

Cá nhân thể hiện vai trò của mình trong xã hội trong những điều kiện khác nhau Mỗi cá nhân sẽ chủ động tiếp nhận giá trị, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và sáng tạo tác động để xây dựng xã hội Quá trình đó giúp

cá nhân nâng cao chất lượng hành vi xã hội của mình, tham gia góp phần sáng tạo cho xã hội

Như vậy, con người luôn chủ động tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội để tạo nên nhân cách Mặt khác, con người sáng tạo ra những cái mới, cái tiến bộ hơn để xây dựng xã hội ngày càng phát triển Đây là quá trình phát triển nhân cách cá nhân ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện nhân cách được diễn ra trong các điều kiện xã hội nhất định Điều này đòi hỏi phải tạo ra môi trường xã hội lành mạnh cho con người nhằm tác động vào quá trình xã hội hóa theo hướng tích cực

II PHÂN ĐOẠN XÃ HỘI HÓA

1 Vấn đề phân đoạn xã hội hóa

Xã hội hóa cá nhân là một quá trình có bắt đầu và kết thúc Đến nay vẫn tồn tại một số quan niệm khác nhau về phân đoạn xã hội hóa Về cơ bản sự khác nhau giữa các cách phân đoạn xã hội hóa đều tập trung vào

Trang 9

vấn đề xã hội hóa bắt đầu từ đâu và kết thúc khi nào Vậy quá trình xã hội hóa bắt đầu và kết thúc khi nào?

Đa số các nhà khoa học đều cho rằng nó bắt đầu từ khi con người được sinh ra Số khác lại cho rằng bắt đầu từ khi thai nhi có thể phản ứng với những tác động từ bên trong hoặc bên ngoài Đã có những nghiên cứu chứng minh được rằng, thai nhi từ 6 - 7 tháng tuổi bắt đầu có những phản ứng với bên ngoài

Về điểm kết thúc quan điểm phổ biến của các nhà khoa học cho rằng

đó là một quá trình kéo dài hết đời người Số khác cho rằng nó kết thúc khi cá nhân trưởng thành về mặt sinh lý Cá biệt cho rằng xã hội hóa tiếp tục khi cá nhân đó đã chết

Tuy vậy hầu hết các nhà xã hội học đều thống nhất rằng đây là một quá trình kéo dài từ khi con người sinh ra và kết thúc khi họ chết, nói cách khác xã hội hóa đi suốt cuộc đời mỗi con người Khi con người chưa được sinh ra, chưa tiếp xúc xã hội do vậy chưa thể tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm xã hội Khi con người trưởng thành về mặt sinh lý, được coi là "người lớn" nhưng nhân cách hầu như vẫn chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện Còn khi một người đã mất quá trình xã hội hóa đối với họ đã chấm dứt nhưng uy tín, ảnh hưởng của họ tham gia cấu thành nên môi trường xã hội hóa cho những người khác, thế hệ khác đang sống

Hình: Xã hội hóa và cuộc đời của một con người

Xã hội hóa Cuộc đời

Trang 10

Ngoài ra, một vấn đề khác cũng được nhiều nhà xã hội học quan tâm

là sự khác biệt trong quá trình xã hội hóa ở người lớn và trẻ em Họ cho rằng, trong quá trình xã hội hóa, người lớn thường thay đổi hành vi của mình ở các quá trình xã hội hóa, trong khi trẻ em lại tạo lập và thu nhận lấy các giá trị căn bản; người lớn có thể phán xét, đánh giá về các giá trị chuẩn mực mà họ cần phải tuân theo còn trẻ em thì thông thường chỉ thụ động tiếp nhận; quá trình xã hội hóa ở người lớn được thiết kế nhằm giúp các cá nhân có thể có được những kỹ năng nhất định Còn ở trẻ em liên quan nhiều đến các động cơ hành động

2 Các giai đoạn của quá trình xã hội hóa

Phân chia giai đoạn của quá trình xã hội hóa có rất nhiều cách khác nhau dựa trên nhiều căn cứ khác nhau Hiện nay, phân đoạn xã hội hóa chưa có sự thống nhất quan điểm với nhau, vì vậy tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà ta có các cách phân đoạn nhất định, sau đây là phân đoạn của một số nhà xã hội học tiêu biểu

a Phân đoạn quá trình xã hội hóa của các nhà triết học cổ phương Đông

Các nhà triết học cổ phương Đông dựa vào năng lực hành vi xã hội chia quá trình xã hội hóa ra thành 3 giai đoạn

- Giai đoạn vị thành niên: Là giai đoạn phân cách của đứa trẻ đang hình thành, bắt đầu từ lúc sinh ra và đến dưới 18 tuổi Cá nhân tiếp thu tri thức, kinh nghiệm xã hội để tạo ra nhân cách riêng cho mình Giai đoạn này đứa trẻ chưa tự lập và chưa nhận thức được hết những gì diễn ra trong cuộc sống, vì vậy, nó chưa chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình Chính vì vậy quá trình dạy bảo đứa trẻ trong giai đoạn này rất quan trọng bởi nó là bước đầu tiên trong hình thành nhân cách của một con người và ảnh hưởng lâu dài đến sự hình thành nhân cách của họ Lúc này, vai trò của nhà trường và gia đình là rất quan trọng trong việc định hình nhân cách cho đứa trẻ

- Giai đoạn thành niên: Từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi Trong giai đoạn này, nhân cách của đứa trẻ tiếp tục được củng cố và phát triển Cá nhân tiếp tục học tập để tiếp thu tri thức và kinh nghiệm nâng cao sự hiểu biết

Trang 11

và năng lực hành vi cá nhân Lúc này, cá nhân đã phải tự chịu trách nhiệm đối với hành vi xã hội của mình

- Giai đoạn tự lập trong cuộc sống: Bắt đầu từ 30 tuổi đến lúc qua đời Trong giai đoạn này con người có thể tự lập hoàn toàn trong suy nghĩ và hành động Cá nhân bộc lộ tính độc lập, tự chủ, sáng tạo cao và khả năng cống hiến nhiều cho xã hội Trong giai đoạn này nhân cách của con người vẫn được củng cố và phát triển Những hành vi của cá nhân đã hoàn thiện và thể hiện sự phát triển sâu trong nhận thức

Phân đoạn quá trình xã hội hóa theo quan niệm này giúp cho ta thấy

rõ trách nhiệm và vai trò xã hội đối với cá nhân trong suốt cuộc đời của

họ Trong nghiên cứu các vấn đề xã hội, đặc biệt là luật pháp thì giai đoạn thành niên trở đi là giai đoạn con người có năng lực hành vi pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi xã hội của mình

b Phân đoạn của nhà xã hội học người Mỹ, G Mead

Theo Mead, kết quả của quá trình xã hội hóa là một nhân cách gồm hai thành phần của cái tôi Cái tôi chủ động và cái tôi bị động Quá trình này trải qua 3 giai đoạn:

- Bắt chước: Đây là giai đoạn mà con người sao chép hành vi của người khác theo cơ chế bắt chước một cách bị động hoặc chủ động Đứa trẻ thấy người lớn làm bất cứ việc gì nó cũng có thể bắt chước làm theo

Sự bắt chước này có thể chủ động hoặc bị động, chưa mang tính nhận thức Chính vì vậy, người lớn trong quá trình chăm sóc đứa trẻ cần làm gương cho nó học tập và bắt chước theo

- Đóng vai: Đây là giai đoạn mà con người đã nhận thức được những hành vi tương ứng với vai trò xã hội nhất định, đặc biệt là các vai trò trong phạm vi quan sát được Chẳng hạn khi trẻ con chơi với nhau chúng rất hay nghĩ đến việc đóng vai Chúng chơi trò bố mẹ và con cái Đứa trẻ đóng vai bố hoặc mẹ, nó nựng yêu hoặc mắng đứa trẻ bé hơn giống như

bố mẹ mắng mình Hay có lúc những đứa trẻ đó lại thích đóng vai cô giáo và học sinh Việc chuyển vai này giúp cho những đứa trẻ hình thành khả năng hiểu được những suy nghĩ và hành động của người khác trong khi thực hiện các vai trò đó Đây là một bước quan trọng của việc hình thành nhân cách

Trang 12

- Trò chơi: Ở giai đoạn này, đứa trẻ cần phải biết được sự đòi hỏi không phải chỉ của một cá nhân nào đó mà của cả xã hội Giai đoạn này giúp cái tôi trong mỗi con người không chỉ bị động tiếp nhận mà rất chủ động Con người phân biệt rõ cái chung của xã hội và cái riêng của cá nhân, phân biệt rõ mình, người khác và cộng đồng Đó là cơ sở để con người hòa chung vào cuộc sống cộng đồng

c Phân đoạn xã hội hóa của nhà xã hội học người Nga,

Giai đoạn trẻ thơ: Là giai đoạn đứa trẻ tiếp thu một cách thụ động,

máy móc các hành vi và là giai đoạn vui chơi ở nhà hoặc ở những nơi nó được đưa đến Giai đoạn này từ lúc trẻ sinh ra đến lúc đi học

Giai đoạn học hành: Là giai đoạn đứa trẻ tiếp nhận tri thức và kỹ

năng lao động Vì vậy, giai đoạn này đứa trẻ đã có sự tiếp nhận các hành

vi một cách có mục đích, có ý thức Đứa trẻ càng lớn lên thì hành vi tiếp nhận càng có tính chọn lọc để tự hình thành cho mình năng lực hành vi riêng

- Giai đoạn lao động: Đánh dấu bằng việc từ khi cá nhân bắt đầu tham gia lao động và kết thúc khi không còn tham gia lao động nữa (về hưu) Trong giai đoạn này, cá nhân vừa tiếp thu kinh nghiệm xã hội, vừa tích lũy kinh nghiệm, vừa bộc lộ năng lực hành vi trong các hoạt động hàng ngày Giai đoạn này được đánh giá là vô cùng quan trọng trong quá trình xã hội hóa bởi con người tiếp thu, củng cố, phát triển các tri thức, kinh nghiệm xã hội để nâng cao năng lực hành vi cá nhân Hơn nữa lao động giúp con người hiểu rõ được cái tôi và cái chúng ta để sống hòa đồng vào cộng đồng xã hội Lao động giúp thể hiện vai trò của cá nhân trong xã hội, thể hiện năng lực hành vi cá nhân có ích cho xã hội và tham gia đóng góp, xây dựng xã hội phát triển

Trang 13

- Giai đoạn sau lao động: Đó là khi cá nhân kết thúc quá trình lao động của mình, về nghỉ hưu Tuy nhiên, hiện nay đang có hai quan điểm trái ngược nhau về giai đoạn sau lao động của G Andreeva Có quan niệm cho rằng, khái niệm xã hội hóa hoàn toàn không có ở giai đoạn này

vì chức năng xã hội của nó bị thu hẹp lại Tức là không có chuyện người già tiếp thu kinh nghiệm xã hội, hay thậm chí sản xuất ra nó Quan niệm thứ hai cho rằng cần phải nhìn nhận một cách tích cực đối với quá trình

xã hội hóa ở giai đoạn này bởi vì xã hội hiện đại ngày nay đã kéo dài tuổi thọ của con người và đồng thời cũng tạo ra các điều kiện phát huy tính tích cực xã hội của người già Nhiều người già đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo các kinh nghiệm xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, thông tin được phổ biến rộng rãi có tính chất quốc tế, đòi hỏi xã hội phải tái tạo các kinh nghiệm và truyền lại những kinh nghiệm, những giá trị cho thế hệ trẻ

III MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI HÓA

Môi trường xã hội hóa là nơi các cá nhân thực hiện các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận, tái tạo kinh nghiệm và những giá trị chuẩn mực trong xã hội Con người được đánh giá là động vật bậc cao, phát triển hoàn thiện hơn các sinh vật khác nhưng con người không thể trở thành một nhân cách hoàn thiện nếu không được đặt trong môi trường xã hội Bởi môi trường xã hội chính là nơi con người học hỏi, tích lũy những giá trị kinh nghiệm sống xã hội Môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành con người xã hội hoàn chỉnh về nhân cách, năng lực và trí tuệ Người ta thường ví, môi trường xã hội như

là "vườn ươm nhân cách" Các nhà xã hội học đều nhất trí cho rằng môi trường xã hội hóa gồm các loại chủ yếu sau:

1 Gia đình

Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng bậc nhất Khi mới sinh ra, con người hoàn toàn phụ thuộc vào người khác trong việc đáp ứng các nhu cầu của mình Gia đình dạy cho trẻ những kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn hóa và dần dần trẻ em kết hợp được nó vào ý thức của cá nhân Thông qua quá trình đó, gia đình không

Trang 14

chỉ đưa trẻ em đến với thế giới mà còn đặt chúng vào trong xã hội Qua

đó, con người dần hình thành cái tôi cá nhân, hoàn thiện và phát triển nó cho đến hết cuộc đời Gia đình là môi trường đầu tiên truyền thụ trực tiếp cho trẻ những đặc điểm xã hội nổi bật như truyền thống, tôn giáo, đạo đức, Trước khi đứa trẻ đủ lớn khôn để thực sự hiểu được vấn đề thì nó

đã có thể nắm bắt được vị trí của mình trong cấu trúc xã hội do gia đình xác lập Khi trưởng thành, cá nhân có thể thay đổi vị trí của mình trong cấu trúc đó thông qua sự học hỏi, tiếp thu và tái tạo những giá trị xã hội Mặt khác, gia đình cũng là nơi đầu tiên truyền cho những thành viên mới sinh ra của xã hội những ý niệm về giống phái, giới tính… Môi trường gia đình truyền lại những giá trị cuộc sống cho đứa trẻ Những yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội, những giá trị xã hội thừa nhận… dần dần đứa trẻ được tiếp nhận thông qua môi trường xã hội hóa là gia đình

Ví dụ, trong gia đình, trong hầu hết các nền văn hóa, trẻ nhỏ được dạy rằng con trai cần phải mạnh mẽ, dũng cảm và con gái cần phải dịu dàng Quá trình xã hội hóa trong gia đình được xem xét ở ba khía cạnh

- Thiết chế gia đình: Là những quy định trong hành vi và lối sống, nhằm tạo ra sự thống nhất các hành động trong gia đình

- Giáo dục gia đình: Là sự truyền lại những cái đúng, cái sai và tri thức cho mỗi cá nhân nhằm tạo ra những tri thức cao và hành vi đúng cho mỗi cá nhân

- Hành vi của mỗi người lớn trong gia đình thể hiện nhân cách của

họ Những hành vi này sẽ truyền lại cho các thế hệ sau bằng các con đường bắt chước và lây lan Chính vì vậy, những người lớn trong gia đình phải là các tấm gương mẫu mực trong hành vi để con trẻ noi theo Những giá trị gia đình truyền thụ cho trẻ em đều có chủ ý, theo lối

mô phạm đơn thuần Chính trong môi trường gia đình, trẻ em sẽ học được từ người lớn những hành động trong cuộc sống hàng ngày mà đôi khi bản thân người lớn không có chủ đích dạy bảo Bởi vậy, người lớn trong gia đình sẽ trở thành tấm gương soi và phản chiếu vào đứa trẻ trong mỗi hành động, cử chỉ, suy nghĩ và lối sống Qua đó, đứa trẻ dần nhận thức về bản thân mình sâu sắc hơn Nó biết những giá trị sức mạnh của bản thân là mạnh mẽ, thông minh hay những yếu điểm tối dạ, nhút nhát

Trang 15

Thậm chí, qua môi trường giáo dục gia đình, đứa trẻ biết mình được yêu thương hay bị ghét bỏ Thế giới bên ngoài có những gì hấp dẫn, tươi vui

và có những rủi ro, nguy hiểm gì thì môi trường gia đình là nơi chỉ ra cho đứa trẻ đầu tiên

Quá trình truyền thụ của gia đình cho mỗi cá nhân thông qua rất nhiều yếu tố như thiết chế gia đình, giáo dục gia đình, hành vi của người lớn, truyền thống gia đình, lối sống gia đình tạo ra môi trường tiểu văn hóa Môi trường gia đình được xây dựng trên nền tảng của văn hóa chung của xã hội nhưng lại mang những đặc thù riêng của từng gia đình Các cá nhân sẽ tiếp nhận các đặc điểm của tiểu văn hóa như những kinh nghiệm sống, các giá trị, các quy tắc ứng xử từ các thành viên trong gia đình để hoàn thiện và phát triển nhân cách bản thân

Đến giai đoạn trưởng thành xây dựng gia đình, những tiểu văn hóa mới lại được tiếp tục hình thành với những đặc trưng riêng của nó, đó là

sự pha trộn giữa văn hóa chung của xã hội, tiểu văn hóa gia đình cũ và của chủ nhân gia đình mới (người kết nối và tạo dựng văn hóa mới) Quy trình này là quá trình liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác

2 Trường học

Trường học là nơi con người bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng

xã hội, tương tác với những thành viên bên ngoài xã hội Môi trường này dạy dỗ cho con người nhiều điều khác so với nền tảng trong gia đình Nhà trường dạy cho trẻ em những kiến thức và kỹ năng, tri thức của nhân loại từ đơn giản đến phức tạp Nếu như ở môi trường gia đình trẻ được truyền thụ những giá trị căn bản ban đầu thì ở môi trường nhà trường sự truyền thụ đó có tính đa dạng hơn rất nhiều Môi trường nhà trường tạo cho cá nhân nhận thức rõ ràng hơn về vị trí của mình trong cấu trúc xã hội Sự nhận biết các khía cạnh của cuộc sống của mỗi cá nhân được nâng cao nhờ môi trường xã hội hóa từ nhà trường Trường học cũng là

bộ máy hành chính đầu tiên mà hầu hết trẻ em được tiếp xúc, những thời khóa biểu, nội quy cho chúng có ý niệm về một nhóm, tổ chức lớn cũng như vai trò là một bộ phận trong đó

Nhà trường là môi trường xã hội hóa rất quan trọng vì đa phần trẻ

em trước khi trưởng thành, bước vào giai đoạn tự lập, lao động và hoạt

Trang 16

động xã hội đều phải trải qua môi trường xã hội hóa này Nhà trường giáo dục và đào tạo con người đáp ứng được nhu cầu của xã hội và phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân trong xã hội Trong xã hội hiện đại với

sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, của tri thức nhân loại vừa đòi hỏi vừa tạo điều kiện để cá nhân được học tập, đào tạo lâu dài, liên tục Xã hội hóa trong nhà trường thường hướng vào những vấn đề cơ bản:

- Giáo dục tri thức: Là trang bị cho người học các tri thức của nhân loại về tự nhiên, xã hội, con người và những kỹ năng khác trong hoạt động nhận thức, lao động của mỗi cá nhân Con người sẽ dần hoàn thiện

về năng lực làm việc và nhận thức cao hơn

- Giáo dục nhân cách: Các giá trị chuẩn mực, các khuôn mẫu xã hội thừa nhận được nhà trường giảng dạy cho mỗi người học Môi trường nhà trường định hướng, dẫn dắt để cho người học chọn và thể hiện hành

vi của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội nhất định Giáo dục nhân cách rất quan trọng đối với con người nhất là hiện nay khi các giá trị chuẩn mực xã hội đang có nhiều biến đổi, tác động xấu từ môi trường

xã hội lan truyền nhanh, thâm nhập sâu vào cả các nhà trường

Giáo dục tri thức và giáo dục nhân cách được nhà trường sử dụng bằng các phương pháp, công cụ khác nhau để đạt được kết quả cao nhất Thông qua các hoạt động của nhà trường đáp ứng các yêu cầu giáo dục của xã hội, phù hợp với quy định của xã hội Hoạt động của nhà trường mang tính giáo dục cao, giúp cho người học có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội Bên cạnh đó, trong môi trường nhà trường, hành vi của thầy cô giáo và các nhân viên khác được coi là chuẩn mực và gương mẫu mà mỗi người học cần phải noi theo Chính vì vậy, họ sẽ trở thành tấm gương để người học nhìn vào và học tập, đặc biệt đối với những lứa tuổi trẻ nhỏ vừa bước vào tuổi đi học

3 Nhóm cùng vị thế

Cá nhân sống trong xã hội đều có khuynh hướng chọn cho mình vào nhóm xã hội phù hợp Quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội là yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhiều đến quá trình xã hội hóa Mỗi cá nhân đều

có nhu cầu sống, hoạt động và thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, giải trí Nhóm xã hội ra đời dựa trên những nhu cầu của con người trong quá trình đó

Trang 17

Có thể chia nhóm xã hội thành các nhóm cơ bản như sau:

- Quan hệ bạn bè: Gồm những người có quan hệ bình đẳng, cùng vị thế xã hội nên các cá nhân thường chia sẻ thái độ, tâm tư và cảm xúc với nhau

- Quan hệ đồng nghiệp: Là quan hệ của những người cùng hoạt động chung trong một nhóm lao động nào đó Quan hệ này vừa mang tính chất

tổ chức, vừa mang tính chất chia sẻ nghề nghiệp Quan hệ này cá nhân chia sẻ tình cảm, kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp

- Quan hệ đồng sở thích: Là quan hệ của những người theo một sở thích hoặc đồng suy nghĩ, quan điểm nào đó Quan hệ này giúp cho mỗi người tìm được sự hứng thú trong hoạt động và sự đồng cảm trong cuộc sống

Các nhóm xã hội tồn tại và tham gia vào các quá trình xã hội hóa chủ yếu dựa trên các quy tắc, quy chế của nhóm; hành vi của thành viên; các kinh nghiệm xã hội

4 Thông tin đại chúng và dư luận xã hội

Thông tin đại chúng là những nguồn tư liệu chứa đựng các thông tin (chữ viết, âm thanh, hình ảnh ) của xã hội truyền đến cá nhân thông qua các phương tiện sách vở, báo chí, truyền thanh, truyền hình, internet Trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nhiều trẻ em tiếp xúc với thông tin, truyền hình trước khi được đi học Phương tiện truyền thông đại chúng cung cấp cho các thành viên xã hội những thông tin đa dạng và có tác động lớn đến hành vi của họ Truyền thông mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội, những mẫu văn hóa mang tính tiêu chuẩn dưới cách nhìn phổ biến Tuy nhiên, truyền thông cũng có những mặt trái của nó Bên cạnh việc giáo dục nhân cách, chia sẻ thông tin tri thức… truyền thông cũng đem lại những hậu quả không mong muốn của con người

Chẳng hạn, khi đưa thông tin về một vụ án tội phạm trẻ vị thành niên trên truyền hình, internet nó sẽ trở thành bài học cảnh tỉnh cho các bậc phụ huynh quan tâm, dạy bảo con em mình Tuy nhiên, ngược lại đối với trẻ vị

Trang 18

thành niên thiếu nhận thức và hiểu biết xã hội, không được quan tâm giáo dục, nó có thể học làm theo để gây án

Rõ ràng, các thành viên của xã hội đều chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau do những gì mà các phương tiện truyền thông đem lại Trong lĩnh vực xã hội hóa, thông tin đại chúng có tính hai mặt Một mặt, nó tăng cường ý nghĩa của các giá trị, các chuẩn mực văn hóa cũng như các tri thức khoa học đa dạng và bổ ích thông qua các chương trình giáo dục, qua các nội dung được truyền đi Truyền thông phổ biến văn hóa, giúp các thành viên trong một xã hội gắn kết với nhau Mặt khác, các phương tiện này có thể làm méo mó, lệch lạc việc tiếp nhận các giá trị thông tin qua các chương trình không lành mạnh do tính thương mại hóa hoặc thiếu thận trọng của nhà lập chương trình truyền tin, dẫn tới trẻ em lầm tưởng những gì in ấn, truyền tải qua tivi, phim ảnh đều là những thứ được xã hội thừa nhận Điều này cản trở với quá trình giáo dục từ gia đình và nhà trường, cản trở việc xã hội hóa tích cực đối với

cá nhân Chính vì vậy, sự kiểm duyệt có định hướng thông tin đại chúng để loại bỏ những lệch lạc trong nhận thức xã hội là việc làm cần kíp, cấp bách hiện nay

Dư luận xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách con người

Dư luận xã hội có thể bổ sung, củng cố nhân cách nhưng cũng có thể hủy hoại nhân cách Mọi người có thể sử dụng dư luận xã hội để "đánh bóng", làm tăng uy tín cho bản thân hay cổ vũ cho những người mà họ muốn Ngược lại, người ta cũng có thể dùng dư luận xã hội bôi xấu, hạ thấp uy tín của người khác Đặc biệt, với những người có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng (người của công chúng) tác động của dư luận xã hội đến nhân cách của họ hay thông qua họ càng mạnh hơn

NỘI DUNG ÔN TẬP

1 Xã hội hóa và một số quan niệm về xã hội hóa

2 Cơ chế và vai trò của xã hội hóa

3 Môi trường xã hội hóa

4 Các giai đoạn của xã hội hóa

Trang 19

Chương 5

BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội đều không ngừng vận động và biến đổi Tất cả các xã hội đều ở trong một thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Mặt khác, trong điều kiện bùng nổ về khoa học - công nghệ, đặc biệt là viễn thông, internet sự biến đổi xã hội còn chứa đựng những yếu tố khó lường Việc nghiên cứu vấn đề biến đổi xã hội trở nên cấp thiết và hữu ích trong việc lý giải các hiện tượng xã hội đang diễn ra

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

1 Khái niệm biến đổi xã hội và một số khái niệm liên quan

a Khái niệm biến đổi xã hội

Xã hội cũng giống như thế giới tự nhiên luôn luôn vận động Nếu không vận động đó là xã hội "chết" Xã hội trong quá trình vận động sẽ tạo ra sự thay đổi dù nhỏ hay lớn, dù ít hay nhiều Có thể khẳng định sự biến đổi của xã hội là điều đương nhiên, tất yếu

Tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu, chúng ta thấy cụm từ "biến đổi xã hội" có thể được dùng dưới nhiều tên gọi khác và không có sự đồng nhất trong cách hiểu của các nhà khoa học về khái niệm này

Trong Từ điển xã hội học, Nguyễn Khắc Viện dùng khái niệm "thay

đổi xã hội" Theo đó, "thay đổi xã hội chỉ trạng thái vận động xã hội khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến hóa hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ " 1 Với cách tiếp cận này thay đổi xã hội diễn ra khi xã hội

có sự vận động trong tồn tại xã hội, ý thức xã hội hoặc kết hợp cả hai Thay đổi xã hội dùng để chỉ sự vận động xã hội từ một hình thái kinh tế -

xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác

1Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Tr 284

Trang 20

Một quan điểm khác cho rằng "Biến đổi xã hội là những sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời sống văn hóa xã hội"1 Quan điểm này hiểu biến đổi xã hội trên bình diện rộng hơn Có thể là biến chuyển các khuôn mẫu trong tổ chức hay trong các thiết chế xã hội… và diễn ra trên quy mô xã hội tổng thể

Từ điển xã hội học Oxford xem biến đổi xã hội không chỉ trên khía cạnh cấu trúc chính trị và cơ cấu xã hội vĩ mô mà còn thể hiện trong chuẩn mực, giá trị, khuôn mẫu hành vi, các mối quan hệ Đó có thể là những biến đổi từ cấp độ gia đình đến cấp độ toàn cầu, từ những biến đổi ngắn hạn đến những biến đổi dài hạn, những biến đổi quy mô nhỏ đến quy mô lớn

Theo tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa "Biến đổi xã hội là sự thay đổi có tính cơ cấu trong những tổ chức, trong những lối suy nghĩ qua thời gian"2 Như vậy, biến đổi xã hội diễn ra không chỉ trong cấu trúc của xã hội tổng thể mà còn diễn ra trong những nhận thức và suy nghĩ

Từ những quan điểm trên có thể khái quát thành hai cách hiểu cơ bản về biến đổi xã hội

- Hiểu theo nghĩa hẹp: Biến đổi xã hội là biến đổi về cấu trúc của xã hội (hay tổ chức xã hội), có ảnh hưởng sâu sắc tới phần lớn thành viên của xã hội đó Các nhà xã hội học theo quan niệm này chỉ quan tâm đến những biến đổi nào diễn ra ở tầm vĩ mô, có tác động lớn đến đa số thành viên của xã hội

Ví dụ, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam từ một xã hội phong kiến trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Việt Nam đều bị tác động và biến chuyển sâu sắc

- Hiểu theo nghĩa rộng: Biến đổi xã hội là sự thay đổi tình trạng xã hội hoặc nếp sống có trước Quan niệm này cho rằng chỉ cần tạo ra sự khác biệt dù nhỏ thì đó chính là biến đổi xã hội

Trang 21

Ví dụ: Phụ nữ Việt Nam trước kia có tục nhuộm răng đen Nhưng phụ nữ Việt Nam bây giờ không duy trì tục lệ này nữa

Cách hiểu theo nghĩa hẹp chỉ chú trọng đến những biến đổi ở tầm vĩ

mô Nhưng rõ ràng xã hội tồn tại, phát triển thông qua chính những thứ nhỏ nhất diễn ra trong cuộc sống của con người Hàng ngày con người tiến hành nhiều hành động xã hội, thực hiện tương tác xã hội, quan hệ xã hội Tức là nói đến biến đổi xã hội phải tính cả biến đổi lớn và biến đổi nhỏ, cả tác động lớn đến tác động nhỏ

Tất nhiên cần hiểu rằng dù theo nghĩa rộng hay hẹp, các nhà xã hội học rất ít quan tâm đến những biến đổi chỉ tác động đến một vài cá nhân riêng lẻ

Rõ ràng có rất nhiều quan niệm khác nhau về biến đổi xã hội, tuy vậy theo quan niệm của GS Phạm Tất Dong và TS Lê Ngọc Hùng thì,

"biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó những khuôn mẫu của các hành

vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian" 1

b Một số khái niệm liên quan

Có nhiều cách hiểu khác nhau về biến đổi xã hội mà nguyên nhân chính liên quan đến cách nhìn nhận, góc độ tiếp cận của các tác giả Ngoài ra, bản thân khái niệm biến đổi xã hội có nhiều điểm tương đồng với một vài khái niệm khác Để hiểu kỹ hơn về biến đổi xã hội chúng ta cần làm rõ một số khái niệm liên quan

- Biến cố xã hội Biến đổi xã hội là sự kiện xảy ra và chắc chắn đem

lại sự thay đổi nào đó Trong khi đó, biến cố xã hội là những sự kiện xã hội xảy ra có thể đem lại hoặc không đem lại sự thay đổi nào trong đời sống xã hội Ví dụ, một cuộc bầu cử, một cuộc biểu tình, một cuộc đình công

- Tiến bộ xã hội Tiến bộ xã hội giống như biến đổi xã hội đều là quá

trình vận động, dẫn đến một sự thay đổi nào đó Những biến đổi xã hội

có thể tạo ra sự thay đổi tích cực và cũng có thể là tiêu cực của xã hội Trong khi đó, tiến bộ xã hội lại tạo ra sự biến đổi có ý thức theo chiều

1 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới Tr 279

Trang 22

hướng tích cực và được mong đợi của xã hội Sự tiến bộ xã hội thường trên cơ sở nhu cầu của xã hội hướng vào các giá trị có ưu thế và đòi hỏi

có sự định hướng từ trước Ví dụ, theo quan điểm của K.Marx, loài người trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Hình thái sau phát triển cao hơn hình thái trước Đó chính là sự tiến bộ xã hội

- Tiến hóa xã hội Tiến hóa xã hội là khái niệm chịu ảnh hưởng

nhiều từ thuyết tiến hóa trong lĩnh vực sinh học, tự nhiên của Charles Darwin (1809-1882) Tiến hóa xã hội cũng giống như tiến hóa cơ thể Nó phải tuân theo một quy luật nhất định, chuyển từ cái thuần nhất, đơn giản sang cái không thuần nhất, phức tạp thông qua phân hóa để đạt tới sự thống nhất Những biến đổi bên trong ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng kéo theo sự tiến hóa và sự tiến hóa này diễn ra đôi khi nhanh chóng ở phương diện vật chất và chậm hơn ở phương diện tinh thần Nhà xã hội học Spencer đã xếp xã hội học vào loại tiến hóa siêu hữu cơ, là cơ thể đặc biệt của xã hội

- Phát triển xã hội Gần đây, bên cạnh sự tiến hóa xã hội người ta đề

cập nhiều đến sự phát triển xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển xã hội, nhưng có thể thống nhất theo quan điểm của Liên Hiệp quốc đưa ra như sau: phát triển xã hội là một quá trình trong đó toàn thể loài người áp dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình, qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược được của quá trình đó Sự phát triển xã hội đặc biệt trong thời đại ngày nay liên quan rất nhiều đến quá trình tương tác giữa cách mạng khoa học - công nghệ với cách mạng xã hội

2 Phân loại biến đổi xã hội

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của biến đổi xã hội, người ta chia thành hai cấp độ

- Biến đổi xã hội tầm vĩ mô: Là những biến đổi diễn ra trên phạm vi lớn, trong khoảng thời gian dài và rất chậm chạp Biểu hiện rõ ràng nhất chính là sự biến đổi các hệ thống cấu trúc xã hội Ví dụ, sự biến đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp ở rất nhiều quốc gia trên thế giới

Trang 23

- Biến đổi xã hội tầm vi mô: Là những biến đổi nhỏ, nhanh được tạo

ra bởi những quyết định, hành vi trong quan hệ tương tác của con người hàng ngày Biểu hiện rõ nhất của biến đổi xã hội tầm vi mô là sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, hành vi của các cá nhân và nhóm nhỏ Ví dụ, nhận thức của các cá nhân về tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ trong xã hội Việt Nam hiện nay đang thay đổi theo chiều hướng ngày càng coi trọng, đề cao môn học này Bên cạnh những môn học được coi

là chính theo quan niệm truyền thống như Toán, Văn thì rất nhiều bậc cha mẹ, đặc biệt ở khu vực thành thị, đã đầu tư cho con em mình tham gia học ngoại ngữ ngay từ khi còn nhỏ

3 Đặc điểm của biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội có 3 đặc điểm cơ bản:

- Biến đổi xã hội có tính phổ biến nhưng lại không giống nhau giữa các yếu tố trong từng xã hội và giữa các xã hội với nhau

Mọi xã hội đều biến đổi Không có xã hội đứng im, bất biến Ngay

cả một xã hội vẫn được gọi là ổn định, thì sự ổn định đó chỉ là bề ngoài Bên trong nó không ngừng vận động, thay đổi Sự biến đổi nằm trong bản chất của đời sống xã hội Biến đổi diễn ra ở bất kỳ xã hội nào, bất cứ yếu tố nào trong xã hội

Tuy nhiên tốc độ biến đổi nhanh chậm của các yếu tố trong xã hội không giống nhau William F.Ogbum cho rằng văn hóa vật chất thường thay đổi nhanh hơn văn hóa tinh thần Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, vật chất quyết định ý thức, vật chất là yếu tố thay đổi trước, đến một giới hạn nhất định nào đó dẫn đến thay đổi về tinh thần

Ví dụ, quá trình đô thị hóa nông thôn Việt Nam hiện nay Bộ mặt nông thôn thay đổi nhanh chóng bằng việc xuất hiện những ngôi nhà, đường xá, khu dịch vụ, vui chơi giải trí… mang hơi hướng thành thị Nhưng những tập tục, nếp sống, thói quen đặc trưng của từng vùng quê thay đổi chậm hơn, thậm chí nếu để biến đổi nó đòi hỏi quá trình dài Mức độ, phạm vi của sự biến đổi không giống nhau từ xã hội này đến xã hội khác Tốc độ của sự biến đổi xã hội phụ thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật Xã hội có nền khoa học kỹ thuật càng phát triển

Trang 24

thì sự biến đổi xã hội diễn ra càng nhanh Các xã hội săn bắn hái lượm vẫn có sự từ bỏ cái cũ, chấp nhận lối sống mới nhưng quá trình đó diễn ra rất chậm chạp, trải qua hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu năm Đối với xã hội công nghiệp thì sự thay đổi đó đôi khi chỉ mất vài thập kỷ hoặc chỉ là một vài năm

- Biến đổi xã hội có khác biệt về thời gian và hậu quả của chúng đối với đời sống xã hội

Có những biến đổi diễn ra trong thời gian ngắn và không có ảnh hưởng lâu dài Nhưng cũng có những biến đổi diễn ra trong thời kỳ dài, ảnh hưởng sâu rộng đến hầu hết mọi thành viên sống trong xã hội

Người ta vẫn thấy hàng năm, xu hướng thời trang trên thế giới có sự thay đổi Việc ưa chuộng màu sắc gì, kiểu quần áo nào đôi khi chỉ xuất hiện trong năm đó, tạo ra sự thay đổi bên ngoài của con người, không có ảnh hưởng lớn với đời sống xã hội Nhưng có thay đổi diễn ra có mức độ ảnh hưởng quá lớn tới hầu hết các thành viên trong xã hội Chẳng hạn như việc xuất hiện internet, du nhập internet vào trong từng quốc gia, ảnh hưởng của nó đến tất cả thành viên già, trẻ, nam, nữ trong xã hội

Mức độ ảnh hưởng của biến đổi xã hội phụ thuộc vào tính chất, phạm vi của biến đổi xã hội Cũng có biến đổi xã hội tạo ra những ảnh hưởng tích cực, cũng có biến đổi xã hội dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực Thậm chí có biến đổi xã hội có tác động theo cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực tới đời sống xã hội

Người ta vẫn nói tính hai mặt của xu hướng toàn cầu hóa Nó tạo ra

cơ hội, đồng thời cũng dẫn đến thách thức, khó khăn cho các quốc gia tham gia Các quốc gia sẽ biến đổi nhanh chóng khi chấp nhận xu hướng toàn cầu hóa, đứng vào trong cuộc chơi đó

- Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch

Phần nhiều các biến đổi xã hội đều do con người tạo ra dù trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay tự phát Tuy vậy, có nhiều biến đổi xã hội xuất phát từ kế hoạch, chủ tâm của con người, do con người tự giác, chủ động tạo ra nên có thể kiểm soát được Nhưng cũng có những biến đổi xã hội khó kiểm soát nếu biến đổi đó không nằm trong chủ tâm của con người, biến đổi mang tính tự phát, bị động

Trang 25

Không phải lúc nào biến đổi xã hội do con người tạo ra, con người cũng kiểm soát được Những biến đổi này nằm ngoài nhận thức và khả năng kiểm soát của con người tương tự hành động xã hội và hậu quả không chủ định đã phân tích Con người dù tài giỏi đến đâu cũng không bao giờ nhận diện hết hoàn cảnh, môi trường xung quanh, lường hết mọi tình huống, khả năng có thể xảy ra Đó chính là nguyên nhân của những biến đổi xã hội mang tính phi kế hoạch

Những biến đổi xã hội do tự nhiên gây ra (động đất, sóng thần, trái đất nóng lên ) lại càng khó kiểm soát bởi tính phi kế hoạch của thiên nhiên Hiện nay, khoa học đã phát triển, nhưng những gì thuộc về tự nhiên vẫn là bí ẩn đối với con người, đa số nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Ước muốn chinh phục tự nhiên luôn tồn tại trong các thế hệ

từ ngàn đời nay Vì khó nắm bắt nên những biến đổi xã hội do tự nhiên gây ra lại càng nằm ngoài dự tính của con người

II CÁC QUAN ĐIỂM VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

1 Quan điểm của các nhà xã hội học theo chủ nghĩa xã hội không tưởng

Tiêu biểu là H.Saint Simon (1760-1825), C.Furie (1772-1837) và R.Owen (1771-1858) Họ cho rằng xã hội biến đổi trải qua các giai đoạn khác nhau và tuân theo những quy luật nhất định Những biến động xã hội, thay thế xã hội cũ lạc hậu bằng xã hội mới văn minh hơn - một xã hội lý tưởng - là tất yếu, mà nguyên nhân do tiến bộ của tri thức khoa học, của tôn giáo và đạo đức (Saint Simon) hoặc do xung đột xã hội và giải quyết xung đột đó (C.Furie)

Cần thiết phải thực hiện cải cách xã hội từ bên trên theo những thiết chế mà họ nghĩ ra để thực hiện sự bình đẳng và công bằng xã hội Thực

tế chưa thể xây dựng được xã hội như vậy vì những điều kiện tiền đề cho chúng chưa sẵn sàng Sự tính toán của các nhà xã hội học thuộc chủ nghĩa xã hội không tưởng nhằm cải tạo trạng thái xã hội hiện thực thiếu thực tế và không kiểm soát được

Trang 26

2 Quan điểm của thuyết tiến hoá về xã hội

Thuyết tiến hoá xã hội dựa trên cơ sở thuyết tiến hoá của Darwin Các nhà xã hội vận dụng nó để giải thích sự biến đổi xã hội và hình thành nên thuyết tiến hoá xã hội Nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX do một số nhà xã hội học Tây Âu đưa ra, tiêu biểu là A.Comte, H.Spencer và E.Durkheim Nhìn chung thuyết tiến hóa xã hội giải thích sự biến đổi xã hội theo con đường tự nhiên, tuần tự, chậm chạp mà không cần thực hiện cách mạng xã hội Thuyết tiến hóa xã hội nhằm chống lại chủ trương đấu tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Theo Comte, xã hội loài người biến đổi qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn thần học (giai đoạn định hình xã hội - con người bất lực trước giới tự nhiên), giai đoạn siêu hình (giai đoạn hình thành của tôn giáo với niềm tin vào chúa và đấng cứu thế toàn năng) và giai đoạn thực chứng (giai đoạn khoa học - trí tuệ và tri thức khoa học là động lực với sức mạnh duy trì và phát triển xã hội) Theo thuyết này, sự biến đổi và phát triển của xã hội theo phương thức tiến hoá dần dần, không phải bằng đấu tranh xã hội với các bước nhảy vọt mà bằng khoa học, trí tuệ

Cách giải thích của Spencer về tiến hóa xã hội có điểm khác hơn với Comte, tuy vậy đều tuân thủ một nguyên tắc biến đổi xã hội, tiến bộ xã hội bằng con đường tiến hóa tuần tự Ông xây dựng một lý thuyết thống nhất về sự tiến hoá theo công thức chuyển từ cái thuần nhất, đơn giản sang cái không thuần nhất, phức tạp thông qua phân hoá để đến thống nhất Tiến hoá xã hội, cũng như tiến hoá của cơ thể, cũng chia làm ba loại: tiến hoá vô cơ, tiến hoá hữu cơ, tiến hoá siêu hữu cơ và ông xếp biến đổi xã hội vào tiến hoá siêu hữu cơ

3 Quan điểm của học thuyết Mác - Lênin

Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những người sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin giải thích sự biến đổi, phát triển xã hội loài người như một quá trình tự nhiên, phổ biến, trải qua các giai đoạn khác nhau, phát triển theo một quy luật từ thấp đến cao và trải qua năm giai đoạn, năm hình thái kinh tế xã hội khác nhau Trong đó, lực lượng sản xuất là yếu tố đóng vai trò quyết định Khi lực lượng sản xuất phát triển tới một trình độ (phạm vi, quy mô, tính chất) nhất định thì mâu

Trang 27

thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất cũ trở nên lỗi thời, lạc hậu, là lực cản đối với lực lượng sản xuất Để lực lượng sản xuất phát triển, sản xuất xã hội phát triển cần xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ lạc hậu, thay thế bằng quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn

Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện trên phương diện xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị Đó là mâu thuẫn đối kháng của hai giai cấp cơ bản, đối lập tồn tại trong một phương thức sản xuất, không thể dung hòa nhau về mặt lợi ích kinh tế Đấu tranh giai cấp là điều tất yếu trong xã hội có giai cấp Đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là cuộc cách mạng xã hội nổ ra Kết quả là quan hệ sản xuất cũ bị thay thế bởi quan hệ sản xuất mới Phương thức sản xuất mới ra đời mở đường cho sản xuất xã hội phát triển, thúc đẩy toàn bộ đời sống xã hội phát triển Một cuộc cách mạng còn lật đổ chính quyền cũ, thay vào đó chính quyền mới, xóa bỏ những cái lạc hậu, cải tạo cái cũ theo những giá trị mới, tiến bộ hơn Như vậy, cách mạng xã hội là đòn bẩy thúc đẩy sự thay đổi từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng Nói cách khác theo học thuyết Mác - Lênin đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao

4 Các quan điểm hiện đại

a Quan điểm tổng hợp

Hầu hết các quan điểm hiện đại đều nhấn mạnh yếu tố giai cấp, các hình thức xung đột trong mỗi xã hội và giữa các xã hội Tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài đã tạo ra sự biến đổi

xã hội Những yếu tố có thể ảnh hưởng tới biến đổi xã hội là:

- Môi trường vật chất: Bao gồm những biến động lớn và biểu hiện bất lợi của môi trường sinh thái do những nguyên nhân từ phía con người, là động lực tiềm ẩn thay đổi môi trường vật chất trong tương lai,

là động lực của sự biến đổi xã hội

- Công nghệ: Là tổng thể chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên liệu hay bán thành phẩm trong quá trình sản xuất để tạo sản phẩm hoàn chỉnh Đó chính là

Trang 28

sự áp dụng các kiến thức trong thực tiễn, là tri thức ứng dụng Nó có sức mạnh đối với sự biến đổi xã hội Công nghệ mới như: tin học, công nghệ gen, công nghệ nano đã tạo ra sức mạnh to lớn cho sự biến đổi xã hội, đồng thời cũng giúp cho các nhà lãnh đạo giám sát và quản lý xã hội

- Dân số và lao động: Là vấn đề quan trọng đối với sự biến đổi xã hội Sự gia tăng dân số và lao động, sự thay đổi về quy mô, mật độ dân

số và lãnh thổ ở từng vùng, từng ngành đã chứng tỏ điều đó

- Giao lưu văn hóa: Trong thời đại hiện nay, thời đại quốc tế hoá, giao lưu văn hoá đã trở thành yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình biến đổi xã hội Các lĩnh vực du lịch, thương mại quốc tế, công nghệ viễn thông toàn cầu là những yếu tố có tác động mạnh mẽ và sự giao lưu đã diễn ra trên phạm vi rộng, đa phương, đa chiều ảnh hưởng lớn đến sự biến đổi xã hội

- Xung đột xã hội: Là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp độ biến đổi xã hội Xung đột xã hội thường diễn ra do những mâu thuẫn về lợi ích và vì lợi ích, vì tranh giành sự kiểm soát các nguồn lực Chính điều này đã góp phần tạo ra sự biến đổi xã hội

b Quan điểm toàn cầu

Các nhà xã hội học hiện đại cho rằng để hiểu sự biến đổi xã hội hiện đại phải xem mỗi dân tộc, mỗi nền văn hoá dựa trên hai lý thuyết sau:

- Lý thuyết hiện đại hoá: Theo thuyết này sự biến đổi và phát triển của nhân loại là một quá trình tiến bộ và phát triển lâu dài, trong đó yếu

tố khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định tạo ra sự hiện đại hoá Hiện đại hoá là quá trình tất yếu, mang lại nhiều lợi ích cho con người, cho xã hội

- Lý thuyết hệ thống thế giới: Cho rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều là bộ phận của sự phân công lao động rộng lớn và không bình đẳng về quan hệ chính trị mà lợi ích của các nước đang phát triển phải chi phí cho các nước kém phát triển

Ngoài các lý thuyết trên còn có lý thuyết phụ thuộc Lý thuyết này khẳng định các quốc gia đã công nghiệp hoá và các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có những quan hệ phụ thuộc trên các lĩnh vực như: thương mại, công nghiệp và đầu tư

Trang 29

III NHỮNG NHÂN TỐ VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA SỰ BIẾN ĐỔI

XÃ HỘI

1 Những nhân tố của sự biến đổi xã hội

Có nhiều nhân tố liên quan đến sự biến đổi xã hội, cụ thể như sau:

- Nhóm các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên

Nhóm này bao gồm toàn bộ các yếu tố của điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, đất đai, sông núi, tài nguyên, khí hậu, hệ động, thực vật… Tiềm năng và sự phân bố các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống, hành vi và sự hoạt động ứng xử của con người

Thông thường sự ưu đãi của điều kiện tự nhiên, sự giàu có về tài nguyên tạo ra nguồn lực dồi dào, động lực cho sự biến đổi và phát triển Tuy nhiên, thực tế cho thấy nó diễn ra theo chiều hướng ngược lại, các nước có điều kiện tự nhiên thuận lợi thường sử dụng lãng phí, không hiệu quả các nguồn lực đó, còn các nước có điều kiện tự nhiên khó khăn thì biết

sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực này để đạt được sự phát triển

Sự thay đổi về môi trường sinh thái, đặc biệt là sự ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái cũng là nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến biến đổi xã hội

- Nhóm các nhân tố khoa học kỹ thuật và công nghệ

Khoa học công nghệ là một yếu tố cơ bản của sự biến đổi xã hội Quan điểm của thuyết kỹ trị cho rằng khoa học kỹ thuật và công nghệ là nhân tố quyết định sự biến đổi xã hội Xã hội loài người biến đổi và phát triển trải qua ba nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp, trong đó khoa học kỹ thuật và công nghệ gắn liền với các nền văn minh này

Nhờ có việc sử dụng rộng rãi công nghệ trong sản xuất đã thúc đẩy quá trình phân công lao động mới, quá trình đô thị hoá Khoa học công nghệ làm thay đổi nhận thức và quan điểm của các cá nhân theo chiều hướng tích cực, phát triển đời sống kinh tế - xã hội một cách rộng rãi… nhưng nó cũng gây ra tác hại cho con người như làm mất cân bằng môi trường sinh thái, phá vỡ giá trị truyền thống…

Trang 30

- Nhóm nhân tố chủ thể xã hội

Chủ thể xã hội là các thực thể xã hội tạo ra các hoạt động xã hội, bao gồm cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, thiết chế hay thể chế xã hội cùng quan hệ giữa chúng Nói đến chủ thể xã hội là nói đến quần chúng nhân dân, vừa là chủ thể đồng thời cũng vừa là đối tượng và tác nhân của sự biến đổi xã hội Ta biết cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, mà với sức mạnh tổng hợp của mình đã trở thành động lực cho sự biến đổi xã hội Bên cạnh đó vai trò cá nhân lãnh đạo cũng hết sức quan trọng, bởi vì những cá nhân này đã tập hợp được quần chúng nhân dân để tạo ra những biến đổi xã hội mạnh mẽ, sâu sắc

- Nhóm các nhân tố văn hoá - xã hội

Văn hoá: Việc hình thành nền văn hóa mới (với những niềm tin và

giá trị mới) cũng có thể tạo nên sự biến đổi xã hội Hơn nữa nhiều nhà xã hội học cho rằng sự thay đổi nhanh của khoa học kỹ thuật cũng tạo ra tư tưởng tiến bộ Sự tiến bộ của tư duy không chỉ là khả năng mà còn là một tất yếu mà nhờ nó có sự biến đổi xã hội

Cấu trúc xã hội mới: Thông qua cấu trúc xã hội mới, kỹ thuật công

nghệ được áp dụng vào thực tế tạo ra những ngành nghề mới, phân công lao động mới và cơ cấu xã hội mới, tổ chức xã hội mới

Những xung đột: Theo Marx, những mâu thuẫn, xung đột giữa các

giai cấp, chủng tộc, tôn giáo, các thế hệ, các giới xuất phát từ bất bình đẳng (bất bình đẳng giới, bất bình đẳng giai cấp ) Quá trình giải quyết những mâu thuẫn này đem đến sự biến đổi xã hội

Tăng trưởng dân số: Dân số tăng nhanh là một trong những động

lực chính gây ra biến đổi xã hội Những thay đổi về quy mô, cơ cấu dân

số theo những góc độ khác nhau: như lãnh thổ, giới tính, lứa tuổi có thể gây ra những biến đổi sâu sắc về văn hoá, xã hội, đồng thời kéo theo sự biến đổi về cấu trúc và tổ chức xã hội

Tư tưởng: Tư tưởng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy

hoặc kìm hãm biến đổi xã hội Học thuyết Mác - Lê nin thừa nhận vai trò của tư tưởng và lý luận trong sự biến chuyển của xã hội Thông thường sức ì của xã hội gắn liền với sự bảo thủ của tư tưởng, văn hoá truyền thống của những nhóm xã hội và ngược lại

Trang 31

2 Điều kiện biến đổi xã hội

Những điều kiện cần cho sự biến đổi xã hội, gồm:

Thời gian: Bất kỳ sự biến đổi nào cũng cần có thời gian Mặc dù

thời gian không tạo ra sự biến đổi, nhưng thời gian lại là điều kiện quan trọng để có thể diễn ra sự biến đổi, thay thế cái đã lạc hậu bằng cái tiến

bộ Điều này, được thể hiện rất rõ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội

Hoàn cảnh: Biến đổi xã hội rất cần có môi trường, hoàn cảnh để

triển khai các yếu tố đem lại sự biến đổi Con người vừa chịu sự chi phối của hoàn cảnh nhưng đồng thời cũng có thể tác động tích cực trở lại làm thay đổi hoàn cảnh

Nhu cầu xã hội: Mỗi xã hội đều có những nhu cầu của mình về văn

hoá, xã hội Đây chính là điều kiện quan trọng nhất để có được sự biến đổi trong xã hội

Con người luôn tìm tòi khám phá, phát hiện ra cái mới, do vậy nhu cầu xã hội là động lực thúc đẩy mạnh mẽ tư duy sáng tạo Sự đáp ứng nhu cầu xã hội thường đi đến sự biến đổi theo chiều hướng tạo ra cái mới, cái tiến bộ Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có cách đáp ứng các nhu cầu

xã hội khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Điều này xuất phát từ lợi ích của cá nhân hoặc nhóm xã hội trước một sự biến đổi xã hội

IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Một số biến đổi xã hội lớn trên thế giới

- Sự phức tạp, đa dạng hơn trong quan hệ quốc tế

Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, bức tranh chính trị trên toàn cầu có nhiều thay đổi Từ một thế giới tồn tại hai cực đối lập đứng đầu là Mỹ và Liên Xô chuyển sang thế giới đơn cực, nhất siêu và đa cường Các nước tập trung cho việc phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước Chính điều này dẫn đến xu hướng trên thế giới chuyển từ đối đầu chiến tranh sang đối thoại hòa bình Hòa bình ổn định và hợp tác phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới

Trang 32

Tuy nhiên, trên thế giới vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất ổn, vấn đề tranh chấp, xung đột… giữa các quốc gia diễn ra với biểu hiện ngày càng phức tạp Thế giới xuất hiện những "điểm nóng" trở thành nơi tranh chấp của nhiều quốc gia như việc tranh chấp quần đảo Curin giữa Nhật Bản và Liên Xô, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải ở biển Đông, hay căng thẳng ở eo biển Đài Loan…

Vấn đề khủng bố diễn ra phức tạp Sau thảm họa 11/9/2001 ở Mỹ, khủng bố quốc tế đang trở thành vấn đề toàn cầu đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc phải có những quan tâm đúng mức đến vấn đề này Khủng bố là một trong những hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người và đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế Trong những năm gần đây, hoạt động khủng bố có xu hướng gia tăng với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi và tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Khủng bố có tổ chức xuyên quốc gia đang trở thành thách thức lớn đối với hòa bình, an ninh quốc tế Một trong những biện pháp hữu hiệu mà cộng đồng quốc tế quan tâm đó

là hợp tác đấu tranh chống khủng bố, xác lập cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố

Trên thế giới còn xuất hiện hiện tượng một số nước phương Tây âm thầm can thiệp vào tình hình chính trị nội bộ của một nước đối thủ Chiến lược chính trị này của các nước tư bản chủ nghĩa vốn được sử dụng để chống lại các nước xã hội chủ nghĩa và được các nước xã hội chủ nghĩa gọi là diễn biến hòa bình Tuy nhiên, ngày nay việc can thiệp đó diễn ra ở nhiều nước khác nhau dù đó không phải là nước xã hội chủ nghĩa

Mâu thuẫn xã hội trên thế giới có xu hướng chuyển từ mâu thuẫn giai cấp là chủ yếu sang mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc Xung đột tôn giáo, sắc tộc là vấn đề nóng tạo ra sự rối ren của nhiều quốc gia trên thế giới Thế giới từng chứng kiến xung đột giữa Ấn Độ giáo, Ki Tô giáo và Phật Giáo với Hồi Giáo tại Ấn Độ; xung đột giữa chính quyền với Phật giáo Tây Tạng, giữa Hồi giáo Tân Cương với chính quyền địa phương và trung ương… Hiện nay, chúng ta vẫn tiếp tục trong trạng thái đầy lo ngại trước tình hình xung đột diễn ra căng thẳng tại nhiều khu vực: Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi… Cuộc chiến giữa các nhóm tôn giáo, giáo phái khác nhau trong cùng một tôn giáo (Đạo Hồi) diễn ra

Trang 33

thường xuyên Có nhiều vụ xung đột tôn giáo, sắc tộc mang lẫn màu sắc chính trị trong đó Nhiều thế lực phản động lợi dụng những mâu thuẫn trước đó để kích động, tạo tiền đề cho sự chia rẽ, li khai gây mất ổn định

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Xung đột sắc tộc, tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí phá hoại sự thống nhất và ổn định phát triển của đất nước

- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ ngày nay đã trở thành yếu tố quyết định của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu Nhiều nhà nghiên cứu cho thấy ít nhất một nửa mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu là nhờ những tiến bộ khoa học công nghệ đem lại thông qua việc chúng góp phần tăng thêm hiệu quả đầu tư của nguồn vốn và năng suất lao động xã hội cũng như tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Khoa học công nghệ phát triển, chi phối đến mọi mặt của tất cả các quốc gia trên thế giới, chi phối đến quan điểm, lối sống… của từng cá nhân trong xã hội Sự bùng nổ của khoa học công nghệ với tốc độ nhanh chóng và trên nhiều lĩnh vực (nguyên liệu mới, năng lượng mới, tự động hóa, điện tử tin học, sinh học, vũ trụ ) đã làm thay đổi về chất nền sản xuất và đời sống xã hội Nền văn minh nhân loại chuyển sang giai đoạn mới, văn minh hậu công nghiệp với sự xuất hiện phổ biến các nền kinh tế tri thức thay cho kinh tế tài nguyên truyền thống Các quốc gia buộc phải tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa trước sức ép do

sự phát triển của khoa học công nghệ tạo ra Những mâu thuẫn trong lòng các nước tư bản phát triển trở nên sâu sắc hơn trước sự phát triển của khoa học công nghệ Cuộc sống của con người được nâng cao hơn về chất lượng Tuy nhiên nảy sinh những vấn đề bất cập không dễ giải quyết Sự phát triển khoa học công nghệ tạo ra sự thay đổi hai chiều cho tất cả các nước trên thế giới hiện nay

- Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Quốc tế hóa, toàn cầu hóa là một xu thế ngày càng rõ nét Cả thế giới là một thị trường, phân công lao động, hợp tác quốc tế rất phát triển Mỗi nước trở thành một bộ phận của thế giới mở Xu hướng này đã xóa

Trang 34

đi tư tưởng biệt lập, khép kín của một số nước trước kia Các quốc gia phải tự nhận ra rằng muốn phát triển, không bị cô lập, bị bỏ rơi chỉ có con đường tìm cách hòa nhập với thế giới, tham gia tích cực chủ động vào "cuộc chơi" toàn cầu hóa, hội nhập thế giới

Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa bị chủ nghĩa tư bản lợi dụng để áp đặt giá trị phương Tây đối với toàn thế giới Các nước đang phát triển, kém phát triển đứng trước nguy cơ lớn bị "đồng hóa" Để tránh được nguy cơ này, trong quá trình phát triển, các nước không ngừng tự khẳng định mình theo hướng độc lập tự chủ về chính trị và kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc riêng của dân tộc

2 Một số vấn đề biến đổi xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Việt Nam đã trải qua gần 30 năm theo con đường đổi mới toàn diện đất nước do Đảng đề ra Đất nước đang có sự thay đổi nhiều trên tất cả các lĩnh vực:

- Kinh tế

Trước đổi mới Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng

về mặt kinh tế - xã hội Đây là hậu quả của sự duy trì quá lâu cơ chế quản

lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp - một cơ chế được các nước XHCN thời kỳ đó sử dụng Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Việt Nam quyết định xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế cũ, chọn lựa mô hình cùng cơ chế quản lý kinh tế mới Mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam được xác định tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế mới với nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp và nhiều hình thức kinh doanh đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển Nền kinh

tế này vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi tích cực hơn nhiều so với thời kỳ "bao cấp" trước đây Chúng ta biết khai thác sức mạnh nội lực của toàn Đảng, toàn dân, khai thác sức mạnh ngoại lực từ

Ngày đăng: 15/07/2022, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đức Châm - Hà Bắc Đẩu (2004), Một số nội dung cơ bản của xã hội học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung cơ bản của xã hội học
Tác giả: Trần Đức Châm - Hà Bắc Đẩu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
2. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới 3. Bùi Quang Dũng (2007) - Gia đình trong các xã hội nông nghiệp -Tạp chí xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học", Nxb Thế giới 3. Bùi Quang Dũng (2007) - "Gia đình trong các xã hội nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Thế giới 3. Bùi Quang Dũng (2007) - "Gia đình trong các xã hội nông nghiệp" - Tạp chí xã hội học số 3
4. Vũ Quang Hà (2003), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
5. Vũ Quang Hà, Nguyễn Thị Hồng Xoan (2002), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Vũ Quang Hà, Nguyễn Thị Hồng Xoan
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Minh Hòa (1999), Xã hội học: Những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học: Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Lê Ngọc Hùng (2007), Nhu cầu học tập, vận dụng và phát triển các quy tắc của phương pháp xã hội học - Tạp chí xã hội học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu học tập, vận dụng và phát triển các quy tắc của phương pháp xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Năm: 2007
8. Lê Ngọc Hùng (2008), Lịch sử & lý thuyết xã hội học. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử & lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
9. Nguyễn Sinh Huy (1999), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
10. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê, Vũ Minh Tâm, (2004), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê, Vũ Minh Tâm
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
11. Nguyễn Sinh Huy (2008), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2008
12. Nguyễn Hữu Khiển (2004), Giáo trình Xã hội học đại cương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học đại cương
Tác giả: Nguyễn Hữu Khiển
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
13. Đỗ Thiên Kính (2007), Mẫu hình việc làm và nghề nghiệp của cặp vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam - Tạp chí xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu hình việc làm và nghề nghiệp của cặp vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thiên Kính
Năm: 2007
14. Thanh Lê (2004), Xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
15. Lưu Hồng Minh (2010), Hỏi & đáp Xã hội học đại cương (xã hội học), Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi & đáp Xã hội học đại cương (xã hội học)
Tác giả: Lưu Hồng Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
16. Nguyễn Xuân Nghĩa (2003), Xã hội học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
17. Phan Trọng Ngọ (1997), Xã hội học đại cương, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1997
18. Lê Nin (1980), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lê Nin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
19. Nguyễn Thế Phán (2002), Giáo trình xã hội học, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học
Tác giả: Nguyễn Thế Phán
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2002
20. Hoàng Phê (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
21. Lê Thanh Sang (2007), Sự chuyên môn hóa các chức năng của đô thị Việt Nam - Tạp chí xã hội học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyên môn hóa các chức năng của đô thị Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Sang
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình: Xã hội hóa và cuộc đời của một con người - Giáo trình Xã hội học đại cương: Phần 2 - Võ Tá Tri, Vũ Văn Hùng (Đồng chủ biên)
nh Xã hội hóa và cuộc đời của một con người (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm